1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đối chiếu liên hệ phương thức biểu hiện nghĩa liên nhân trong văn bản hướng dẫn sử dụng thuốc anh việt theo lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống

211 41 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 211
Dung lượng 2,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn từ góc độ của lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống, luận án mong muốn khảo sát và tìm hiểu phương thức biểu hiểu nghĩa liên nhân trong văn bản HDSD thuốc tiếng Anh và tiếng Việ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ KIM LUYẾN

ĐỐI CHIẾU LIÊN HỆ PHƯƠNG THỨC

BIỂU HIỆN NGHĨA LIÊN NHÂN TRONG VĂN BẢN HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG THUỐC ANH - VIỆT (THEO LÝ THUYẾT NGÔN NGỮ HỌC CHỨC NĂNG HỆ THỐNG)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ KIM LUYẾN

ĐỐI CHIẾU LIÊN HỆ PHƯƠNG THỨC

BIỂU HIỆN NGHĨA LIÊN NHÂN TRONG VĂN BẢN HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG THUỐC ANH - VIỆT (THEO LÝ THUYẾT NGÔN NGỮ HỌC CHỨC NĂNG HỆ THỐNG)

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu

Mã số: 62.22.02.41

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Việc giải quyết các vấn đề đặt ra cũng như các kết quả nghiên cứu trình bày trong luận

án là hoàn toàn trung thực, chính xác và chưa từng được công bố trong bất kỳ các công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả

Nguyễn Thị Kim Luyến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận án, em đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thày cô, các anh chị em, các bạn bè đồng nghiệp và gia đình

Trước hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Hoàng Văn Vân đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu giúp em hoàn thành luận án

Em xin cám ơn tập thể các thày cô giáo khoa Ngôn ngữ học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đai học Quốc gia Hà Nội đã tận tình dạy dỗ

và tạo điều kiện cho em có được môi trường học tập và nghiên cứu thuận lợi nhất

Em xin cám ơn Khoa Ngoại ngữ, Học viện Quân y – nơi em đang công tác,

đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và hoàn thành luận án

Em xin chân thành gửi lời cám ơn tới gia đình, bạn bè đồng nghiệp, những người luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ và chia sẻ với em trong suốt thời gian qua

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Kim Luyến

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục 1

Danh mục các chữ viết tắt 4

Danh mục các bảng 5

Danh mục các hình 6

MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4 Ngữ liệu nghiên cứu 10

5 Phương pháp nghiên cứu 12

6 Đóng góp của luận án 13

7 Bố cục của luận án 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN 16

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 16

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về văn bản hướng dẫn sử dụng thuốc 16

1.1.1.1 Nghiên cứu văn bản hướng dẫn sử dụng thuốc từ góc độ đặc điểm ngôn ngữ 16

1.1.1.2 Nghiên cứu văn bản hướng dẫn sử dụng thuốc từ góc độ đánh giá chất lượng văn bản 17

1.1.1.3 Nghiên cứu văn bản hướng dẫn sử dụng thuốc từ góc độ ngôn ngữ học chức năng hệ thống 18

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về nghĩa liên nhân trong văn bản qua phương tiện thức và tình thái 19

1.1.2.1 Ở ngoài nước 19

1.1.2.2 Ở Việt nam 21

1.2 Cơ sở lý luận 32

1.2.1 Lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống 32

Trang 6

1.2.1.1 Khái quát về ngôn ngữ học chức năng hệ thống 32

1.2.1.2 Siêu chức năng và siêu chức năng liên 34

1.2.1.3 Hệ thống thức 35

1.2.1.4 Cấu trúc thức và chức năng lời nói 39

1.2.1.5 Tình thái 49

1.2.2 Lý thuyết ngôn ngữ học đối chiếu 61

1.2.2.1 Khái quát về ngôn ngữ học đối chiếu 61

1.2.2.2 Mục đích, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu đối chiếu 61

1.2.2.3 Loại hình đối chiếu 62

Chương 2 ĐỐI CHIẾU LIÊN HỆ PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN NGHĨA LIÊN NHÂN TRONG VĂN BẢN HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG THUỐC ANH - VIỆT QUA PHƯƠNG TIỆN ‘THỨC’ 66

2.1 Tình hình sử dụng phương tiện ‘thức’ trong văn bản hướng dẫn sử dụng thuốc tiếng Anh và tiếng Việt 66

2.2 Phương thức biểu hiện tương thích nghĩa liên nhân trong văn bản hướng dẫn sử dụng thuốc tiếng Anh qua phương tiện ‘thức’ (liên hệ với tiếng Việt) 70

2.2.1 Thức tuyên bố hiện thực hoá chức năng nhận định 71

2.2.2 Thức cầu khiến hiện thực hoá chức năng yêu cầu 78

2.2.3 Thức nghi vấn hiện thực hoá chức năng hỏi 86

2.3 Phương thức biểu hiện không tương thích nghĩa liên nhân trong văn bản hướng dẫn sử dụng thuốc tiếng Anh qua phương tiện ‘thức’ (và liên hệ với tiếng Việt) 91

2.3.1 Thức tuyên bố hiện thực hoá chức năng yêu cầu 93

2.3.2 Thức tuyên bố và thức cầu khiến hiện thực hoá chức năng mời 96

2.3.3 Thức tuyên bố hiện thực hoá chức năng hỏi 99

2.4 Nghĩa liên nhân trong văn bản hướng dẫn sử dụng thuốc tiếng Anh và tiếng Việt từ bình diện ‘thức’ 100

Tiểu kết chương 2 107

Chương 3 ĐỐI CHIẾU LIÊN HỆ PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN NGHĨA LIÊN NHÂN TRONG VĂN BẢN HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG THUỐC ANH - VIỆT QUA PHƯƠNG TIỆN ‘TÌNH THÁI’ 109

Trang 7

3.1 Tình hình sử dụng phương tiện ‘tình thái’ trong văn bản hướng dẫn sử

dụng thuốc tiếng Anh và tiếng Việt 109

3.2 Phương thức biểu hiện tương thích nghĩa liên nhân trong văn bản hướng dẫn sử dụng thuốc tiếng Anh qua phương tiện ‘tình thái’ (và liên hệ với tiếng Việt) 114

3.2.1 Phương tiện tác tử tình thái chủ quan ẩn ngôn 114

3.2.1.1 Tác tử tình thái từ bình diện kiểu loại tình thái 115

3.2.1.2 Tác tử tình thái từ bình diện giá trị tình thái 122

3.2.2 Phụ ngữ tình thái khách quan ẩn ngôn 127

3.2.2.1 Phụ ngữ tình thái từ bình diện kiểu loại tình thái 128

3.2.2.2 Phụ ngữ tình thái từ bình diện giá trị tình thái 132

3.3 Phương thức biểu hiện không tương thích nghĩa liên nhân trong văn bản hướng dẫn sử dụng thuốc tiếng Anh qua phương tiện ‘tình thái’ (và liên hệ với tiếng Việt) 137

3.4 Nghĩa liên nhân trong văn bản hướng dẫn sử dụng thuốc tiếng Anh và tiếng Việt từ bình diện tình thái 141

Tiểu kết chương 3 144

KẾT LUẬN 146

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN 150

TÀI LIỆU THAM KHẢO 151 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

HDSD: Hướng dẫn sử dụng

NCĐC: Nghiên cứu đối chiếu

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Vai diễn lời nói và hàng hoá được trao đổi trong tương tác 37

Bảng 1.2 Cấu trúc thức trong tiếng Anh theo ngôn ngữ học 40

chức năng hệ thống 40

Bảng 1.3 Hiện thực hoá chức năng lời nói tương thích và không tương thích 42

Bảng 1.4 Cấu trúc thức và chức năng lời nói trong tiếng Việt theo ngôn ngữ học chức năng hệ thống 44

Bảng 1.5 Kiểu loại tình thái và hình thức hiện thực hoá điển hình 52

Bảng 1.6 Kết hợp kiểu loại tình thái, định hướng tình thái và biểu hiện tình thái 53

Bảng 1.7 Ba „gíá trị‟ của tình thái 54

Bảng 1.8 Hiện thực hoá tình thái tương thích và không tương thích 55

Bảng 2.1 Phân bố kiểu loại thức trong ngữ liệu tiếng Anh và tiếng Việt 67

Bảng 2.2 Sự tương thích giữa chức năng lời nói và thức trong ngữ liệu tiếng Anh và tiếng Việt 69

Bảng 2.3 Phân bố kiểu thức tuyên bố hiện thực hoá chức năng nhận định trong ngữ liệu tiếng Anh và tiếng Việt 72

Bảng 2.4 Phân bố kiểu loại thức cầu khiến trong ngữ liệu tiếng Anh và tiếng Việt 78

Bảng 2.5 Phân bố kiểu thức nghi vấn hiện thực hoá tương thích chức năng hỏi trong ngữ liệu tiếng Anh và tiếng Việt 89

Bảng 3.1 Số liệu thống kê tần suất và tỷ lệ hai kiểu hiện thực hoá của tình thái 111

Bảng 3.2 Phân bố kiểu loại tình thái trong văn bản HDSD thuốc 113

Bảng 3.3 Phân bố tác tử tình thái từ bình diện kiểu loại tình thái trong văn bản HDSD thuốc tiếng Anh và tiếng Việt 116

Bảng 3.4 Phân bố tác tử tình thái từ bình diện giá trị tình thái trong văn bản HDSD thuốc tiếng Anh và tiếng Việt 123

Bảng 3.5 Phân bố phụ ngữ tình thái từ bình diện kiểu loại tình thái trong văn bản HDSD thuốc tiếng Anh và tiếng Việt 128

Bảng 3.6 Phân bố phụ ngữ tình thái từ bình diện giá trị tình thái trong văn bản HDSD thuốc tiếng Anh và tiếng Việt 132

Bảng 3.7 Phân bố cú phóng chiếu hiện thực hoá không tương thích tính tình thái trong văn bản HDSD thuốc tiếng Anh 138

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Mô hình ngôn ngữ học chức năng hệ thống 33

Hình 1.2 Hệ thống Thức 38

Hình 1.3 Bốn biến thể của tình thái 50

Hình 1.4 Kiểu loại tình thái 50

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Theo quan điểm ngôn ngữ học chức năng hệ thống, nghĩa liên nhân đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong thiết lập và duy trì mối quan hệ xã hội và chỉ ra vai trò của các tham thể trong một tương tác (Halliday, 2002) Halliday chỉ rõ nghĩa liên nhân liên quan đến sự tương tác giữa người nói/viết với người nghe/đọc Trong chức năng liên nhân, ngôn ngữ được dùng để trao đổi với người khác, tạo dựng và duy trì các mối quan hệ xã hội, tác động lên hành vi của người khác, bày tỏ quan điểm của bản thân và làm thay đổi quan điểm của người khác

Hướng dẫn sử dụng (HDSD) thuốc là một tài liệu bắt buộc được viết bởi các nhà sản xuất dược phẩm ở mọi quốc gia trên toàn thế giới, luôn được đóng gói cùng với thuốc sản phẩm Theo quy định quốc tế và trong nước, tờ HDSD thuốc phải đảm bảo là một tài liệu gần gũi và thân thiện với người sử dụng chứa đựng đầy đủ các thông tin thiết yếu về thuốc để tạo điều kiện cho người bệnh sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả nhằm mang lại lợi ích cho người

sử dụng thuốc với tiêu chí lấy người bệnh làm trung tâm phục vụ (European Commission Directives and Guidelines, 1998, 2001, 2004, 2009, Luật số

105/2016 về dược, Nghị định số 54/2017/NĐ-CP và Thông tư BYT ở Việt Nam) Văn bản HDSD thuốc có thể được xem là một kênh giáo dục sức khoẻ đặc biệt quan trọng dành cho cộng đồng, vì đó là một phương thức giáo dục không có sự hiện diện của người cung cấp tri thức là bác sỹ hoặc chuyên gia y tế Mặc dù vậy, vẫn phải đảm bảo đạt được mục tiêu giáo dục của thể loại văn bản này là nhằm trang bị và chuẩn hoá kiến thức về mặt y khoa trong cộng đồng, tạo ra những thay đổi về nhận thức, thái độ hay hành vi

01/2018/TT-sử dụng thuốc không hợp lý, đảm bảo chuẩn xác về tri thức và đồng thời cung cấp sự an toàn về mặt pháp lý cho những nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ này

Trang 12

Như vậy, trong số những thông số được yêu cầu thực hiện đối với thể loại văn bản HDSD thuốc, rõ ràng yếu tố ngôn ngữ thể hiện tính tương tác giữa các tham thể là người viết và người đọc hay cách thức nghĩa liên nhân được hiện thực hoá trong thể loại văn bản này là một trong những yếu tố đóng vai trò vô cùng quan trọng cần được quan tâm và chú ý

Trong khi các văn bản HDSD thuốc tiếng Anh đã được nghiên cứu khá sâu rộng từ các cách tiếp cận lí thuyết ngôn ngữ học khác nhau thì các văn bản HDSD thuốc bằng tiếng Việt chưa được nghiên cứu, và đặc biệt chưa có công trình nghiên cứu nào so sánh đối chiếu các đặc điểm liên nhân của kiểu (thể loại) ngôn bản này trong tiếng Anh và tiếng Việt Do đó, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu phương thức biểu hiện nghĩa liên nhân trong các văn bản HDSD thuốc tiếng Anh và đối chiếu liên hệ với các văn bản cùng thể loại trong tiếng Việt Nhìn từ góc độ của lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống, luận án mong muốn khảo sát và tìm hiểu phương thức biểu hiểu nghĩa liên nhân trong văn bản HDSD thuốc tiếng Anh và tiếng Việt thông qua quan sát cách thức sử dụng các phương tiện ngôn ngữ hiện thực hoá nghĩa liên nhân trong thể loại văn bản này Vì thế, đề tài của luận án này được xác định

là: “Đối chiếu liên hệ phương thức biểu hiện nghĩa liên nhân trong văn bản hướng dẫn sử dụng thuốc Anh - Việt (theo lý thuyết ngôn ngữ học chức năng

hệ thống)” Tên gọi đối chiếu liên hệ ở đây được hiểu là công việc đối chiếu

được thực hiện ở mức độ ít nghiêm ngặt hơn, nhấn mạnh vào ngôn ngữ cơ sở và không tiến hành đối chiếu theo tất cả các thao tác so sánh đối chiếu một cách chặt chẽ mà đối chiếu mang tính liên hệ

2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu luận án là làm sáng tỏ phương thức biểu hiện nghĩa liên nhân trong các văn bản HDSD thuốc tiếng Anh thông qua các

Trang 13

phương tiện ngữ pháp-từ vựng đặc trưng gồm thức và tình thái; đồng thời

đối chiếu liên hệ với tiếng Việt trong cùng thể loại ngôn bản nhằm tìm ra những nét tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ ở thể loại văn bản HDSD thuốc này

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên đây, luận án này xác định những nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau:

- Hệ thống hoá những lý thuyết, tổng quan tình hình nghiên cứu cũng như xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

- Xác lập khung lý thuyết áp dụng cho việc khảo sát, nhận diện, mô tả, thống kê, đối chiếu và phân tích cách thức sử dụng các phương tiện ngữ pháp-

từ vựng liên nhân trong văn bản HDSD thuốc bằng tiếng Anh (có liên hệ với tiếng Việt) theo quan điểm ngôn ngữ học chức năng hệ thống

- Từ khung lý thuyết được áp dụng và những vấn đề lý luận đã được xác định, luận án khảo sát, miêu tả, đối chiếu và phân tích một cách có hệ thống các phương thức biểu hiện tương thích và không tương thích nghĩa liên

nhân thông qua phương tiện ngôn ngữ thức và tình thái trong thể loại văn bản

HDSD thuốc bằng tiếng Anh và tiếng Việt

- Việc đối chiếu liên hệ tiếng Việt được thực hiện ở những điểm cơ bản

và cần thiết nhằm làm nổi bật những nét tương đồng và dị biệt đặc thù về phương thức biểu hiện tương thích và không tương thích nghĩa liên nhân trong thể loại văn bản HDSD thuốc

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những phương tiện ngôn ngữ thức

và tình thái thể hiện nghĩa liên nhân theo phương thức tương thích (hay còn

được gọi là phương thức điển hình) và không tương thích (hay còn được gọi

Trang 14

là phương thức không điển hình) trong văn bản HDSD thuốc bằng tiếng Anh

liên hệ với tiếng Việt trong cùng thể loại ngôn bản qua phương tiện thức và tình thái Các văn bản HDSD thuốc được chúng tôi sử dụng làm ngữ liệu

nghiên cứu là các tờ HDSD thuốc chữa bệnh dành cho cộng đồng thể loại văn bản viết nguyên bản bằng tiếng Anh và tiếng Việt được gắn kèm theo thuốc

sử dụng trên người

4 Ngữ liệu nghiên cứu

Ngữ liệu nghiên cứu của luận án là văn bản HDSD thuốc chữa bệnh cho người được thu thập ngẫu nhiên trong hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt (gồm 60 văn bản HDSD thuốc bằng tiếng Anh và 60 văn bản HDSD thuốc bằng tiếng Việt) Đây là những tờ HDSD thuốc được gắn kèm với thuốc sản phẩm có xuất xứ tại hai nước sở tại là Vương Quốc Anh (UK) và Việt Nam vào các năm 2015, 2016, 2017, 2018 (xem danh mục các văn bản trong phần Phụ lục) Với mong muốn số liệu nghiên cứu của luận án được đa dạng khách quan và phổ quát, các văn bản HDSD thuốc mà chúng tôi lựa chọn là ngẫu nhiên, nhưng có định hướng thuộc các nhóm bệnh khác nhau như:

-Tim mạch (10 văn bản tiếng Anh và 10 văn bản tiếng Việt)

- Tiêu hoá (10 văn bản tiếng Anh và 10 văn bản tiếng Việt)

- Hô hấp (6 văn bản tiếng Anh và 6 văn bản tiếng Việt)

- Dị ứng (10 văn bản tiếng Anh và 10 văn bản tiếng Việt)

- Giảm đau, hạ sốt (10 văn bản tiếng Anh và 10 văn bản tiếng Việt)

- Kháng sinh (10 văn bản tiếng Anh và 10 văn bản tiếng Việt)

Trang 15

- Một số loại thuốc điều trị bệnh khác (4 văn bản tiếng Anh và 4 văn bản tiếng Việt)

Do không có mục đích so sánh giữa các nhóm bệnh, để tiện cho việc theo dõi chúng tôi sắp xếp thứ tự các văn bản HDSD thuốc trong khối ngữ liệu theo thứ tự ngẫu nhiên và thống nhất mã hoá chúng là E1, E2, E3, … E60 cho nhóm ngữ liệu tiếng Anh và V1, V2, V3, … V60 cho nhóm ngữ liệu tiếng Việt Cụ thể các văn bản HDSD thuốc trong hai nhóm ngữ liệu của nghiên cứu được chúng tôi mã hoá như sau:

TT HDSD thuốc

TA

Mã hoá

HDSD thuốc

TV

Mã hoá

STT HDSD thuốc

TA

Mã hoá

HDSD thuốc TV

Mã hoá

1 Abacavir E1 Acetylcystein V1 31 Priorix E31 Domecor V31

2 Acebutolol E2 Acemuc V2 32 Psoriasis E32 Domepa V32

3 Actikerall E3 Ambroco V3 33 Synarel E33 Dorotril V33

4 Acumor E4 Ambroxol V4 34 Urticaria E34 Dorover V34

5 Acupan E5 Biviflu V5 35 Urticaria

Pigmentosa

E35 Dorotril 10mg

V35

6 Augmentin E6 Decolgennd V6 36 Ustekinuma E36 Losatan V36

7 Asectral E7 Eprazinone V7 37 Diazepam E37 Palexus V37

8 Bazuka E8 Rhumenol V8 38 Lamotrigine E38 Dopolis V38

9 Berinert E9 Terpincodein V9 39 Lorazepam E39 Prednison V39

10 Bisodo E10 Toplexil V10 40 Midazolam E40 Rifampicin V40

11 Amoxilin E11 Topralsin V11 41 Phenobarbital E41 Dovel V41

12 Combivent E12 Tragutan V12 42 Phenytoin E42 Domecor

plus

V42

13 Compund E13 Dopagan V13 43 Zarontin E43 Aspirin V43

14 Phenoxymethyl E14 Doresyl V14 44 Ampicilin E44 Amlodipin V44

15 Decadurabol E15 Dotoux V15 45 Benzyl E45 Colmax V45

16 Famotidine E16 Mefenamic V16 46 Cephalexin E46 Cetirizine V46

17 Flourouracil E17 Meloxicam V17 47 Cefazolin E47 Fexophar V47

18 Gabapentin E18 Amoxicillin V18 48 Cefotaxime E48 Dextromet V48

19 Grazax E19 Cefaclor V19 49 Bisoprolol E49 Neocorcli V49

20 Haemato E20 Cefixim V20 50 Digoxin E50 Travicol V50

21 Haloperidol E21 Docefnir V21 51 Verapamil E51 Piantawic V51

22 Losatan E22 Moxacin200 V22 52 Enalapril E52 Pancidol V52

23 Methofill E23 Moxacin500 V23 53 Losartan E53 Banalcine V53

24 Methotrexat E24 Ofmantine 1g V24 54 Dopamine E54 Zanicidol V54

25 Nabilone E25 Ofmantine250 V25 55 Spironolact E55 TV-Pafen V55

26 Nabumetol E26 Dorokit V26 56 Amlodipine E56 D-Cotatil V56

27 Nabroxel E27 Lansoprazol V27 57 Hydralazine E57 Novazin V57

28 Nabroxen E28 Omeprazol V28 58 Methyldopa E58 Ceforipin V58

29 Paracetamol E29 Pantoprazol V29 59 Ceftriaxone E59 Travinat V59

30 Flixonase E30 Rantidine V30 60 Meropenem E60 TV-Ceftri V60

Trang 16

Để tiện cho việc theo dõi các dẫn chứng là các ví dụ cho phần phân tích của luận án, các cú bên trong mỗi văn bản đều được chúng tôi tiếp tục mã hoá theo thứ tự từ cú số 1 đến cú cuối cùng trong mỗi văn bản Ví dụ, trong nhóm ngữ liệu tiếng Anh: văn bản HDSD thuốc Abacavir được đặt mã là E1 Chúng tôi xác định ranh giới và thống kê văn bản E1 này gồm 312 cú, thứ tự các cú trong văn bản này được chúng tôi đánh số từ 1 đến 312, sau đó từng cú sẽ được đặt mã Cụ thể, cú số 1 trong văn bản HDSD thuốc Abacavir (E1) được đặt mã là: E1.1, cú số 2 là E1.2, …., cú số 312 là E1.312 … Trong nhóm ngữ liệu tiếng Việt, thuốc Acetylcystein được đặt mã là V1 và cú số 1 trong văn bản này được đặt mã là V1.1, cú số 10 trong văn bản này được đặt mã là V1.10… Và làm tương tự như vậy trong từng văn bản trong toàn khối liệu với

60 văn bản HDSD thuốc tiếng Anh và 60 văn bản HDSD thuốc tiếng Việt

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận án lựa chọn hướng tiếp cận đề tài theo quan điểm ngôn ngữ học chức năng hệ thống của Halliday để phân tích các phương thức biểu hiện nghĩa liên nhân trong văn bản HDSD thuốc bằng tiếng Anh và tiếng Việt qua

hai phương tiện ngôn ngữ thức và tình thái Luận án sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu chính sau đây:

- Phương pháp phân tích văn bản: Được sử dụng để nhận diện các kiểu

loại thức và tình thái, xác dịnh chức năng lời nói và ý nghĩa của chúng mà từng thức và tình thái hiện thực hoá tương thích (trực tiếp) và không tương

thích (gián tiếp) trong ngôn cảnh tình huống là các văn bản HDSD thuốc trong khối liệu nghiên cứu của luận án

- Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học: Đây là pháp truyền thống nhằm

làm sáng tỏ bản chất của từng phương tiện ngôn ngữ thức và tình thái hiện

thực hoá nghĩa liên nhân được tìm thấy trong văn bản HDSD thuốc tiếng Anh

và tiếng Việt và phương thức chúng làm bộc lộ nghĩa liên nhân trong thể loại văn bản này Việc miêu tả được tiến hành với các thủ pháp chủ yếu sau:

Trang 17

+ Các thủ pháp giải thích bên trong (phân loại, hệ thống hóa tư liệu: xử

lý số liệu, từ đó xác lập nguồn tư liệu làm cơ sở nghiên cứu; thủ pháp đối lập, thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp để chỉ ra mối quan hệ giữa các thành tố tham gia cấu tạo )

+ Các thủ pháp giải thích bên ngoài (thống kê định lượng và định tính

để có được số lượng kiểu thức và tình thái và xử lí theo định hướng của đề

tài; miêu tả các đặc điểm thức và tình thái Anh và tiếng Việt từ bình diện cấu trúc thức theo quan điểm ngôn ngữ học chức năng hệ thống của M.A.K Halliday

- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Được sử dụng nhằm tìm ra các

dạng thức tương đương ở tiếng Anh có trong tiếng Việt cùng với các dạng thức khác biệt để từ đó nhận xét làm nổi bật phương thức đặc trưng biểu hiện nghĩa liên nhân trong văn bản HDSD thuốc trong hai ngôn ngữ Việc đối chiếu liên hệ tiếng Việt trong cùng thể loại văn bản được thực hiện ở những điểm cơ bản và cần thiết nhằm làm nổi bật những nét tương đồng và khác biệt đặc thù về phương thức biểu hiện tương thích và không tương thích nghĩa liên nhân trong thể loại văn bản HDSD thuốc

Những phương pháp, thủ pháp trên được sử dụng phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình thực hiện đề tài sao cho có khoa học và hiệu quả nhất

6 Đóng góp của luận án

- Về mặt lý luận

Trước hết, luận án có thể coi là công trình nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam về đối chiếu liên hệ phương thức biểu hiện nghĩa liên nhân trong văn bản HDSD thuốc tiếng Anh và tiếng Việt theo quan điểm ngôn ngữ học chức năng hệ thống

Nghiên cứu đã xây dựng được tổng quan tình hình nghiên cứu về văn

bản HDSD thuốc và các phương tiện ngôn ngữ thức và tình thái hiện thực hoá

nghĩa liên nhân trong văn bản; xây dựng khung lý thuyết để ứng dụng nghiên

Trang 18

cứu phương thức biểu hiện nghĩa liên nhân trong văn bản HDSD thuốc tiếng Anh và đối chiếu liên hệ với văn bản HDSD thuốc tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ học chức năng hệ thống thông qua quan sát cách thức sử dụng phương

tiện ngôn ngữ thức và tình thái trong thể loại văn bản này

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 2: Đối chiếu liên hệ phương thức biểu hiện nghĩa liên nhân trong văn

bản HDSD thuốc tiếng Anh và tiếng Việt qua phương tiện „thức‟

Chương 3: Đối chiếu liên hệ phương thức biểu hiện nghĩa liên nhân trong văn

bản HDSD thuốc tiếng Anh và tiếng Việt qua phương tiện „tình thái‟

Việc phân chia luận án thành ba chương xuất phát từ cơ sở lý luận mà luận án sử dụng được trình bày trong chương 1 Hai phương thức biểu hiện tương thích và không tương thích nghĩa liên nhân được xác định thông qua

nguồn tài nguyên ngữ pháp-từ vựng thức và tính thái Loại hình đối chiếu

được luận án sử dụng là đối chiếu liên hệ Chính vì vậy, luận án phân tách việc đối chiếu liên hệ phương thức biểu hiện nghĩa liên nhân trong văn bản HDSD thuốc tiếng Anh và tiếng Việt qua phương tiện „thức‟ và phương tiện

„tình thái‟ lần lượt trong hai chương là chương 2 và chương 3

Nội dung khái quát trong từng chương như sau:

Chương 1 bao gồm:

+ Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước về thể loại văn bản HDSD thuốc Ngoài ra, luận án còn tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước về nghĩa liên nhân trong văn bản qua phương tiện „thức‟ và „tình thái‟

Trang 19

+ Cơ sở lý luận liên quan đến luận án gồm: (1) lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống; và (2) lý thuyết ngôn ngữ học đối chiếu

Chương 2 mô tả việc ứng dụng khung lý thuyết mà luận án đã xây dựng vào việc khảo sát và phân tích phương thức biểu hiện tương thích và không tương thích nghĩa liên nhân thông qua cách thức mà các kiểu loại thức hiện thực hoá các chức năng lời nói trong văn bản HDSD thuốc tiếng Anh và đối chiếu liên hệ với tiếng Việt trong cùng thể loại văn bản trên từng phương tiện ngôn ngữ, cụ thể là các kiểu loại thức hướng đến những hiểu biết về tiềm năng ngôn ngữ liên nhân trong thể loại văn bản HDSD thuốc trong hai ngôn ngữ

Chương 3 mô tả việc ứng dụng khung lý thuyết mà luận án đã xây dựng vào việc khảo sát và phân tích phương thức biểu hiện nghĩa liên nhân trong văn bản HDSD thuốc tiếng Anh qua phương tiện „tình thái‟ Luận án căn cứ

trên cơ sở phương tiện ngữ pháp-từ vựng tình thái được lựa chọn sử dụng

trong ngữ liệu nghiên cứu và đối chiếu liên hệ với tiếng Việt trong cùng thể loại văn bản

Trang 20

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

CỦA LUẬN ÁN

Trong chương này, chúng tôi tập trung vào việc chỉ ra ba mảng nội dung chính Phần 1 là tổng quan tình hình nghiên cứu về văn bản HDSD

thuốc từ các góc độ khác nhau, và tình hình nghiên cứu về thức và tình thái–

hai phương tiện đặc trưng hiện thực hoá nghĩa liên nhân trong văn bản của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trong và ngoài nước Phần 2 là cơ sở lý luận liên quan đến luận án bao gồm: lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống và

lý thuyết đối chiếu

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về văn bản HDSD thuốc

Văn bản HDSD thuốc, một thể loại văn bản thuộc lĩnh vực y khoa, là nguồn thông tin thứ hai, chủ yếu dành cho người bệnh và gia đình người bệnh sau nguồn thông tin thứ nhất trực tiếp từ bác sỹ Mặc dù chưa có một nghiên cứu nào về ngôn ngữ trong thể loại văn bản HDSD thuốc ở Việt nam, nhưng thể loại văn bản này đã thu hút sự chú ý của một số lượng không nhỏ các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học trên thế giới từ các góc độ lý thuyết ngôn ngữ học

khác nhau vì đặc tính đặc biệt và tầm quan trọng của nó đối với cộng đồng

1.1.1.1 Nghiên cứu văn bản HDSD thuốc từ góc độ đặc điểm ngôn ngữ

Một số nghiên cứu đã chỉ ra vai trò của các tài liệu y khoa nói chung và

tờ HDSD thuốc nói riêng Tuy nhiên, không kể đến những lợi ích đạt được từ các văn bản HDSD thuốc đã được chứng minh, vấn đề tồn tại là người dân trong cộng đồng không thể tiếp cận được với ngôn ngữ của tờ HDSD thuốc

do “tờ HDSD thuốc vẫn đang được kiến tạo cho đối tượng người đọc có trình

độ đọc cao mặc dù số lượng văn bản này được sử dụng tăng lên” (Mumford, 1997: 990) Các văn bản hướng dẫn sử dụng thuốc được cho là “khó hiểu và

dễ dẫn đến hiểu lầm” cho người đọc do cách diễn đạt ngôn từ, sử dụng từ khó

Trang 21

là những từ dài và thuật ngữ chuyên khoa, khối lượng thông tin lớn (Raynor, 2007); đặc điểm cung cấp thông tin về nguy cơ sử dụng thuốc còn kém (Berry, 2006; MHRA, 2005; Osimani, 2010); tính dễ hiểu của văn bản HDSD thuốc còn thấp (Askehave/ Zethsen, 2000; Cronin/O‟Hanlon/ O‟Connor, 2011; Horwitz/ Reuther/ Andersen, 2009); Văn bản HDSD thuốc là một thể loại văn bản „loạn chức năng/phản thường‟ (a dysfunctional genre) (Askehave/Zeth- sen, 2008: 171); những người sử dụng thuốc thường không đọc tờ hướng dẫn sử dụng thuốc do họ cho rằng chúng quá dài hoặc quá phức tạp (Raynor et al, 2007:2); không đáp ứng được yêu cầu của người bệnh (Hiệp hội người tiêu dùng, 2000; MHRA, 2005; Nicolson et al., 2006; Raynor et al., 2007); HDSD thuốc được cho là đã tạo ra cảm giác không thân thiện hay xa lạ với người sử dụng do khối lượng thông tin được cung cấp trong những văn bản thể loại này (Harrison and Harwood, 2004)

1.1.1.2 Nghiên cứu văn bản HDSD thuốc từ góc độ đánh giá chất lượng văn bản

Chức năng và tính hữu dụng của thể loại văn bản HDSD thuốc từ góc

độ của người sử dụng đã được các nhà ngôn ngữ học nỗ lực chứng minh Trong đó, một số nghiên cứu đã sử dụng công thức đo lường đánh giá mức độ

dễ đọc của ngôn bản như FOG, Flesch và SMOG (Ley, 1988; Davis et al., 1990; Meade and Smith, 1991; Payne et al., 2000; Buchbinder et al., 2001) Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng mặc dù các công thức như FOG, Flesch và SMOG là “một công cụ hợp lý”; và "phổ biến trong nghiên cứu trong y khoa" nhưng chúng không thể phân biệt giữa kiểu loại văn bản và ngôn cảnh của văn bản, và các công thức này đều không xét đến ngôn cảnh và văn hóa

Tuy nhiên, bên cạnh những khuyến khích sử dụng các công thức này trong đánh giá mức độ dễ đọc, dễ hiểu của văn bản giúp nâng cao chất lượng văn bản HDSD thuốc, còn có nhiều quan điểm nghi ngờ về tính khả thi khi áp dụng chúng trong phân tích văn bản là những tài liệu liên quan tới sức khoẻ

cho cộng đồng (Vivian and Robertson, 1980; Zion, 1989; Smith et al., 1998)

Trang 22

Các học giả cho rằng việc đo lường mức độ dễ đọc của văn bản còn liên quan tới rất nhiều các thông số khác chứ không chỉ là những thông số được chỉ ra

trong các công thức này (Spiro et al., 1980; Duffy, 1985; Davison and Green,

1988) Các công thức này không xem xét cấu trúc hoặc tổ chức toàn diện của văn bản, cũng như không xét đến từ vựng chuyên ngành là những thuật ngữ y khoa được sử dụng, và không tính đến kiến thức có sẵn từ trước của người đọc về lĩnh vực hoặc tầm quan trọng của mối quan hệ vai diễn giữa phía người viết và phía người đọc

1.1.1.3 Nghiên cứu văn bản HDSD thuốc từ góc độ ngôn ngữ học chức năng

có dễ hiểu hay không” (tr 334)

Một nghiên cứu khác của Clerehan và Buchbinder (2006) tập trung vào

18 bộ tờ Hướng dẫn sử dụng thuốc được viết ở Úc và sử dụng lý thuyết chức năng hệ thống như một công cụ để đánh giá tính toàn diện của thông tin Các cấp độ ngôn ngữ Clerehan và cộng sự (2006) sử dụng để nghiên cứu các văn bản HDSD thuốc là thể loại, ngữ vực, ngữ nghĩa và ngữ pháp-từ vựng Cụ thể, Clerehan và cộng sự (2006: 44 - 45) kết luận như sau: “Văn bản HDSD thuốc là một thể loại văn bản hay nói một cách khác là một tiểu thể loại của thể loại văn bản hướng dẫn chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng” Ngoài ra, tác giả còn đi sâu khảo sát tìm hiểu các vấn đề liên quan đến các đặc điểm ngôn

Trang 23

ngữ của thể loại văn bản này gồm: từ thuật ngữ chuyên khoa (lựa chọn từ vựng); đặc điểm người viết – người đọc và mối quan hệ vị thế ("giả định của tác giả về vị trí tương đối của người viết và người đọc trong thế giới thực"); các yếu tố trực quan, tiêu đề và mật độ thực từ (chất lượng của văn bản); đề ngữ (theme) ("những gì người viết lấy làm điểm khởi đầu thích hợp cho các mục đích của thông điệp mà họ muốn cung cấp")

Tiếp theo các nghiên cứu trước, Hirsh và cộng sự (2009) đã xây dựng

“Khung ngôn ngữ đánh giá (ELF) để đánh giá chất lượng ngôn bản HDSD thuốc điều trị dựa trên lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống bằng cách tiến hành phân tích đề ngữ (theme)” (tr 248) Kết luận của nghiên cứu được tóm tắt như sau:

“Các tờ HDSD thuốc có chất lượng cao, có tính đến các biến thể quan trọng của ngôn cảnh, có cấu trúc ngôn bản thống nhất và mối quan hệ giữa người viết - người đọc sẽ có thể hỗ trợ tốt hơn cho người bệnh giúp

họ sử dụng thuốc thích hợp Tờ HDSD thuốc là một thể loại văn bản hướng dẫn chăm sóc y tế có cấu trúc các phần thống nhất và có tính quy ước ” (tr 254)

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về nghĩa liên nhân trong văn bản qua phương tiện thức và tình thái

Trang 24

(1960) với nghiên cứu về các cuộc phỏng vấn phát thanh với các chính trị gia, Leech (1966) và Cook (1992) về diễn ngôn quảng cáo trong tiếng Anh, Coates (1983) về ngữ nghĩa của các trợ từ tình thái, và Bybee (1995) về tình thái trong ngữ pháp và diễn ngôn

Ngoài ra nghĩa liên nhân còn được khảo sát trong các văn bản thể loại

viết thông qua hai phương tiện ngôn ngữ chuyên dụng là thức và tình thái

Điển hình là Kawashima (2004) khi ông kiểm tra mối quan hệ giữa người viết-người đọc trong các bài viết trên tạp chí Úc và Nhật Các bài báo trên tạp chí đã chỉ ra rằng tạp chí Nhật sử dụng các nguồn tài nguyên nghĩa liên nhân như kiểu loại thức, tình thái và từ vựng để tạo ra một mối quan hệ quyền lực không ngang bằng – giống như mối quan hệ giữa giáo viên - học viên ở các trường dành cho người trưởng thành ở Nhật, trong khi đó tạp chí Úc sử dụng các nguồn tài nguyên để tạo ra một mối quan hệ quyền lực ngang bằng giữa người viết văn bản là những bài báo trên tạp chí và người đọc

Thêm vào đó, Khalid (2013) đã thực hiện một nghiên cứu kiểm tra dấu vết biểu hiện tính chủ quan của tác giả trên bốn loại bài báo tin tức được xuất bản ở Scotland Kết quả nghiên cứu của ông chỉ ra rằng tất cả các cú trong các bài báo trong ngữ liệu nghiên cứu của ông đều là cú tuyên bố Điều này thể hiện bản chất cung cấp thông tin của các văn bản tin tức Hơn nữa, kết quả nghiên cứu còn chỉ ra các tác giả bài báo tin tức trong ngữ liệu sử dụng rất nhiều các tác tử tình thái thể hiện vị trí uy quyền chủ quan của mình

Bên cạnh đó, còn có những nghiên cứu khác trong diễn ngôn báo chí như nghiên cứu của Ayoola (2013) Ayoola đã phân tích chức năng liên nhân của tám tờ quảng cáo của hai phe phái chính trị trong cuộc tổng bầu cử cuối cùng với mục đích tìm hiểu xem các chính trị gia đã sử dụng ngôn ngữ như thế nào để làm bộc lộ quan điểm của mình để phản ánh ngôn cảnh chính trị thông qua quảng cáo Phân tích của ông liên quan đến phân tích thức và tình thái trong văn bản quảng cáo Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nghĩa liên nhân

Trang 25

của một cấu trúc không luôn luôn giống với phân tích ngữ pháp - từ vựng bởi

vì những người viết quảng cáo chính trị sử dụng các kiểu loại thức khác nhau

để tương tác, đàm phán, thiết lập và duy trì các mối quan hệ hoà hảo và cũng như làm thay đổi thái độ của người đọc Nghiên cứu cũng chỉ ra những khác biệt trong phân bố kiểu loại thức trong các quảng cáo của hai đảng phái chính trị cũng như nghĩa liên nhân được xác định nhờ vào các yếu tố thuộc ngôn cảnh như nhu cầu phản ánh tình huống chính trị - xã hội và kinh tế của quốc gia

1.1.2.2 Ở Việt Nam

Xu hướng nghiên cứu mới về nghĩa liên nhân trong ngôn ngữ học cũng

sớm được lĩnh hội và áp dụng bởi các học giả và các nhà Việt ngữ học Phải

kể đến các tác giả Phạm Hữu Đức & Bạch Thị Thu Hiền (2009) với nghiên

cứu một số đặc điểm ngữ pháp liên nhân trong các văn bản tin tiếng Anh, trong đó các tác giả tìm ra nghĩa liên nhân trong các bản tin tiếng Anh thông qua các phương tiện thức và tình thái Nghiên cứu còn chỉ ra cú với tư cách là

sự trao đổi diễn tả ngữ pháp mang nghĩa liên nhân và kết luận rằng hệ thống thức và tình thái là phương tiện cơ bản giúp chúng ta hiểu được mối quan hệ liên nhân giữa các tham tố Khi nhìn vào cách thức mà người nói hoặc người viết sử dụng ngữ pháp, chúng ta có thể biết được vai trò của họ trong tôn ti xã hội Có cùng quan điểm với Phạm Hữu Đức & Bạch Thị Thu Hiền là tác giả

Đàm Thị Thuý (2015) với công trình nghiên cứu Áp dụng ẩn dụ ngữ pháp của Halliday vào việc phân tích một số kiểu câu tiếng Việt Tác giả đã sử dụng ẩn dụ

liên nhân thức và tình thái trong phân tích một số kiểu câu tuyên bố, cầu khiến,

và nghi vấn trong tiếng Việt Một công trình nghiên cứu khác đã nghiên cứu văn chính luận Hồ Chí Minh theo hướng nghiên cứu ngữ vực của tác giả Nguyễn

Bình Tuyên (2017) mang tên Văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh từ góc nhìn lý thuyết phân tích diễn ngôn Trong đó, tác giả đã mô tả đặc trưng về

Không khí (Tenor) trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh được hiện thực hoá thông qua chức năng liên nhân với các đặc điểm về Thức trong các

Trang 26

kiểu cú phân theo mục đích nói năng và các yếu tố tình thái thông qua các yếu tố tình thái, các căp từ xưng hô, lớp từ ẩn dụ, từ Hán Việt và hệ thống tính từ đánh giá

Tiếp theo phải kể đến hai công trình nghiên cứu của tác giả Hoàng Văn Vân (2017, 2018) với nghiên cứu Ngôn ngữ của sách giáo khoa khoa học phổ thông: khảo sát đặc điểm ngữ pháp-từ vựng của 7 bài học (ngôn bản) trong sinh học 8 từ bình diện liên nhân và công trình nghiên cứu “Bánh trôi nước” and three English versions of translation: A systemic Functional Comparison

Trong cả hai nghiên cứu của mình, Hoàng Văn Vân đều sử dụng phương tiện ngữ pháp-từ vựng theo lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống là thức và tình thái để khảo sát các đặc điểm liên nhân trong các thể loại ngôn bản là bài học sinh học lớp 8 và thơ ca Đặc biệt, nghiên cứu của Hoàng Văn Vân (2017)

đã tạo động lực cho hướng nghiên cứu của chúng tôi, có phương pháp nghiên cứu mà luận án của chúng tôi có thể áp dụng, cùng sử dụng khung lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống với luận án và cùng có đối tượng nghiên

cứu là ngôn ngữ khoa học Ông đã khảo sát một số đặc điểm ngữ pháp-từ vựng của 7 ngôn bản (bài học) trong sách giáo khoa Sinh học 8 bằng khảo sát

các đặc điểm ngữ pháp-từ vựng được xem là nguồn tài nguyên biểu hiện nghĩa liên nhân thông qua các phương tiện: kiểu loại thức, kiểu Chủ ngữ và các kiểu tình thái hoá (modality) và biến thái (modulation) được sử dụng trong toàn khối liệu và trong mỗi bài học

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu của luận án là đối chiếu liên hệ phương thức biểu hiện nghĩa liên nhân trong văn bản HDSD thuốc tiếng Anh

và tiếng Việt theo lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống, sau đây chúng

tôi trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu về hai phương tiện thức và tình thái trong tiếng Việt để từ đó có một nhãn quan toàn diện hơn về hai phương

tiện ngôn ngữ này trong tiếng Việt

a Việc nghiên cứu thức trong tiếng Việt

Trang 27

Bước sang những năm 1990, việc áp dụng ngữ pháp chức năng vào nghiên cứu tiếng Việt mới được thực hiện bởi Cao Xuân Hạo (1991) với công

trình Tiếng Việt- Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Quyển 1 Ông là người đầu tiên

áp dụng một cách triệt để quan hệ Đề - Thuyết vào việc phân tích cấu trúc câu tiếng Việt Ông cho rằng “cần phải thay cách phân tích câu tiếng Việt theo quan hệ Chủ-Vị bằng cách phân tích theo quan hệ Đề- Thuyết cho phù hợp với đặc điểm loại hình của tiếng Việt là một ngôn ngữ thiên chủ đề” (trích theo Nguyễn Hồng Cổn, 2008) Khi phân loại câu, Cao Xuân Hạo (1991) cho rằng

“đối với tiếng Việt căn cứ vào một số thuộc tính về cấu trúc cú pháp có thể phân các câu ra hai loại lớn: câu trần thuật và câu nghi vấn (hỏi), và căn cứ vào hình thức mà coi câu mệnh lệnh như một tiểu loại của câu trần thuật, khác các tiểu loại khác về tình thái” (trang 211) và ông nhận định “nếu căn cứ vào hình thức cú pháp của câu, trong tiếng Việt không có sự phân biệt rõ nét giữa ba loại câu của ngữ pháp truyền thống: trần thuật, nghi vấn và mệnh lệnh Sự khác nhau giữa câu trần thuật và nghi vấn gói gọn vào việc sử dụng một số yếu tố tình thái riêng cho mỗi loại câu Giữa câu trần thuật thuần tuý và câu mệnh lệnh lại càng không có gì khác nhau Sự khác nhau đó chẳng qua là ở việc sử dụng

không bắt buộc một vị từ tình thái của vị ngữ là hãy và một vị từ đi dùng như

một tiểu từ ngữ khí cũng chẳng có tính chất bắt buộc gì hơn” (trang 224) Với cách phân chia kiểu loại câu của Cao Xuân Hạo dường như chỉ chú trọng vào việc giới thiệu các giá trị ngôn trung của câu và đã có sự mâu thuẫn giữa mặt

cú pháp biểu hiện và mặt nội dung ý nghĩa mà câu truyền tải (Dẫn theo Đào Thanh Lan, 2012)

Khác với Cao Xuân Hạo, khi áp dụng mô hình ngữ pháp chức năng của Halliday (1985, 2001) vào tiếng Việt, Diệp Quang Ban (2004) đã phân tích câu tiếng Việt theo ba siêu chức năng: siêu chức năng kinh nghiệm: câu với chức năng biểu hiện, siêu chức năng liên nhân: câu với chức năng trao đổi và siêu chức năng văn bản: câu với chức năng văn bản Trong đó, câu với tư

Trang 28

cách trao đổi lời gồm: Thức trình bày (declarative), Thức nghi vấn (interrogative), Thức cầu khiến (imperative) và Thức cảm thán (exclamative) Một điểm khác với Cao Xuân Hạo nữa là Diệp Quang Ban (2004) đã đề cập

đến vấn đề thức của câu tiếng Việt từ hai bình diện: cú pháp và chức năng của lời nói hay đích của thức (phân loại theo mục đích nói)

Theo Diệp Quang Ban (2004), tiếng Việt có một dấu hiệu hình thức có

tính chất chuyên dụng cho việc tạo thức được gọi là các biểu thức thức Theo

ông thì cấu trúc thức của câu trong tiếng Việt gồm hai phần: biểu thức thức

và phần dƣ Các kiểu thức cụ thể có cấu trúc như sau:

cấu trúc thức nghi vấn = phần dư + biểu thức thức nghi vấn;

cấu trúc thức cầu khiến = phần dư + biểu thức thức cầu khiến;

cấu trúc thức cảm thán = phần dư + biểu thức thức cảm thán;

cấu trúc thức trình bày = phần dư + biểu thức thức zero (0)

Về mặt chức năng lời nói, Diệp Quang Ban (2004) đã phân loại các kiểu câu theo mục đích nói được xác định căn cứ vào hiệu lực của ý nghĩa của câu xét trong quan hệ với hoàn cảnh sử dụng chúng Mục đích phát ngôn của người nói được gọi là đích ngôn trung trong dụng học Đích là mặt chức năng của thức trong câu, xét trong quan hệ với mặt hình thức diễn đạt là cấu trúc thức Ông cũng chỉ rõ “chức năng (đích) của mỗi thức là cái người nói đưa vào trong lời nói, và có thể được diễn đạt bằng từ ngữ hoặc diễn đạt bằng cách ngầm ẩn” (Diệp Quang Ban, 2004: 46) Ông chỉ rõ chức năng của lời trình bày là chức năng biểu hiện có thể diễn đạt bằng từ ngữ là “người nói tin vào…”; chức năng của lời hỏi là chức năng hỏi có thể diễn đạt bằng từ ngữ là

“người nói muốn biết về…”; chức năng của lời cầu khiến là chức năng điều khiển có thể diễn đạt bằng từ ngữ là “người nói muốn người nghe làm cái việc… (được nêu ở nội dung lệnh của lời cầu khiến” Các chức năng nêu trên

có thể được trình bày hiển ngôn trong lời của người nói (tức đích của lời nói

được diễn đạt tường minh mà trong dụng học gọi là câu ngôn hành tường

Trang 29

minh), mà cũng có thể ngầm ẩn (tức đích của lời nói không được diễn đạt tường minh, còn gọi là hàm ẩn mà trong dụng học gọi là câu ngôn hành hàm

ẩn hay câu ngôn hành nguyên cấp)

Đồng quan điểm với Diệp Quang Ban (2004), khi bàn về phương thức biểu hiện hành động nói, Đào Thanh Lan (2012: 20) nêu rõ “cần có một

hướng nghiên cứu rộng hơn, đó là ngữ pháp-ngữ nghĩa trên một đối tượng

rộng, bao quát được hoạt động của câu trong sự hành chức” mà bà gọi đó là

lời Thực hiện nghiên cứu hành động cầu khiến và các phương thức biểu hiện

của lời cầu khiến được tác giả tiến hành theo quan điểm của ngữ pháp chức năng, tức xuất phát từ mục đích giao tiếp để tìm ra phương tiện hình thức biểu hiện các chức năng nghĩa học và dụng học của lời cầu khiến Trong nghiên cứu về lời cầu khiến trong tiếng Việt, tác giả Đào Thanh Lan đã chỉ rõ lời cầu khiến được nhận diện ở hai tiêu chí cần và đủ là: (i) tiêu chí nội dung: lời có ý nghĩa cầu khiến (hành động cầu khiến) và (ii) tiêu chí hình thức: lời có hình thức cầu khiến Qua đó, tác giả chỉ ra các dấu hiệu nhận diện về mặt cú pháp

và đích của hành động cầu khiến trong tiếng Việt Khi lời cầu khiến được biểu hiện thông qua lời có hình thức cầu khiến, tác giả gọi là phương thức biểu hiện hành động cầu khiến trực tiếp, và khi lời cầu khiến được biểu hiện thông qua lời có ý nghĩa cầu khiến tác giả gọi là phương thức biểu hiện hành động cầu khiến gián tiếp Tác giả chỉ rõ phương thức biểu hiện hành động cầu khiến trực tiếp trong tiếng Việt thông qua hành động cầu khiến tường minh, hành động cầu khiến bán tường minh, hành động cầu khiến nguyên cấp và hành động cầu khiến bán nguyên cấp; phương thức biểu hiện hành động cầu khiến gián tiếp trong tiếng Việt thông qua câu hỏi-cầu khiến, câu trần thuật-cầu khiến và câu cảm thán-cầu khiến trong ngữ cảnh cấu trúc hạn định cho phép tiếp ngôn nhận ra mục đích cầu khiến thông qua thao tác suy ý

Cũng ứng dụng mô hình ngữ pháp liên nhân của Halliday vào tiếng Việt, Hoàng Văn Vân (2017) có đồng quan điểm với Diệp Quang Ban (2004,

Trang 30

2005) và Đào Thanh Lan (2012) về việc nhìn nhận cú từ hai bình diện: cú pháp và chức năng lời nói mà cú hiện thực hoá Tuy nhiên, khác với Diệp Quang Ban (2004), Hoàng Văn Vân (2017) cho rằng vẫn có những dấu hiệu

từ ngữ và các thành phần trong cú liên nhân trong tiếng Việt Ông chỉ rõ “các

thành phần trong cú liên nhân bao gồm +Chủ ngữ ^+Vị ngữ ^ ±Bổ ngữ ^

±Phụ ngữ” (Halliday, 1994: 784, 2012: 178-200; Hoàng Văn Vân, 2009:

1-13; Matthiessen et al, 2010: 46, trích theo Hoàng Văn Vân, 2017) Cũng theo

Hoàng Văn Vân (2017), thức tuyên bố có mẫu thức điển hình +Chủ ngữ

^+Vị ngữ; thức cầu khiến được hiện thực hoá bằng mẫu thức -Chủ ngữ ^ +Vị ngữ; thức nghi vấn được hiện thức hoá bằng mẫu thức +Chủ ngữ ^+Vị ngữ ^+ Đại từ nghi vấn/Tiểu từ nghi vấn để hỏi thông tin về toàn bộ cú liên

quan đến hai cực “có” và “không” hay hỏi thông tin về một bộ phận của cú

Về mặt chức năng lời nói, Hoàng Văn Vân (2017: 33) cho rằng ngôn ngữ học chức năng hệ thống xem thức và tình thái là hai hệ thống của ngữ pháp tương tác (interactive grammar) hiện thực hoá các ý nghĩa thuộc bình diện liên nhân Hệ thống thức là sự ngữ pháp hoá hệ thống ngữ nghĩa của chức năng lời nói trong giao tiếp, phân các vai diễn tương tác ra thành các cặp như người nói/viết – người nghe/đọc (bao gồm người hỏi – người trả lời, người cho thông tin – người tiếp nhận hoặc ngờ vực thông tin, v.v.) Trong hai cặp vai diễn này người nói/viết có thể khẳng định “có” hoặc “không” về một nhận định nào đó với người nghe/đọc thông qua thức khẳng định hay thức tuyên bố (declarative mood); người nói/viết có thể yêu cầu người nghe/đọc thực hiện một hành động nào đó thông qua thức cầu khiến (imperative mood); và người nói/viết có thể yêu cầu người nghe/đọc cung cấp một thông tin nào đó thông qua thức nghi vấn (interrogative mood) (Kress, 1981; Halliday, 1994, 2012; Matthiessen, 1995; Hoàng Văn Vân, 2005, 2006;

Matthiessen et al, 2010 , trích theo Hoàng Văn Vân, 2017)

Như vậy là, số ít những nghiên cứu cấu trúc thức trong tiếng Việt theo

Trang 31

quan điểm ngữ pháp chức năng như Diệp Quang Ban (2004, 2005), Đào Thanh Lan (2012) và Hoàng Văn Vân (2017, 2018) cũng đã chứng tỏ một bước đổi mới mạnh mẽ trong phương thức tiếp cận phân tích ngữ pháp kết hợp ngữ nghĩa trong tiếng Việt Song các tác giả Diệp Quang Ban (2004, 2005) và Hoàng Văn Vân (2017, 2018) đều có chung một kết luận về kiểu loại thức trong tiếng Việt gồm thức tuyên bố, thức nghi vấn, và thức cầu khiến nhưng lại có quan điểm khác nhau về mặt mô tả cấu trúc thức Diệp Quang Ban (2004) phân tích cấu trúc thức của câu với chức năng lời trao đổi

gồm: biểu thức thức và phần Dư, trong khi đó Hoàng Văn Vân (2017) biểu diễn cấu trúc của thức bằng việc sử dụng các thành phần Chủ ngữ và Vị ngữ

Tuy nhiên, cả Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Vân đều có quan điểm thống nhất về phương thức biểu hiện nghĩa của các kiểu loại thức Hai tác giả đều chỉ rõ khi cách sử dụng kiểu câu có cấu trúc thức trùng hợp với chức năng

vốn có của nó được gọi là cách dùng trực tiếp, trong ngôn ngữ học chức năng, Halliday gọi là phương thức biểu hiện tương thích (congruency) Ngược lại,

khi cách sử dụng kiểu câu có cấu trúc thức không trùng hợp với chức năng vốn có của nó, tức là dùng kiểu câu có cấu trúc thức này với chức năng khác,

được gọi là cách dùng gián tiếp, mà trong ngôn ngữ học chức năng Halliday gọi là phương thức biểu hiện không tương thích (incongruency) hay ẩn dụ thức Tuy nhiên, cả hai tác giả mới chỉ dừng lại ở việc chỉ ra nghĩa của lời nói

hay chức năng lời nói được biểu hiện điển hình hoặc trực tiếp thông qua các kiểu loại thức tương ứng nào, mà chưa chỉ ra cụ thể các kiểu loại thức hiện thực hoá ngữ nghĩa của lời nói một cách gián tiếp hoặc không điển hình như thế nào

Có cùng quan điểm với hai tác giả Diệp Quang Ban và Hoàng Văn

Vân, trên cứ liệu lời cầu khiến tiếng Việt, Đào Thanh Lan (2012) đã chỉ ra rõ

đích của lời nói có thể được biểu hiện thông qua hai phương thức biểu hiện

Trang 32

trực tiếp và gián tiếp Một điểm khác biệt với Diệp Quang Ban (2004) và Hoàng Văn Vân (2017) là Đào Thanh Lan đã chỉ rõ các kiểu loại câu nào có thể được sử dụng làm phương tiện biểu hiện ý nghĩa cầu khiến gián tiếp, đó là câu hỏi-cầu khiến, câu trần thuật-cầu khiến và câu cảm thán-cầu khiến

Thêm vào đó, khi bàn về cú cầu khiến trong tiếng Việt, Đào Thanh Lan

(2012) đã đưa ra rất chi tiết về các thành phần từ trỏ chủ ngôn của lời và các loại vị từ cầu khiến mà Hoàng Văn Vân (2017) khái quát hoá chúng là Chủ

ngữ và Vị ngữ trong cấu trúc của cú cầu khiến: - Chủ ngữ ^ +Vị ngữ (trong đó: -Chủ ngữ thể hiện chủ ngữ trong cú cầu khiến là thành phần không bắt

buộc; +Vị ngữ thể hiện đó là thành phần bắt buộc) Đào Thanh Lan (2012) nêu rõ từ trỏ chủ ngôn của lời cầu khiến phải là hoặc danh từ/đại từ ngôi 1,

hoặc danh từ/đại từ ngôi 2, hoặc danh từ/đại từ ngôi gộp, và phân chia chi tiết

vị từ trong câu cầu khiến thành bốn nhóm: (1) vị từ ngôn hành (hay chính là

động từ ngôn hành) cầu khiến gồm: yêu cầu, ra lệnh, đề nghị, cấm, nhờ, mời, chúc, xin, xin phép, van, lạy, cho (mang nghĩa cho phép), cho phép, khuyên, rước, cầu…; (2) vị từ tình thái cầu khiến: hãy, đừng, chớ; (3) vị từ cầu khiến: nên, cần, phải (mà trong ngữ pháp truyền thống gọi là những động từ tình thái), để, giúp, hộ, cho; và (4) các vị từ cầu khiến bán tường minh: cần, mong, muốn Bà cũng nêu rõ: “các lời cầu khiến trực tiếp ở dạng đầy đủ hay rút gọn

nhất với cấu trúc chỉ có vị từ hành động kèm theo ngữ điệu mạnh là hai cấu trúc điển mẫu của lời cầu khiến chính danh trong tiếng Việt” (Đào Thanh Lan, 2012: 187) Vậy là, về mặt cấu trúc của cú cầu khiến trong tiếng Việt được hai tác giả Đào Thanh Lan (2012) và Hoàng Văn Vân (2017) đưa ra về cơ bản

là giống nhau, có chăng chỉ khác nhau về mức độ chi tiết hoá mà thôi

b Việc nghiên cứu tình thái trong tiếng Việt

Phạm trù tình thái được các nhà Việt ngữ học rất quan tâm với các mức

độ khác nhau: hoặc là được nhắc đến trong quá trình xử lý những vấn đề khác trong các nghiên cứu hoặc là đặt thành vấn đề nghiên cứu trực tiếp Tiêu biểu

Trang 33

cho nhóm các tác giả không trực tiếp quan tâm đến vấn đề tình thái nhưng trong quá trình xử lý những vấn đề khác họ đã nhắc đến tình thái là các tác giả: Bùi Đức Tịnh (1952), Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê (1963), Lê Văn Lý (1968), Nguyễn Kim Thản (1977), Lê Cận, Phan Thiều (1983), Đinh Văn Đức (1986), Hoàng Phê (1987), Đỗ Hữu Châu (1993), Lê Biên (1995), Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1998), Đào Thanh Lan (2012) v.v Các nghiên cứu liên quan đến vấn đề tình thái trong nhóm tác giả này không nhắc đến vấn đề tình thái trong các nội dung ngữ pháp, ngữ nghĩa của các công trình nghiên cứu, không đề cập đến sự đối lập giữa phạm trù ngôn liệu và phạm trù tình thái, không nói đến tư cách tác tử và vai trò thể hiện ý nghĩa tình thái trong câu mà chỉ sắp xếp từ tiếng Việt vào hai lớp từ loại lớn là thực

từ và hư từ Trong đó, lớp thực từ gồm những yếu tố tình thái được xem là có nghĩa từ vựng như: toan, định…, và lớp hư từ gồm những yếu tố không có nghĩa từ vựng như: à, ừ, nhỉ…

Nhóm tác giả trực tiếp quan tâm đến vấn đề tình thái đã khảo sát tình thái ở nhiều phương diện khác nhau Tiêu biểu cho nhóm tác giả này không thể không kể đến gồm Cao Xuân Hạo (1991), Phạm Hùng Việt (1994), Ngũ Thiện Hùng (2003), Nguyễn Thị Thuận (2003), Bùi Trọng Ngoãn (2004), Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp (2001), Nguyễn Văn Hiệp (2008, 2009), Võ Đại Quang (2009), Phạm Thị Thanh Thùy (2008), Bùi Minh Toán Nguyễn Thị Lương (2010), Nguyễn Thị Thanh (2017) v v…Mỗi tác giả lại có những kiến giải khác nhau khi đi vào vấn đề cụ thể của tình thái và đôi khi còn chưa thật

sự sáng tỏ, nhưng kết quả của những công trình này có ý nghĩa rất lớn đối với ngành ngôn ngữ học Trong bức tranh toàn cảnh về phạm trù tình thái như vậy, chúng ta thấy rõ tính phức tạp, gắn với những quan niệm và cách hiểu khác nhau về tình thái và thật khó có thể xác lập được đầy đủ các nhóm ý nghĩa có sự thống nhất cao của tất cả các nhà nghiên cứu Tuy vậy, các nhà Việt ngữ học đã ít nhiều đề cập đến phương tiện biểu thị tính tình thái và cho

thấy rằng tình thái đạo nghĩa và tình thái nhận thức là hai kiểu tình thái được

Trang 34

quan tâm và có vị trí quan trọng trong tất cả các công trình nghiên cứu Việt ngữ Cách phân chia kiểu loại tình thái này tương đồng với quan điểm về tình

thái của Halliday khi ông chia kiểu loại tình thái thành tình thái hoá (tình thái nhận thức) và biến thái (tình thái đạo nghĩa)

Trong „Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Quyển 1”, Cao Xuân Hạo (1991) có đề cập đến các phương tiện biểu thị tình thái gồm khởi ngữ, cấu trúc Đề-Thuyết, hình thái vị từ, vị từ tình thái mà bổ ngữ là cấu trúc vị ngữ hạt nhân, trợ từ tình thái đặt trong ngữ đoạn vị từ hay ngoài ngữ đoạn chẳng hạn cuối câu Trong cuốn “Một số phương tiện biểu đạt nghĩa tình thái trong tiếng Anh và tiếng Việt” xuất bản năm 2009, tác giả Võ Đại Quang đã

đề cập đến các phương tiện tình thái trong tiếng Anh bao gồm phương tiện ngữ âm, phương tiện ngữ pháp và phương tiện từ vựng Trong đó, phương tiện ngữ âm sử dụng ngữ điệu, trọng âm để từ đó thể hiện thái độ, tình cảm hay cần nhấn mạnh; phương tiện ngữ pháp bao gồm thì, thức, cấu trúc câu hỏi đuôi, biểu thức rào đón và hệ thống động từ tình thái; phương tiện từ vựng bao gồm các danh từ tình thái, tính từ tình thái và trạng từ tình thái Cũng chia

sẻ về quan điểm này, Ngũ Thiện Hùng (2003) đã lựa chọn ba phương tiện này vào quan sát kiểu tình thái nhận thức trong tiếng Anh và tiếng Việt Trong đó, ông xác định các phương tiện ngữ pháp và từ vựng gồm: Các động từ tình thái

(cần., muốn, có thể, phải, toan, định, dám), các động từ nhận thức (biết, nghĩ, đoán, cho đồ, tiên đoán, hy vọng…), các phụ từ (đã, sẽ, đang, cũng, vẫn đều, lại, cứ), trạng từ tình thái (quả nhiên, tất nhiên, dĩ nhiên, đương nhiên, hình như, có lẽ, có khi, chưa biết chừng, thì phải, cũng nên, thì có, thật ra, thật sự, chắc, có thể, nhất định…) và tiểu từ tình thái (đấy, chứ, nhỉ, đây, này, đấy chứ, cơ, cơ mà…)

Các phương tiện biểu thị tình thái còn được đề cập rất chi tiết trong cuốn “Cơ sở ngữ nghĩa, phân tích cú pháp”, tác giả Nguyễn Văn Hiệp (2008)

đã liệt kê 13 phương tiện biểu thị tình thái bao gồm các phó từ làm thành phần

phụ của ngữ vị từ như: đã, sẽ, đang, từng, vừa, mới; các vị từ tình thái làm

Trang 35

chính tố trong ngữ đoạn vị từ như: toan, định, cố, muốn, đành, được, bị, bỏ, hãy, đừng, chớ; các vị từ chỉ thái độ mệnh đề trong cấu trúc chỉ mệnh đề như: tôi e rằng, tôi sợ rằng, tôi nghĩ rằng; các quán ngữ tình thái như: ai bảo, tội

gì, đằng thằng ra; các vị từ ngôn hành trong kiểu câu ngôn hành như: ra lệnh, van, xin, đề nghị, yêu cầu; các thán từ như: ôi, eo ôi, chao ôi, ồ; các tiểu từ tình thái cuối câu và tổ hợp các đặc ngữ tương đương như: à, ư, nhỉ, nhé, thôi, chứ, đi, mất, thật, cũng nên, còn lại, thì chết; các vị từ đánh giá và tổ hợp có tính đánh giá như: may, may một cái, đáng buồn, đáng mừng, đáng tiếc; các trợ từ như: đến, những, mỗi, nào, ngay, cả, chính, đích thị, đã, mới, chỉ; những đại từ nghi vấn dùng trong câu phủ định như: làm gì, thế nào được, hay, hay là; các ngữ chêm xen biểu thị tình thái như: Nó biết cóc gì, mua cha

nó, hỏi cái đếch gì; kiểu câu điều kiện, giả định như: nếu thì, cứ thì

Bên cạnh đó, còn có nghiên cứu chuyên sâu về tình thái là luận án

“Khảo sát các động từ tình thái trong tiếng Việt” của Bùi Trọng Ngoãn (2004) Luận án đã nghiên cứu lớp động từ tình thái trong tiếng Việt ở bình diện nghĩa học và dụng học Ngoài ra, luận án của Nguyễn Thị Thuận (2003)

nghiên cứu các động từ tình thái nên, cần, phải, bị, được trong câu tiếng Việt

ở hai khía cạnh ngữ nghĩa và ngữ dụng

Nói tóm lại, xét toàn diện về phạm trù tình thái trong tiếng Việt, tính đến nay hầu hết các nhà Việt ngữ dường như đều công nhận cách phân chia tình thái theo hai kiểu là: Tình thái đạo nghĩa và tình thái nhận thức Các phương tiện biểu thị tình thái rất đa dạng và phong phú Xét về đại thể, phương tiện chuyên dụng biểu thị tính tình thái có thể chia làm ba nhóm cơ bản: các phương tiện ngữ âm, các phương tiện ngữ pháp và các phương tiện

từ vựng Do đặc điểm ngôn ngữ khoa học của thể loại văn bản HDSD thuốc là văn bản viết có tính quy chuẩn cao nên trong luận án này chúng tôi tập trung nghiên cứu hai nhóm phương tiện từ vựng và ngữ pháp Qua khảo sát của các nghiên cứu chuyên sâu về tình thái, phương tiện biểu thị tính tình thái trong tiếng Việt có thể được tổng quan lại gồm: động từ tình thái, động từ nhận

Trang 36

thức, phụ từ tình thái, tính từ tình thái, quán ngữ tình thái và tiểu từ tình thái

Như vậy, tính đến nay trong khi tìm hiểu các tác giả trong và ngoài nước, chúng tôi mới chỉ tìm thấy các nghiên cứu về nghĩa liên nhân thông qua

các phương tiện ngôn ngữ thức và tình thái trong các diễn ngôn thể loại viết

như báo chí (Ayoola, 2013; Khalid, 2013; Pertiwi, 2015), các bài viết học thuật (Hamoy, 2014; De Oliveira 2015), và tạp chí (Kawashima, 2004), sách giáo khoa phổ thông (Hoàng Văn Vân, 2017) và thơ (Hoàng Văn Vân, 2018),

bản tin tiếng Anh (Phạm Hữu Đức & Bạch Thị Thu Hiền, 2009), áp dụng ẩn

dụ ngữ pháp của Halliday vào việc phân tích một số kiểu câu tiếng Việt (Đàm Thị Thuý, 2015) và các nghiên cứu chuyên sâu về hoặc là thức hoặc là tình

thái trong tiếng Việt Về văn bản HDSD thuốc, chúng tôi chỉ tìm thấy một số nghiên cứu liên quan đến ngôn ngữ văn bản HDSD thuốc trong tiếng Anh từ các góc độ nghiên cứu ngôn ngữ khác nhau như: đặc điểm ngôn ngữ, góc độ đánh giá chất lượng văn bản, góc độ ngôn ngữ học chức năng hệ thống nhằm xây dựng khung đánh giá chất lượng ngôn ngữ trong văn bản HDSD thuốc, nhưng chưa có một nghiên cứu nào về văn bản HDSD thuốc trong tiếng Việt

và cũng chưa có một nghiên cứu nào khảo sát về phương thức biểu hiện nghĩa liên nhân trong thể loại văn bản này ở hai ngôn ngữ: tiếng Anh và tiếng Việt Phương thức biểu hiện nghĩa liên nhân trong văn bản HDSD thuốc trong tiếng Anh và tiếng Việt còn là một khoảng trống chưa được nghiên cứu Đây cũng

chính là một trong những động lực cho chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Đối chiếu liên hệ phương thức biểu hiện nghĩa liên nhân trong văn bản HDSD thuốc Anh - Việt (theo lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống)

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1 Lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống

1.2.1.1 Khái quát về ngôn ngữ học chức năng hệ thống

Ngôn ngữ học chức năng hệ thống là lý thuyết ngôn ngữ được nhà ngôn ngữ học người Anh M.A.K Halliday phát triển từ những năm 1960 dựa trên lý thuyết hệ thống-cấu trúc của J.R Firth được công bố trong những năm 1950,

Trang 37

và dựa nhiều vào ý tưởng của trường phái Praha Ngôn ngữ học chức năng hệ thống xem ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu xã hội và được tổ chức theo các tầng bậc thông qua các phương thức kích hoạt và hiện thực hoá Lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống được trình bày khái quát trong mô Hình 1.1

dưới đây

Hình 1.1 Mô hình ngôn ngữ học chức năng hệ thống

(Hoàng Văn Vân, 2017: 30)

Hình 1.1 chỉ rõ trong ngôn ngữ học chức năng hệ thống, ngôn ngữ được giải thích như một phức thể gồm bốn tầng hoặc bốn cấp độ có quan hệ

„biện chứng‟ với nhau: ngôn cảnh (context), ngữ nghĩa học (semantics), ngữ pháp-từ vựng (lexico-grammar) và âm vị học (phonology) “Các tầng này có quan hệ biện chứng với nhau trong một chỉnh thể ngôn ngữ Cấp độ trên kích hoạt các sự lựa chọn ở cấp độ dưới trực tiếp và cấp độ dưới hiện thực hoá các

ý nghĩa của cấp độ trên trực tiếp (mối quan hệ này được thể hiện bằng các đường ngắt quãng trong mô hình).” (Hoàng Văn Vân, 2017: 30) Trong đó, cấp độ ngôn ngữ mà vấn đề nghiên cứu của luận án có liên quan trực tiếp đến

là cấp độ ngữ pháp-từ vựng và cụ thể là siêu chức năng liên nhân

Trang 38

1.2.1.2 Siêu chức năng và siêu chức năng liên nhân

Theo ngôn ngữ học chức năng hệ thống, ngôn ngữ được coi là nguồn tài nguyên tạo nghĩa, thông qua đó con người tương tác với nhau trong những ngôn cảnh tình huống cụ thể “Ngôn ngữ học chức năng hệ thống định đề hoá rằng ngôn ngữ được tổ chức xung quanh ba siêu chức năng: siêu chức năng tư tưởng, siêu chức năng liên nhân, và siêu chức năng ngôn bản” (Hoàng Văn Vân, 2017) Gọi là 'siêu chức năng' là bởi vì các chức năng mở rộng qua bất

kỳ mô hình sử dụng ngôn ngữ nào (Christie, 2005) Ba siêu chức năng này kết nối với nhau, chính vì vậy chúng ta có thể đồng thời đạt được cả ba siêu chức năng xã hội này trong một văn bản Tuy nhiên, do mục tiêu nghiên cứu của luận án chỉ liên quan tới siêu chức năg liên nhân, nên chúng tôi sẽ không đề cập tới siêu chức năng tư tưởng và siêu chức năng ngôn bản

Siêu chức năng liên nhân phản ảnh các mối tương tác giữa người nói/người viết với người nghe/người đọc trong các mối quan hệ xã hội, mô tả cách ngôn ngữ tạo khả năng cho chúng ta tham gia vào các hành vi giao tiếp với người khác, đảm nhận vai trò tham thể, thể hiện và hiểu cảm xúc, thái độ

và các phán xét (Bloor & Bloor, 2004; Eggins, 1994, 2004) Trong phân tích siêu chức năng liên nhân, cú được xem là sự trao đổi, là một mẫu thức tương

tác giữa người nói và người nghe và được hiện thực hoá thông qua thức và tình thái (Halliday & Hasan 1985: 8) Như vậy, hệ thống ngữ pháp liên quan

tới siêu chức năng liên nhân của ngôn ngữ là hệ thống thức

Theo Halliday & Hasan (1985) và Halliday và Matthiessen (2004),

nghĩa liên nhân hiện thực hoá ý nghĩa được xây dựng từ sự tương tác giữa các bên tham thể trong một tương tác xã hội Tương tác xã hội là cách thức người này hành động cho người khác Mối quan hệ giữa người nói-người viết và người nghe-người đọc có thể được hiện thực hoá dưới hình thức cú như một

sự trao đổi, cho dù là một phán đoán (proposition) (cho và yêu cầu thông tin) hoặc một khiến nghị (proposal) (cho và yêu cầu hàng hoá-&-dịch vụ)

Trang 39

Halliday và Matthiessen (2004) chỉ ra rằng bất cứ khi nào ngôn ngữ được sử dụng với mục tiêu tương tác thì sẽ tồn tại một mối quan hệ nào đó giữa các bên tham thể Ở đây, vai trò xã hội và các mối quan hệ giữa các tham thể có thể quan sát được thông qua các lựa chọn ngữ pháp-từ vựng (lexico-grammar)

mà cụ thể là nguồn tài nguyên thức và tình thái

Cũng theo Halliday Mathiessen (2004), nghĩa liên nhân làm bộc lộ mối quan hệ xã hội, mối quan hệ vị thế, quyền lực giữa các tham thể, bộc lộ thái độ và quan điểm của người nói/viết và cách họ duy trì mối quan hệ xã hội với người nghe/đọc để đạt được mục đích giao tiếp của mình

Trong chức năng liên nhân, ngôn ngữ được dùng để trao đổi với những người khác, tạo dựng và duy trì các mối quan hệ xã hội, tác động lên hành vi người khác, bày tỏ quan điểm của bản thân về các hiện tượng và sự vật trong đời sống và thế giới tự nhiên, và có thể tìm hiểu hoặc làm thay đổi quan điểm của người khác về những hiện tượng, sự vật đó; đây cũng là chức năng nói về mối quan hệ giữa người viết - người đọc hay người nói - người nghe, sự tranh luận và thái độ của các bên tham gia giao tiếp (Halliday, 1994; Halliday & Matthiessen, 1997; Halliday & Matthiessen, 2004)

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ phương

thức biểu hiện nghĩa liên nhân trong văn bản HDSD thuốc tiếng Anh theo lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống và đối chiếu liên hệ với tiếng Việt trong cùng thể loại văn bản, trong phần tiếp theo chúng tôi tập trung trình bày

cơ sở lý luận về hệ thống thức theo quan điểm ngôn ngữ học chức năng hệ thống để từ đó xác định khung phân tích mà luận án ứng dụng trong nhận

diện, mô tả và phân tích các nguồn tài nguyên thức và tình thái hiện thực hoá

nghĩa liên nhân trong văn bản HDSD thuốc tiếng Anh và tiếng Việt

1.2.1.3 Hệ thống thức

Theo Halliday, hệ thống thức hoàn toàn thuần tuý là liên nhân, liên quan đến chức năng tương tác xã hội của ngôn ngữ Thức được xem là khía cạnh ngữ pháp quan trọng nhất của siêu chức năng liên nhân

Trang 40

Halliday (1994) và Martin, Matthiessen & Painter (1997) lập luận rằng trong bất kỳ một tương tác nào, ngôn ngữ đều thực hiện hai điều cơ bản được

gọi là vai diễn lời nói (speech roles) và chức năng lời nói (speech functions)

Trong hành động nói, người nói tự chấp nhận cho mình một vai diễn lời nói

cụ thể và làm như vậy họ phân cho người nghe một vai diễn bổ sung Từ cách nhìn của ngôn ngữ học chức năng hệ thống, có hai kiểu vai diễn lời nói cơ bản

nhất nằm ở phía sau tất cả các kiểu vai diễn cụ thể hơn đó là (i) cho (giving)

và (ii) yêu cầu (demanding) Khái niệm cho có nghĩa là người nói hàm chỉ

„mời‟ người nghe tiếp nhận mà không đòi hỏi hay yêu cầu người nghe phải làm một việc gì đó cho người nói, ví dụ, khi nói “Would you like this teapot?” (Bạn có thích chiếc ấm trà này không?), người nói không yêu cầu người nghe phải làm gì cho người nói mà chỉ có mục đích „mời‟ người nghe nhận cái ấm

trà Khái niệm yêu cầu có nghĩa là người nói hàm chỉ đòi hỏi người nghe phải

làm một việc gì đó cho người nói Ví dụ, khi nói “Give me that teapot!” ((Hãy) đưa cho tôi cái ấm trà), người nói hàm chỉ yêu cầu người nghe đưa ra một hành động cho người nói là đưa chiếc ấm trà

Từ quan điểm trao đổi hàng hoá trên thế giới thực, Halliday đã đưa ra một khái niệm khác để mô tả các tương tác xã hội giữa các tham thể là người nói/người viết và người nghe/người đọc và gọi các vấn đề được trao đổi trong các tương tác là „hàng hoá được trao đổi‟ (commodity) Ông chia tất cả các

loại hàng hoá được trao đổi (commodity) thành thông tin (information) hoặc hàng hoá-&-dịch vụ (goods-&-services) Ông chỉ rõ “khi bạn nói với tôi một

điều gì đó mục đích bắt tôi phải cung cấp cho bạn một câu trả lời hữu ngôn thì

hàng hoá được trao đổi trong tương tác là thông tin, nhưng khi cái được yêu

cầu của người nói là một sự vật hoặc hành động thì hàng hoá được trao đổi

trong tương tác là hàng hoá-&-dịch vụ” (Halliday, 2012:173)

Hai biến số vai diễn lời nói và hàng hoá được trao đổi này, khi kết

hợp lại với nhau xác định bốn chức năng lời nói cơ bản: nhận định

Ngày đăng: 12/03/2021, 19:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2000), Ngữ Pháp Tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ Pháp Tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
2. Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp tiếng Việt – phần câu, Nxb ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt – phần câu
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2004
3. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
4. Nguyễn Văn Chiến (1992), Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ Đông Nam Á, Nxb Đại học Sư phạm Ngoại ngữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ Đông Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Ngoại ngữ
Năm: 1992
5. Đỗ Hữu Châu - Bùi Minh Toán (2003), Đại cương ngôn ngữ học, Tập I, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu - Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
6. Nguyễn Hồng Cổn (2008), “Cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt: Chủ - Vị hay Đề - Thuyết?”.https://ngonnguhoc.org/index.php?Itemid=39&catid=29&id=243:cu-truc-cu-phap-ca-cau-ting-vit-ch-v-hay--thuyt&option=com_content&view=article# Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt: Chủ - Vị hay Đề - Thuyết
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn
Năm: 2008
7. Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp (2001), Ngữ nghĩa - ngữ dụng các tiểu từ tình thái trong tiếng Việt, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa - ngữ dụng các tiểu từ tình thái trong tiếng Việt
Tác giả: Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 2001
8. Phạm Hữu Đức & Bạch Thị Thu Hiền (2009), “Một số đặc điểm ngữ pháp liên nhân trong các văn bản tin tiếng Anh”, T/c Ngôn ngữ & đời sống 12 (170), tr. 26- 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm ngữ pháp liên nhân trong các văn bản tin tiếng Anh”, T/c "Ngôn ngữ & đời sống
Tác giả: Phạm Hữu Đức & Bạch Thị Thu Hiền
Năm: 2009
9. Nguyễn Thiện Giáp (2015), Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2015
10. Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt- Sơ thảo ngữ pháp chức năng, quyển 1, Nxb KHXH, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt- Sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1991
11. Cao Xuân Hạo (2000), Tiếng Việt: ấy vấn đề ngữ âm – ngữ pháp – ngữ nghĩa, NXB Giáo dục, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt: ấy vấn đề ngữ âm – ngữ pháp – ngữ nghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
12. Cao Xuân Hạo (2004), Tiếng Việt: Sơ khảo ngữ pháp chức năng, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt: Sơ khảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2004
13. Halliday M. A. K (2012), Dẫn luận ngữ pháp chức năng, (In lần thứ 2, Hoàng Văn Vân dịch), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngữ pháp chức năng
Tác giả: Halliday M. A. K
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
14. Halliday M. A. K (2012), Dẫn luận ngữ pháp chức năng, (In lần thứ 3, Hoàng Văn Vân dịch), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngữ pháp chức năng
Tác giả: Halliday M. A. K
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
15. Nguyễn Văn Hiệp (2001), “Về một khía cạnh phân tích tầm tác động tình thái”, T/c Ngôn ngữ (11), tr. 43-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một khía cạnh phân tích tầm tác động tình thái”, "T/c Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 2001
16. Nguyễn Văn Hiệp, Lê Đông (2003), “Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học”, T/c Ngôn ngữ (7, 8), tr. 17-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học”, "T/c Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp, Lê Đông
Năm: 2003
17. Nguyễn Văn Hiệp (2007), “Một số phạm trù tình thái chủ yếu trong ngôn ngữ”, T/c Ngôn ngữ (8), tr. 14-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phạm trù tình thái chủ yếu trong ngôn ngữ”, "T/c Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 2007
18. Nguyễn Văn Hiệp (2008), Cơ sở ngữ nghĩa phân tích c pháp, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa phân tích c pháp
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
19. Nguyễn Văn Hiệp (2009), C pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 20. Bùi Mạnh Hùng (2008), Ngôn ngữ học đối chiếu, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C pháp tiếng Việt," Nxb Giáo dục, Hà Nội, 20. Bùi Mạnh Hùng (2008), "Ngôn ngữ học đối chiếu
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp (2009), C pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 20. Bùi Mạnh Hùng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
24. Luật Dược số 105/2016/QH13 https://luatvietnam.vn/y-te/luat-duoc-2016-104849-d1.html#noidung 25. Nghị định số 54/2017/NĐ-CP Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w