1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Di tích giồng lớn và vai trò của nó với sự hình thành văn hoá óc eo ở vùng ven biển đông nam bộ

332 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 332
Dung lượng 23,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nhóm di tích này đã bắt đầu có những yếu tố Óc Eo, gợi mở cho các nhà nghiên cứu đi tìm một con đường hình thành nên văn hoá Óc Eo ở vùng ven biển Đông Nam Bộ.. Với những lý do nói

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Tên

đề tài luận án không trùng với bất cứ nghiên cứu nào đã được công bố Các tài liệu, số liệu, trích dẫn trong luận án là trung thực, khách quan, rõ ràng về xuất

xứ Những kết quả nêu trong luận án chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận án

Trương Đắc Chiến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Vũ Quốc Hiền và PGS.TS Lâm Thị Mỹ Dung - những người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận án

Trong thời gian thực hiện luận án tôi đã nhận được nhiều lời khuyên quý báu của TS Ngô Thế Phong (Hội Khảo cổ học Việt Nam) và sự giúp đỡ về mặt tư liệu của TS Andreas Reinecke (Viện Khảo cổ học Quốc gia Đức) Xin trân trọng cảm

ơn các tiến sĩ

Luận án này sẽ không thể hoàn thành nếu không có sự tạo điều kiện của lãnh đạo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cũng như sự giúp đỡ của các bạn đồng nghiệp trong bảo tàng, đặc biệt là các cán bộ phòng Nghiên cứu - Sưu tầm, phòng Quản lý hiện vật và phòng Tư liệu - Thư viện Xin trân trọng cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu

ấy Tôi cũng không quên sự chỉ dạy và giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô và các bạn đồng nghiệp tại Đại học KHXH&NV Hà Nội và Viện Khảo cổ học Xin cảm ơn thầy

cô và các bạn rất nhiều

Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp tại Sở VHTT&DL tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Bảo tàng Bà Rịa - Vũng Tàu, Bảo tàng Đồng Nai, Bảo tàng Bình Dương, đặc biệt là bà con nhân dân xã Long Sơn (TP Vũng Tàu) - những người đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian điền dã trên thực địa cũng như trong quá trình thu thập tài liệu liên quan đến

đề tài luận án

Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình - những người luôn là nguồn động lực và chỗ dựa tin cậy để tôi có thể vững tâm theo đuổi một nghề nhiều gian khó

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BC - Before Christ/Trước Công nguyên

BIPPA - Bulletin of the Indo-Pacific Prehistory

Association/Tập san của Hội Tiền sử Ấn Độ

- Thái Bình Dương

BP - Before Present/Cách ngày nay

CCRAL - Commission Consultative des Recherches

Archéologiques à L'Etranger/Ủy ban Tư vấn Nghiên cứu Khảo cổ học ngoài nước Pháp

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ TRONG CHÍNH VĂN

Bảng

Bảng 2.1 Mộ táng trong các hố khai quật Giồng Lớn

Bảng 2.2 Các nhóm mộ đất trong hố khai quật Giồng Lớn

Bảng 2.3 Thống kê đồ gốm tùy táng Giồng Lớn theo chất liệu

Bảng 2.4 Thống kê đồ gốm tùy táng Giồng Lớn theo loại hình

Bảng 2.5 Kết quả phân tích thành phần thạch học các mẫu gốm

Bảng 2.6 Kết quả phân tích thành phần khoáng vật mẫu gốm bằng phương pháp

nhiễu xạ tia X Bảng 2.7 Sự giảm trọng lượng của mẫu khi nâng nhiệt độ

Bảng 2.8 Thống kê đồ đá trong các nhóm mộ đất Giồng Lớn

Bảng 2.9 Đồ thủy tinh trong các nhóm mộ táng Giồng Lớn

Bảng 2.10 Phân loại hạt chuỗi Giồng Lớn theo hình dáng và màu sắc

Bảng 2.11 Thống kê đồ kim loại trong các nhóm mộ đất Giồng Lớn

Bảng 2.12 Các loại hình đồ tùy táng bằng sắt

Bảng 2.13 Phân loại đồ tùy táng bằng vàng

Bảng 2.14 Phân loại hạt chuỗi vàng

Biểu đồ

Biểu đồ 2.1 Các kiểu hoa văn trên đồ gốm Giồng Lớn

Biểu đồ 2.2 Mối quan hệ giữa hoa văn trên đồ gốm với các nhóm mộ

Sơ đồ

Sơ đồ 3.1 Quá trình chiếm lĩnh vùng ngập mặn Đông Nam Bộ

Sơ đồ 3.2 Quá trình hình thành văn hóa Óc Eo ở vùng ven biển Đông Nam Bộ

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ TRONG PHỤ LỤC Bảng

Bảng 1 Thống kê đồ tùy táng trong mộ đất và mộ nồi Giồng Lớn

Bảng 2 Sự phân bố đồ tùy táng trong các nhóm mộ đất Giồng Lớn

Bảng 3 Các mộ thuộc nhóm 1

Bảng 4 Các mộ thuộc nhóm 2

Bảng 5 Các mộ thuộc nhóm 3

Bảng 6 Các mộ nồi

Bảng 7 Thống kê đồ gốm trong các nhóm mộ đất Giồng Lớn

Bảng 8 Thống các kiểu nồi gốm Giồng Lớn

Bảng 9 Thống kê các kiểu bát bồng Giồng Lớn

Bảng 10 Thống kê các kiểu bình gốm Giồng Lớn

Bảng 11 Bảng giới thiệu mẫu gốm Giồng Lớn, Giồng Cá Vồ và Gò Ô Chùa

Bảng 12 Các mộ có đồ đá ở Giồng Lớn

Bảng 13 Các mộ có đồ thủy tinh ở Giồng Lớn

Bảng 14 Các mộ có đồ kim loại ở Giồng Lớn

Bảng 15 Kết quả phân tích thành phần hóa học đồ vàng Giồng Cá Vồ

Bảng 16 Kết quả phân tích thành phần hóa học mặt nạ vàng Giồng Lớn

Bảng 17 Một số đồ gốm tiêu biểu ở Giồng Lớn và Gò Ô Chùa

Bảng 18 Một số hiện vật tiêu biểu ở Giồng Lớn - Long Sơn và Giồng Cá Vồ - Giồng Phệt

Trang 8

Biểu đồ

Biểu đồ 1 Phân bố các nhóm mộ trong hố khai quật Giồng Lớn

Biểu đồ 2 Phân bố đồ tùy táng trong các nhóm mộ Giồng Lớn

Biểu đồ 3 Phân bố đồ gốm trong các nhóm mộ Giồng Lớn

Biểu đồ 4 Mối tương quan giữa gốm loại 1 và loại 2 trong các nhóm mộ Giồng Lớn Biểu đồ 5 Phân bố các kiểu nồi trong các nhóm mộ Giồng Lớn

Đồ thị

Đồ thị 1 Giản đồ DG - DTA của mẫu gốm số 1 (Giồng Lớn)

Đồ thị 2 Giản đồ DG - DTA của mẫu gốm số 2 (Giồng Lớn)

Đồ thị 3 Giản đồ DG - DTA của mẫu gốm số 3 (Gò Ô Chùa)

Đồ thị 4 Giản đồ DG - DTA của mẫu gốm số 4 (Giồng Cá Vồ)

Đồ thị 5 Giản đồ DG - DTA của mẫu gốm số 5 (Giồng Cá Vồ)

Trang 9

DANH MỤC HÌNH ẢNH MINH HỌA TRONG PHỤ LỤC

Hình 1 Bản đồ phân bố di tích Giồng Lớn và một số địa điểm khảo cổ đề cập trong

luận án Hình 2 Bản đồ địa hình vùng ngập mặn ven biển Đông Nam Bộ

Hình 3 Bản đồ phân bố các địa điểm khảo cổ học ở vùng ngập mặn ven biển Đông

Nam Bộ Hình 4 Bản đồ phân bố các địa điểm khảo cổ học ở khu vực đảo Long Sơn

Hình 5 Bản đồ khu vực Cần Giờ - Long Sơn

Hình 6 Di tích Giồng Lớn và một số địa điểm khảo cổ học ở Đông Nam Á

Hình 7 - 8 Cảnh quan di tích Giồng Lớn

Hình 9 Sơ đồ vị trí các hố thám sát và khai quật di tích Giồng Lớn

Hình 10 Mặt bằng tổng thể các hố khai quật Giồng Lớn năm 2003, 2005

Trang 10

Hình 19 Các nhóm mộ táng tại di tích Giồng Lớn Hình 20 Đồ tùy táng trong mộ 05.GL.H1.M7

Hình 32 - 33 Nồi vai gãy cỡ trung bình Giồng Lớn

Hình 34 Nồi vai vát Giồng Lớn

Hình 35 Nồi vai xuôi cỡ nhỏ Giồng Lớn

Hình 36 - 37 Nồi vai xuôi cỡ trung bình Giồng Lớn Hình 38 - 41 Bát bồng chân choãi Giồng Lớn (gốm loại 1) Hình 42 - 44 Bát bồng chân choãi Giồng Lớn (gốm loại 2) Hình 45 - 47 Bát bồng chân trụ Giồng Lớn

Hình 48 - 49 Bình cổ cao vãi gãy Giồng Lớn

Hình 50 Bình cổ cao vai vát Giồng Lớn

Hình 51 Bình có chân đế Giồng Lớn

Trang 11

Hình 52 - 54 Bình con tiện Giồng Lớn

Hình 55 Vò gốm Giồng Lớn

Hình 56 Các kiểu nắp gốm Giồng Lớn

Hình 57 Ấm và trụ gốm Giồng Lớn

Hình 58 Các loại hạt chuỗi đá Giồng Lớn

Hình 59 - 60 Vòng tay đá nephrite Giồng Lớn

Hình 61 Vòng tay đá thạch anh và mã não Giồng Lớn

Hình 62 Đá cuội trong mộ táng Giồng Lớn

Hình 63 Đồ trang sức thủy tinh Giồng Lớn

Hình 64 Lục lạc đồng, tiền Ngũ Thù và kiếm sắt Giồng Lớn

Hình 65 Giáo sắt Giồng Lớn

Hình 66 Dao sắt Giồng Lớn

Hình 67 Đục sắt Giồng Lớn

Hình 68 Đục sắt và công cụ chưa rõ chức năng Giồng Lớn

Hình 69 Các kiểu hạt chuỗi vàng Giồng Lớn

Hình 70 Các kiểu khuyên tai vàng Giồng Lớn

Hình 71 Mặt nạ vàng Giồng Lớn

Hình 72 Mô hình dương vật, lá vàng và một số hiện vật vàng Giồng Lớn Hình 73 Nắp gốm văn hóa Óc Eo

Hình 74 Trụ gốm văn hóa Óc Eo

Trang 12

Hình 75 Mộ vò và đồ tùy táng ở địa điểm Ba Thê năm 1998

Hình 76 Đồ trang sức vàng văn hóa Óc Eo trong sưu tập của L.Malleret Hình 77 Đồ gốm một số địa điểm khu vực đảo Long Sơn (TP Vũng Tàu) Hình 78 - 79 Đồ gốm địa điểm Bãi Cá Sóng và Giồng Ông Trượng

Hình 80 Đồ gốm, rìu đồng và khuyên tai địa điểm Bãi Cá Sóng

Hình 81 Đồ gốm địa điểm Giồng Ông Trượng

Hình 82 Đồ gốm địa điểm Dốc Chùa

Hình 83 Mộ chum địa điểm Suối Chồn

Hình 84 Đồ gốm địa điểm Suối Chồn

Hình 85 - 86 Đồ gốm địa điểm Long Bửu

Hình 87 Đồ gốm địa điểm Long Bửu và mặt nạ đồng Phú Chánh

Hình 88 - 90 Đồ gốm địa điểm Gò Cao Su

Hình 91 - 95 Đồ gốm địa điểm Gò Ô Chùa

Hình 96 Đồ gốm và đồ trang sức địa điểm Gò Hàng

Hình 97 Đồ gốm địa điểm Gò Cây Tung

Hình 98 Đồ gốm địa điểm Cái Lăng

Hình 99 - 100 Đồ gốm địa điểm Bưng Thơm

Hình 101 Đồ gốm địa điểm Bưng Bạc

Hình 102 - 106 Đồ gốm tùy táng Giồng Cá Vồ

Hình 107 Các kiểu miệng gốm trong di chỉ Giồng Cá Vồ

Trang 13

Hình 108 Các loại hình đồ sắt Giồng Cá Vồ

Hình 109 Các loại hình đồ trang sức Giồng Cá Vồ

Hình 110 - 111 Đồ gốm địa điểm Giồng Phệt

Hình 112 Đồ gốm và đồ trang sức địa điểm Lai Nghi

Hình 113 Đồ gốm văn hóa Sa Huỳnh

Hình 114 Hiện vật vàng tại một số địa điểm ở Đông Nam Á hải đảo

Hình 115 Mặt nạ vàng tại địa điểm Oton (Philippines) và khuyên tai địa điểm

Pesentren (Java) Hình 116 Đồ gốm và rìu đồng ở Đông Nam Á hải đảo

Hình 117 Hiện vật tại một số địa điểm khảo cổ ở đông nam Campuchia Hình 118 Hiện vật tại một số địa điểm khảo cổ ở Thái Lan

Hình 119 Hiện vật tại một số địa điểm khảo cổ ở Ấn Độ và Trung Quốc Hình 120 Gốm cứng văn in tại địa điểm Song Minh (Giang Tây, Trung Quốc)

Trang 14

1

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng, biểu đồ trong chính văn

Danh mục các bảng, biểu đồ trong phụ lục

Danh mục các hình ảnh minh họa trong phụ lục

Mục lục 1

MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 6

6 Cấu trúc của luận án 7

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 8

1.1 Tình hình nghiên cứu văn hóa Óc Eo 8

1.2 Vấn đề quá trình hình thành văn hóa Óc Eo 11

1.3 Di tích Giồng Lớn và những vấn đề đặt ra cho luận án 21

Tiểu kết chương 1 25

Chương 2: DI TÍCH GIỒNG LỚN: ĐẶC TRƯNG VÀ NIÊN ĐẠI 27

2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên vùng ven biển Đông Nam Bộ 27

2.2 Vị trí địa lý - cảnh quan di tích Giồng Lớn 30

2.3 Các hố khai quật và diễn biến địa tầng 35

2.4 Di tích 37

2.5 Di vật 47

2.6 Niên đại và đặc trưng văn hóa 83

Tiểu kết chương 2 94

Chương 3: VỊ TRÍ DI TÍCH GIỒNG LỚN TRONG GIAI ĐOẠN CHUYỂN TIẾP TIỀN ÓC EO - ÓC EO Ở VÙNG VEN BIỂN ĐÔNG NAM BỘ 96

3.1 Với các di tích lưu vực sông Đồng Nai 97

3.2 Với các di tích lưu vực sông Vàm Cỏ 108

3.3 Với các di tích châu thổ sông Cửu Long 114

3.4 Với các di tích ven biển Đông Nam Bộ 117

3.5 Với các khu vực khác 127

3.6 Phác dựng quá trình hình thành văn hóa Óc Eo ở vùng ven biển Đông Nam Bộ 137

Tiểu kết chương 3 147

KẾT LUẬN 149

Danh mục các công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án 151

Tài liệu tham khảo 152

Phụ lục 169

Trang 15

Những di tích thuộc nền văn hoá Óc Eo ở Nam Bộ đã được phát hiện từ cuối thế kỉ XIX, tuy nhiên, dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát hiện và nghiên cứu nền văn hóa này là năm 1944, với cuộc khai quật quy mô của L Malleret tại khu di tích Óc Eo - Ba Thê Trải hơn 70 năm nghiên cứu, với một khối tư liệu vật chất đồ sộ, phong phú, diện mạo của văn hoá Óc Eo đã dần được làm rõ trên các mặt, như: đặc trưng di tích, đặc trưng di vật, địa bàn phân bố Qua đó, có thể thấy nền văn hoá này chứa đựng nhiều giá trị lớn về vật chất - tinh thần, về khoa học - kĩ thuật, về kinh tế - xã hội Nghiên cứu sâu

kĩ văn hoá Óc Eo không chỉ giúp cho việc nhận thức lịch sử về quá trình khai phá, mở mang vùng đất phía Nam của các cư dân 2000 năm trước, mà còn có

ý nghĩa lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ngày nay 1.2 Trong nghiên cứu văn hoá Óc Eo, có một vấn đề hết sức quan trọng nhưng lại ít được nhắc tới, đó là vấn đề nguồn gốc Cho dù, dường như mọi nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng Óc Eo chính là sự phát triển trực tiếp từ các văn hoá cổ ở đồng bằng sông Cửu Long và văn hoá Đồng Nai, thì vẫn còn

đó những dấu hỏi về mặt khảo cổ học, bởi bằng chứng xác thực về một phổ hệ phát triển văn hoá khảo cổ vẫn chưa được tìm thấy Mãi tới thập kỉ 90 của thế

kỉ XX, với các cuộc phát quật ở Gò Cây Tung (An Giang) và Gò Ô Chùa (Long An), người ta mới bắt đầu nhận thấy chứng cứ về những con đường tiến tới Óc Eo từ thời tiền sử Đặc biệt hơn, cũng trong thập kỉ cuối của thế kỉ

Trang 16

3

XX, việc phát hiện cụm di tích Giồng Cá Vồ - Giồng Phệt ở vùng ngập mặn Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh) đã gây “chấn động” giới khảo cổ nói riêng và sử học nói chung bởi tính độc đáo và tầm vóc của nó Trong nhóm di tích này đã bắt đầu có những yếu tố Óc Eo, gợi mở cho các nhà nghiên cứu đi tìm một con đường hình thành nên văn hoá Óc Eo ở vùng ven biển Đông Nam Bộ Tuy vậy, niên đại của nhóm di tích Giồng Cá Vồ được xác định là khoảng

2500 năm BP, và vì thế vẫn còn cả một khoảng trống vài trăm năm giữa nó với văn hoá Óc Eo Ngoài ra, những yếu tố Óc Eo trong đó còn khá mờ nhạt

Đó là lý do cho sự cấp thiết phải tìm những bước chuyển/gạch nối Giồng Cá

Vồ - Óc Eo

1.3 Di tích Giồng Lớn nằm trong vùng sinh thái ngập mặn trên đảo Long Sơn (TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) thuộc vùng vịnh biển Gành Rái, cách Cần Giờ khoảng 10 km về phía bắc Có thể nói, đảo Long Sơn nói riêng và vùng ngập mặn ven biển Vũng Tàu nói chung có ý nghĩa hết sức quan trọng với tiền - sơ sử khu vực Cho tới nay, trên địa bàn TP Vũng Tàu

và đảo Long Sơn đã phát hiện được một loạt các di tích thuộc giai đoạn Giồng Cá Vồ-Giồng Phệt như Gò Ông Sầm dưới, Bãi Cá Sóng, Giồng Ông Trượng, Hàng Xồm Lớn, và văn hoá Óc Eo như Gò Hầm Than, Gò Ông

Sầm trên, Kênh Tập Đoàn, Gò Ông Kiến, trong đó Giồng Lớn có vai trò đặc biệt quan trọng

Di tích này được phát hiện vào năm 2002, sau đó được khai quật quy mô hai lần vào năm 2003 và 2005, kết quả khai quật cho thấy đây là một di tích

mộ táng hết sức quan trọng, có những mối quan hệ mật thiết với Giồng Cá

Vồ Với Giồng Lớn, chúng ta đã có thể nói tới một di tích Óc Eo sơ kì ở vùng ngập mặn ven biển Đông Nam Bộ, và đồng thời, lại có thể thấy rõ con đường

từ Giồng Cá Vồ tới văn hoá Óc Eo

Trang 17

4

1.4 Từ khi công tác tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia), tác giả luận án có may mắn được trực tiếp tham gia khai quật di tích Giồng Lớn; điều tra, khảo sát và khai quật một số di tích khảo cổ trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, mà chủ yếu là khu vực đảo Long Sơn và vùng sinh thái ngập mặn của tỉnh Bên cạnh đó, tác giả còn được nghiên cứu các tài liệu có liên quan và cũng đã có một số bài viết về khảo cổ học tiền - sơ

sử các tỉnh phía Nam, nhất là lĩnh vực liên quan đến đề tài luận án

Với những lý do nói trên, tác giả đã quyết định chọn đề tài Di tích Giồng

Lớn và vai trò của nó với sự hình thành văn hoá Óc Eo ở vùng ven biển Đông Nam Bộ cho luận án Tiến sĩ chuyên ngành khảo cổ học của mình

Thông qua luận án, tác giả muốn góp phần làm sáng tỏ một trong nhiều con đường hình thành nên văn hoá Óc Eo nổi tiếng

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Tập hợp, hệ thống đầy đủ tư liệu điền dã và các kết quả nghiên cứu

từ trước tới nay về di tích Giồng Lớn, qua đó làm rõ những đặc trưng cơ bản của di tích này

2.2 Tìm hiểu mối quan hệ của di tích Giồng Lớn trong không gian và thời gian, nhằm làm rõ nguồn gốc, vị trí của di tích trong giai đoạn lịch sử này

ở vùng ven biển Đông Nam Bộ

2.3 Trên cơ sở so sánh các tư liệu khảo cổ, luận án phác thảo con đường tiến tới văn hoá Óc Eo ở vùng ven biển Đông Nam Bộ cũng như bức tranh lịch sử giai đoạn cận kề công nguyên, một giai đoạn lịch sử hết sức sôi động của khu vực

Trang 18

5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng chính của luận án là các di tích và di vật khảo cổ học thu được qua các đợt khai quật di tích Giồng Lớn; những di tích, di vật khảo cổ học thu được qua điều tra, khảo sát, thám sát và khai quật các di tích khác có mối quan hệ mật thiết với Giồng Lớn trên đảo Long Sơn; những di tích, di vật khảo cổ tại các địa điểm khác có liên quan ở Nam Bộ, Đông Nam Á, Ấn Độ hay Trung Hoa

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về thời gian: luận án tập trung nghiên cứu giai đoạn chuyển tiếp từ Tiền Óc Eo lên văn hóa Óc Eo, từ là từ 500 năm BC đến 100 - 200 AD Tuy nhiên, do tính chất phức tạp của các di tích khảo cổ ở Nam Bộ, nên khung thời gian này có thể được đẩy sớm hơn tùy từng trường hợp cụ thể

- Về không gian: là vùng ven biển Đông Nam Bộ, cụ thể là khu vực ngập mặn thuộc địa bàn các tỉnh Đồng Nai, Long An, TP Hồ Chí Minh và Bà Rịa - Vũng Tàu, trong đó cốt lõi là vùng ngập mặn xung quanh vịnh Gành Rái, bao gồm bán đảo Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh) và đảo Long Sơn (TP Vũng Tàu) Không gian nghiên cứu của luận án cũng sẽ được mở rộng khi tiến hành các nghiên cứu so sánh với những khu vực khác ở Nam Bộ, miền Trung Việt

Nam hay Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Hoa

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

- Nguồn tư liệu sử dụng trong luận án là báo cáo của các cuộc điều tra, khảo sát, thám sát và khai quật khảo cổ học; các bài viết công bố trên tạp chí

Khảo cổ học và kỷ yếu Những phát hiện mới về khảo cổ học xuất bản hàng

Trang 19

6

năm; các sách chuyên khảo, các đề tài đã công bố và một số bài viết đăng trên các tạp chí và kỷ yếu hội thảo trong nước và quốc tế có liên quan đến đề tài luận án

- Những kết quả thu thập tư liệu, nghiên cứu của tác giả về di tích Giồng Lớn nói riêng và các di tích khác ở Nam Bộ từ năm 2005 đến nay

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Luận án sử dụng phương pháp khảo cổ học truyền thống để thu thập tài liệu như điều tra, thám sát, khai quật trên thực địa Những phương pháp thống

kê định tính, định lượng, phân loại loại hình học, bản đồ học, miêu tả, đo vẽ, chụp ảnh, dập hoa văn, so sánh liên văn hoá được sử dụng để phân tích và diễn giải tài liệu

- Bên cạnh đó, luận án sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học liên ngành như: dân tộc học, địa lý, địa chất, phương pháp định niên đại C14, phương pháp phân tích thạch học để đưa ra những kiến giải khoa học hợp lý nhất

- Luận án còn sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu giữa các di tích,

di vật của Giồng Lớn và các di tích khác trong khu vực để tìm hiểu những đặc trưng riêng - chung và mối quan hệ qua lại của các cộng đồng cư dân trong giai đoạn này, qua đó nhằm tái hiện phần nào bức tranh về những nhóm cư dân thời sơ sử trong khu vực

- Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong việc tìm hiểu quá trình phát triển nội tại và mối quan hệ của di tích Giồng Lớn với các khu vực khác

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

5.1 Luận án tập hợp, hệ thống các tư liệu và kết quả nghiên cứu về di tích Giồng Lớn nói riêng và các di tích có liên quan nói chung, qua đó cung cấp cho các nhà nghiên cứu những thông tin, tư liệu đầy đủ về một nhóm các

Trang 20

7

di tích trong giai đoạn chuyển tiếp và hình thành văn hoá Óc Eo ở vùng ven biển Đông Nam Bộ

5.2 Trên cơ sở những đặc trưng di tích, di vật của Giồng Lớn cũng như

so sánh nó với các di tích khác trong không gian và thời gian, luận án góp phần làm rõ một con đường phát triển nội sinh của văn hoá Óc Eo ở vùng ven biển miền Đông Nam Bộ Điều đó cũng phản ánh tính đa nguồn của nền văn hoá này

5.3 Trên cơ sở những tư liệu đã có, luận án cố gắng phác thảo bức tranh lịch sử sôi động giai đoạn đầu công nguyên của khu vực này, khẳng định tầm quan trọng của những “cú hích” ngoại sinh đối với việc hình thành văn hoá

Óc Eo

5.4 Những kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở bước đầu cho hoạt động trưng bày, giới thiệu những di tích, di vật của Giồng Lớn tại Bảo tàng tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Chương 2: Di tích Giồng Lớn: Đặc trưng và niên đại (69 trang)

Chương 3: Vị trí di tích Giồng Lớn trong giai đoạn chuyển tiếp Tiền Óc

Eo - Óc Eo ở vùng ven biển Đông Nam Bộ (53 trang)

Ngoài ra, Luận án còn có các mục: Mục lục, Danh mục các chữ viết tắt, Tài liệu tham khảo và Phụ lục minh hoạ

Trang 21

8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Tình hình nghiên cứu văn hóa Óc Eo

1.1.1 Những di tích thuộc nền văn hóa Óc Eo được phát hiện từ khá sớm, với các địa điểm như Ba Thê (1879), Vĩnh Hưng (1917), Cạnh Đền (1923), Thành Mới (1937), Gò Thành (1941) [Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn,

Võ Sĩ Khải, 1995, tr 444 - 448] Tuy nhiên, dấu mốc quan trọng trong lịch sử nghiên cứu văn hóa Óc Eo là năm 1944, với cuộc khai quật quy mô của L.Malleret tại khu di tích Óc Eo – Ba Thê Kết quả của cuộc khai quật này cũng như của các hoạt động sưu tầm, khảo sát của ông trên khắp Nam Bộ

được công bố trong công trình đồ sộ “Khảo cổ học đồng bằng sông Cửu Long” gồm 4 tập, trong đó 3 tập đầu đề cập đến vùng được ông gọi là

Transbassac (tương đương với Tây Nam Bộ ngày nay), còn tập 4 nói về các di tích ở Cisbassac (tương đương miền Đông Nam Bộ và một phần Đông Nam Campuchia) Công trình của Malleret đã cung cấp cho chúng ta tư liệu về một

bộ sưu tập hiện vật quý giá, cùng với đó là các chỉ dẫn có ý nghĩa khoa học to lớn, như: có hai giai đoạn văn hóa khác nhau, trong đó giai đoạn sớm ứng với nhà nước Phù Nam và giai đoạn sau ứng với Chân Lạp; dấu vết của một “tiền cảng thị” ở Nền Chùa; diện phân bố rộng lớn của văn hóa Óc Eo; niên đại ra đời và sự sụp đổ đột ngột của nền văn hóa này [Hà Văn Tấn, 2002, tr 370 - 371]

1.1.2 Sau Malleret, việc nghiên cứu văn hóa Óc Eo bị gián đoạn một thời gian dài bởi chiến tranh Từ sau năm 1975, việc nghiên cứu văn hóa Óc

Eo mới được tiếp tục trở lại, gắn liền với hoạt động khoa học của các nhà khảo cổ học Việt Nam Cùng với việc hệ thống hóa nguồn tài liệu và khảo sát lại những di tích đã phát hiện từ trước 1975, các nhà khảo cổ Việt Nam còn

Trang 22

9

phát hiện và khai quật thêm hàng loạt các di tích mới thuộc văn hóa Óc Eo trên địa bàn các tỉnh: Đồng Nai, Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Hậu Giang, Cà Mau, Hà Tiên Cho đến nay, số lượng di tích văn hóa Óc Eo là 89, phân bố trên hầu khắp các tỉnh Nam Bộ, thậm chí cả ở Lâm Đồng [Lê Xuân Diệm và nnk., 1995, tr.144] Đã có nhiều cuộc hội thảo khoa học về văn hóa Óc Eo được tổ chức, trong đó phải kể đến 3 cuộc hội thảo lớn,

đó là: Hội thảo "Văn hóa Óc Eo và các văn hóa cổ ở đồng bằng sông Cửu Long" tổ chức năm 1983 tại Long Xuyên (An Giang), Hội thảo "Văn hóa Óc

Eo và vương quốc Phù Nam" tổ chức năm 2004 tại TP Hồ Chí Minh, và Hội thảo "Văn hóa Óc Eo - nhận thức và giải pháp bảo tồn phát huy giá trị di tích" tổ chức năm 2009 tại An Giang Cùng với đó, những công trình khoa

học quan trọng về văn hóa Óc Eo cũng được công bố hoặc xuất bản, tiêu biểu

như cuốn "Văn hóa Óc Eo: Những khám phá mới" của Lê Xuân Diệm, Đào

Linh Côn và Võ Sĩ Khải xuất bản năm 1995, Luận án Tiến sĩ của Đào Linh

Côn về "Mộ táng trong văn hóa Óc Eo" bảo vệ năm 1995, hay Luận án Tiến

sĩ của Lê Thị Liên về "Nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở đồng bằng sông Cửu Long trước thể kỷ X" và Luận án Tiến sĩ của Bùi Phát Diệm về "Các di tích văn hóa Óc Eo ở Long An" cùng bảo vệ trong năm 2003

Tóm lại, trải qua 70 năm nghiên cứu (tính từ năm 1944), những đặc trưng của văn hóa Óc Eo đã dần được làm rõ:

- Về diện phân bố: có không gian phân bố rất rộng, từ lưu vực sông Hậu, sông Tiền đến lưu vực Vàm Cỏ - Đồng Nai Cư dân văn hóa Óc Eo cư trú trên các tiểu vùng sinh thái khác nhau: tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, ven biển Tây Nam Bộ, hạ lưu sông Tiền, Đông Nam Bộ và khu vực rừng ngập mặn ven biển Đông Nam Bộ

Trang 23

10

- Về di tích: gồm có nhiều loại hình di tích khác nhau, như di chỉ cư trú,

di chỉ kiến trúc tôn giáo, di tích mộ táng, di chỉ xưởng, đặc biệt là sự có mặt của các khu di tích lớn với tính chất phức hợp, có vai trò như là những trung tâm kinh tế, chính trị, tôn giáo và nghệ thuật như Gò Tháp, Óc Eo, Gò Thành Bên trong và xung quanh các khu di tích này có các khu vực cư trú và sản xuất mang tính chất vệ tinh Về mộ táng, bên cạnh truyền thống mộ huyệt đất

và mộ vò, đã xuất hiện dấu hiệu của truyền thống táng tục mới: hỏa táng (Gò Tháp, Óc Eo) Có các công xưởng sản xuất (Óc Eo, Nhơn Thành, Gò Tháp) làm ra các loại hình di vật chịu ảnh hưởng ngoại lai: đồ trang sức làm từ thủy tinh, kim loại, đá bán quý, các tác phẩm điêu khắc tôn giáo v.v

- Về di vật: cực kì phong phú và đa dạng về loại hình và chất liệu, đặc biệt là sự có mặt khá phổ biến của các loại chất liệu mới như vàng, bạc, chì-thiếc Có nhiều di vật thể hiện ý nghĩa tôn giáo tín ngưỡng mới, đặc biệt là các tác phẩm điêu khắc (tượng thờ, linh vật, các lá vàng) Xuất hiện nhiều di vật ngoại lai (hạt chuỗi, bùa đeo, tiền tệ) Trong đồ gốm cũng xuất hiện loại hình và chất liệu mới, ví dụ như loại gốm vẽ màu đen đỏ và gốm graffiti giống với Ấn Độ, xuất hiện loại gốm mịn, sét lọc kĩ, pha cát mịn, dùng để làm các loại hình như kendi, cốc, chân đèn, nắp đậy Đây là những loại hình khác

lạ với đồ gốm truyền thống ở lưu vực sông Đồng Nai và nam Đông Dương [Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải, 1995], [Nguyễn Thị Hậu, 2012], [Lê Thị Liên, 2015a]

Từ đó có thể nhận thấy Óc Eo là một xã hội phát triển mạnh về nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp, đặc biệt là giao lưu trên biển Tuy nhiên, vẫn còn đó nhiều câu hỏi về nền văn hóa này cần phải giải đáp, mà nổi lên trong số đó là vấn đề nguồn gốc Dưới đây tôi xin điểm lại những ý kiến đáng chú ý về nguồn gốc của văn hóa Óc Eo

Trang 24

11

1.2 Vấn đề quá trình hình thành của văn hóa Óc Eo

Tuy chưa được để tâm đúng mức nhưng vấn đề nguồn gốc văn hóa Óc

Eo đã ít nhiều được bàn đến trong các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước Dưới đây là một số quan điểm của các học giả trong nước và quốc tế về vấn đề này

1.2.1 Các học giả nước ngoài

Học giả nước ngoài đầu tiên bàn về vấn đề này chính là L.Malleret, người đã khai quật di tích Óc Eo và định danh cho nền văn hóa cổ này Trong

công trình đồ sộ Khảo cổ học đồng bằng sông Cửu Long, ở tập III, chương

XX, ông có dành đôi dòng để bàn về nguồn gốc của văn hóa Óc Eo Dựa trên

sự có mặt của các loại hiện vật thuộc giai đoạn sớm như rìu, đục, vòng tay bằng đá, một số đồ đựng bằng gốm và rìu đồng, giáo đồng thu thập được ở

Óc Eo - Ba Thê, Đá Nổi, Núi Sập , ông cho rằng Óc Eo được hình thành vào giai đoạn cuối của của thời đá mới - kim khí Theo Malleret, văn hóa Óc Eo là kết tinh của những yếu tố bản xứ và ngoại lai, trong đó ảnh hưởng ngoại lai đã xâm nhập vào đất này dần dần, không thông qua vũ lực, trước hết dưới hình thức thúc đẩy kinh tế, không vấp phải một sự phản ứng đáng kể nào của dân địa phương, do đó nó khá sâu sắc và liên tục Tuy nhiên, theo cách diễn giải của Malleret thì yếu tố ngoại sinh là quan trọng, là tác nhân chủ yếu đưa đến

sự phát triển của văn hóa Óc Eo Cụ thể hơn, ông cho rằng mối quan hệ giữa văn hóa bản xứ và văn hóa ngoại lai là quan hệ lệ thuộc, trong đó văn hóa ngoại lai là văn hóa thống trị, còn văn hóa bản địa là văn hóa phụ thuộc [Malleret L., 1962a, tr.179 - 180]

Sau Malleret, hầu như không có học giả nước ngoài nào bàn về nguồn gốc văn hóa Óc Eo một cách trực tiếp Thay vào đó, vấn đề này được nhắc tới một cách gián tiếp trong các công trình nghiên cứu về vương quốc Phù Nam

Trang 25

12

và lịch sử Đông Nam Á cổ đại Trong các công trình đó, cũng như Malleret, phần lớn các học giả nước ngoài đều cho rằng sự ra đời của vương quốc Phù Nam hay các quốc gia Ấn hóa khác ở Đông Nam Á chính là sự hình thành các vùng đất thực dân của người Ấn Độ Ví dụ như R.C.Majumdar, một học giả

người Ấn, trong công trình Ancient Indian Colonization in South-East Asia,

đã cho rằng có một số lượng lớn người Ấn Độ đến định cư ở Đông Nam Á, và chính những cư dân này đã thống trị Phù Nam cũng như những trung tâm văn minh sớm khác ở khu vực này [Majumdar R.C., 1972, pp 6 - 10] Hay như

Coedes, một học giả Pháp, trong cuốn sách The Indianized States of Southeast Asia, đã phát biểu rằng các cư dân ở Đông Nam Á vẫn ở trình độ Đá mới hậu

kì trước khi tiếp xúc với văn hóa Bà la môn và Phật giáo của Ấn Độ Và do

đó, mọi thành tựu văn minh mà khu vực này đạt được đều nhờ tiếp xúc với văn hóa Ấn Độ, còn các cư dân bản xứ chỉ đóng vai trò tiếp nhận một cách thụ động [Coedes G., 1968, pp 7 - 8]

Trên đây là quan điểm phổ biến trong giới sử học phương Tây khi nhìn nhận về những nền văn minh sớm ở Đông Nam Á, vốn thịnh hành từ đầu thế

kỷ XX cho tới những năm 1970 Tuy nhiên, không phải không có những tiếng nói khác trong học giới Justin van Leur, ngay từ năm 1955, đã nhấn mạnh đến vai trò chủ động của các cư dân Đông Nam Á, cụ thể hơn là những thủ lĩnh địa phương, trong mối quan hệ với Ấn Độ Ông cho rằng những nhà buôn không bao giờ và không thể nào có khả năng truyền tải được những tư tưởng triết học hay tôn giáo của Ấn Độ, mà chính những thủ lĩnh địa phương đã tiếp thu một cách chủ động và có chọn lọc để phục vụ cho lợi ích của mình [dẫn theo Hall K.R., 1985, p 50]

Cũng như Van Leur, O.W.Wolters cho rằng quá trình hình thành các quốc gia Ấn hóa ở Đông Nam Á là thể hiện mối quan hệ qua lại hai chiều, và

Trang 26

13

người chủ động là những cư dân Đông Nam Á chứ không phải người Ấn Đây

là quá trình diễn ra một cách từ từ chứ không hề ồ ạt và phát triển đột biến như Coedes mô tả [Wolters O.W., 1982] Quan điểm này của Wolters cũng được Hall ủng hộ [Hall K.R., 1985]

Cũng có quan điểm như các nhà sử học nói trên, P.Manguin - một nhà khảo cổ Pháp, dựa trên các tài liệu khảo cổ học, đã chỉ ra rằng những cư dân Đông Nam Á có mối quan hệ trao đổi một cách thường xuyên, lâu dài với lục địa Ấn Độ, và ở mức độ thấp hơn là với Trung Hoa, quá trình này đã diễn ra

từ rất lâu, trước khi những bi kí, đền đài mang dáng dấp văn minh Ấn Độ xuất hiện Điều này đã phản bác một cách thuyết phục quan điểm cho rằng những nền văn minh sớm ở Đông Nam Á xuất hiện đột ngột cùng với sự xuất hiện của những người đến từ vùng hải ngoại Điều đáng chú ý là, thông qua các tư liệu khai quật tại chính Óc Eo - Ba Thê, Manguin đã nhận ra một lớp văn hóa sớm, có niên đại từ giữa thế kỉ 1 đến giữa thế kỉ 3 AD Dựa trên các di tích, di vật thu được, và qua so sánh với các di tích đương thời ở Đông Nam Á,

Manguin cho rằng ở giai đoạn này chưa hề có cái gọi là Ấn Độ hóa ở Óc Eo

hay Phù Nam [Manguin P., 2004, pp 291 - 292]

1.2.2 Các nhà nghiên cứu trong nước

Đối với các nhà nghiên cứu trong nước, việc nghiên cứu khảo cổ học miền Nam chỉ thực sự bắt đầu từ sau năm 1975 Kết hợp tư liệu của giai đoạn trước với những phát hiện sau giải phóng, các nhà nghiên cứu người Việt đã đưa ra những nhận định khác nhau về quá trình hình thành văn hóa Óc Eo ở miền Nam Trên đại thể, có những quan điểm đáng chú ý sau đây:

Quan điểm thứ nhất là của Lê Xuân Diệm, coi nguồn gốc chủ yếu của văn hóa Óc Eo là từ văn hóa Đồng Nai, cụ thể hơn là từ nhóm di tích cư trú nhà sàn ở vùng ngập mặn quanh châu thổ Đồng Nai - Cửu Long

Trang 27

ở vùng châu thổ thấp trũng sông Cửu Long, trên thực tế, là nhờ một phần quan trọng ở những nỗ lực sáng tạo của chủ nhân văn hóa Đồng Nai" [Lê

Xuân Diệm, 1984a, tr 54 - 55] Tiếp đó, trong công trình Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long viết chung với các tác giả Nguyễn Công Bình và

Mạc Đường, Lê Xuân Diệm cho rằng cư dân văn hóa Đồng Nai đã tràn xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long rồi từ đó tiến lên văn hóa Óc Eo [Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường, 1990] Gần hai thập kỉ sau, dựa trên các chứng tích cụ thể về loại hình cư trú trên nhà sàn, về loại hình đồ gốm và các vật dụng khác, Lê Xuân Diệm tiếp tục khẳng định thành phần văn hóa chủ đạo liên quan trực tiếp đến cội nguồn, đến tính bản địa của văn hóa Óc Eo là văn hóa kim khí vùng hạ lưu sông Đồng Nai - Vàm Cỏ Cụ thể hơn, ông cho rằng "nhóm di tích cư trú kiểu nhà sàn dựng trên cọc gỗ trong vùng đầm lầy, vùng rừng Sác quanh châu thổ Cửu Long - Đồng Nai là thành tố chủ đạo liên quan trực tiếp đến cội nguồn bản địa của văn hóa Óc Eo" [Lê Xuân Diệm,

2008, tr 325]

Quan điểm thứ hai là của Võ Sĩ Khải và Phạm Đức Mạnh, coi tất cả các lớp văn hóa/di tích có niên đại từ Sơ kì Sắt trở về trước trên toàn miền Nam là

cơ tầng bản địa của văn hóa Óc Eo

Năm 1985, trong một bài viết mang tính tổng kết một quá trình nghiên cứu văn hóa Óc Eo, Võ Sĩ Khải đã nhận xét rằng, trong văn hóa Óc Eo có một

cơ tầng văn hóa bản địa và những yếu tố du nhập Tuy nhiên, lúc đó ông chưa

Trang 28

15

nói rõ cái "cơ tầng bản địa ấy" là gì về phương diện khảo cổ học [Võ Sĩ Khải, 1985] Sau này, dựa trên các tư liệu mới, ông đã khẳng định rõ ràng hơn cái

"cơ tầng bản địa" đó Theo ông, cơ tầng bản địa của văn hóa Óc Eo bắt nguồn

từ những truyền thống xa xưa trong quá khứ, mà biểu hiện của nó là những lớp văn hóa sớm nằm bên dưới các lớp kiến trúc tại các địa điểm Óc Eo như

Gò Cây Da, Gò Minh Sư, Linh Sơn Nam, Gò Cây Thị và các di tích Đồng thau - Sắt sớm ở Nam Bộ như Cầu Sắt, Núi Gốm, Bình Đa, Bến Đò, Dốc Chùa, Cù Lao Rùa, An Sơn, Rạch Núi, Phú Hòa, Bưng Thơm, Bưng Bạc, Phú Chánh, Cần Giờ Võ Sĩ Khải gọi đó là "thời kỳ Tiền Óc Eo" và cho rằng văn hóa Óc Eo được hình thành bằng sự kế thừa, phát triển trên cơ tầng bản địa đó [Võ Sĩ Khải, 2008a], [Võ Sĩ Khải, 2008b]

Tương tự như vậy, trong công trình nghiên cứu công phu về di sản vật thể "Tiền Óc Eo" ở Nam Bộ, Phạm Đức Mạnh đã cho rằng văn hóa Óc Eo có

cơ tầng từ tất cả những nhóm di tích ở vùng Cửu Long - Đồng Nai thời tiền -

sơ sử [Phạm Đức Mạnh, 2008a]

Quan điểm thứ ba là của Lương Ninh và Nguyễn Mạnh Cường, coi văn hóa Óc Eo có nguồn gốc từ văn hóa Sa Huỳnh, chủ nhân là những người nói tiếng Nam Đảo di cư từ biển vào

Trong một số bài viết công bố đầu những năm 1980, Lương Ninh đã cho rằng Óc Eo có nguồn gốc từ văn hóa Sa Huỳnh Về mặt quan hệ tộc người, ông nhấn mạnh tính chất khác biệt của Óc Eo với Khmer, gắn nó với dòng Malayo-Polynesia [Lương Ninh, 1981], [Lương Ninh, 1984]

Trong các công trình sau này của mình về Óc Eo và Phù Nam, Lương Ninh luôn duy trì quan điểm này Ông cho rằng văn hóa Óc Eo được phát triển lên từ các loại hình văn hóa Tiền Óc Eo thuộc Sơ kì đồ Sắt như văn hóa

Sa Huỳnh, văn hóa Hàng Gòn, văn hóa Cần Giờ (ông cho đây là ba văn hóa

Trang 29

16

cùng thời và cùng chung những đặc điểm căn bản) và văn hóa Tiền Óc Eo ở ven biển phía Nam trên chính đất Ba Thê - Óc Eo Về mặt ngôn ngữ - tộc người, ông cho rằng chủ nhân của những văn hóa này là người Nam Đảo di

cư từ biển vào [Lương Ninh, 2005a], [Lương Ninh, 2009]

Gần gũi với quan điểm của Lương Ninh là Nguyễn Mạnh Cường Trong một bài viết về vấn đề "Tiền Óc Eo", dựa trên các phát hiện ở Gò Cây Tung, Cần Giờ và nhất là kết quả khảo sát ở đảo Thổ Chu (Kiên Giang), ông đi đến nhận xét rằng "rất có thể các quốc gia cổ đại Champa và Phù Nam đều được bắt nguồn từ một cội nguồn chung, đó là một văn hóa khảo cổ ở ven biển Trung bộ Việt Nam" [Nguyễn Mạnh Cường, 1996, tr 641]

Quan điểm thứ tư là của Hà Văn Tấn và nhiều nhà nghiên cứu khác, coi văn hóa Óc Eo là sự hợp thành của nhiều con đường hay nhiều loại hình văn hóa khác nhau trong giai đoạn Kim khí, mà chủ yếu là các văn hóa Sơ kỳ Sắt

từ Hậu kì Đá mới hay Sơ kì Kim khí Và rất có thể, nền văn hóa Sơ kì Kim khí, với sự xuất hiện của luyện kim, đã chuẩn bị cho bước nhảy vọt của văn hóa Óc Eo Bác bỏ quan điểm thực dân của L.Malleret, Hà Văn Tấn cho rằng

dù Óc Eo là một thành thị chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ nhưng rõ ràng không thể coi đó là một thành thị được xây dựng do những thực dân Ấn Độ Dầu cho ở Óc Eo có mặt người Ấn, nhiều khả năng là thương nhân và người

Trang 30

17

truyền giáo, thì họ cũng không phải là lực lượng tạo dựng nền văn minh thành thị Óc Eo Những nhân tố bên ngoài, ngoại sinh, quả có góp phần vào việc hình thành văn hóa Óc Eo, nhưng động lực cho sự xuất hiện và phát triển văn minh Óc Eo phải là những nhân tố bên trong Tóm lại, theo Hà Văn Tấn, trên một cơ tầng bản địa phát triển, cộng với vị trí quan trọng trên con đường giao thương biển, cư dân ở đây đã có điều kiện để thường xuyên đón nhận các yếu

tố văn hóa bên ngoài, kích thích sự phát triển bên trong, đưa đến sự hình thành nền văn minh Óc Eo rực rỡ [Hà Văn Tấn, 1984]

Hà Văn Tấn cũng thừa nhận mối liên hệ rõ ràng của văn hóa Sa Huỳnh với các di tích tiền sử Nam Bộ và cho rằng có thể một bộ phận lớn của cư dân

Óc Eo nói tiếng Nam Đảo Bên cạnh đó, dựa trên những kết quả khai quật khảo cổ học tại Gò Cây Tung (An Giang), Gò Cao Su (Long An) và Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh), ông cho rằng đã có thể nghĩ tới một hay những con đường tiến lên văn hóa Óc Eo từ những di tích thời đại Kim khí, đặc biệt là các di chỉ thời đại Sắt ở Nam Bộ [Hà Văn Tấn, 1996a], [Hà Văn Tấn, 1996b] Cùng quan điểm với Hà Văn Tấn, các tác giả Bùi Phát Diệm, Đào Linh Côn và Vương Thu Hồng, dựa trên việc nghiên cứu các di tích khảo cổ học ở Long An, đã khẳng định tính đa tuyến trong quá trình hình thành văn hóa Óc

Eo Theo các tác giả, có ít nhất hai loại hình hay hai con đường hình thành văn hóa Óc Eo, đó là loại hình sông Hậu và loại hình Vàm Cỏ [Bùi Phát Diệm, Đào Linh Côn, Vương Thu Hồng, 2001]

Tương tự như vậy, Vũ Quốc Hiền cho rằng vào Sơ kỳ thời đại Sắt ở miền Nam có nhiều loại hình văn hóa như loại hình Dốc Chùa, loại hình Dầu Giây, loại hình Gò Ô Chùa, loại hình Bưng Bạc, loại hình Cần Giờ, loại hình

Gò Cây Tung và các loại hình văn hóa này, khi tiếp xúc với những tác nhân

Trang 31

Tống Trung Tín cũng cho rằng có nhiều con đường tiến lên văn hóa Óc

Eo, đó là: con đường Gò Cây Tung, con đường Gò Cao Su, con đường Giồng

Cá Vồ - Giồng Phệt - Giồng Am và con đường Giồng Nổi Theo Tống Trung Tín, mỗi con đường lại có đặc điểm riêng Ví dụ như con đường Gò Cao Su là đại diện của văn hóa Đồng Nai, trong khi đó con đường Giồng Cá Vồ - Giồng Phệt lại là sự hòa quyện của văn hóa Đồng Nai và văn hóa Sa Huỳnh để từ đó tiến lên văn hóa Óc Eo Còn với Gò Cây Tung, ông cho rằng đây là di chỉ của

cư dân nói tiếng Nam Đảo, xuất phát từ hải đảo (có thể là Malaysia) di chuyển vào sinh sống ở thềm cao An Giang, rồi hòa nhập vào văn hóa Óc Eo [Tống Trung Tín, 2008]

Trên đây là các quan điểm của các học giả trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề nguồn gốc của văn hóa Óc Eo Có thể thấy, mặc dù đều thừa nhận văn hóa này được hình thành từ sự kết hợp của các yếu tố nội sinh với ngoại sinh, nhưng cách diễn giải vấn đề lại khác nhau ít nhiều dựa trên tình hình tư liệu cũng như nhận thức của từng học giả

Quan điểm của các học giả như Malleret hay Coedes coi văn hóa Óc Eo/Phù Nam ra đời dựa trên quá trình thực dân văn hóa từ bên ngoài rõ ràng

Trang 32

19

đã trở nên lạc hậu Trong khi đó, những ý kiến phản bác đến từ Wolters, Hall lại chủ yếu dưới góc độ sử học và mang tính tư biện hơn là dựa trên những chứng cứ xác thực về mặt khảo cổ Manguin, tuy có đưa ra những chứng cứ khảo cổ học để bác bỏ chủ thuyết "Ấn hóa thực dân" lạc hậu, nhưng như chính ông thừa nhận, ý kiến này chỉ có giá trị với di tích Óc Eo - Ba Thê mà thôi

Quan điểm của Lê Xuân Diệm coi nguồn gốc nội sinh của văn hóa Óc

Eo là văn hóa Đồng Nai, cụ thể hơn là những di tích cư trú kiểu nhà sàn phân

bố hạ lưu sông Đồng Nai cũng chưa phản ánh hết tính phức hợp của các nguồn tạo nên văn hóa này Hay như quan điểm của Võ Sĩ Khải và Phạm Đức Mạnh gộp hết tất cả các di tích có niên đại từ Sơ kỳ Sắt trở về trước vào giai đoạn "Tiền Óc Eo" và coi đó là cơ tầng của văn hóa Óc Eo cũng chưa thật thuyết phục, bởi không phải di tích hay nhóm di tích nào cũng phát triển lên văn hóa Óc Eo Trong khi đó, quan điểm của Lương Ninh coi Óc Eo có nguồn gốc Sa Huỳnh, tuy có ít nhiều cơ sở, nhưng như vậy là tự nó lại loại bỏ các nguồn khác không phải Sa Huỳnh, dù cũng đóng góp vào việc hình thành văn hóa Óc Eo Theo chúng tôi, quan điểm của Hà Văn Tấn và một số nhà khảo

cổ khác như Đào Linh Côn, Vũ Quốc Hiền, Nguyễn Thị Hậu, Tống Trung Tín coi văn hóa Óc Eo được hình thành từ nhiều con đường, nhiều tuyến phát triển là hợp lí hơn cả, bởi nó không chỉ logic về mặt lí thuyết mà còn chỉnh hợp với những tài liệu khảo cổ học Tuy vậy, để chứng minh và làm rõ những con đường tiến tới văn hóa Óc Eo lại không đơn giản Cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào mang tính tổng hợp về quá trình chuyển tiếp lên văn hóa Óc Eo ở Nam Bộ, dù là từ một hay nhiều tuyến

Dựa trên nguồn tư liệu hiện biết, có thể bước đầu phác họa ra các con đường hay các nhóm di tích Tiền Óc Eo sau đây:

Trang 33

20

- Nhóm di tích đồng bằng sông Cửu Long: gồm các di tích phân bố chủ

yếu trên địa bàn tỉnh An Giang như Gò Cây Tung, Gò Tư Trâm, Gò Me – Gò Sành Đây đều là các di tích có địa tầng dày (Gò Cây Tung: 1,1 – 5,4 m; Gò

Tư Trâm: 2,35 – 3,5 m), phát triển qua nhiều giai đoạn từ tiền Óc Eo – Óc Eo – hậu Óc Eo Di tích Gò Me – Gò Sành tuy chưa khai quật nhưng qua khảo sát bề mặt đã thấy các yếu tố của cả ba giai đoạn này Bên cạnh đó, có thể kể đến địa điểm Giồng Nổi ở Bến Tre hay địa điểm K9 và Giồng Cu ở Hà Tiên Các địa điểm này có niên đại khởi đầu thuộc Sơ kỳ Sắt và lớp muộn bắt đầu

có yếu tố Óc Eo [Tống Trung Tín, Bùi Minh Trí, 1994], [Trần Anh Dũng, Lại Văn Tới, 2007], [Đào Linh Côn, 2009]

- Nhóm di tích lưu vực sông Vàm Cỏ: gồm các di tích phân bố ở tỉnh

Long An như Gò Ô Chùa, Gò Cao Su, Lò Gạch, Gò Hàng, Gò Dung, Gò Đế hay Trấp Gáo Miễu Đây đều là các di chỉ cư trú, cư trú – mộ táng hoặc xưởng sản xuất gốm Địa tầng di tích thường dày từ 1,0 – 2,0 m, gồm hai giai đoạn văn hóa sớm muộn, trong đó lớp văn hóa sớm thuộc giai đoạn Sơ kỳ Sắt, lớp muộn có niên đại cận kề công nguyên và bắt đầu chuyển sang văn hóa Óc

Eo [Trần Anh Dũng, Bùi Văn Liêm, Nguyễn Đăng Cường, 1994], [Ngô Thế Phong, Bùi Phát Diệm, 1997], [Vương Thu Hồng, 2007], [Bùi Văn Liêm, 2008], [Vương Thu Hồng, 2011]

- Nhóm di tích ven biển Đông Nam Bộ: gồm các di tích Giồng Cá Vồ và

Giồng Phệt phân bố ở vùng ngập mặn ven biển huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh Các di tích này có tính chất vừa là di chỉ cư trú, vừa là trung tâm thủ công nghiệp với các nghề sản xuất gốm, chế tác trang sức, làm đồ thủy tinh…, sau đó dần dần biến thành khu mộ táng Nhóm di tích này có niên đại

Sơ kỳ Sắt, trong đó Giồng Phệt có niên đại khởi đầu muộn hơn và kết thúc muộn hơn chút ít Trong các di tích này đã bắt đầu có yếu tố Óc Eo, dù vẫn

Trang 34

có yếu tố Óc Eo trong nhóm di tích này, và từ đó đi đến nhận định rằng có thể tìm thấy một tuyến phát triển lên Óc Eo ở vùng ven biển Đông Nam Bộ [Đặng Văn Thắng, Vũ Quốc Hiền, 1995], [Hà Văn Tấn 1996a], [Hà Văn Tấn 1996b], [Nguyễn Thị Hậu, 1997] Tuy nhiên, cũng như chính các nhà nghiên cứu này khẳng định, các yếu tố Óc Eo đó mới chỉ là "phảng phất", "sơ khai",

và về mặt niên đại thì từ Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt lên tới các di tích Óc Eo thực thụ (ví dụ như Giồng Am, niên đại thế kỉ 4 - 5 AD) vẫn còn cả một khoảng trống vài trăm năm Do đó, điều quan trọng là phải tìm được một gạch nối từ Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt lên tới Óc Eo Với việc phát hiện di tích Giồng Lớn trên đảo Long Sơn (Bà Rịa - Vũng Tàu), chúng ta đã có thể nói tới một cách chắc chắn hơn về con đường tiến tới văn hóa Óc Eo ở vùng ven biển Đông Nam Bộ

1.3 Di tích Giồng Lớn và những vấn đề đặt ra cho luận án

1.3.1 Phát hiện và khai quật di tích Giồng Lớn

1.3.1.1 Phát hiện

Từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2002, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) phối hợp với Bảo tàng Tổng hợp Bà Rịa - Vũng Tàu thực hiện chương trình điều tra khảo sát lập bản đồ di tích khảo cổ học trên địa bàn của tỉnh Trong quá trình khảo sát trên đảo Long Sơn (TP Vũng Tàu), các nhà khảo cổ đã được người dân chỉ dẫn tới một giồng cát là Giồng Lớn, thuộc thôn 3 Rạch Già, nơi đang có hoạt động lấy cát xây dựng Theo

Trang 35

22

người dân địa phương, trong quá trình lấy cát hay đào hầm đốt than, họ hay gặp những "miểng" gốm Khi đến khảo sát, dựa vào vách hố đào lấy cát của người dân, các cán bộ khảo sát đã phát hiện được 2 vòng thủy tinh màu xanh dương còn khá nguyên vẹn ở độ sâu 1,5m Hai chiếc vòng này có tiết diện hình tam giác, đường kính khoảng 6,4 cm Ngoài 2 vòng thủy tinh, những người khảo sát còn tìm được một số mảnh gốm màu nâu đỏ, xương thô, pha nhiều sạn sỏi, trong đó xác định được 4 mảnh thuộc loại hình chum Dựa trên những phát hiện này, các nhà khảo cổ cho rằng Giồng Lớn có thể là một di tích mộ chum có tính chất và niên đại tương tự với Giồng Cá Vồ bên Cần Giờ [Vũ Quốc Hiền và nnk., 2002, tr 26]

1.3.1.2 Khai quật

* Khai quật lần thứ nhất

Sau phát hiện năm 2002, từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2003, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam phối hợp với Bảo tàng Tổng hợp Bà Rịa - Vũng Tàu tiến hành khai quật di tích Giồng Lớn lần thứ nhất Kết quả khai quật đã tìm thấy

54 mộ táng (49 mộ đất, 5 mộ nồi) cùng số lượng lớn các đồ tùy táng thuộc các chất liệu như đá, gốm, thủy tinh, đồng, sắt, vàng, với các loại hình như đồ dùng sinh hoạt, đồ trang sức, công cụ, vũ khí, tiền , đặc biệt là lần đầu tiên tìm được hai chiếc mặt nạ vàng Dựa trên các di tích, di vật thu được, các tác giả khai quật có những nhận xét như sau [Vũ Quốc Hiền, Lê Văn Chiến, Chu Văn Vệ, 2004]:

- Về tính chất di tích, Giồng Lớn là một di tích thuần mộ táng, không thấy dấu vết của tầng cư trú Cách di tích này khoảng 1,5 km về phía nam ven vịnh Gành Rái có một bãi gốm dày đặc, kéo dài vài ki-lô-mét Các tác giả cho rằng có khả năng đó là nơi cư trú và sản xuất của chủ nhân khu mộ táng này

Trang 36

* Khai quật lần thứ hai

Từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2005, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam phối hợp với Bảo tàng Tổng hợp Bà Rịa - Vũng Tàu tiếp tục khai quật di tích Giồng Lớn lần thứ hai Kết quả khai quật đã tìm thấy 26 mộ táng (23 mộ đất, 3 mộ nồi) cùng với nhiều đồ tùy táng, về loại hình và chất liệu không có gì khác so với lần thứ nhất, đáng chú ý là lần khai quật này đã tìm được một chiếc mặt

nạ và một mô hình dương vật bằng vàng

Theo nhận xét của những người khai quật năm 2005, di tích Giồng Lớn

có những đặc điểm sau [Vũ Quốc Hiền, Trương Đắc Chiến, Lê Văn Chiến, 2007a]:

- Về tính chất di tích, có thể thấy Giồng Lớn một khu mộ táng, không có dấu vết cư trú Ở đây có hai loại hình mộ táng là mộ đất và mộ nồi Về táng thức, có lẽ mộ đất thuộc loại hung táng còn mộ nồi dùng cho cải táng hoặc chôn trẻ em

- Về niên đại, các tác giả khai quật cho rằng di tích này có niên đại khoảng thế kỉ 1 - 2 AD

Trang 37

24

- Về văn hóa, các tác giả tiếp tục khẳng định đây là một di tích Óc Eo sớm, trên cơ sở so sánh Giồng Lớn với các địa điểm như Gò Ô Chùa hay Giồng Cá Vồ Các tác giả cũng cho rằng Giồng Cá Vồ - Giồng Lớn là một con đường, một loại hình của văn hóa Óc Eo vùng ven biển Đông Nam Bộ Sau hai đợt khai quật này, di tích Giồng Lớn nói riêng và các di tích khảo cổ trên đảo Long Sơn nói chung vẫn tiếp tục được khảo sát, nghiên cứu [Trương Đắc Chiến, 2015], [Nguyễn Mạnh Thắng và nnk., 2015]

Bên cạnh đó, những kết quả nghiên cứu ở Giồng Lớn cũng được công bố

trên tạp chí Khảo cổ học (Viện Khảo cổ học), Thông báo Khoa học (Bảo tàng

Lịch sử Việt Nam) Trong các công trình này, các tác giả đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của di tích Giồng Lớn với ý nghĩa như một gạch nối từ nhóm

di tích Cần Giờ lên văn hóa Óc Eo [Vũ Quốc Hiền, Trương Đắc Chiến, Lê Văn Chiến, 2007b], [Vũ Quốc Hiền, Trương Đắc Chiến, Lê Văn Chiến, 2008], [Vũ Quốc Hiền, Trương Đắc Chiến, 2009], [Trương Đắc Chiến, 2012], [Lê Cảnh Lam, Trương Đắc Chiến, 2013], [Trương Đắc Chiến, 2014], [Trương Đắc Chiến, 2015a], [Trương Đắc Chiến, 2015b]

1.3.2 Những vấn đề đặt ra cho luận án

Trên đây là những nét khái quát về tình hình phát hiện và nghiên cứu văn hóa Óc Eo, Tiền Óc Eo nói chung và quá trình nghiên cứu khảo cổ học ở di tích Giồng Lớn nói riêng Mặc dù nhiều phương diện đã được giải quyết, nhưng vẫn còn đó một số vấn đề cần được làm sáng tỏ trong luận án, đó là: 1.3.2.1 Di tích Giồng Lớn được khai quật hai lần và đã có một số công trình nghiên cứu về di tích này được công bố Tuy nhiên, sự hiểu biết về đặc trưng văn hóa cũng như niên đại của di tích này vẫn còn nhiều hạn chế Do vậy, đặc trưng văn hóa cũng như các giai đoạn phát triển của di tích là vấn đề đặt ra cho luận án

Trang 38

25

1.3.2.2 Giồng Lớn là một trong số ít các di tích phát hiện được đồ tùy táng bằng vàng Mặc dù khá phong phú và rất độc đáo, tuy nhiên sưu tập này mới chỉ được công bố dưới dạng tư liệu chứ chưa được nghiên cứu một cách sâu kĩ, nhất là chưa được phân tích bằng các phương pháp khoa học tự nhiên Như vậy, việc nghiên cứu sưu tập hiện vật vàng cũng là vấn đề luận án cần quan tâm giải quyết

1.3.2.3 Thông qua việc nghiên cứu các mối quan hệ văn hóa của di tích Giồng Lớn trong không gian và thời gian, luận án sẽ làm rõ vị trí của di tích này trong giai đoạn lịch sử bản lề của khu vực - giai đoạn chuyển tiếp từ Tiền

Óc Eo lên văn hóa Óc Eo

1.3.2.4 Văn hóa Óc Eo được hình thành từ nhiều con đường khác nhau, trong đó con đường ở vùng ven biển Đông Nam Bộ đã được đề cập sau khi phát hiện cụm di tích Cần Giờ Tuy nhiên, việc chứng minh và kết nối nhóm

di tích này với văn hóa Óc Eo cũng chưa được nghiên cứu một cách kĩ càng Trên cơ sở tiếp thu các kết quả nghiên cứu tại Cần Giờ của các nhà khoa học tiền bối, kết hợp với các tư liệu khảo cổ ở di tích Giồng Lớn và các di tích khác trên đảo Long Sơn, chúng tôi sẽ cố gắng phác dựng lại con đường tiến tới văn hóa Óc Eo ở vùng ven biển Đông Nam Bộ

Tiểu kết chương 1

Trong chương này, tác giả đã trình bày khái quát về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án cũng như những vấn đề luận án cần đi sâu giải quyết, với những nét chính sau:

Văn hóa Óc Eo có lịch sử phát hiện và nghiên cứu lâu dài, với sự đóng góp của nhiều thế hệ học giả trong nước và quốc tế Trải hơn 70 năm nghiên cứu, nhiều phương diện của nền văn hóa này đã được làm rõ, nhưng cũng không ít câu hỏi còn để ngỏ, trong đó nổi lên vấn đề nguồn gốc

Trang 39

26

Vấn đề nguồn gốc của văn hóa Óc Eo ít nhiều đã được bàn tới từ khá sớm Đã có những quan điểm khác nhau về nguồn gốc của văn hóa Óc Eo được đưa ra bởi các học giả trong và ngoài nước, nhưng có thể thấy quan điểm cho rằng văn hóa Óc Eo được hình thành từ nhiều con đường, từ nhiều tuyến là hợp lí hơn cả Dựa trên nguồn tư liệu hiện biết, có thể bước đầu phác họa ra các con đường hay các nhóm di tích Tiền Óc Eo, đó là: nhóm di tích đồng bằng sông Cửu Long, nhóm di tích lưu vực sông Vàm Cỏ, nhóm di tích ven biển Đông Nam Bộ Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào mang tính tổng hợp về quá trình chuyển tiếp lên văn hóa Óc Eo ở Nam

Bộ, dù là từ một hay nhiều tuyến

Di tích Giồng Lớn được phát hiện năm 2002, khai quật hai lần vào năm

2003 và 2005 Kết quả khai quật tại Giồng Lớn là nguồn tài liệu quý báu góp phần tìm hiểu về con đường tiến tới văn hóa Óc Eo ở vùng ven biển Đông Nam Bộ Mục tiêu cơ bản của luận án là hệ thống hóa toàn bộ tư liệu và kết quả nghiên cứu về di tích Giồng Lớn; xác định đặc trưng văn hóa, các giai đoạn phát triển của di tích cũng như vị trí của nó trong giai đoạn chuyển tiếp tiền Óc Eo - Óc Eo ở vùng ven biển Đông Nam Bộ, từ đó phác dựng lại con đường tiến tới văn hóa Óc Eo ở vùng ven biển Đông Nam Bộ

Trang 40

27

CHƯƠNG 2 DI TÍCH GIỒNG LỚN: ĐẶC TRƯNG VÀ NIÊN ĐẠI

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên vùng ven biển Đông Nam Bộ

Vùng ven biển Đông Nam Bộ, về mặt địa lý hành chính, bao gồm vùng đất cận biển của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và TP Hồ Chí Minh, với đường bờ biển dài khoảng 100 km, kéo dài từ Hàm Tân cho đến Cần Giờ Tuy nhiên, về mặt địa lý tự nhiên và cảnh quan sinh thái, vùng ven biển Đông Nam Bộ bao gồm khu vực ngập mặn thuộc địa bàn các tỉnh Đồng Nai, Long An, TP Hồ Chí Minh và Bà Rịa - Vũng Tàu, trong đó quan trọng nhất là vùng Cần Giờ ở

TP Hồ Chí Minh và vùng ngập mặn phía tây nam tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, bởi đây chính là cửa ngõ để đi vào hai châu thổ sông lớn nhất của khu vực là sông Đồng Nai và sông Cửu Long Với tư cách là một khu vực địa lý - sinh thái đặc thù, vùng ven biển Đông Nam Bộ có những đặc điểm tự nhiên đáng

chú ý sau đây (Hình 2):

2.1.1 Theo các nhà địa lý - địa chất, khu vực này tuy thuộc Đông Nam

Bộ nhưng về mặt cơ thức hình thành rất giống đồng bằng sông Cửu Long, nên còn được gọi là "châu thổ thủy triều" hay đồng bằng tích tụ Tây Nam Bộ [Hà Quang Hải, 1996], [Lê Bá Thảo, 2001] Vùng đất này có địa hình bằng phẳng, với hệ thống sông rạch chằng chịt, nổi lên trên đó là các đảo phù sa lớn nhỏ

có độ cao khoảng 1 - 2m so với xung quanh và thường xuyên chịu tác động của thủy triều Bên cạnh đặc điểm chung này, ở đây còn có một số tiểu vùng với cảnh trí tự nhiên mang nét khác biệt và ít chịu tác động của thủy triều Ví

dụ như vùng đất phù sa mới giáp TP Biên Hòa, cao độ khoảng 4 - 5m, hay vùng ô trũng nước ngọt ven đồi gò đất đỏ bazan xung quanh TP Bà Rịa Các tiểu vùng này tuy nằm trong vùng đồng bằng ven biển nhưng ít hoặc không chịu tác động của thủy triều, nhờ vậy mà nguồn nước ở đó ít hoặc không bị nhiễm mặn

Ngày đăng: 12/03/2021, 19:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Bùi Phát Diệm, Đào Linh Côn, Vương Thu Hồng (2001), Khảo cổ học Long An những thế kỷ đầu Công nguyên, Sở Văn hoá - Thông tin Long An xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo cổ học Long An những thế kỷ đầu Công nguyên
Tác giả: Bùi Phát Diệm, Đào Linh Côn, Vương Thu Hồng
Năm: 2001
15. Lê Xuân Diệm (1984a), "Về các văn hóa cổ ở đồng bằng sông Cửu Long", Văn hóa Óc Eo và các văn hóa cổ ở đồng bằng sông Cửu Long, Sở Văn hoá - Thông tin An Giang xuất bản, Long Xuyên, tr.43 - 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về các văn hóa cổ ở đồng bằng sông Cửu Long
16. Lê Xuân Diệm (1984b), "Óc Eo - một đô thị xưa hay một trung tâm văn hóa cổ", Văn hóa Óc Eo và các văn hóa cổ ở đồng bằng sông Cửu Long, Sở Văn hoá - Thông tin An Giang xuất bản, Long Xuyên, tr. 212 - 221 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Óc Eo - một đô thị xưa hay một trung tâm văn hóa cổ
17. Lê Xuân Diệm (1997a), "Dữ liệu mới của khảo cổ học liên hệ đến cổ địa hình vùng châu thổ Đồng Nai - Cửu Long", Một số vấn đề khảo cổ học ở miền Nam Việt Nam, NXB KHXH., Hà Nội, tr. 23 - 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dữ liệu mới của khảo cổ học liên hệ đến cổ địa hình vùng châu thổ Đồng Nai - Cửu Long
Nhà XB: NXB KHXH.
18. Lê Xuân Diệm (1997b), "Văn hóa "hậu đá mới" ở vùng hạ lưu sông Đồng Nai (Nam Bộ - Việt Nam)", Một số vấn đề khảo cổ học ở miền Nam Việt Nam, NXB KHXH., Hà Nội, tr. 47 - 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa "hậu đá mới" ở vùng hạ lưu sông Đồng Nai (Nam Bộ - Việt Nam)
Nhà XB: NXB KHXH.
19. Lê Xuân Diệm (2007), "Giồng Nổi, di chỉ Giồng Nổi và văn hóa cổ ở Giồng Nổi (Bến Tre)", Khảo cổ học (2), tr. 63 - 69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giồng Nổi, di chỉ Giồng Nổi và văn hóa cổ ở Giồng Nổi (Bến Tre)
Tác giả: Lê Xuân Diệm
Năm: 2007
20. Lê Xuân Diệm (2008a), "Quá trình hình thành châu thổ sông Cửu Long (tiếp cận từ địa sử học và thư tịch học)", Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam (kỷ yếu Hội thảo khoa học 60 năm phát hiện văn hóa Óc Eo), NXB Thế giới, Hà Nội, tr. 18 - 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình hình thành châu thổ sông Cửu Long (tiếp cận từ địa sử học và thư tịch học)
Nhà XB: NXB Thế giới
21. Lê Xuân Diệm (2008b), "Ba mươi năm khám phá và nghiên cứu văn hoá Óc Eo", Một số vấn đề khảo cổ học ở miền Nam Việt Nam, NXB KHXH, Tp. Hồ Chí Minh, tr. 303 - 336 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba mươi năm khám phá và nghiên cứu văn hoá Óc Eo
Nhà XB: NXB KHXH
22. Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải (1995), Văn hoá Óc Eo - Những khám phá mới, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Óc Eo - Những khám phá mới
Tác giả: Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1995
23. Doumer P. (2015), Xứ Đông Dương (Hồi ký) (Bản dịch tiếng Việt), NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xứ Đông Dương (Hồi ký)
Tác giả: Doumer P
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2015
24. Nguyễn Kim Dung (2007), "Di chỉ Giồng Nổi (Bến Tre) trong nền cảnh khảo cổ học Tiền - Sơ sử vùng Nam Bộ Việt Nam", Khảo cổ học (2), tr. 86 - 95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di chỉ Giồng Nổi (Bến Tre) trong nền cảnh khảo cổ học Tiền - Sơ sử vùng Nam Bộ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Kim Dung
Năm: 2007
26. Lâm Thị Mỹ Dung (2003), "Về truyền thống mộ chum", Khảo cổ học (2), tr. 48 - 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về truyền thống mộ chum
Tác giả: Lâm Thị Mỹ Dung
Năm: 2003
27. Lâm Thị Mỹ Dung (2007), "Gốm di chỉ Giồng Nổi trong mối quan hệ với phức hợp gốm thời sơ sử Nam Trung Bộ", Khảo cổ học (2), tr. 79 - 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gốm di chỉ Giồng Nổi trong mối quan hệ với phức hợp gốm thời sơ sử Nam Trung Bộ
Tác giả: Lâm Thị Mỹ Dung
Năm: 2007
28. Lâm Thị Mỹ Dung (chủ trì) (2008), Nghiên cứu quá trình chuyển biến từ Sơ sử sang Sơ kỳ Lịch sử ở Trung Trung bộ và Nam Trung bộ Việt Nam (Đề tài cấp Đại học Quốc gia), Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu quá trình chuyển biến từ Sơ sử sang Sơ kỳ Lịch sử ở Trung Trung bộ và Nam Trung bộ Việt Nam
Tác giả: Lâm Thị Mỹ Dung (chủ trì)
Năm: 2008
29. Lâm Thị Mỹ Dung, Nguyễn Anh Thư (2009), "Đồ gốm những thế kỷ đầu Công nguyên ở miền Bắc, miền Trung (Champa), miền Nam (Óc Eo) Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á", Kỷ yếu Hội thảo Văn hóa Óc Eo: Nhận thức và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị, An Giang, tr. 123 - 137 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồ gốm những thế kỷ đầu Công nguyên ở miền Bắc, miền Trung (Champa), miền Nam (Óc Eo) Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á
Tác giả: Lâm Thị Mỹ Dung, Nguyễn Anh Thư
Năm: 2009
30. Trần Anh Dũng, Bùi Văn Liêm, Nguyễn Đăng Cường (1994), Báo cáo khai quật địa điểm Gò Cao Su, tư liệu Viện Khảo cổ học, HS 391 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khai quật địa điểm Gò Cao Su
Tác giả: Trần Anh Dũng, Bùi Văn Liêm, Nguyễn Đăng Cường
Năm: 1994
31. Trần Anh Dũng, Lại Văn Tới (2007), "Di chỉ Giồng Nổi (Bến Tre) qua ba lần khai quật", Khảo cổ học (2), tr. 13 - 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di chỉ Giồng Nổi (Bến Tre) qua ba lần khai quật
Tác giả: Trần Anh Dũng, Lại Văn Tới
Năm: 2007
32. Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận, Nguyễn Trọng Tấn (2005), "Đặc trưng cổ địa lý kỷ Đệ tứ ở đồng bằng Nam Bộ", Các khoa học về Trái đất (27), tập 4, tr. 289 - 297 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng cổ địa lý kỷ Đệ tứ ở đồng bằng Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận, Nguyễn Trọng Tấn
Năm: 2005
33. Nguyễn Văn Đoàn, Trương Đắc Chiến (2007), "Khai quật di tích Đa Kai lần thứ hai năm 2006", Khảo cổ học (4), tr. 25 - 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai quật di tích Đa Kai lần thứ hai năm 2006
Tác giả: Nguyễn Văn Đoàn, Trương Đắc Chiến
Năm: 2007
34. Trịnh Hoài Đức (2004), Gia Định Thành thông chí (bản dịch của Lý Việt Dũng), NXB Tổng hợp Đồng Nai, Biên Hòa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia Định Thành thông chí
Tác giả: Trịnh Hoài Đức
Nhà XB: NXB Tổng hợp Đồng Nai
Năm: 2004

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w