1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động nghiên cứu marketing tại công ty Liên doanh Đức Việt TNHH – thực trạng và giải pháp.doc.DOC

75 1,1K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt Động Nghiên Cứu Marketing Tại Công Ty Liên Doanh Đức Việt TNHH – Thực Trạng Và Giải Pháp
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Marketing
Thể loại Bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 567 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động nghiên cứu marketing tại công ty Liên doanh Đức Việt TNHH – thực trạng và giải pháp

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

Chương I – TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY LIÊN DOANH ĐỨC VIỆT TNHH 4

I Lịch sử hình thành và phát triển công ty 4

1.1 Giới thiệu công ty 4

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 4

II Lĩnh vực kinh doanh 6

2.1 Sản phẩm và khách hàng 6

2.2 Chức năng trong hoạt động sản xuất kinh doanh 7

III Cơ cấu tổ chức công ty 8

3.1 Tổng giám đốc 9

3.2 Phó tổng giám đốc 9

3.3 Khối sản xuất 10

3.4 Khối tài chính – kế toán 10

3.5 Khối kinh doanh 11

3.6 Quan hệ phối hợp hoạt động giữa các bộ phận trong sản xuất và kinh doanh 12 IV Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh 14

4.1 Năng lực và điều kiện kinh doanh của công ty 14

4.1.2.1.Môi trường vĩ mô 23

4.1.2.2.Môi trường ngành 25

4.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh qua các năm 27

Chương II - THỤC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU MARKETING TẠI CÔNG TY LIÊN DOANH ĐỨC VIỆT TNHH 29

I Thực trạng hoạt động marketing của công ty 29

1.1 Vai trò của marketing trong công ty 29

1.1.1 Nhận thức và đầu tư cho marketing của công ty 29

1.1.2 Nhiệm vụ, chức năng phòng Marketing 30

1.2 Tình hình thực hiện kế hoạch marketing 30

1.2.1 Trình tự lập và thực hiện kế hoạch marketing 30

1.2.2 Thực hiện chiến lược định vị 31

1.3 Các biến số của marketing mix 34

1.4 Kế hoạch marketing năm 2007 42

1.5 Đánh giá các hoạt động marketing của công ty 43

II Tình hình thực hiện hoạt động nghiên cứu marketing 44

2.1 Nhận thức về vai trò hoạt động nghiên cứu marketing tại công ty 44

2.2 Thực trạng hoạt động nghiên cứu marketing tại công ty 45

2.3 Đánh giá hiệu quả việc thực hiện nghiên cứu marketing của công ty 53

Chương III – Giải pháp cho hoạt động nghiên cứu marketing cho công ty Liên doanh Đức Việt TNHH 59

Trang 2

I Vai trò thực tế của hoạt động nghiên cứu marketing đối với công ty 59

1.1 Vai trò của hoạt động nghiên cứu marketing trong phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty 59

1.2 Tầm quan trọng của nghiên cứu đối với các quyết định về marketing mix của công ty 60

II Đề xuất giải pháp cho hoạt động nghiên cứu marketing 67

2.1 Xác định đúng đắn vai trò của hoạt động nghiên cứu marketing 67

2.2 Một vài giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả việc nghiên cứu marketing 70

KẾT LUẬN 74

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Công ty Liên doanh Đức Việt TNHH là công ty sản xuất và kinh doanhcác sản phẩm thực phẩm chế biến từ thịt lợn như xúc xích các loại, thịt xôngkhói, giò, thịt heo an toàn… với hình thức sở hữu là liên doanh giữa Đức và ViệtNam Trong thời gian thực tập tại công ty, em đã quan sát và hiểu được cơ bảnnhững vấn đề tổng quan về công ty như lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức, chứcnăng nhiệm vụ của công ty, thấy được tình hình thực hiện hoạt động sản xuấtkinh doanh của công ty nói chung và tình hình thực hiện các hoạt độngmarketing nói riêng Qua quá trình quan sát và tham gia làm việc với công ty emcũng thấy được những điểm mạnh và những thiếu sót còn tồn tại trong hoạt độngcủa công ty nói chung và hoạt động marketing nói riêng Trong các vấn đề nhậnthấy, em quan tâm nhiều nhất đến hoạt động nghiên cứu marketing tại công ty,

vì những lý do sau:

 Mức độ cạnh tranh trên thị trường thực phẩm chế biến ngày cànggay gắt, nếu không nghiên cứu một cách đầy đủ về khách hàng, về đối thủcạnh tranh… thì khó có thể nâng cao năng lực cạnh tranh

 Việc tìm kiếm thông tin thị trường chỉ được thực hiện bởi các nhânviên kinh doanh, tính chủ quan, suy đoán rất cao, hơn nữa lại chỉ đượcmột vài thông tin sơ lược

 Hoạt động nghiên cứu marketing được công ty tiến hành khônghiệu quả, chỉ thực hiện khi cần phát triển sản phẩm mới, hay tìm kiếm thịtrường mới, song thiếu tính chính xác và bài bản

 Vai trò của việc tiến hành nghiên cứu định kỳ chưa được công tyđánh giá cao

Do đó, đề tài mà chuyên đề này nghiên cứu sẽ là:

“Hoạt động nghiên cứu marketing tại công ty Liên doanh Đức Việt TNHH – thực trạng và giải pháp”

Cấu trúc đề tài gồm 3 chương:

Chương I: Tổng quan về công ty Liên doanh Đức Việt TNHH

Chương II: Thực trạng hoạt động nghiên cứu marketing tại công ty liên doanh Đức Việt TNHH

Chương III: Giải pháp hoạt động nghiên cứu marketing tại công ty liên doanh Đức Việt TNHH

Trang 4

Chương I – TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY LIÊN DOANH ĐỨC

VIỆT TNHH

I Lịch sử hình thành và phát triển công ty

Giới thiệu công ty

Tên công ty: Công ty Liên doanh Đức Việt trách nhiệm hữu hạn

Tên viết tắt: Công ty Liên doanh Đức Việt TNHH

Tên giao dịch quốc tế: Duc-Viet Joint-venture Company limited

Địa chỉ: Khu công nghiệp Phố Nối, xã Tân Lập, huyện Yên Mĩ, tỉnh HưngYên

Điện thoại: (+84)0321.970229/230 Fax: (+84)0321.970233Văn phòng giao dịch

Văn phòng chính: 33 phố Huế, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Điện thoại: (+84)04.9437631/9435410 Fax: (+84)04.8226962

Văn phòng miền Trung: 39 Phan Thanh, quận Thanh Khê, TP Đà NẵngVăn phòng miền Nam: 190B Võ Văn Tần, Q.3, TP Hồ Chí Minh

Email: dvco-ltd@hn.vnn.vn

Website: www.thucphamducviet.vn

Logo:

Lịch sử hình thành và phát triển

Hình thành công ty sản xuất, thương mại và dịch vụ Đức Việt

Công ty TNHH Đức Việt được thành lập vào năm 2000, theo giấy phép

đăng ký kinh doanh tại sở KHCN & MT, ngày 14 tháng 7 năm 2000 Công ty

có tên giao dịch là Công ty sản xuất, thương mại và dịch vụ Đức Việt Tên giaodịch quốc tế là Duc-Viet service trading and producing company limited

Tháng 7 năm 2000, ông Mai Huy Tân – hiện là Tổng giám đốc công ty –nhận được giấy phép đầu tư do sở Kế hoạch Đầu tư Hà Nội cấp, cho phép xây

Trang 5

dựng nhà máy để sản xuất ra xúc xích và các sản phẩm thịt Một nhà xưởng nhỏ,diện tích gần 200 m2 đã được xây dựng ở địa bàn quận Thanh Xuân để sản xuấtxúc xích theo công nghệ Đức.

Ngày 7/9/2000, chiếc xúc xích đầu tiên được sản xuất theo công nghệ xúc

xích nổi tiếng của xứ Thueringen (Đức) ra lò, phục vụ cho những người Đứcđang sống ở Hà Nội, những người Hà Nội đã từng sống ở Đức và các kháchhàng trung lưu trở lên khác

Tuy nhiên, suốt năm đầu, công ty bị thua lỗ do không cạnh tranh được

với xúc xích nhập ngoại mặc dù giá chỉ bằng 1/6 và các loại xúc xích nội địakhác

Chiến lược và kế hoạch kinh doanh thay đổi Đến cuối năm 2001, đầu

năm 2002, doanh thu của công ty tăng 100%, đạt được điểm hòa vốn Năng lực

và địa vị cạnh tranh của xúc xích Đức Việt được nâng lên đáng kể

Công ty Liên doanh Đức Việt TNHH

Đến tháng 10 năm 2002, công ty Liên doanh Đức Việt TNHH chính thức

được thành lập theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Bên Việt Nam là Công ty sản xuất, thương mại và dịch vụ Đức Việt (Têngiao dịch quốc tế: Duc – Viet servive, trading and producing company limited),trụ sở tại 33 phố Huế, Hoàn Kiếm, Hà Nội Bên nước ngoài là công ty CBVMichel Campioni Gmbh, trụ sở đặt tại Goethestrasse 65, 99096 Erfurt, Cộng hòaLiên bang Đức Doanh nghiệp liên doanh được thành lập có tên gọi là:

CÔNG TY LIÊN DOANH ĐỨC VIỆT TNHH

Tên giao dịch quốc tế: DUC – VIET JOINT – VENTURE COMPANY

LIMITED

Công ty mới được thành lập không những có dây chuyền công nghệ sảnxuất hiện đại của Cộng hòa Liên bang Đức mà còn có sự quản lý và giám sát củacác chuyên gia Đức nên hiệu quả sản xuất, kinh doanh cao hơn rõ rệt

Nhận thấy nhà xưởng ở Thanh Xuân không còn đáp ứng được nhu cầu củathị trường, đầu năm 2003, Tổng Giám đốc Mai Huy Tân cùng ông MichelCampioni (đại diện phần vốn phía Đức) quyết định đầu tư xây dựng nhà máychế biến thịt và thực phẩm tại khu công nghiệp Phố Nối, xã Tân Lập, huyện Yên

Mĩ, Hưng Yên Giấy phép đầu tư số 019.GPĐT – HY được cấp ngày 30/6/2003

Trang 6

Nhà máy được xây dựng trên diện tích 3,6 ha, tổng vốn đầu tư là 1.800.000 USD

đã được khánh thành ngày 12/2/2004.

Ngày 15/3/2004, công ty tiếp tục đầu tư hơn 2 triệu USD lắp đặt dây

chuyền sản xuất theo công nghệ Đức với sản lượng 15 tấn/ngày Từ đây tới cuốinăm 2005, việc đầu tư cho cơ sở hạ tầng kể như hoàn tất, hoạt động sản xuấtkinh doanh đi vào tăng trưởng ổn định

Tháng 1 năm 2006, công ty Đức Việt nhận chứng chỉ quản lý vệ sinh an

toàn thực phẩm HACCP (hệ thống phân tích mối nguy và các điểm kiểm soát tới

hạn) Hệ thống HACCP cho các phân xưởng chế biến đã được TUV Rheinland

(CHLB Đức) thẩm định, đánh giá và cấp chứng chỉ Hệ thống HACCP cho phânxưởng giết mổ được BM Trada (Vương quốc Anh) cấp chứng chỉ Đây là chứngchỉ bảo đảm cho người tiêu dùng biết chắc rằng mình đang sử dụng một sảnphẩm an toàn cho sức khỏe

Tháng 12 năm 2005 và tháng 12 năm 2006, Đức Việt đón nhận danh

hiệu hàng Việt Nam chất lượng cao năm 2006 và 2007 trong lĩnh vực thực phẩmkhô

Tháng 10 năm 2006, do yêu cầu của sự phát triển, công ty mở thêm văn phòng tại

địa chỉ số 14 ngõ 4 đường Kim Đồng Hà Nội Văn phòng 3 tầng với đầy đủ cơ sởvật chất này là nơi làm việc của khối kinh doanh của công ty

II Lĩnh vực kinh doanh

Sản phẩm và khách hàng

Công ty Liên doanh Đức Việt TNHH hoạt động trong ngành thực phẩm,

cụ thể hơn, đó là sản xuất và kinh doanh thực phẩm chế biến và thịt heo an toàn.Các dòng sản phẩm chủ yếu của Đức Việt như sau:

Trang 7

 Các sản phẩm chế biến từ thịt lợn khác: pate gan, jăm bông hấp, jăm bông giò, jăm bông đùi hong khói…

 Các gia vị: mù tạt cay, mù tạt mật ong, mù tạt tiêu đen…

 Các sản phẩm tươi sống (thịt heo an toàn): thăn heo, thịt ba rọi,thịt nạc vai, sườn non, thịt chân giò, đùi heo nguyên xương, sườncốtlết, tim heo, bầu dục heo, heo nguyên tảng…

Với những dòng sản phẩm đa dạng trên, khách hàng của công ty thuộc rấtnhiều nhóm khác nhau, bao gồm:

- Người tiêu dùng nội trợ

- Những người nước ngoài, người có thu nhập khá trở lên

- Người uống bia

- Trẻ em

- Thanh niênChức năng trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Công ty Đức Việt thực hiện chức năng sản xuất cơ bản là giết mổ lợn(theo dây chuyền công nghệ hiện đại) và chế biến thịt và thực phẩm an toàn.Chức năng kinh doanh là tiêu thụ sản phẩm phục vụ thị trường trong nước vàhướng tới xuất khẩu sang các thị trường như châu Âu, Nhật Bản, ASEAN…Trong những năm tới, công ty sẽ đầu tư mở rộng tổ hợp TRANGINCOM, tổchức sản xuất từ chế biến thức ăn chăn nuôi, hệ thống trang trại chăn nuôi quy

mô công nghiệp, đến hệ thống giết mổ, pha lọc, chế biến, đóng gói, vận chuyển,bảo quản, phân phối, bán hàng

Nhiệm vụ:

 Thực hiện chức năng sản xuất và kinh doanh

 Đóng góp cho Ngân sách Nhà nước

 Tạo công ăn việc làm cho các lao động

 Đóng góp cho các hoạt động xã hội

 Đảm bảo sức khỏe và quyền lợi cho người tiêu dùng

Trang 8

III Cơ cấu tổ chức công ty

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức công ty Liên doanh Đức Việt TNHH

(Nguồn: Phòng Tổ chức hành chính, năm 2006)

Công ty Đức Việt hiện là công ty liên doanh, do 2 bên Việt Nam và Đứcgóp vốn Phía Đức, công ty CBV – đại diện là ông Michel Campioni, đóng góp49% tổng nguồn vốn Phía Việt Nam, công ty sản xuất, thương mại và dịch vụĐức Việt – đại diện là ông Mai Huy Tân, góp 51% tổng nguồn vốn, giữ quyềnquản lý và có ý kiến quyết định trong các vấn đề về sản xuất kinh doanh Hiệntại, ông Mai Huy Tân giữ chức vụ Tổng Giám đốc công ty, ông MichelCampioni giữ chức vụ Phó Tổng giám đốc

Về cơ cấu tổ chức của công ty, Tổng giám đốc là người quản lý cao nhấttrong doanh nghiệp, 2 Phó tổng giám đốc – một người Đức, một người Việt –

Phòng hành chính

Tổng giám đốc

Phó tổng giám đốc

Khối sản xuất

(Giám đốc SX)

Khối kinh doanh (Giám đốc KD)

GĐ KD)

Khối tài chính (Giám đốc TC)

Lò mổ

công

nghệ Đức

Nhà máy chế biến thịt sạch

Phân

xưởng

pha lọc

Phân xưởng chế biến

Bộ phận hành chính

Phòng kinh doanh

Phòng Marketin g

Phòng thịt sạch

Phòng tài chính

kế toán

Trang 9

với vai trò cố vấn, hỗ trợ Tổng giám đốc điều hành các công việc Các bộ phậnchức năng của công ty chia thành 3 khối chính: Khối sản xuất, khối kinh doanh

và khối tài chính – kế toán Mỗi khối bao gồm các phòng ban khác nhau, hoạtđộng hỗ trợ lẫn nhau

Như phần trên đã giới thiệu, công ty Liên doanh Đức Việt TNHH có 3 vănphòng giao dịch: Một văn phòng chính tại 33 phố Huế, Hà Nội; một văn phòngđại diện ở miền Trung (thành phố Đà Nẵng) và một văn phòng đại diện ở miềnNam (thành phố Hồ Chí Minh) Tuy gọi là văn phòng đại diện, song thực tế 2văn phòng ở miền Nam và miền Trung là 2 nhà phân phối của công ty theo hợpđồng đặc quyền kinh tiêu, không phải thuộc nội bộ tổ chức, do vậy, báo cáo tổnghợp này không xét đến 2 văn phòng đại diện đó trong cơ cấu tổ chức của côngty

Tổng giám đốc

Tổng giám đốc công ty (tiến sỹ Mai Huy Tân) là người giữ vai trò quản lýcao nhất trong doanh nghiệp, là người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, chịumọi trách nhiệm về hoạt động của doanh nghiệp trước pháp luật Tổng giám đốc

là người quyết định đường lối kinh doanh và chỉ đạo thực hiện các hoạt động đểthực hiện đường lối đó

Bên cạnh việc đại diện phần vốn góp 51% trong hội đồng thành viên, tổnggiám đốc Mai Huy Tân còn chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của công

ty trước hội đồng Tổng giám đốc có mọi quyền quyết định về nhân sự, tổ chức,quyết định cách thực thức hiện, kiểm tra, giám sát mọi hoạt động và chịu tráchnhiệm báo cáo trước hội đồng thành viên về tình hình kinh doanh của doanhnghiệp

Phó tổng giám đốc người Đức – ông Michel Campioni – giữ vai trò chủyếu là giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh, tư vấn, góp ý về đường lối, giải

Trang 10

pháp kinh doanh cho Tổng giám đốc Ông không can thiệp vào việc quản lý tổchức như vấn đề nhân sự, các hoạt động tác nghiệp…

Phó tổng giám đốc người Việt – ông Hứa Xuân Sinh – là người hỗ trợ trựctiếp tổng giám đốc trong các hoạt động quản lý Phó tổng giám đốc có quyềnthay Tổng giám đốc (được ủy nhiệm khi vắng mặt) quyết định các vấn đề vềnhân sự, đường lối kinh doanh (trong phạm vi đã được hội đồng quản trị thôngqua) Các công việc của cả 3 khối sản xuất, kinh doanh và tài chính đều thôngqua sự giám sát, điều hành của phó tổng giám đốc, tuy nhiên, trên thực tế, hoạtđộng chủ yếu của Phó tổng giám đốc Hứa Xuân Sinh là quản lý, giám sát hoạtđộng của khối kinh doanh và tài chính

Khối sản xuất

Toàn bộ khối sản xuất của công ty được đặt tại nhà máy sản xuất ở TânLập, Yên Mỹ, Hưng Yên, chịu trách nhiệm quản lý, điều hành trực tiếp là giámđốc sản xuất Nhiệm vụ chủ yếu của khối sản xuất là sản xuất sản phẩm đáp ứngnhu cầu thị trường Khối sản xuất được chia thành 2 bộ phận: Bộ phận giết mổ

và bộ phận chế biến

Bộ phận giết mổ có nhiệm vụ giết mổ lợn theo dây chuyền công nghệĐức, sau đó chuyển qua các phân xưởng pha lọc để đảm bảo cung cấp sản phẩmthịt heo an toàn cho thị trường cũng như cung cấp nguyên liệu đạt tiêu chuẩnchất lượng vệ sinh và đáp ứng đủ số lượng cho bộ phận chế biến

Bộ phận chế biến bao gồm các phân xưởng chế biến, thực hiện chức năngchế biến thực phẩm từ thịt sạch (xúc xích, jăm bông, giò, thịt xông khói…) Cácphân xưởng chế biến thực hiện hoạt động sản xuất căn cứ trên đặt hàng dự kiếncủa khối kinh doanh chuyển tới Nhiệm vụ của bộ phận chế biến là cung cấp sảnphẩm đảm bảo về chất lượng và số lượng cho tiêu thụ, đồng thời nghiên cứu sảnxuất thử nghiệm các sản phẩm mới

Nhà máy sản xuất có một phòng hành chính, chịu trách nhiệm thực hiệntất cả các công việc hành chính liên quan đến cả hai bộ phận lò mổ và nhà máychế biến

Khối tài chính – kế toán

Khối tài chính – kế toán hoạt động tại văn phòng chính ở 33 phố Huế,Hoàn Kiếm, Hà Nội, đứng đầu là giám đốc tài chính, chịu trách nhiệm quản lý,

Trang 11

điều hành mọi hoạt động liên quan đến tài chính Khối tài chính có 2 phòng làPhòng tài chính – kế toán và Phòng tổ chức hành chính.

Phòng tổ chức hành chính có nhiệm vụ nghiên cứu đề xuất mô hình tổchức, bố trí nhân sự sao cho phù hợp, hiệu quả; nghiên cứu đề xuất với giám đốcbiện pháp giúp đỡ các phòng ban thực hiện đúng các chế độ, nguyên tắc, thủ tụchành chính; quản lý các văn bản, tài liệu và con dấu của cả khối

Phòng tài chính – kế toán có nhiệm vụ ghi chép, theo dõi tình hình thựchiện hoạt động kinh doanh thông qua các con số báo cáo; phân tích, đánh giáhiệu quả tài chính của công ty trong từng thời kỳ, thực hiện các biện pháp khắcphục những tồn tại, thiếu sót trong quản lý thu chi và sử dụng tài chính; kiểmsoát và thực hiện các kế hoạch thu chi…

Khối kinh doanh

Khối kinh doanh hiện đang đặt văn phòng ở số 14, ngõ 4, đường KimĐồng, Hà Nội, chịu trách nhiệm quản lý, điều hành là giám đốc kinh doanh.Khối kinh doanh có 3 bộ phận (3 phòng) là: Bộ phận kinh doanh, bộ phận thịtsạch và bộ phận Marketing

Bộ phận kinh doanh chịu trách nhiệm chính về hoạt động kinh doanh của

công ty Tuy nhiên, nhiệm vụ chính và chủ yếu của bộ phận kinh doanh là bánhàng Các nhân viên được phân chia chịu trách nhiệm quản lý các thị trườngkhác nhau, vừa phân chia theo khu vực (thị trường ngoại tỉnh, thị trường HàNội), vừa phân chia theo dòng sản phẩm (sản phẩm cắt lát, sản phẩm xúc xíchĐức truyền thống…) Nhiệm vụ chính của phòng kinh doanh là tìm kiếm kháchhàng, mở rộng thị trường, giao dịch với khách hàng, tổ chức bán hàng Trên lýthuyết, phòng kinh doanh chịu trách nhiệm cả 2 nhóm sản phẩm là thực phẩmchế biến và thịt heo an toàn, tuy nhiên, thực tế, do sản phẩm thịt heo an toàn mớiđược phát triển và có những tính chất riêng nên phòng kinh doanh chủ yếu chỉchịu trách nhiệm kinh doanh sản phẩm thực phẩm chế biến, và chỉ hỗ trợ choviệc kinh doanh thịt heo an toàn

Bộ phận thịt sạch có vai trò tương đương với bộ phận kinh doanh, nhưng

chịu trách nhiệm về nhóm sản phẩm thịt heo an toàn Tất cả các hoạt động liênquan đến việc tiêu thụ sản phẩm thịt heo an toàn như tìm kiếm thị trường, duy trì

và mở rộng thị trường, các biện pháp, chiến lược kinh doanh… đều do bộ phậnthịt sạch quản lý, điều hành

Trang 12

Bộ phận Marketing thực hiện chức năng chủ yếu là truyền thông về công

ty và sản phẩm, hỗ trợ tích cực cho hoạt động kinh doanh của cả 2 nhóm sảnphẩm Nhiệm vụ chính của phòng Marketing là đề xuất các chiến lược truyềnthông cho sản phẩm, thiết kế bao bì, nhãn mác, thực hiện các chương trìnhtruyền thông như quảng cáo, PR, khuyến mại,…nhằm kích thích việc tiêu thụsản phẩm và nâng cao thương hiệu, vị thế công ty trên thị trường

Quan hệ phối hợp hoạt động giữa các bộ phận trong sản xuất và kinh doanh

3.1.1 Quy trình sản xuất sản phẩm

Sơ đồ 2: Quy trình sản xuất

(Nguồn: phòng Kinh doanh, năm 2006)

Giai đoạn 1: Trước khi giết mổ

 Lợn được chuyển từ các trang trại chăn nuôi về nhà máy, đưa vàocửa nhập gồm có 2 ngăn: Ngăn đạt tiêu chuẩn về chất lượng và sốlượng; ngăn chưa đạt tiêu chuẩn (sẽ được loại ra)

Chuyển lợn

về nhà máy Cho lợn tĩnh dưỡng

Kiểm nghiệm an toàn

Giết mổ Làm sốc

Đưa lợn vào

kho lạnh Pha lọc thịt Đưa thịt vào kho

Xông khói hoặc hấp

và cắt rời Xay trộn thịt

Vận chuyển

Lưu kho thành phẩm Đóng gói

Xuất bán thịt sạch

Trang 13

 Lợn được đưa vào khu yên tĩnh, tắm sạch bằng nước và cho nằmtĩnh lặng trong 8h để tránh bị stress

Giai đoạn 2: Giai đoạn giết mổ

 Lợn được đưa vào khu vực làm sốc bằng đường riêng

 Tiếp tục đưa vào khu vực giết mổ trên dây chuyền tự động

 Sau khi mổ và cưa tách làm 2 mảnh để cân trọng lượng, bác sĩ thú

ý của cơ quan nhà nước lấy mẫu kiểm nghiệm để kiểm tra lợn cóđạt tiêu chuẩn an toàn không

 Lợn đạt tiêu chuẩn được đưa vào hành lang lạnh (700C)

Giai đoạn 3: Pha lọc

 Lợn từ giai đoạn trên, sau khi đạt độ lạnh sẽ được đưa vào kholạnh pha lọc

 Thịt được pha lọc, tách thành các loại thịt và tách riêng nhữngphần không cần cho chế biến

 Thịt sau khi pha lọc được đưa vào kho chờ xuất bán thịt sạch hoặcchuyển sang giai đoạn chế biến để tạo sản phẩm thực phẩm chếbiến

Giai đoạn 4: Chế biến

 Thịt đã pha lọc được xay trộn theo công thức riêng rồi chuyểnsang kho nhồi

 Chuyển sang khâu nhồi

 Xông khói hoặc hấp (tùy loại sản phẩm)

 Làm nguội và cắt thành từng sản phẩm, sau đó được chuyển vàokho bán thành phẩm

Giai đoạn 5: Đóng gói, lưu kho và vận chuyển

 Sản phẩm được chuyển vào kho đóng gói và đóng gói

 Đóng gói xong chuyển vào kho thành phẩm

 Xuất hàng khi có nhu cầu Hàng được vận chuyển bằng xe đônglạnh chuyên dụng đến các điểm phân phối

3.6.2 Sự phối hợp hoạt động giữa các bộ phận trong kinh doanh

Trang 14

Khối sản xuất làm nhiệm vụ sản xuất theo quy trình trên, song nó khôngphải hoạt động độc lập mà có liên quan chặt chẽ với hoạt động của khối kinhdoanh và tài chính.

Các nhân viên bán hàng của phòng kinh doanh căn cứ vào đặc điểm, tínhchất của sản phẩm đã được sản xuất ra, liên tục tìm kiếm nguồn khách hàng phùhợp nhằm phát triển thị trường Phòng marketing thực hiện các chương trìnhtruyền thông hỗ trợ phòng kinh doanh và phòng thịt sạch tiêu thụ sản phẩm, cácchương trình này thường căn cứ vào thông tin thị trường mà hai phòng đó cungcấp và đề nghị Khối kinh doanh căn cứ tình hình thị trường và kết quả tiêu thụhiện tại để gửi đơn hàng về phía nhà máy, khối sản xuất dựa vào đó thực hiệnkhối lượng sản xuất tối ưu Khối tài chính, kế toán theo dõi kết quả hoạt độngkinh doanh thường xuyên dựa trên các tài liệu kế toán, từ đó phân tích hiệu quảhoạt động sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng tài chính của công ty nhằm đưa

ra ý kiến đề xuất biện pháp thực hiện hiệu quả hơn Khối sản xuất và khối kinhdoanh dựa vào các kết quả phân tích đó để quản lý, điều hành hoạt động

Trong toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh đó, Tổng giám đốc và 2 Phótổng giám đốc luôn quản lý, giám sát và điều hành mọi hoạt động sao cho đúngvới định hướng phát triển của công ty

IV Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh

Năng lực và điều kiện kinh doanh của công ty

Năng lực bản thân công ty

Khả năng tài chínhCông ty liên doanh Đức Việt TNHH được thành lập với vốn pháp định là900.000 USD vào thời điểm tháng 10 năm 2002 Đến năm 2003, công ty đã đầu

tư xây dựng nhà máy với số vốn đầu tư cho cả 2 giai đoạn (xây dựng nhà máy vàđầu tư dây chuyền công nghệ) là hơn 4 triệu USD Theo số liệu của phòng kếtoán năm 2005 tổng vốn đầu tư là trên 3 triệu Euro – tương đương với khoảng4,5 triệu USD Có thể nói con số trên 3 triệu Euro chưa phải là lớn lắm, song đốivới một công ty hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm, lại thành lập chưa lâu nhưvậy thì đây là một con số đáng kể

Sau đây là bảng cân đối kế toán của công ty năm 2004 và 2005:

Bảng 1: Bảng cân đối kế toán năm 2004 và 2005

Đơn vị tính: đồng

Trang 15

Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Chênh lệch

1900 8

1 Hàng mua đang đi

22.656.154.979

2 Giá trị hao mòn lũy

kế

6

1.769.143.186

II Chi phí xây dựng

cơ bản

11.552.565.13 2

78,81 642.181.637 2,4 (10.910.383.49

5)

Trang 16

II Nguồn kinh phí

Tổng nguồn vốn 14.664.604.13

8

26.662.553.455

(Nguồn: Phòng kế toán)

Theo số liệu trên ta có một số chỉ tiêu tài chính khác của công ty như sau:

 Khả năng linh động của tài sản: Năm 2004, tiền mặt củacông ty tại quỹ chỉ xấp xỉ 190 triệu đồng (188.388.018 đồng), tiền gửiNgân hàng là hơn 2 triệu (2.119.895 đồng), nhưng đến năm 2005, con sốnày đã lên tới gần 400 triệu tiền mặt (395.385.003 đồng) và hơn 390 triệutiền gửi Ngân hàng (391.595.285 đồng) Như vậy, tổng tiền đã tăng lên gần

4 lần, chiếm tỉ lệ từ 1,3% tổng tài sản tăng lên 2,9% tổng tài sản, tiền gửiNgân hàng năm 2005 đã tăng lên gần bằng với tiền mặt Những con số nàycho thấy khả năng linh hoạt về tài chính của công ty đã tăng lên đáng kểsau một năm Việc có 2,9% tài sản là tiền giúp cho công ty ứng phó tốt hơnvới những tình huống xảy ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh, khảnăng thanh toán tức thời sẽ cao hơn Tuy nhiên, số tiên gần 800 triệu đồngcũng chưa phải là lớn, chưa đem lại cho công ty sức mạnh ổn định về tàichính Ước tính năm 2006, con số này đã tâng lên khoảng 1,5 lần, trong đótiền gửi Ngân hàng tăng lên 2 lần

Trang 17

 Cơ cấu nguồn vốn: Năm 2004, trong cơ cấu nguồn vốncủa doanh nghiệp, nợ phải trả chiếm tới 67,7% , trong đó chủ yếu là nợ dàihạn (chiếm 61,3% tổng nguồn vốn); nguồn vốn chủ sở hữu chỉ chiếm32,3% Tỷ lệ này cho thấy sự phụ thuộc về vốn của công ty khá lớn, vốnchủ yếu là vốn chiếm dụng Điều này làm tăng rủi ro cho hoạt động tàichính của công ty, tuy nhiên, tỷ lệ nợ ngắn hạn không nhiều nên tính cấpbách của áp lực tài chính cũng không cao.

Năm 2005, tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong cơ cấu nguồn vốn đã tăng lên đáng kể, chiếm 51,1% Nợ phải trả chỉ còn chiếm 49,9%, trong đó 4,9%

là nợ ngắn hạn Như vậy, tới năm 2005, công ty vẫn biết sử dụng nguồn vốn bên ngoài song nguồn vốn của công ty đã được trang bị chủ yếu bằng vốn tự

có, do đó, tính ổn định và chủ động về tài chính đã cao hơn Các khoản nợ đều tăng về số tuyệt đối nhưng số tương đối lại giảm đi

 Một vài hệ số thể hiện khả năng thanh toán:

 Hệ số khả năng thanh toán chung: ( Tổng tài sản/

Nợ phải trả)Năm 2004 = 14.644.604.138/9.926.717.255 = 1,47527

Trang 18

Nhận xét: Các hệ số thể hiện khả năng thanh toán của công ty khá tốt, trừ

hệ số thanh toán tức thời còn chưa cao (< 0,8) và hầu hết đều tăng lên vào năm

2005 Điều này cho thấy khả năng thanh toán các khoản nợ của công ty tươngđối ổn định, trong dài hạn ít bị áp lực trả nợ gây rủi ro, tuy nhiên, nếu phải thanhtoán nợ tức thời thì công ty sẽ gặp khó khăn do tài sản là tiền không nhiều Năm

2006, ước tính hệ số thanh toán tức thời sẽ tăng xấp xỉ 0,8

Cơ sở vật chất

Cơ sở vật chất của công ty Đức Việt bao gồm toàn bộ dây chuyền côngnghệ trang bị cho nhà máy sản xuất, hệ thống thiết bị bảo quản lạnh, thiết bị vănphòng, công nghệ thông tin…

Cơ sở vật chất quan trọng nhất của Đức Việt phải kể đến đó là nhà máysản xuất tại Tân Lập, Yên Mỹ, Hưng Yên với tổng vốn đầu tư gần 3 triệu Euro,diện tích mặt bằng 3,6 ha Nhà xưởng được xây dựng rất khang trang, thiết kếhợp lý Toàn bộ hệ thống thiết bị máy móc trong nhà máy, từ hệ thống lò mổ, hệthống pha lọc cho tới dây chuyền công nghệ sản xuất, tất cả đều là máy móc hiệnđại nhập khẩu từ Đức Cùng với bí quyết công nghệ từ Đức, nhà máy chính làthế mạnh của công ty mà ban lãnh đạo đã sáng suốt đầu tư vào

Đi cùng với máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất, hệ thống kho bảoquản sản phẩm và xe vận chuyển cũng được đầu tư chu đáo Tất cả kho và xevận chuyển, tủ chứa đồ đều phải bảo đảm nhiệt độ lạnh thích hợp để bảo quảnsản phẩm Tại Hà Nội, công ty có 4 kho chứa hàng lớn, nhưng trong đó chỉ có 1kho ở tại An Dương là do công ty đầu tư xây dựng, 3 kho còn lại (tại QuanNhân, Nghĩa Tân, Minih Khai) là do nhà phân phối xây dựng theo ràng buộchợp đồng với công ty Hệ thống kho này luôn bảo đảm việc bảo quản và cungcấp hàng hóa kịp thời cho hoạt động kinh doanh

Từ trước tháng 10 năm 2006, công ty chỉ thực hiện hoạt động kinh doanhtại văn phòng giao dịch 33 phố Huế, cơ sở vật chất cho văn phòng chưa đượcđầy đủ (không có đủ máy vi tính và điện thoại cho mỗi bộ phận), tuy nhiên, từtháng 10 năm 2006, công ty mở thêm văn phòng cho khối kinh doanh làm việctại số 14 ngõ 4 đường Kim Đồng thì khó khăn đó cũng được khắc phục Mỗi bộphận chức năng được làm việc ở một phòng riêng, trang bị văn phòng rất đầy đủ(như tủ tài liệu, bàn làm việc, bảng tin…) Đặc biệt, mỗi nhân viên được trang bịmột máy vi tính riêng, có kết nối internet, mỗi phòng có ít nhất một điện thoạiliên lạc, một máy fax và một máy liên lạc nội bộ

Trang 19

Việc thông tin liên lạc trong nội bộ được thực hiện chủ yếu qua điện thoại

và thư điện tử Trước đây, việc quản lý, điều hành mọi hoạt động trong công tyđược ban lãnh đạo thực hiện trực tiếp, qua điện thoại và qua báo cáo bằng vănbản Từ tháng 1 năm 2007, công ty đã trang bị phần mềm quản lý bán hàng chotất cả các kho phân phối, do đó việc kiểm soát bán hàng đã trở nên thuận tiện vànhanh chóng hơn rất nhiều Dự kiến trong tương lai, công ty sẽ tiếp tục sử dụngcác phần mềm quản lý khác, như quản lý hành chính, quản lý tiền lương…

Ngoài việc đầu tư tài sản tại nhà máy và văn phòng, công ty còn đầu tư tủbày bán sản phẩm tại các cửa hàng bán thịt sạch, máy nướng cho giới thiệu sảnphẩm tại các quán bia, tủ chứa đồ để giới thiệu sản phẩm tại các cửa hàng, siêuthị…

Mặc dù công ty thành lập chưa lâu so với những đối thủ khác, song cơ sởvật chất của Đức Việt cũng đã được trang bị khá đầy đủ Tuy đây chưa phải làthế mạnh của công ty nhưng nó cũng đảm bảo điều kiện cần cho công ty đề thamgia cạnh tranh trên thị trường, để duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinhdoanh của mình

Nguồn lao độngHiện tại, công ty Đức Việt có khoảng 200 lao động, trong đó có 140 côngnhân sản xuất, còn lại là nhân viên của khối tài chính – kế toán và khối kinhdoanh

a Lao động tại nhà máy sản xuấtTại nhà máy sản xuất, các công nhân được tuyển chọn đều là những người

có tay nghề cao, thành thạo với công việc Hầu hết đã tốt nghiệp PTTH, một số

có trình độ Trung cấp, Cao đẳng và Đại học Với mức lương bình quân1.200.000 đồng/người/tháng, đây là lực lượng đã giúp cho hoạt động sản xuấtcủa công ty được duy trì và phát triển nhiều năm qua

Bên cạnh lực lượng lao động là người Việt Nam, tại nhà máy còn có cácchuyên gia người Đức làm việc Họ là những người phụ trách kỹ thuật cho dâychuyền công nghệ hiện đại của Đức, cùng các kỹ chuyên gia người Việt nghiêncứu, phát triển công nghệ sản xuất sản phẩm mới phục vụ thị trường Họ làmviệc nghiêm túc, có trách nhiệm và nhiệt tình với nhà máy

b Lao động thuộc khối tài chính

Trang 20

Phòng Kế toán của khối tài chính – kế toán hiện tại có 6 nhân viên, baogồm: 01 kế toán trưởng, 01 kế toán tổng hợp, 02 kế toán công nợ, 01 kế toántheo dõi hoạt động hàng ngày của các kho, 01 thủ quỹ.

Phòng tổ chức hành chính có 5 nhân viên

Nhân viên của khối tài chính kế toán đều có trình độ từ Trung cấp trở lên,trong đó có 5 nhân viên trình độ đại học (chiếm 45,5%) Thái độ làm việc củacác nhân viên đều rất nghiêm túc, tuy nhiên lại dẫn đến nhược điểm là ít linhhoạt trong tổ chức

c Lao động của khối kinh doanhKhối kinh doanh có 19 nhân viên làm việc tại văn phòng và khoảng 10nhân viên làm việc hỗ trợ bán hàng tại các kho phân phối

Phòng kinh doanh: Có 8 nhân viên thuộc phòng kinh doanh:

 01 trưởng phòng Marketing

 06 nhân viên chức năng, bao gồm: nhân viên phụ trách sản phẩm

mù tạt; nhân viên phát triển thị trường ngõ ngách (không phải thịtrường ngõ ngách đúng lý thuyết, đây là nhân viên tìm cách đưasản phẩm vào các cửa hàng thực phẩm trong ngõ ngách nhỏ củađường phố Hà Nội); nhân viên phát triển thị trường cho các sảnphẩm cắt lát; nhân viên giám sát bán hàng; nhân viên phụ trách thịtrường ngoại tỉnh; và nhân viên chức năng về hệ thống thông tin,internet, mạng nội bộ

 01 nhân viên kế toán

Ngoài ra còn có 4 nhân viên hỗ trợ bán hàng tại các kho thuộc sự quản lý của phòng thịt sạch

Phòng Marketing: hiện tại có 8 nhân viên

Trang 21

 01 trưởng phòng Marketing

 01 nhân viên phụ trách thiết kế marquette

 01 nhân viên phụ trách tiếp thị Nhân viên này chịu trách nhiệmquản lý một đội gồm 5 nhân viên Promoter

Các nhân viên của khối kinh doanh phần lớn đều có trình độ từ Trung cấptrở lên, các nhân viên hỗ trợ bán hàng tại kho trình độ từ THPT trở lên Thếmạnh của lực lượng lao động ở đây là mặc dù tuổi trung bình còn trẻ, song khảnăng làm việc của họ rất tốt, nhanh nhẹn, linh hoạt và thành thạo với công việc.Hầu hết các nhân viên làm việc tại công ty từ những năm đầu công ty mới thànhlập nên khả năng nắm bắt công việc rất tốt, họ chính là lực lượng đã giúp choviệc kinh doanh của công ty phát triển qua mấy năm thành lập

Tuy nhiên, nhân viên của khối kinh doanh có một vấn đề lớn mà nếu công

ty không giải quyết được triệt để thì sẽ khó phát huy hết khả năng của các nhânviên, không khai thác được một cách hiệu quả nguồn nhân lực Vấn đề có lẽ xuấtphát từ việc khối lượng công việc mà các nhân viên phải thực hiện là tương đốinhiều, nhưng thù lao nhận được lại không tương xứng (lương bình quân của mộtnhân viên là khoảng 1.100.000 đồng/tháng vào năm 2005) Vì lý do đó, các nhânviên có hiện tượng không còn chuyên tâm vào công việc, không cống hiến hếtmình cho thành công của công ty Hiện nay có đến 70% nhân viên của khối kinhdoanh đang làm thêm việc tại một công ty khác Điều này không những làmgiảm hiệu quả công việc của họ tại công ty Đức Việt mà còn ảnh hưởng tới công

ty ở chỗ họ sử dụng cơ sở vật chất của công ty (như điện thoại, máy tính…) đểlàm việc cho công ty khác

d Bộ máy quản lý

Có lẽ nhờ đặc điểm là một doanh nghiệp liên doanh nên ban lãnh đạo củacông ty Đức Việt làm việc khá tốt Dưới sự quản lý trực tiếp của Tổng Giám đốcMai Huy Tân – môt tiến sỹ toán học có nhiều năm kinh nghiệm trong kinhdoanh – và Phó tổng giám đốc người Đức Michel Campioni – một giám đốc củacông ty ở Đức với tác phong làm việc rất hiện đại – ban lãnh đạo công ty ĐứcViệt có được một tầm nhìn chiến lược sáng suốt, có cái nhìn tổng thể đúng đắn

về thị trường

Về cơ cấu quản lý của công ty, như đã trình bày ở phần cơ cấu tổ chức,người quản lý cao nhất, có quyền điều hành, giám sát mọi hoạt động là Tổnggiám đốc Hỗ trợ cho Tổng giám đốc trong quản lý là 2 Phó tổng giám đốc: Phó

Trang 22

tổng giám đốc người Đức – đồng thời là đại diện phần vốn góp phía Đức – giữvai trò tư vấn và giám sát hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh; Phó tổnggiám đốc người Việt hỗ trợ trực tiếp việc quản lý, điều hành hoạt động, chủ yếu

là hoạt động kinh doanh của công ty Dưới đó là các giám đốc của 3 khối Cấpquản lý tiếp theo là các trưởng phòng Các hoạt động sản xuất, kinh doanh đềuđược báo cáo thường xuyên hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng và hàng quý.Hàng ngày, các nhân viên báo cáo hoạt động trong ngày bằng cách ghi lên bảngphân công công việc tại các phòng, các trưởng phòng qua đó giám sát và điềuhành công việc cho hợp lý Hàng tuần, các nhân viên làm báo cáo tuần gửi chotrưởng phòng, liệt kê công việc đã làm trong tuần, kết quả và những công việc

dự kiến của tuần tới, những kiến nghị, đề xuất Cuối mỗi tháng, các nhân viên lạilàm báo cáo tháng gửi cho trưởng phòng Các trưởng phòng tập hợp hoạt độngcủa phòng lại trong báo cáo tháng gửi tới giám đốc khối, các giám đốc khối tiếptục báo cáo lên Phó tổng giám đốc và Tổng giám đốc Cuối mỗi quý, các trưởngphòng phải làm báo cáo gửi lên giám đốc khối, Phó tổng giám đốc và Tổng giámđốc

Ngoài việc quản lý thông qua văn bản báo cáo, các cấp quản lý còn thườngxuyên kiểm tra và điều hành trực tiếp các hoạt động

Hai tuần một lần, các khối đều có cuộc họp toàn bộ nhân viên, ban lãnhđạo tập hợp ý kiến của mọi nhân viên đề tìm ra các vấn đề và đưa ra giải pháp

Do đó, việc giám sát hoạt động được thực hiện rất tốt

Tuy nhiên, nhược điểm của bộ máy quản lý công ty Đức Việt là quản lýnhân sự chưa tốt Mặc dù có sự thân thiện giữa các cấp quản lý với nhân viênsong những nguyện vọng thực sự của các nhân viên vẫn chưa được đáp ứng, dovậy động lực trong lao động bị giảm sút, đây là nguyên nhân dẫn tới việc họ làmviệc cho 2 công ty một lúc Một số người quản lý cũng rơi vào tình trạng này

Tóm lại, nguồn lực bên trong công ty Đức Việt khá vững mạnh, tuy nhiêncũng chưa được khai thác hiệu quả Nguồn lực nội bộ đã giúp cho công ty pháttriển tốt trong những năm qua, song nếu công ty không tập trung khai thác tốthơn, hiệu quả hơn, đặc biệt là nguồn nhân lực thì sự phát triển có thể sẽ khôngbền vững, hoặc sẽ chậm lại trong thời gian tới

Điều kiện môi trường

Môi trường vĩ mô

Trang 23

Các môi trường vĩ mô chủ yếu ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinhdoanh của công ty là môi trường kinh tế, môi trường pháp luật và môi trườngcông nghệ; bên cạnh đó, môi trường nhân khẩu học, môi trường tự nhiên và môitrường văn hóa cúng có ảnh hưởng không nhỏ.

a Môi trường kinh tếSản phẩm của công ty Đức Việt vốn là các sản phẩm cao cấp nên nó chỉphù hợp với những người tiêu dùng có thu nhập tương đối khá, vì thế, môitrường kinh tế ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển của toàn ngành nói chung

và công ty nói riêng

Cách đây khoảng 10 đến 20 năm, khi nền kinh tế trong nước còn chưamấy phát triển, đời sống nhân dân còn khó khăn, việc chi tiêu tập trung chủ yếuvào những sản phẩm thiết yếu phục vụ ăn, ở, mặc, và những thực phẩm có vẻcao cấp như xúc xích, thịt sạch ít được quan tâm Khi nền kinh tế đã phát triểnhơn, nhu cầu tiêu dùng bây giờ không còn là “ăn no mặc ấm” nữa mà đã chuyểnsang “ăn ngon, mặc đẹp”, đồng thời, để tiết kiệm thời gian, người ta sử dụngnhiều hơn thực phẩm chế biến, đó là cơ hội cho sự phát triển ngành Bên cạnh

đó, kinh tế phát triển, nhu cầu của con người cũng tăng lên, họ đòi hỏi những sảnphẩm có chất lượng ngày càng cao, đặc biệt là yêu cầu an toàn thực phẩm, vìthế, sản phẩm của Đức Việt, đặc biệt là sản phẩm thịt heo an toàn, có cơ hội đểphát triển sản xuất kinh doanh hơn nữa

Sự phân hóa thu nhập sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu thị trường của công ty ỞViệt Nam có sự khác biệt khá rõ nét giữa cư dân nông thôn và thành thị Nhữngngười có thu nhập cao tập trung phần lớn ở các thành phố lớn như Hà Nội, thànhphố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, và ở trung tâm của các tỉnh Vì thếhiện tại thị trường của công ty chỉ tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn và cácthành phố, thị xã trung tâm một vài tỉnh Xu hướng giảm bớt phân hóa thu nhậptrong tương lai sẽ là cơ hội để thị trường của công ty được mở rộng

Sự lạm phát của nền kinh tế cũng có tác động đáng kể Khi nền kinh tế lâmvào lạm phát, giá cả tất cả các mặt hàng gia tăng khiến cho chi phí sản xuất tănglên Để bù đắp cho chi phí tăng lên đó, công ty buộc phải tăng giá bán sản phẩm,hành động này sẽ gặp phải phản ứng của người tiêu dùng và sẽ có ảnh hưởngxấu đến việc kinh doanh của công ty

b Môi trường luật pháp

Trang 24

Việc thành lập công ty, thành lập doanh nghiệp liên doanh được quy địnhchặt chẽ bởi pháp luật Là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, công ty ĐứcViệt cũng được hưởng nhiều ưu đãi của nhà nước và pháp luật.

Những quy định bắt buộc của pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm vừađặt ra cho Đức Việt những thách thức, lại vừa là cơ hội cho công ty, bởi triết lýkinh doanh của công ty chính là “thịt và thực phẩm sạch vì sức khỏe và tuổi thọcon người”, phương châm hành động là “Sạch từ trang trại tới bàn ăn”

Những ảnh hưởng của môi trường luật pháp còn thể hiện ở những quyđịnh về bảo hộ thương hiệu, về đăng ký thương hiệu chuẩn và việc thực hiệncác chương trình marketing Các pano, aphich quảng cáo, các sự kiện phải được

tổ chức thực hiện theo quy định của pháp luật, các thông tin trên nhãn mác cũngphải qua kiểm duyệt…

c Môi trường công nghệ kỹ thuậtTrong thời đại công nghệ phát triển đến chóng mặt như hiện nay, yêu cầubắt buộc đặt ra cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp là phải theo kịptốc độ phát triển đó Với một công ty chế biến thực phẩm như Đức Việt, vấn đềcông nghệ được coi như để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm Hiện nay, nhàmáy sản xuất của công ty đang được trang bị dây chuyền công nghệ hiện đại, từ

lò mổ tới thiết bị pha lọc, chế biến Tuy nhiên, công nghệ đó có thể nhanh chóng

bị lỗi thời, lạc hậu, vì vậy, quan tâm tới công nghệ mới là việc cần thiết Hơnnữa, những công nghệ, kỹ thuật mới sẽ gợi mở cho công ty những cơ hội về sảnphẩm mới, thị trường mới và có thể là hướng đi mới

Bên cạnh đó, ảnh hưởng của môi trường công nghệ còn thể hiện ở hệthống thông tin liên lạc của công ty Khi công nghệ viễn thông phát triển, việcliên lạc bằng điện thoại, mạng điện tử, máy fax… làm tăng hiệu quả quá trìnhthông tin lên rất nhiều Tuy nhiên, với mức độ trang bị hiện tại cho thấy công tychưa khai thác hết những tiến bộ công nghệ phổ biến

d Những ảnh hưởng khác từ môi trường vĩ môNhững vấn đề về dân số và con người như quy mô, mật độ dân số, phân bốdân cư, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, kiểu hộ gia đình… là những vấn đề củamôi trường nhân khẩu học có ảnh hưởng quan trọng tới thị trường của công ty.Những gia đình có con nhỏ, hay nghề nghiệp là cán bộ công chức, hay nhữngphụ nữ trung tuổi… là đối tượng quan tâm nghiên cứu của công ty

Trang 25

Là doanh nghiệp thực hiện sản xuất, công ty Đức Việt không thể khôngquan tâm đến môi trường tự nhiên Các chất thải hóa học từ nhà máy phải được

xử lý hợp lý để đảm bảo vệ sinh môi trường Cũng từ yêu cầu bảo vệ môi trường

tự nhiên, công ty đã hợp tác với DED (tổ chức hỗ trợ phát triển của Đức) và HộiNông dân huyện Yên Mỹ (Hưng Yên) thực hiện dự án nuôi cá trên vùng đấttrũng xử lý chất thải nuôi lợn Việc làm này không những tạo được hình ảnh tốtđẹp cho doanh nghiệp mà còn có ảnh hưởng tích cực tới những người cung ứngđầu vào của công ty (những người chăn nuôi lợn), tạo được mối quan hệ tốt vớingười cung ứng

Môi trường ngành

Ngành chế biến thực phẩm hiện đang là một ngành phát triển rất sôi động.Theo nhận định của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực này, tốc độ phát triển củangành đã liên tục tăng từ khoảng 4 năm trở lại đây, và sẽ còn tiếp tục tăng nhanhhơn nữa trong năm 2007

Trước kia, việc sử dụng thực phẩm chế biến không được nhiều người tiêudùng ưa chuộng vì lo sợ ảnh hưởng đến sức khỏe (do chất bảo quản trong thựcphẩm) hay vì thói quen tự chế biến thức ăn từ nguyên liệu tươi sống, hoặc vì giá

cả của thực phẩm chế biến quá cao… Tuy nhiên, khi nền kinh tế phát triển, cuộcsống của người tiêu dùng trở nên bận rộn hơn, lúc này tính tiện dụng, tiết kiệmthời gian của thực phẩm chế biến lại trở thành ưu điểm để nó được lựa chọn.Đồng thời, khoa học công nghệ phát triển, người tiêu dùng cũng an tâm hơn vềtính an toàn của thực phẩm nhờ công nghệ bảo quản chân không, hay đônglạnh… Ngoài ra, thực phẩm chế biến có hương vị, màu sắc rất phong phú, lại cóthể an tâm trước những dịch bệnh như long móng lở mồm, cúm gà… (vì thựcphẩm chế biến là sản phẩm đã được qua kiểm dịch) Do vậy, thực phẩm chế biếnđược người tiêu dùng lựa chọn nhiều hơn, làm cho thị trường trở nên sôi động

Xu hướng trong một vài năm tới, nhu cầu về thực phẩm chế biến an toàn còntăng mạnh hơn nữa, đồng nghĩa với nó là tốc độ phát triển của ngành ngày mộtcao, và sẽ càng có nhiều doanh nghiệp mới tham gia vào

Nếu tập trung vào nhóm ngành thực phẩm chế biến từ thịt cũng vẫn thấykhông khí sôi động như toàn ngành thực phẩm chế biến nói chung Các sảnphẩm thấy nhiều nhất trên thị trường là xúc xích, thịt nguội, đồ hộp, giò chả, …Chỉ riêng xúc xích đã có đến mấy loại, với rất nhiều nhãn hiệu khác nhau, nhưxúc xích ăn liền, xúc xích nướng, xúc xích khô, xúc xích tỏi… Người tiêu dùng

sử dụng nhiều các sản phẩm loại này vì nhu cầu về thức ăn có thịt trong bữa ăn

Trang 26

là không thể thiếu, những thực phẩm chế biến này vừa an toàn, lại tiết kiệm thờigian, phong phú và cũng không quá đắt so với việc mua thịt sống về chế biến.Theo ông Mai Huy Tân, hiện nay, mặt hàng xúc xích, thực phẩm chế biến từ thịt,loại có thương hiệu phải đến hàng chục, loại không có thương hiệu phải đếnhàng nghìn Các doanh nghiệp có tên tuổi lớn khác hiện nay là Vissan, HiếnThành, HaLongcanfoco, Seaspimex, Hapro… Mỗi hãng đều có thế mạnh riêngcho mình, đặc biệt Vissan, Hiến Thành và HaLongcanfoco là những hãng đã cómặt trên thị trường Việt Nam nhiều năm nay, thương hiệu đã có vị trí khá vữngchắc trong tâm trí người tiêu dùng Các doanh nghiệp đều ra sức cạnh tranh vớinhau, từ chủng loại sản phẩm, hương vị, giá cả cho đến mẫu mã, phân phối…Chiến lược chung khá giống nhau, đó là cung cấp giá trị về sự tiện dụng, antoàn, thơm ngon… cho người tiêu dùng.

Thị trường sản phẩm thịt heo an toàn thì bớt căng thẳng hơn Do người tiêu dùngViệt Nam cũng còn giữ thói quen mua thịt tươi ấm nóng ngoài chợ nên mức độquan tâm tới thịt sạch còn ít Chỉ từ khi dịch bệnh từ gia súc, gia cầm ngày càngbùng phát người tiêu dùng mới quan tâm nhiều tới thịt an toàn Từ khoảng giữanăm 2006, nhu cầu về thịt sạch tăng một cách nhanh chóng, người tiêu dùng chấpnhận bỏ ra một khoản tiền cao hơn một chút để đổi lấy sự an toàn Các nguồn cungcấp thịt sạch chủ yếu là các cửa hàng bán lẻ được chứng nhận kiểm dịch, các siêuthì và các cửa hàng thịt sạch bảo quản lạnh Hiện nay, ngoài Đức Việt ra chỉ có 1nhà cung cấp thịt heo an toàn lớn khác, đó là công ty TNHH Chăn nuôi CP ViệtNam, ngoài ra là một dự án “Sản xuất thử thịt heo an toàn ở thành phố Hồ ChíMinh” đang được đưa ra xem xét.Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh qua cácnăm

Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh qua các năm

Công ty Liên doanh Đức Việt TNHH được thành lập từ tháng 10 năm

2002, trong hai năm đầu kết quả sản xuất kinh doanh còn chưa ổn định do hoạtđộng tập trung chủ yếu vào đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất Từ măm 2004,hoạt động sản xuất kinh doanh bắt đầu đi vào ổn định, đến năm 2005, các kếtquả đã thể hiện sự phát triển của công ty và còn phát triển mạnh hơn vào năm

2006 Dưới đây là Bảng báo cáo kết quả kinh doanh năm 2004 và 2005 của công

ty

Bảng 2: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2004 và 2005

Đơn vị tính: 1000 đồng

Trang 27

Chỉ tiêu Năm

2004

Năm2005

Thông quả bảng báo cáo trên có thể thấy sự tăng trưởng rõ nét qua 2 năm

2004 – 2005 Năm 2004, kết quả sản xuất không được cao, doanh thu thuần hoạtđộng bán hàng chỉ ở con số trên 5 tỉ đồng Đến năm 2005, doanh thu thuần đã

đạt là hơn 9 tỉ đồng, tăng tới 80% so với năm 2004 (Tuy chưa có báo cáo chính xác nhưng doanh thu ước tính của năm 2006 là khoảng 50 tỉ đồng) Về số tuyệt

đối, kết quả doanh thu như vậy chưa phải là cao, song tốc độ tăng trưởng củaĐức Việt như vậy đã vượt xa so với tốc độ trung bình của ngành là 20 – 25%mỗi năm

Chi phí bán hàng năm 2005 đã tăng lên 65% so với năm 2004, điều nàycho thấy công ty đã tập trung nhiều nỗ lực hơn cho hoạt động bán hàng – mộthoạt động chính mang lại doanh thu cho công ty Tổng chi phí cho kinh doanh(bao gồm giá vốn hàng bán và chi phí bán hàng) năm 2004 chiếm tới 89,81%doanh thu thuần, làm cho lợi nhuận của công ty còn rất thấp Con số này đếnnăm 2005 là 81,554%, tuy có giảm đi nhưng vẫn tương đối cao Tuy nhiên, năm

2005, tổng chi phí chỉ tăng lên 74,174% so với năm 2004, trong khi doanh thutăng lên tới 80%, dẫn đến lợi nhuận thuần tăng lên 133% Điều này cho thấynăm 2005 công ty đã biết sử dụng chi phí hiệu quả hơn, dẫn đến hiệu suất trênmột đơn vị chi phí cao hơn Tính hiệu quả còn có thể thấy được thông qua tỉ suấtlời của vốn chủ sở hữu (ROE = Lợi nhuận sau thuế/Vốn chủ sở hữu bình quân)

Năm 2004 = 357.814.000/9.054.011.448 =3,952%

Năm 2005 = 834.165.000/13.370.136.013 = 6,24%

Trang 28

(Nguồn: Phòng kế toán)

Một điều có thể nhận thấy rõ ràng là kết quả sản xuất kinh doanh của năm

2004 khá thấp, đến năm 2005, kết quả này đã có sự tăng trưởng rõ rệt Tuynhiên, kết quả như vậy so với những nỗ lực đầu tư của công ty thì chưa thực sựhiệu quả Một nguyên nhân thực tế có thể nhận thấy là đây chỉ là con số báo cáocủa công ty, số liệu thực tế có thể cao hơn khoảng 2 lần Mặc dù vậy, kết quả đócũng chưa phải là cao Nguyên nhân một phần do công ty lúc này vẫn còn khámới mẻ trên thị trường, phản ứng cạnh tranh của các doanh nghiệp khác trongngành lại rất gay gắt, hơn nữa, lúc này công ty vẫn chưa có sự đầu tư đúng mứcvào marketing và bán hàng, dù mức chi phí bỏ ra đã cao hơn song chi phí bánhàng vẫn chỉ chiếm khoảng 6,73% doanh thu Qua năm 2006, khi bộ phậnmarketing được thành lập, tỷ lệ này đã tăng lên, do vậy, kết quả kinh doanh cũngnhư giá trị thương hiệu của công ty đã tăng lên rõ rệt

Trang 29

Chương II - THỤC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU MARKETING TẠI CÔNG TY LIÊN DOANH ĐỨC VIỆT TNHH

I Thực trạng hoạt động marketing của công ty

Vai trò của marketing trong công ty

Nhận thức và đầu tư cho marketing của công ty

Công ty Liên doanh Đức Việt TNHH được thành lập chưa lâu, hoạt độngsản xuất kinh doanh chỉ thực sự được tiến hành ổn định từ năm 2004 – thời điểm

mà thị trường thực phẩm chế biến đã cạnh tranh rất sôi động với nhiều thươnghiệu lâu năm Vì thế, để có thể tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh

đó, ban lãnh đạo công ty cũng nhận thức được vai trò quan trọng của họat độngmarketing Tổng giám đốc Mai Huy Tân cho rằng thật khó có thể tìm ra một sảnphẩm nào không phải cạnh tranh trên thị trường Vì thế doanh nghiệp phải cónhững giải pháp riêng để tiếp cận với khách hàng một cách có hiệu quả Nhưmặt hàng xúc xích, thực phẩm chế biến từ thịt, loại có thương hiệu phải đếnhàng chục, loại không thương hiệu phải đến hàng nghìn… Phó tổng giám đốcMichel Campioni cũng nhận thức rõ ràng rằng không làm marketing một cáchbài bản thì công ty khó có thể cạnh tranh với các đối thủ đang rất vững mạnh và

những đối thủ còn ẩn mình đâu đó chờ cơ hội tấn công (Nguồn:Phòng Marketing – Tài liệu marketing)

Những quan điểm trên cho thấy ban lãnh đạo công ty thực sự có cái nhìnđúng đắn về vai trò của các hoạt động marketing Tuy nhiên, trong suốt năm

2004 cho đến tháng 8 năm 2005, công ty vẫn không có một bộ phận riêng thựchiện chức năng marketing, chủ yếu các do ban lãnh đạo và phòng kinh doanhđảm nhận một vài nhiệm vụ như quảng cáo, xúc tiến bán… nhưng chỉ ở mức sơsài, gần như không có Một phần vì công ty còn chưa đi vào ổn định về mặt cơcấu, chi phí còn tập trung cho nhiều hoạt động khác, một phần vì tính cấp thiếtchưa xuất hiện

Tháng 9 năm 2005, do yêu cầu của cạnh tranh ngày càng gay gắt, công tychính thức có Bộ phận marketing, là bộ phận thuộc phòng Kinh doanh Tháng

10 năm 2006, khi công ty mở thêm văn phòng tại số 14 ngõ 4 Kim Đồng, bộphận marketing chính thức được tách riêng khỏi phòng Kinh doanh, trở thànhphòng Marketing

Trang 30

Từ năm 2005 trở về trước, tổng chi phí cho hoạt động marketing của công

ty rất thấp, hầu như chỉ tập trung cho việc bán hàng Đến năm 2006, chi phí chohoạt động marketing ước tính khoảng 1,2 tỉ đồng, bằng 2% doanh thu hoạt độngsản xuất kinh doanh Chi phí dự kiến cho năm 2007 là khoảng 3,5 tỉ đồng

Nhiệm vụ, chức năng phòng Marketing

Mặc dù là một phòng riêng, song chức năng chủ yếu của phòng Marketing

là truyền thông Cụ thể như sau:

 Thiết kế bao bì, nhãn mác, tem sản phẩm và các mẫu quảng cáo

 Lập kế hoạch các chương trình truyền thông (quảng cáo, khuyếnmãi, PR, bán hàng trực tiếp) và đề xuất lên cấp trên

 Tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát các chương trình truyềnthông đã được phê duyệt thực hiện

 Xây dựng hệ thống truyền thông thị giác chuẩn cho thương hiệuBên cạnh đó, một số hoạt động marketing khác cũng được công ty thựchiện, song thực hiện bởi bộ phận khác:

 Hoạt động nghiên cứu và phát triển do phòng Kinh doanh thựchiện

 Các quyết định về sản phẩm và giá do ban lãnh đạo cấp cao thựchiện, gồm có Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, các Giám đốc vàtrưởng phòng Thịt sạch – nếu đó là quyết định liên quan đến sảnphẩm thịt heo an toàn

 Các hoạt động và quyết định liên quan tới kênh phân phối dophòng Kinh doanh thực hiện

Tình hình thực hiện kế hoạch marketing

Trình tự lập và thực hiện kế hoạch marketing

Để lập một kế hoạch marketing, trưởng phòng Marketing cần căn cứ vàotình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong kỳ trước, mục tiêu kỳtới và tình hình thực tế các hoạt động marketing kỳ trước (chi phí, hiệu quả) để

đề xuất cho các hoạt động của kỳ tới Thực chất các kế hoạch marketing củaphòng Marketing chỉ là các kế hoạch về truyền thông, còn những vấn đề khác vềmarketing lại do phòng Kinh doanh và phòng Thịt sạch đề xuất Công việc lập

kế hoạch truyền thông này được thực hiện theo 3 cấp độ:

Trang 31

 Kế hoạch truyền thông định hướng cho cả năm (thực hiện vào cuốimỗi năm, định hướng cho năm tới, chi tiết theo từng quý, từng tháng)

 Kế hoạch các chương trình truyền thông cho quý (thực hiện vàocuối mỗi quý, dự kiến cho cả quý tới, chi tiết theo từng tháng, từng tuần)

 Kế hoạch các hoạt động cụ thể cho tháng (thực hiện vào cuối mỗitháng, dự kiến cho tháng tới, chi tiết theo tuần, ngày)

Các kế hoạch, đề xuất đó được tập hợp cùng với các đề xuất về marketingcủa phòng Kinh doanh và phòng Thịt sạch gửi lên Giám đốc Kinh doanh trởthành bản kế hoạch marketing của khối kinh doanh trình lên Tổng giám đốc vàPhó tổng giám đốc phê duyệt

Khi một bản kế hoạch đã được Tổng giám đốc hoặc Phó tổng giám đốcphê duyệt, Giám đốc kinh doanh sẽ trực tiếp giám sát việc thực hiện các kếhoạch đó, còn việc thực hiện cụ thể sẽ do phòng Marketing, phòng Kinh doanh

và phòng Thịt sạch thực hiện theo đề xuất của mình Trình tự báo cáo kết quảviệc thực hiện kế hoạch marketing giống với trình tự đề xuất kế hoạch

Thực hiện chiến lược định vị

 Dây chuyền công nghệ sản xuất hiện đại

 Sản phẩm xúc xích Đức của Đức Việt đã có mặt trên thị trường từnăm 2002 (là sản phẩm của công ty Sản xuất, thương mại và dịch vụ ĐứcViệt), được người tiêu dùng đánh giá cao về chất lượng và ưa chuộng.Cho tới thời điểm cuối năm 2005, sản phẩm này vẫn chưa có đối thủ cạnhtranh

Điểm yếu:

Trang 32

 Chất lượng các loại sản phẩm khác chưa có độ ổn định cao, vẫn cónhững lô hàng sai về mẫu mã, quy cách đóng gói; màu sắc, hương vị chưathật sự bắt mắt…

 Dịch vụ khách hàng cho tới thời điểm cuối nâm 2005 còn yếukém, nhân viên bán hàng lấy đơn hàng rất bị động do chỉ làm việc tronggiờ hành chính

 Việc thực hiện các chương trình truyền thông chưa chuyên nghiệp,thiếu đồng bộ; việc quảng cáo chủ yếu thông qua hình thức tờ rơi, biểnbảng, còn các hình thức quảng cáo khác, hay các sự kiện chưa được chú ýđến

 Việc đào tạo nguồn lao động chưa được tiến hành thường xuyên

và bài bản

Cơ hội:

 GDP bình quân theo đầu người năm 2005 đạt 620USD/người/năm, đến năm 2008 ước tính sẽ đạt 736 USD/người/năm, mứctăng trưởng của nền kinh tế cũng ngày một cao tạo cơ hội cho việc tiêuthụ mặt hàng thực phẩm chế biến

 Các vụ ngộ độc thực phẩm và các đại dịch từ gia súc, gia cầmkhiến người dân và Nhà nước có sự quan tâm nhiều hơn đến vấn đề vệsinh an toàn thực phẩm

Thách thức:

 Sự xuất hiện ngày càng nhiều những nhãn hiệu thực phẩm chếbiến mới trên thị trường với mẫu mã tương tự sản phẩm của công ty ĐứcViệt nhưng giá thành rẻ hơn, dẫn đến cạnh tranh về giá

 Phản ứng cạnh tranh ngày càng gay gắt của những đối thủ cạnhtranh hiện có trên thị trường như Vissan, Hiến Thành, HaLongcanfoco, …

 Đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng về chất lượng, hìnhthức và dịch vụ đi kèm cho sản phẩm

Chiến lược định vị được lựa chọn

Nhận thức rõ được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với cácsản phẩm của công ty như vậy, việc định vị thương hiệu cho sản phẩm và công

Trang 33

ty bắt đầu được thực hiện một cách nghiêm túc vào cuối năm 2005, đầu năm2006.

Với thế mạnh là sản phẩm xúc xích theo công nghệ Đức, công ty thực hiệnđịnh vị đó là sản phẩm xúc xích Đức số 1 trên thị trường Hoạt động sản xuất,định giá, phân phối và đặc biệt là truyền thông được thực hiện nhằm nâng cao vịthế của sản phẩm xúc xích Đức Việt trong tâm trí khách hàng, gia tăng sự trungthành của khách hàng

Khách hàng mục tiêu mà công ty nhắm tới, đó là những nhà hàng, kháchsạn, những hộ gia đình có thu nhập khá, những phụ nữ có sự nghiệp riêng songvẫn làm việc nội trợ, trẻ em, thanh niên và khách hàng uống bia Nói chung,không có sự loại bỏ người tiêu dùng nào ra khỏi khách hàng mục tiêu của công

ty, việc phân chia chỉ có ý nghĩa nhằm thực hiện các hoạt động marketing chophù hợp với từng đối tượng khách hàng Mục tiêu định vị của công ty là xâydựng một thương hiệu thực phẩm Đức Việt là thực phẩm an toàn, có hương vịđộc đáo, vừa hiện đại, vừa truyền thống

Từ đầu năm 2006 công ty đã thực hiện thống nhất các hình ảnh truyềnthông, xây dựng được một hệ thống truyền thông thị giác chuẩn về thương hiệu.Thương hiệu thực phẩm Đức Việt được khuếch trương mạnh mẽ đến người tiêudùng, tuy nhiên, vì nhấn mạnh vào sản phẩm xúc xích nên thương hiệu đượcngười tiêu dùng chấp nhận lại là xúc xích Đức Việt Công ty thống nhất sử dụnglogo với chữ màu đỏ cho hình ảnh của toàn công ty và cho mọi sản phẩm

Hệ thống màu quy chuẩn được sử dụng gồm 3 màu: xanh lá cây, đỏ và vàng,trong đó, màu xanh được thể hiện trên bao bì sản phẩm, sử dụng trên các bảngbiển quảng cáo, các tờ rơi như là màu nền chủ đạo, màu vàng được dùng xen vớimàu xanh tạo hình ảnh như những giọt nước và được dùng làm màu nền cho bao

bì, nhãn mác một số sản phẩm; màu đỏ dùng cho màu chữ và màu thực phẩm(thịt hồng) Với hệ thống màu đó, sản phẩm Đức Việt trở nên khác biệt về mặt

ấn tượng thị giác với các sản phẩm cùng loại khác trên kệ trưng bày, thu hútđược sự chú ý của người tiêu dùng

Mục tiêu định vị của công ty là biến Đức Việt trở thành thương hiệu củathực phẩm có mùi vị ngon, an toàn, vì thế câu slogan được công ty sử dụng đó là

“Thực phẩm Đức Việt vừa ngon vừa lành” Đây là một câu logo dễ nhớ, thânthiện, không những thể hiện được định vị của công ty mà còn tạo được sự tin cậycủa người tiêu dùng Một triết lý kinh doanh cũng được công ty truyền thông tới

Trang 34

khách hàng và mọi công chúng là “Thịt và thực phẩm sạch vì sức khỏe và tuổithọ con người”, song song với triết lý đó là phương châm hành động “Sạch từtrang trại tới bàn ăn” Với những phương châm, triết lý đó, công ty đã xây dựngrất thành công đặc tính “an toàn” của thương hiệu thực phẩm Đức Việt, nhưngchưa thực sự thành công trong việc xây dựng tính “hương vị độc đáo”.

Năm 2006, công ty đã rất thành công trong việc xây dựng vị thế cho sảnphẩm xúc xích, nhưng vị thế cho “thực phẩm Đức Việt” vẫn chưa thực sự đượcngười tiêu dùng đánh giá cao, vì thế, năm 2007, công ty đã có những kế hoạch

nỗ lực hơn trong việc xây dựng uy tín cho cả hệ thống sản phẩm của mình

Các biến số của marketing mix

Trong 4 biến số của marketing mix: sản phẩm, giá cả, phân phối và truyềnthông (xúc tiến hỗn hợp), phòng Marketing chỉ đảm nhiệm biến số cuối cùng,các biến số khác thuộc chức năng của ban lãnh đạo và phòng Kinh doanh Điềunày là do quan điểm về marketing của công ty, họ cho rằng hoạt động marketingchỉ bao gồm các hoạt động truyền thông, những hoạt động khác như tổ chứckênh phân phối, lập kế hoạch phát triển thị trường… được coi là chức năng củaphòng kinh doanh, của ban lãnh đạo

 Khái niệm 2: sản phẩm được hình thành từ nhu cầu, mong muốncủa người tiêu dùng, sau đó sẽ được nghiên cứu để tìm ra công nghệ thíchhợp để sản xuất

(Nguồn: Phòng kinh doanh)

Một điều dễ thấy đó là khái niệm 2 phù hợp với quan điểm marketing hiệnđại – định hướng khách hàng – hơn so với khái niệm 1, tuy nhiên, sản phẩm củacông ty Đức Việt lại được tạo ra theo khái niệm 1 Nguyên nhân đầu tiên là dothị trường thực phẩm chế biến từ thịt đã sẵn có trước khi công ty thành lập, đã cónhiều sản phẩm được ưa chuộng trên thị trường, do đó, công ty chỉ cần nghiên

Trang 35

cứu sản xuất những sản phẩm mà công nghệ cho phép, vì đó là những sản phẩm

đã được thị trường chấp nhận Nguyên nhân thứ 2 là do công ty chưa có một độingũ nghiên cứu thị trường chuyên nghiệp, việc tìm hiểu, phân tích nhu cầu củangười tiêu dùng rất khó thực hiện Tuy vậy, năm 2006 công ty cũng đã thực hiện

2 sản phẩm theo khái niệm 2, đó là sản phẩm xúc xích lẩu và sản phẩm phục vụcác trường tiểu học.Mặc dù kết quả chưa được tốt song đây cũng là sự thay đổiđáng kể trong hoạt động marketing của công ty

Về chính sách sản phẩm, ban đầu công ty chỉ thực hiện sản xuất và kinhdoanh một chủng loại sản phẩm, đó là xúc xích Đức nhằm tập trung nguồn lực

và khai thác triệt để lợi thế Sau khi sản phẩm xúc xích Đức đã có chỗ đứngvững chắc trên thị trường, danh mục sản phẩm bắt đầu được công ty mở rộng:thêm các sản phẩm cắt lát như thịt xông khói, jăm bông, xúc xích tỏi…, thêmmặt hàng mù tạt – loại sản phẩm có thể dùng chung với xúc xích - rồi thêm cácsản phẩm truyền thống của Việt Nam như giò lụa, giò tai, giò thủ… Chủng loạisản phẩm mới được đưa ra thị trường sẽ tận dụng uy tín thương hiệu Đức Việtsẵn có nhờ sản phẩm xúc xích, do đó khả năng thành công sẽ cao hơn

Giá

Các quyết định về giá của công ty Đức Việt được đưa ra bởi ban lãnh đạocông ty Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định về mức giá của công ty bao gồm:

 Mục tiêu kinh doanh và mục tiêu marketing: Hai mục tiêu này vốn

là cái cơ bản định hướng cho mọi hoạt động nên việc định giá cũng khôngnằm ngoài mục tiêu này Nếu như công ty đặt ra mục tiêu kinh doanh làtối đa hóa doanh thu, giá có thể được quyết định ở mức cao, hoặc mứcthấp vừa phải để tăng lượng bán, nếu công ty đặt ra mục tiêu kinh doanh

là đảm bảo sống sót, giá sẽ được định thấp để bù đắp chi phí… Thôngthường tại Đức Việt, mục tiêu kinh doanh là tăng thêm về doanh số và thịphần, do đó mức giá đưa ra thường không quá cao

 Vai trò của giá Trước mỗi quyết định giá cho một sản phẩm nào

đó, ban lãnh đạo thường đưa ra quyết định xem giá sẽ đóng vai trò gì Cónhững sản phẩm giá cả đóng vai trò là công cụ cạnh tranh, lúc đó giá đưa

ra sẽ không cao hơn của đối thủ cạnh tranh, đồng thời có thêm các dịch vụkhách hàng đi kèm

Trang 36

 Chi phí sản xuất Chi phí sản xuất là yếu tố quan trọng cần xemxét Tất cả các sản phẩm của Đức Việt thường được định giá để có thể bùđắp chi phí và đem lại lợi nhuận

 Giá của đối thủ cạnh tranh Đây là mức giá được công ty xem nhưgiá tham khảo cho mức giá sản phẩm của mình Thường mức giá công tyđưa ra sẽ tương đương với giá của Hiến Thành hoặc chênh lệch chút ít, giá

đó sẽ thấp hơn giá sản phẩm tương tự của Vissan (thông thường) và caohơn các sản phẩm địa phương như Life foods, Le Gourmet, Fexim …

 Chu kỳ sống của sản phẩm Tùy thuộc xem sản phẩm đó đang ởgiai đoạn giới thiệu, tăng trưởng, bão hòa hay suy thoái, công ty đưa rachính sách giá phù hợp

 Quy định của luật pháp

Các yếu tố trên luôn được xem xét cùng nhau, kết hợp để có phương án vềgiá tối ưu Chẳng hạn với sản phẩm xúc xích Đức, khi công ty giới thiệu sảnphẩm, do chưa có đối thủ cạnh tranh nên lúc này ban lãnh đạo không cần xemxét giá cả cạnh tranh Mục tiêu kinh doanh là tăng tối đa thị phần, do đó giáđược coi như một công cụ marketing thu hút người tiêu dùng Chi phí cũng đượcđem ra cân nhắc sao cho giá có thể bù đắp chi phí và đem lại lợi nhuận, vì vậycông ty đã chọn một mức giá vừa phải, thấp hơn nhiều so với xúc xích nhậpngoại để thu hút khách hàng song cũng đủ cao để đem lại lợi nhuận và khônggây ra liên tưởng chất lượng thấp Tuy nhiên, đến giai đoạn phát triển của sảnphẩm, bắt đầu có những nhãn hiệu mới xâm nhập thị trường, mặc dù sản phẩmxúc xích Đức Việt vẫn đang tiếp tục được ưa chuộng, tiếp tục tăng thị phần songcông ty vẫn phải lường trước các hoạt động cạnh tranh, vì thế, giá được điềuchỉnh để phù hợp với lượng lớn thị trường hơn, đồng thời loại bỏ được các đốithủ cạnh tranh ít khả năng Hiện nay, xúc xích Đức của Đức Việt đang ở vào giaiđoạn phát triển, tuy nhiên do sự xuất hiện ngày càng nhiều các sản phẩm cạnhtranh, giai đoạn bão hòa sẽ là một tương lai không còn xa Vì vậy công ty liêntục có những biện pháp tăng khả năng cạnh tranh khác để tránh một cuộc chiếntranh về giá có thể xảy ra

Công ty Đức Việt thực hiện chính sách giá phân biệt theo khách hàng.Thông thường giá bán cho thị trường ngoại tỉnh là giá thấp nhất, vì thu nhập củangười tiêu dùng ngoại tỉnh thường thấp hơn các thành phố lớn, hơn nữa chi phívận chuyển khá cao; giá thấp thứ 2 là dành cho các siêu thị, vì họ thường tiêu thụ

Trang 37

số lượng lớn, và họ cần chi phí mua thấp để bù đắp chi phí bán hàng; tiếp theo làgiá bán cho các cửa hàng thực phẩm, rồi lần lượt đến giá bán cho nhà hàng, giácho khách sạn và cao nhất là giá bán lẻ trực tiếp Ví dụ: giá xúc xích nướng loại84g/chiếc: giá cho thị trường ngoại tỉnh là 58000 đồng/kg, giá cho siêu thị là

59000 đồng/kg, giá cho các cửa hàng thực phẩm là 63000 đồng/kg, giá cho nhàhàng là 65000 đồng/kg, giá bán cho khách sạn là 66000 đồng/kg và giá bán lẻ là

68000 đồng/kg (xem Phụ lục 1 “Bảng giá các sản phẩm của công ty Liên doanhĐức Việt TNHH”) Chính sách giá phân biệt này sẽ giúp công ty khai thác đượctốt hơn các đoạn thị trường khác nhau do nhu cầu, mong muốn của các đoạn làkhác nhau Tuy nhiên một khó khăn có thể gặp phải là dẫn tới phản ứng củakhách hàng khi họ nhận biết có sự “bất công” trong giá cả

Phân phối

Sơ đồ 3: Cấu trúc kênh phân phối của công ty

(Nguồn: phòng Kinh doanh, năm 2006)

Đặc điểm khách hàng của Đức Việt là thuộc mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, do

đó việc bao phủ được càng nhiều thị trường là yêu cầu quan trọng của phân phối

Để có thể bao quát tất cả thị trường, Đức Việt sử dụng một cấu trúc kênh hỗnhợp với nhiều loại trung gian khác nhau Sơ đồ cấu trúc kênh phân phối củacông ty:

Nhìn vào sơ đồ có thể thấy cấu trúc kênh phân phối của công ty Đức Việtrất phức tạp, có phần chồng chéo Về chiều dài, kênh phân phối của công ty là

Nhà sản xuất Công ty Đức Việt.

Nhà bán buôn (Nội thành)

Đại lý (Nhà phân phối)

Bán lẻ (Cửa hàng thực

phẩm, siêu thị)

Bán lẻ (Hệ thống cửa hàng bán

lẻ)

Người tiêu dùng

Bán lẻ (Nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi)

Nhà bán buôn (Ngoại tỉnh)

Ngày đăng: 27/08/2012, 14:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức công ty Liên doanh Đức Việt TNHH - Hoạt động nghiên cứu marketing tại công ty Liên doanh Đức Việt TNHH – thực trạng và giải pháp.doc.DOC
Sơ đồ 1 Cơ cấu tổ chức công ty Liên doanh Đức Việt TNHH (Trang 8)
Sơ đồ 2: Quy trình sản xuất - Hoạt động nghiên cứu marketing tại công ty Liên doanh Đức Việt TNHH – thực trạng và giải pháp.doc.DOC
Sơ đồ 2 Quy trình sản xuất (Trang 12)
Sơ đồ 3: Cấu trúc kênh phân phối của công ty - Hoạt động nghiên cứu marketing tại công ty Liên doanh Đức Việt TNHH – thực trạng và giải pháp.doc.DOC
Sơ đồ 3 Cấu trúc kênh phân phối của công ty (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w