1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Địa vị người phụ nữ kinh việt ở hà nội và những vùng phụ cận giai đoạn chuyển tiếp từ truyền thống sang hiện đại

233 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 233
Dung lượng 7,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua việc tập hợp phân loại và đánh giá sơ bộ về lịch sử nghiên cứu vấn đề người phụ nữ Kinh cũng như từ ý nghĩa khoa học thực tiễn và mục đích, phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LE E SE O N H E E

ĐỊA VỊ NGƯỜI PHỤ NỮ KINH (VIỆT)

ở HÀ NỘI VÀ NHŨNG VÙNG PHỤ CẬN (GIAI ĐOẠN CHUYỂN TIẼP TỪ TRU YEN

THỐNG SANG HIỆN ĐẠI)

CHUYÊN NGÀNH: DÂN TỘC HỌC

MÃ SỐ: 5.03.10

LUẬN ÁN TIẾN S ĩ KHOA HỌC LỊCH s ử

NGƯỜỈ HƯỚNG DẪN Kỉ 10A HỌC:

GS TRÂN Q U Ố C VƯỢNG PGS.TS H O À N G LƯƠNG

Trang 2

L Ờ I C A M Đ O A N

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghicn cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong lu ìn án là trung thực và chưa lừng dược công bố trong bất kì công trình nào khác

Trang 4

M Ụ C L Ụ C

CHƯƠNG 1: ĐỊA VỊ PHỤ NỮ KINH (VIỆT) THỜI KÌ c ổ - 10

TRƯNG ĐẠI.

1.1.1 Ảnh hưởng to lớn của chế độ mẫu hệ và địa vị người 10

phụ nữ trong truyền thống và sinh hoạt dân gian.

1.1.2 Vai trò lịch sử lớn lao của nguòi phụ nữ Kinh (Việt) 19

đôi với sự nghiệp quóc gia.

1.2.1 Sự suy giảm của địa vị người phụ nữ cũng như tình 25

trạng tiêu cực hoá trong quan niệm xã hội về người phụ nữ.

1.2.2 Những yếu tô tiến bộ về mặt nhà nước, xã hội đói với 29

người phụ nữ.

1.2.3 Những điều khoản trong luật định về phụ nữ qua một 30

sô vương triều Trung đại.

1.2.4 Một sô điều khoản tiến bộ vê phụ nữ trong môt số 37

hương ước, tộc ước.

1.2.5 Những phong tục tập quán tiến bộ về n^ười phụ nữ 48

Trang 5

NỬA CUỐI T H Ế KỶ XIX ĐẾN T RƯỚC 1945).

Địa vị người phụ nữ trong bối cảnh mất nuức 66

Tình trạng người phụ nữ bị bóc lột nặng nề và bị hạ 73 nhục gay gắt.

Tình trạng người phụ nữ trở thành nạn nhân trực tiếp 75 của những hủ tục thối nát từ chê độ phong kiện nửa

thuộc địa.

( T ừ 1945 ĐẾN TRƯỚC THỜI Đ ổ i MÕI 1986).

Quan niệm, chủ trương của Đảng Cộng sản và Chính 99 phủ Việt Nam về vấn đề phụ nữ.

Sự tham gia của phụ nữ Kinh (Việt) vào sự nghiệp 105 xây dựng và bảo vệ đất nước trước thời kì đổi mới.

Trang 6

CHƯƠNG 3: NHỮNG TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT VỂ ĐỊA VỊ 150

NGƯỜĨ PHỤ N ữ KINH (VIỆT) s o VỚI ĐỊA VỊ

NGƯỜI PHỤ N ữ HÀN QUỐC.

ĐỊA VỊ NGƯỜI PHỤ N Ữ CŨNG N H Ư Q U AN NIỆM XÃ HỘI

VỀ NGƯỜI PHỤ N Ử KINH (VIỆT) VÀ HÀN QUỐC.

3.1.1 Ảnh hưởng từ môi trường địa lý tự nhiên và phương 151

thức canh tác cơ bản.

3.1.2 Những ảnh hưởng từ diễn trình lịch sử 154 3.1.3 Những ảnh hưởng tù' tốn giáo, tĩn ngưỡng và một sờ 156

bộ phận văn hóa, xã hội khác.

QU Ố C T RONG LỊCH s ử

ĐỊA VỊ NGƯỜI PHỤ N Ữ KINH (VIỆT) VẢ PHỤ N Ữ HÀN QUỐC.

3.3.1 Cả ở Việt Nam và Hàn Quốc, địa vị người phụ nữ đều 181

thấp hơn nam giới.

3.3.2 Những nguyên nhân dẫn đến sự tương đồng cũng nhu 188

dị biệt về địa vị ngưòi phụ nữ và quan niệm xã hội về phụ nữ giữa Việt Nam và Hàn Quốc.

Trang 7

M Ở Đ Ầ U

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀ I LUẬN Á N

Một vấn đề luôn luôn mang nội dung bao trùm nhân loại và tính thời sự, đồng thời cũng là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá trình độ phát triển của một xã hội chính là cách đặt vấn đề và giải quyết những vấn đề

về phụ nữ và trẻ em trong cộng đồng xã hội ấy Điều đó có nghĩa là trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại nói chung, lịch sử quốc gia dân tộc nói riêng, vấn đề phụ nữ luôn luôn là một trong nhũng vấn đề thiết thục, sống động và đồi hỏi sự quan tâm toàn diện Mức độ quan trọng của vấn đề phụ nũ' không phải chỉ đơn giản vì đây là một nửa của nhân loại, mặc (lù chỉ với điều

đó thôi, người phụ nữ cũng đã xứng đáng được quan tâm rất nhiều Cái cần phải kể đến ở đây chính là vì "một nửa nhân loại" ấy lại là một nửa nhạy cảm nhất, bản thể nhất và cũng không kém phần phức tạp

Có thể nói mà không sợ quá lời rằng, một cách đặt vấn đề đúhg và giải quyết đúng về người phụ nữ sẽ là một đảm bảo khá chắc chắn cho sự bình ổn của một cộng đồng, dù đó là một cộng đồng xã hội, cộng đồng gia đình hoặc tổng thể ứng xử Chính vì thế mà vấn đề người phụ nữ luôn luôn nhận được sự quan tâm nghiên cứu ở tất cả các quốc gia trong thời đại ngày nay Nếu như trong lịch sử phát triển nhân loại, ở một lúc nào đó, lại một nơi nào đó người

ta đã có những cách đặt vấn đề và giải quyếl vấn dề chưa chính xác về người phụ nữ thì khuynh hướng nói chung, xu hướng tấl yếu sẽ vãn là loài người càng ngày càng tiếp cận chân lý về một giải pháp đúng đắn đối với vấn đề người phụ nữ

Vấn đề phụ nữ đối với các quốc gia phương Đông lại càng trở nên quan trọng, vì đây là một trong những khu vực đã một thời kì rất dài chịu ảnh hưởníi

c la ý thức hệ Nho giáo hoặc Hồi giáo, trong đó nổi cộm nhất là tư tưung trọníz nam khinh nữ

Trang 8

Nếu các nền văn hoá phương Đông nói chung có thể coi là mang tính

âm so với các nền văn hoá phương Tây mang tính dương thì các nền văn hoá Nam Á (Trong đó có Việt Nam), lại còn mang tính âm (nữ) đậm nét hơn rấtnhiều so với các nền văn hoá Bắc Á và Đông Bắc Á ( trong đó có Hàn Quốc), tựa như chất thái âm so với chất thiếu âm

Chúng ta có thể nhận biết được một số biểu hiện của chất thái ám ởvùng văn hoá Đông Nam Á thông qua môt số phương tiên cơ bản sau: Tàn dư sâu rộng và lâu bền của cơ CJU mẫu hệ, tục thờ Nữ Thần và Thánh Mẫu, triết

lý âm - dương lưỡng hợp mang mầu sắc của quan niệm phồn thực dân gian, đ^a vị được khẳng định tương đối cao của người phụ nữ v.v

Chính vì thế mà trong thời gian học tập và nghiên cứu tại Việt Nam, chúng tôi đã cố gắng hướng sự quan tâm của mình vào vấn đé phụ nữ Có thể nói rằng nghiên cứu về người phụ nữ, đặc biệt về địa vị của họ trong đời sống cộng đồng xã hội, trong tiến trình lịch sử của dân tộc cả về quá khứ, hiện tại lẫn tương lai, trong mối quan hự giữa địa vị thực lế với ý thức xã hội v.v vừa

là một thực tiễn lịch sử, vừa là một nhu cầu mang tính thực tế, tính lý thuyết

và tính nhân văn

Xuất phát từ những quan niệm như trên mà chúng tôi đã xác định cho mình đề tài cụ thể của luận án: Địa vị người phụ n ữ K ỉnh (Việt) ở H à Nội và

những vùng phụ cận (giai đoạn chuyên tiếp từ truyền thống sang hiện

đại) Ở đây, nên hiểu cụ thể về "giai đoạu chuyển liếp từ truyén thống sang hiện đại" với ý nghĩa là sự chuyển tiếp địa vị người phụ nữ Kinh từ thời kì chỉ

ru rú ở bốn xó bế^ với công việc nội trợ là chính của thời kì c ổ - Trung đại sang thời kì Cận - Hiện đại khi người phụ nữ Kinh đã hoặc vô tình hoặc hữu ý nâng cao vai trò của mình bằng việc tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào cổnc việc xã hội (gổm cả việc làng, việc nước) Đặc biệt ỉà trong các phong trào đấu tranh chống giặc ngoại xâm như Hai Bà Trưng và những nữ tướng của Hai Bà, Triệu Ẩu đến Bà Chúa Kho, Ỷ Lan Phu Nhân và các chiến sĩ cách mạng ở các giai đoạn chống Pháp, chống Mỹ Tất cả nhũng sự kiện đó đã tạo ra sự

Trang 9

chuyển giai đoạn của địa vị người phụ nữ từ thời kì chỉ bị động, lộ thuộc sang thời ngang hàng, quan trọng như nam giới.

2 LỊCH SỬ NGH ỂN c ú u VÂN ĐỀ

Như ở trên chúng tôi đã trinh briy, vấn đề phụ nữ luôn luôn là một vấn

đề mang tính thời sự Vấn đề ấy, tính thời sư áy càng irở nên cấp thiết hơn đối với tiến bộ nhân loại nói chung, tiến bộ của từng quốc gia dân lộc nói riêng Chính vì thế mà đã từ lâu, nghiên cứu về người phụ nữ đã trở thành một trong những chủ điểm quan trọng, thu hút khá nhiều tâm huyết của đông đảo các trí thức, nhà lãnh đạo cũng như nhũng nhà hoạt động xã hội

Theo số liệu cũng như theo kết quả mà chúng tỏi đã tập hợp được và nghiên cứu thì từ trước đến nay vấn đề người phụ nữ Kinh đã có rất nhiều công trình nghiên cứu Tuy nhiên, theo kết quả phân loại sơ bộ của chúng lôi thì tuy khối lượng các công trình viết về người phụ nữ Kinh nhiều nhưng chủ yếu tập trung vào một số phương diện như sau:

- Những tác phẩm có tính chất pháp chế, quy định, quy ước về người phụ nữ Ki nh Có thể tìm thấy vấn đề này trong hệ thống các văn bản pháp quy như luật Hồng Đức, luật Gia Long, luật dân sự và hình sự V V của rứn nước việt Nam dân chủ cộng hoà và nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; trong hương ước v.v Những công trình ấy tuy có phan cinh phấn nào địa vị và tình trạng của người phụ nữ Kinh song khôrm thể là một bức tranh tổng thể về ho được

- Những sáng tác (thành văn hay truyền miệng) phần lớn là folklore hay văn hoá dân gian xung quanh vấn đề về người phụ nữ Kinh Có thể nói rằng đây

là hệ thống tư liệu phong phú nhất, tương đối toàn diện nhất, đã phản ánh hấiì

như đầy đi nhất về các vấn đề người phu nữ Kinh củ trong đời sống hiện thực xã

hội lẫn trong đời sống tâm linh, tình cảm Có thể kể ra đây nhũng tác phẩm nổi tiếng như "Truyện Kiều" - Nguyễn Du-, "Cung Oán ngâm khúc" - Nguyen Gia Thiều-, "Chinh phụ ngâm" - Đặng Trần Côn-, những truvện nôm khuyết danh

Trang 10

như "Nhị độ Mai", "Phan Trần" v.v ; những Nữ sĩ nổi tiếng như: Đoàn Thị

Điểm, Ngọc Hân, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan v.v và bên cạnh đó

là hệ thống vô cùng phong phú của folklore Việt Nam về người phụ nữ Có thể

nói rằng nguồn tư liệu này là hết sức to lớn và vô cùng quan trọng Tuy nhiên, tự

bản thân nó chưa thể trở thành những vấn đề có tính chất \' luận về những tiêu

chí của ngườ: phụ nữ Kinh Nó rất cần sự tổng hợp, phân lích, hệ Ihống trong sự

đối chiếu và chứng minh với thực tiễn đời sống

- Những tác phẩm viết về người phụ nữ với lính chất như những tài liệu hướng dẫn là chủ yếu Có thể tìm thấy khá nhiều những tác phẩm loại này vồ các

phương diện xung quanh những động thái về "công, dung, ngôn, hạnh1' Đó có

thể là tài liệu hướng dẫn cho người phụ nữ những tri thức VC vệ sinh, vé nấu ăn, y

phục, nghệ thuật làm đẹp, nghệ thuật ứng xử v.v Có thể kể tên một số tác phẩm

theo hệ thống này như sau: "Bệnh nhiễm khuẩn trẻ em, chọn lựa kháng sinh 1 -

Nguyễn Ngọc Rạng - Nhà xuất ban Khoa hoc kỹ thuật An Giang - 1993; " Bạn

gái hãy biết làm đẹp và duyên dáng" - Đinh Tiến - Nhà xuất bản Thanh Hoá -

1995; "Chế biến món ăn" - Hoài Linh - Nhà xuất bản Văn hoá thông tin - 1995;

"Mấy vấn đề y sinh học vể phụ nữ nông thôn Việt Narr - Võ Hưng - Nhà xuất

b in Nông nghiệp - 1991; 'Tim hiểu trang phục Việt Nam" - Đoàn Thị Tinh -

Nhà xuất bản Văn hoá - Hà Nội 1987 v v

Những tác phẩm nghiên cứu có tính chất tổng thổ về văn hóa Việt, trong

đó có vấn đề người phụ nữ Hệ thống này có thể ké ra: " Phong tục Việt Nam nếp

cũ gia đình" - Toan Ánh - Nhà xuất ban Thanh Niên - 1992 "Nếp cũ làng xóm

Việt Nam" - Toan Ánh - Nhà xuất t in Thành phố Hồ Chí Minh - 1992; "Việt

Nam phong tục" - Phan K ế Bính - Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Tháp - 1990

"Những nghiên cứu xã hội học gia đình Việt" - Rita L'ljestrom Tương Lai - Nhà

xuất bản Khoa học xã hội - Hà Nội 1991; "Đất lề quê thói" - Nhất Thanh - Nhà

xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh - 1992 v.v Loại khác là những tác phám

nghiên cứu có tính chất tập trung vào một vấn đề chủ yếu nào đó xung quanh

người phụ nữ Kinh Có thể kể tên một số tác phẩm tiêu biểu thuộc loại này như

Trang 11

sau: "Ba cuộc cách mạng với vấn đề giải phóng phụ nữ" - Dương Thoa - Nhà xuất bản Phụ Nữ - Hà Nội 1976; "Lịch sử phong trào phụ nữ Kinh (tập I)" - Nguyễn Thị Thập - Nhà xuất bản Phụ Nữ - Hà Nội 1980; "Kế hoạch hoá gia đình với phụ nữ" - Phó Đức Nhuận - Nhà xuất bản Phụ Nữ - Hà Nội 1995; "Lao động

nữ Việt Nam'' Trần Thu Hương, Phan Thị Thanh

-Nhà xuất ban Phụ Nữ - Hà Nội 1995; Phụ nữ Kinh qua các thời đại" - Lê Thị Nhâm Tuyết - Nhà xuất bản Khoa học xã hội - Hà Nọi 1975; "Tam toà Thánh Mẫu" - Đặng Văn Lung - Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc - 1991; "Các Nữ Thần Việt Nam" - Đỗ Thị Hảo, Mai Thị Ngọc Ơ1ÚC - Nhà xuất bản Phụ Nữ - Hà Nội 1993; "Tín ngưỡng Bà Chúa Kho" - Khánh Duyên - Nhà xuất bản Sở văn hoá thông tin và thể thao Hà Bắc - 1994 v.v

Mặc dù số liệu về những sáng tác vì nghiên cứu xung quanh vấn đề người

phụ nữ Kinh là rất lớn, rất đa dạng và phong phú nhưng theo nhận xét sơ bộ của chúng tôi thì cho đến nay vẫn chưa có môt chuyên khảo mang tính chất hệ thống

và lý luận về địa vị người phụ nữ Kinh xét về phương diện I ing hợp cả văn hoá, văn học lẫn thực tiễn hoạt động xã hội v ề vấn đề địa vị người phụ nữ Kinh tất nhiên trcng một số tác phẩm nghiên cứu đã có đề cập đến, nhưng chủ yếu là xuất phát từ góc độ văn học hoặc góc đồ tín ngưỡng và xuất phát từ góc độ phong tục tập quán hay hoạt động xã hội

3 MỤC ĐÍCH NGHEÊN CÚƯ VÀ GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI.

Xung quanh vấn đề người phụ nữ Kinh đã cú khá nhiều tác giả và lác phẩm đề cập đến nhưng vấn đề địa vị người phụ nữ Kinh với tính chất như mội chuyên khảo độc lập, hú thống, mang tính lý luận khái quát từ góc độ tổng hợp các lĩnh vực văn hoá, văn Slọc nghệ thuật, thực tiễn xã họi, tiến trình lịch sử v.v

là một yên cầu cần được quan tâm Chính vì thế khi chọn đề tài nghiên cứu địa vị người phụ nữ Kinh truyền thống sang hiện đại chúng lôi nhằm hệ thống hoá và

bổ khuyết những điểu theo chúng tôi còn đang thiếu hoặc chưa được hợp lý từ những tài liệu đã công bố Có thể nói rằng đây là một phần việc kha quan trọng

Trang 12

và rất cần thiết để từ đó tạo ra một cái nhìn tương đối tổng hợp và hệ th» >ng về địa

vị người phụ nữ Việt nói chung và phụ nữ Kinh (Việt) nói riêng Trong luận án này, chúng tôi tập trung vào tìm hiểu nghiên cún phụ nữ Kinh (Việt) ở Hà Nội và những vùng phụ cận như Hà Tây, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hung Yên, Hải Phòng, Nam Đinh, Phú Yên v.v là chính Khi chọn Hà Nội và vùng phụ cận như trên làm địa bàn nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã đi từ những lý do như sau: Đây là vùng trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội của cả nước với chiều d i lịch sử từ thời cổ đại đến hiện đại Hơn nữa, đây cũng là địa bàn dỗ tiếp cận về ca mặt địa lý lẫn mặt cư dân khi nghiên cứu về ngưòi Kính sinh tụ lập Irung đông đúc Mặt khác, đây cũng là nơi còn bảo lưu đươc nhicu yếu tố 'ưuycn thống cũng như nhũng yếu tố hiện đại đang diễn ra một cách khá điển hình Vì vậy, chọn địa bàn này đã giúp chúng tôi có nhiều điều kiện thuận lợi để hoàn thành đề tài của mình

Từ kết quả những tư liệu đã thực tập trong các dịp điều tra dân tộc trên, mục đích tiếp theo của chúng tôi là cố gắng rứt ra nhũng đặc trưng cơ bản mang tính chất ỉý luận và thực tiễn về bản sắc văn hoá của Việt Nam xunh quanh vấn

đề người phụ nữ

Mục đích thứ ba cf a chúng tôi khi chọn đề tài này là dựa trên kết quả của việc hệ thống hoá, rút ra kết ỉuận đặc trưng, cố gắng nêu nhũng ý kiến cá nhân có tính chất tham khảo từ sự so sánh với thực tiễn phụ nữ ở Hàn Quốc, sự phân tích thực tiễn xã hội, tư tưởng để dự kiến nhưng vấn đề sẽ nảy sinh hoặc có thể nảy sinh xung quanh vấn đề người phụ nữ tại Việt Nam theo k vih nghiệm phát triển của một số quốc gia (đặc biệt là một số quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế đột biến như Hàn Quốc, Singapore, Đài Loanv.v )

Hướng giải quyết cơ bản của đề tài này theo chúng tôi là phải dựa trên cơ

sở phân tích bản sắc văn hoá, đặc trung tam lý và phép ứng xử, thực tiễn tiến trình lich sử và những chính sách có tính chất chiến lược của Nhà nước Cộng hoà

Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trong hiện tại cũng như trong tương lai

Trang 13

Mặc dù mục đích đề tài nghiên cứu của chúng tôi là rất lớn, ý nghĩa thực tiễn của đề tài là rất quan trọng nhưng với tính chất của một luận án TS, chúng tôi xin phép được hạn chế đề tài ở một số nội dung cơ bản như sau:

- Vai trò của người phụ nữ Kinh trong tiến Hình lịch sử

- Những kết luận chính về địa vị người phụ nữ Kinh so với Hàn Quốc.

- Những nguyên nhân cơ bản dăn đến sự tương đồng cũng như dị biệt về địa vị người phụ nữ và quan niệm xã hội về phụ nữ giữa Việt Nam và Hàn Quốc

- Người phụ nữ Kinh qua folklore Việt Nam

- Việt Nam - thời kì đổi mới và nhũng vấn đề về phụ nữ

Những nội dung chủ yếu trên chúng tôi xin phép chỉ nghiên cứu hạn chế 1

phạm vi Hà Nội và những vùng phụ cận là chủ yếu Tất nhiên để tập trung vào địa bàn này, trước hết chúng tôi cũng cần (nếu như không nói là bất buộc) khái quát hoá, tổng hợp hoá cũng như so sánh từ phạm vi châu thổ sông Hồng trong mối liên quan với trung du và miền núi, miền Trung cũng như micn Nam Mặt khác do điều kiện và hoàn cảnh của một NCS nước ngoài học tập ở Việt Nam, luận án chúng tôi chỉ mới đi vào việc khái quát nội dung theo chiều lịch đại và đồng đại chứ chưa đi sâu nghiên cứu theo tùng nhóm hay ngành nghề mà phụ nữ tham gia và vị trí của từng tầng lớp xã hội của phụ nữ Mong rằng sau này khi có điều kiện chúng tôi sẽ tiếp tục đi sâu cụ thể hơn

4 C ơ SỞ TƯ LỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ú u

Thông qua việc tập hợp phân loại và đánh giá sơ bộ về lịch sử nghiên cứu vấn đề người phụ nữ Kinh cũng như từ ý nghĩa khoa học thực tiễn và mục đích, phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tồi xác định nguồn tư liệu phục vụ cho đề tài này chủ yếu sẽ là nguồn tư liệu dân tộc học (nhân học), sử học, văn học, địa lý môi trường, văn hoá dân gian, điều tra xã hội học, văn bản pháp lý v.v kết hợp với nhũng kết quả cụ thể theo phương pháp điền dã dàn tộc học tại địa bàn Hà Nội và những vùng phụ cận: nghĩa là những tư liệu tổng hợp về khoa học xã hội, nhân văn kết hợp với thực tế điền dã

Trang 14

Về mặt phương pháp luận nghiên cứu thì tất nhicn đối với một đề tài cụ thổ SC

có thể có nhũng phương pháp tiếp cận khác nhau Đối với đề tài "Địa vị người phụ nữ Kinh (Việt) ở Hà Nội và những vùng phụ cận (giai đoạn chuyển tiếp từ truyền thống sang hiện đại)" của chúng tôi thì mặc dù về mặt hình thức có vẻ như sẽ rất cần (nếu như không nói là chủ yếu) áp dụng phương pháp mô tả Nhưng theo chúng tôi thì sự mô tả ở đây sẽ không thể thoả mãn được ý nghĩa khoa học và mục đích cũng như ý nghía thực tiễn mà đề tài đặt ra Theo suy nghĩ của chúng tôi ihì nội hàm của đổ tài luận án là khá rộng và mang tính lý luận Nhung, dù sao chúng tôi cũng chỉ mới dìmg ở phương pháp nghiên cứu Dân tộc học - sử học và so sánh, còn việc nhìn nhận van đề địa vị người phụ

nữ dưới góc độ giới, một phương pháp nghiên cứu của các nhà khoa học hiện đại, chúng tôi chưa đủ khả năng và thời gian tiếp cận, sẽ chú ý hơn ở các công Irình khác Chính vì vậy, để tiếp cận đề tài này, chúng tôi đã chọn ba phương pháp cơ bản như sau:

- Kết họp giữa phương pháp nghiên cứu dân tộc học (chủ yếu là điền dã dân tộc học với sự thẩm vân sâu) với phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để có được nhũng nguồn tư liệu mang tính chất định lượng Từ đó phân tích, xử lý các nguồn tư liệu rút ra nhũng đặc điểm mang tính chất định tính về vẩn đề phụ nữ Kinh trong tiến trình lịch sử Việt Nam

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành để hỗ trợ nhũng nguồn tư liệu trên đây Đặc biệt là phương pháp nghiên cứu lịch sử để qua không gian và thời gian thấy rõ địa vị người phụ nữ Kinh trong lịch sử và hiện tại, qua điều tra, tham khảo, hồi cố

- Cuối cùng là việc áp dụng phương pháp so sánh Việc nghiên cứu địa vị người phụ nữ Kinh theo chúng tôi bắt buộc phải được đặt tronơ mối liên hệ giữa nội hàm và ngoại vi; cũng có nghĩa là phải tuân thủ phương pháp luận so sánh theo hai trục đồng đại - lịch đại, nội hàm - ngoại vi v ề phương diện so sánh, khi nghiên cứu về địa vị người phụ nữ Kinh, tất nhiên yếu tố Việt sẽ là chủ yếu và yếu tố Hàn sẽ là đối tượng so sánh quan trọng nhât; yếu tố hiện đại (với tư cách là những kết tinh phát huy và bicn đổi truyền thống) sẽ là chủ yếu và yếu tố lịch sử tiến trình sẽ là đối tượng so sánh chủ yếu; nội hàm địa vị ngưòi phụ nữ sẽ là chủ yếu và những vấn đề khác có liên quan đcn người phụ nữ sẽ là dối tượng so sánh quan trọng

Trang 15

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

- Qua nội dung luận án, đây là chuyên khảo đầu liêu nghiên cứu có hệ thống về địa vị ngưòi phụ nữ Kinh trong tiến trình lịch sử Việt Nam

- Việc so sánh, xác định nhũng net tương đồng và dị biệt giữa địa vị người phụ

nữ Kinh vói phụ nữ Hàn Quốc đã cung câp nhũng hiểu biết cụ thể về phụ nữ Việt nói chung, phụ nữ Kinh nói riêng vói phụ nữ Hàn Quốc Qua đó còn góp phần giúp người đọc hiểu biết sâu sắc hơn về lịch sử Việt Nam và Hàn Quốc

6 BỐ CỤC LUẬN ÁN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được bố cục như sau:

Chương 1: Địa vị người phụ nữ Kinh (Việt) thời kì c ổ - Trung đại

Chương 2: Địa vị người phụ nữ Kinh (Việt) thời kì Cận - Hiện đại

Chương 3: Nhũng tương đồng và dị biệt về địa vị người phụ nữ Kinh (Việt) so vói Hàn Quốc

Là một NCS nước ngoài nghiên cứu về một dân tộc khác, tôi đã gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là về ngôn ngữ và phong tục tập quán Vì thế luận án này chỉ mới dùng ở mức độ giói thiệu chung về đề tài đặt ra Mặt khác, luận án này không thể tránh khỏi nhũng thiếu sót rất mong nhận được sự giúp góp ý của các thầy, cô giáo và Hội đồng ch án luận án để tôi học tập được tốt hơn

Nhân đây, tôi chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, chỉ bảo ân cần và có hiệu quả của Nhà trường, các thầy, cô giáo trong khoa sử và bộ môn Dân tộc học, bạn bò nhiều cơ quan đã hết sức ủng hộ, tạo điều kiện để tôi hoàn thành bản luận án này Đặc biệt xin cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của giáo sư Trần Quốc Vượng, người thầy không chỉ giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận án này mà còn giúp đỡ tôi hiểu sâu sắc hơn về lịch sử Việt Nam, khiến tôi càng thêm yêu, thêm quý đất nước Việl Nam tươi đẹp và các dân tộc Việt Nam anh hùng

rp r

Tác "iá

Lee Seon Hee

Trang 16

CHƯƠNG 1

Đ ỊA VỊ P H Ụ N ữ K IN H (VIỆT)

T H Ờ I KÌ CỔ - T R Ư N G ĐẠI

1.1 ĐỊA VỊ PHỤ NỮKINH (VIỆT) THỜI KÌ c ổ ĐẠI

1.1.1 Ảnh hưởng to lớn của chế độ mẫu hệ và địa vị người phụ nũ trong truyền thống và sinh hoạt dân gian.

Như ở phần mở đầu chúng tôi đã trình bày, nền văn hóa phương Đông nói chung, văn hoá Nam Á mà đặc biệt là Đông Nam Á và Việt Nam nói riêng mang tính âm (nữ) nhiều hơn các khu vực khác, đặc biệt là nếu so sánh với châu Âu Một trong những biểu hiện của tính âm ấy chính là dấu ấn sâu đậm của chế độ mẫu hệ hiện đang tồn tại và hoạt động tại khu vực này

Theo lý thuyết về tiến trình phát triển của lịch sử loài người thì chế độ công xã nguyên thủy là mô hình tổ chức xã hội đầu tiên Trong quá trình phát triển của mình, ở vào giai đoạn cuối, chế độ công xã nguycn thủy đã bắt đầu bước vào thời kỳ phân hoá từ kết quả của quá trình phát triển tri thức cũng như những biến đổi trong phương thức kiếm sống và sinh hoạt Sự phân hoá ấy trước hết nằm ở ý thức và dần dần hình thành, xuất hiện ý thức hệ mang tính cộng đồng xã hội nghiêng về phái nữ

Cơ sở của sự phân liệt ý thức mang tính xã hội cộng đồng đầu tiên nghiêng về phái nữ trước hết là ở lý thuyết tiến hoá và thực tiễn phương thức kiếm sống cơ bản của nhân loại ở từng thời kỳ lịch sử Theo tiến hoá luận của Đác Uyn thì sự xuất hiện của con người chính là từ thủy tổ là một loài vượn người với địa bàn cư trú chủ yếu là rừng núi, với thức ăn chủ yếu là hoa qua thực vật, tuy con người vẫn thuộc loài động vật ăn tạp Mặt khác nếu xét về

Trang 17

phương diện phương thức kiếm sống cơ bản của loài vượn người ở thời kì công xã nguyên thuỷ thì chúng ta cũng thấy rằng nó bao hàm hai hình thức hái lượm và săn bắt trong đó hái lượm chiếm ưu thế.

Nếu xét về phương diện phân công lao động cộng đồng mang tính tự nhiên, tự phát thì rõ ràng nam giới với đặc điểm về sức khỏe, phản xạ, sự chịu đựng, tính dũng cảm v.v sẽ trở thành đối tượng của những công việc nặng nhọc và nguy hiểm- vào thời kỳ này chính là việc săn bắt Trong khi đó

nữ giới với đặc điểm tố chất yếu hơn, không linh hoạt bàng nhưng lại cẩn thận hơn v.v sẽ là đối tượng chủ yếu của những công việc giản đơn nhưng tỉ

mỉ mà nhẹ nhàng là hái lượm Mà như ở trên chúng ta đã phân tích, hái lượm

là phương thức kiếm sống chiếm ưu thế của cộng đồng trong Ihời kỳ này Phương thức ấy theo phân công lao động cộng đổng mang tính tự nhicn lại chủ yếu thuộc về nữ giới Đây sẽ là nền tảng đầu tiên khiến cho ý thức cộng đồng nghiêng về tính nữ

Mặt khác vào thời kỳ này hôn nhân song phương chưa xuất hiện, loài người vẫn đang ở thời kỳ quần cu' tạp hôn Việc sinh con, nuôi dưỡng và chăm sóc con (kể cả"giáo dục"sơ khai) cũng nhu' việc chế tác và phân phối sản phẩm trong cộng đồng chủ yếu là thuộc về người phụ nữ Có thể nói rằng các thế hệ kế tiếp hầu như chỉ có mối liên hệ trực tiếp với mẹ mà rất ít với cha (nhất là khi những cá thể ấy chưa tồn tại như một thành viên độc lạp của cộng đồng) Thực trạng ấy sẽ là những nguyên nhân quan trọng tiếp theo để khiến cho ý thức mang tính xã hội cộng đồng càng nghiêng về tính nữ

ấy ngày càng được bổ sung, phát triển, định hình để dần dần khẳng định địa

vị lãnh đạo cộng đồng thuộc về người phụ nữ

Mặc dù tính xã hội chung toàn nhân loại là như vậy nhưng với tiến trình lịch sử thì với sự xuất hiện chế độ phụ hệ, mẫu hệ ngày càng mất đi, tuy nhiên nó vẫn tồn tại và tồn tại khá sâu đậm ở nơi này hay nơi khác trôn thế

Trang 18

giới Đặc biệt đối với khu vực Đông Nam Á thì dấu ấn của hộ mẫu hộ còn lại đến ngày nay lại sâu đậm hơn rất nhiều so với các khu vực khác.

Sở dĩ khu vực Đông Nam Á hiện nay còn mang đậm những dấu ấn của chế độ mẫu hệ là vì theo lý thuyết phát triển thì dường như có một thông lệ là: càng ở những khu vực chậm phát triển, lạc hậu thì càng lưu giữ được nhiều hơn những dấu ấn cổ xưa mà Đông Nam Á chính là một trong những khu vực ấy

Mặt khác nếu xét về phương diện văn hóa môi trường thì rõ ràng Đông Nam Á với đặc trưng về kiến tạo địa lý là độ đứt gãy và chênh lệch bình độ rất lớn, khí hậu nóng ẩm mưa nhiều và có gió mùa v.v là cơ sở tự nhiên để hình thành cơ tầng văn hoá thảo mộc Có thể nói rằng thảm thực vật khu vực này là vô cùng phong phú Đó sẽ là nền tảng cơ bản và quan trọng để hình thành phương thức kiếm sống cơ bản khu vưc này trong truyền thống (và kổ

cả hiện đại) chính là canh tác nông nghiệp lúa nước Mà như ở trên chúng la

đã phân tích thì khi mà hái lượm là phương thức kiếm sống chủ yếu cũng nhu khi mà canh tác lúa nước là phương thức chủ yếu thì rõ ràng dó sẽ là điều kiện để bảo lưu những dấu ấn sâu đậm của thời kỳ mẫu hệ

Tất cả những đặc thù cơ bản ấy ở khu vực Đông Nam Á vẻ phương diện địa lý, môi trường, khí hậu, phương thức canh tác v.v khi đặt vào bối cảnh Việt Nam thì chúng ta thấy rằng dường như chúng được tập trung ở mức độ sâu đậm nhất, sắc thái chênh lệch lớn về kiến tạo địa lý được biểu hiện ở những đứt gãy, chênh lệch bình độ; tính chất nóng ẩm mưa nhiều; sự phong phú của văn hoá thảo mộc v.v cũng được tập trung cao độ hơn Chính vì vậy mà chúng ta có thể nói rằng tính âm của liền văn hóa Việt Namđậm nét hơn, tập trung hơn so với khu vục

iMột trong những biểu hiện của tính âm ấy trong nền văn hoá Việt Nam chính là những đặc trưng mẫu hệ khá tập trung trong quá khứ và còn rất sâu

Trang 19

đậm trong hiện tại Có thể nghiên cứu và chứng minh nhận định này khi xem xét trên một số phương diện: Truyền thuyết dân gian, phong tục tập quán, lễ hội dân gian, tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Xét về mặt truyền thuyết dân gian thì một truyền thuyết hầu như tất cả mọi người Việt đều biết, một truyền thuyết gắn liền với nhận thức mang tính nguyên thủy sơ khai về thủy tổ của mình, đó là truyền ihuyết về Lạc Long Quân và Âu Cơ Chính sử và dã sử gọi truyền thuyết này là "Truyện Mọ Hồng Bàng", còn trong dân gian người Việt chỉ đơn giản gọi là "Chuyện đẻ trăm trứng" Tuy nhiên dù là chính sử hay dã sử hoặc dân gian thì điều quan trọng vẫn là bất kỳ người Việt nào cũng đều xác định một ihủy tổ của mình là Mẹ Tiên (bên cạnh Bố Rồng)

Như vậy thông qua truyền thuyết dân gian chúng ta thấy được rằng người dân Việt đã có những ý niệm cố định về nòi giống của mình: "Con Rồng Cháu Tiên" Ý niệm ấy, thông qua hình thức diễn đạt dân gian ấy, nếu

so sánh với một số dân tộc khác thì chúng ta sẽ thấy rằng đặc trưng "âm" của Việt Nam sẽ lớn hơn Với các dân tộc khác, khi lí giải về nguồn gốc của mình, chúng ta ít bắt gặp hình tượng nguồn gốc thứ hai- Mẹ- tồn tại như một thực thể độc lập Đối với một sổ dân tộc ở khu vực Đông Nam Á hoặc một sô tộc thiểu số tại Việt Nam thì ý niệm về nguồn gốc thường được tập trung vào một mô tip chủ yếu, phổ biến nhu' mô tip "Quả Bầu thần kỳ" Đối với người Hàn Quốc, họ lí giải nguồn gốc của mình qua câu chuyện "Gấu hoá người"

Theo "Thần thoại Đoàn Quân" thì thủy tổ của người Hàn Quốc là Đoàn Quân- con của con trai Ngọc Hoàng với Hùng Nữ (vốn là một con Gấu hoá thân) Theo truyền thuyết này thì con trai cửa Ngọc Hoàng tên là Hoàn Hùng muốn lấy vợ, đã ra điều kiện cho con Hổ và con Gấu, nếu muốn trở thành người thì chỉ ăn tỏi, ngải cứu và ở trong hang trong một trăm ngày Con Gấu với đặc tính hiền lành và kiên trì hon, đã thực hiện được điều này và bicn

Trang 20

thành một cô gái xinh đẹp Hoàn Hùng cưới cô gái ấy và sinh ra Đoàn Quân

là thủy tổ của người Hàn Quốc [137]

Như vậy, thông qua truyện "Thần thoại Đoàn Quân" chúng ta thấy rằng người Hàn Quốc đã xây dựng nguồn gốc thứ hai- Mẹ- của mình với biểu tượng mang tinh thần totem mà cụ thể là hình tượng con Gấu Từ đó, chúng

ta sẽ thấy rằng người Hàn Quốc đã áp dụng phương pháp gián tiếp để đề cập đến cội nguồn Mẹ Và như vậy, khi đặt trong mối lương quan với cội nguồn thứ nhất- Bô (Hình tượng Hoàn Hùng, con trai Ngọc Hoàng)- thì rõ ràng trong ý niệm của người Hàn Quốc đã tiềm ẩn một cái gì đó dường như là mộl

sự đánh giá thấp về địa vị của người phụ nữ: xuất thân thấp kém hơn (từ mộl con Gấu); hoàn cảnh kết hôn là bị lệ thuộc và bất bình đẳng (phải tuân thủ điều kiện của Hoàn Hùng); cơ sở để thực hiện bước chuyển hóa là phải hi sinh bản thân mình để xác lập một phẩm chất cơ bản, trung tâm của một người vợ là đức tính nhẫn nhục (phải ăn tỏi- một thức ăn rất cay và khó ăn-

để rèn luyện đức hy sinh và cần kiệm; phải sống trong hang- một địa điểm tối tăm, tù túng- để có được năng lực chịu đựng và phẩm chất nhẫn nhịn)

Trong khi đó, với "Chuyện Họ Hồng Bàng" của người Việt thì vấn đề

đã được đề cập đến dưới một góc độ và một cách nhìn hoàn toàn khác với người Hàn Quốc Ở đây, cội nguồn Mẹ- Âu Cơ- đã được người Việt xây dựng một cách trực tiếp bằng hình tượng của một tiên nữ

Như vậy, thông qua hệ thống folklore về nguồn gốc các dân tộc, chúng

ta thấy rằng dường n h ư chỉ có người Việt đề cập trực diện và trực tiếp rtíỊUồn

gốc thứ hai- Mẹ của mình Không những thế, nguồn gốc ấy còn được tập trung trực tiếp và cụ thể bằng hình tượng người nữ Như vậy là ngay từ khởi thủy, trong ý niệm của người Việt, trong tình cảm của người Việt, đã tồn tại

và hoạt động một khái niệm Mẹ Điều đó có nghĩa là ngay từ rất xa xưa, ngay

từ thủa,bình minh của dân tộc, địa vị của người Mẹ nói riêng, người phụ nữ

Trang 21

nói chung đã là một cái gì đó có giá trị và được khẳng định, ít nhất đối với người dân Việt cũng là giá trị cội nguồn.

Tuy nhiên trong quá trình phát triển, con người không chỉ nhận thức về nguồn gốc của mình mà sinh tồn luôn luôn đòi hỏi con người phải nhận thức

về tự nhiên Nằm trong quy luật này, hệ thống truyền thuyết dân gian của người Việt đã phản ánh rất phong phú những thâu nhạn, mô tả, kiến giải của

họ đối với tự nhiên Đặc tính âm (nữ) ở đây chính là ở chỗ chímg ta có thổ tìm thấy được khá nhiều những huyền tích dân gian kiến giải vé tụ' nhiên có liên quan trực tiếp đến người phụ nữ mà tiêu biểu là huyền tích về Bà Nữ Oa

"đội đá vá trời" (rất phổ biến ở khu vực Hà Sơn Bình) [79, 26] Nhạn thức về

tự nhiên thông qua sự ghi nhận, mô tả hoặc kiến giải mang mầu sắc huyền thoại vốn là một quy luật đồng thời là một trong những cơ sở để hình thành

hệ thống folklore của mỗi dân tộc và vì vậy nó không thể là một đặc lliù chỉ riêng của Viêt Nam Điều đáng nói ở đây chính là ở chỗ người dân Việt cổ xưa đã khá nhiều lần đề cập trực diện đến người phụ nữ, thông qua họ để nhận thức đối tượng tự nhiên- động thái mà chúng tôi hầu như không thể tìm thấy trong hệ thống huyền thoại Hàn Quốc Hiện tượng này lại một lần nữa chứng minh dấu ấn sâu đậm của hệ mẫu hệ, chứng minh tiềm năng đời sống cộng đồng sâu sắc của người Kinh

Nếu xét về phương diện đấu tranh để tồn tại của dân tộc Việt thì chúng

ta cũng thấy rằng hệ thống truyền thuyết dân gian Việt Nam cũng đã khá nhiều lần đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến người phụ nữ nhu' là mộl trong những tác nhân cơ bản của khá nhiều biến động xã hội ngay từ buổi sơ khai của dân tộc

Lịch sử đấu tranh để tồn tại và từ đó mà phái triển của mỗi dân tộc thường chỉ tập trung vào hai vấn đề cơ bản đấu tranh chống "kc ihù hai chân"

và "kẻ thù bốn chân" Đối với người Việt do đặc thù của địa lý, môi trường

mà hai vấn đề cơ bản này lại được tập trung vào sự nghiệp trị thủy và sự

Trang 22

nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm Hệ thống truyền thuyết Việt Nam còn lưu truyền lại cho đến ngày nay rất nhiều truyền thuyết xung quanh hai chủ

đề này Có thể nói rằng hầu như người Việt Nam nào cũng biết "Truyện Sơn Tinh Thuỷ tinh", "Truyện Thánh Gióng" và "Truyện Nỏ Thần" [26] Điều thú vị và đáng quan tâm là ở chỗ trong những truyền thuyết này, người phụ

nữ luôn luôn được đề cập trực diện như là một tác nhân trực tiếp hoặc gián tiếp đối với quá trình phát triển của cốt truyện Và dù trực tiếp hay gián tiếp thì người phụ nữ ở đây cũng giữ một vị trí vộ cùng quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh chống thiên nhiên cũng như đấu tranh xã hội, đối với sự tồn vong của quốc gia, dân tộc Trong "Truyện Sơn Tinh Thuỷ Tinh" thì đó là

Mỵ Nương (con gái vua Hùng thứ mười tám) - người phụ nữ giữ vai trò nhu' một nguyên nhân trực tiếp của cuộc chiến đấu giũa Sơn Tinh chống lại Thuỷ Tinh, hình tượng khái quát của sự nghiệp đấu tranh trị thuỷ của người Việt cổ đại Trong "Truyện Thánh Gióng" thì đó là người Mẹ - Người Irực tiếp sinh

ra vị anh hùng dân tộc chống ngoại xâm, một trong "Tứ Bất Tử" của người Việt Trong "Truyện Nỏ Thần" thì đó là Mỵ Châu (con gái của An Dương Vương Thục Phán) - người giữ vai trò như một nguyên nhân trực tiếp dẫn đến

sự diệt vong của nhà nước Âu Lạc, cho đến bây giò' cũng như mãi mãi về sau

sẽ vẫn là biểu tượng của dân tộc Việt về bài học cảnh giác trước nạn ngoại xâm

Như vậy là không chỉ những truyền thuyết licn quan đốn nhận thức cội nguồn (Truyện Họ Hồng Bàng) hoặc liên quan đến nhận thức thiên nhiên (Nữ Oa, Truyện Ông Đùng Bà Đùng) mà ngay cả những truyền thuyết có liên quan đến sự nghiệp đấu tranh sinh tồn và phái triển của dân tộc Việt thì chúng ta đều luôn tìm thấy bóng dáng người phụ nữ Kinh hoạt động tronc

đó Điều này lại một lần nữa khẳng định rằng ngay từ thời kì rất xa xưa của lịch sử dân tộc, người phụ nữ Kinh đã có một vị thế đáng kể trorm cộng đồng

Trang 23

VỊ thế ấy đã được khẳng định vì vậy mà đã được lưu giữ trong hệ thống truyền thuyết dân gian của người Việt.

Nhân thức về bản thể dân tộc không chỉ dừng ở nhận thức về cội nguồn, nhận thức về đấu tranh để tồn tại mà còn bao hàm cả nhận thức về đấu tranh để phát triển Hệ thống truyền thuyết về phương diện này có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến người phụ nữ Kinh cũng rất phong phú Có thể nói rằng trong số những truyện cổ dân gian được huyền tích dân gian phản ánh thực tế đời sống hoạt động của người dân Việt thì có khá nhiều (nếu như không nói là có rất nhiều) những thuỷ tổ của những nghề cơ bản là xuất phát từ người Nữ Một trong những nghề vô cùng quan trọng của người dân Việt trong hệ thống canh tác nông nghiệp xưa kia (và cả ngày nay) chính

là nghề trồng dâu, nuôi tằm Khảo sát địa bàn Hà Nội và những vùng phụ cận, chúng tôi đã biết được có khá nhiều đền thờ nổi tiếng, thờ những người

Nữ có công lớn đối với dân tộc về phương diện này Đó là đền thờ công chúa Ngọc Hoa ở làng Nghi Tàm tại Hà Nội, đền thờ Ỷ Lan ở (Gia Lâm) V V

Ở Việt Nam câu chuyện "Quả Dưa Hấu" [26] mà hầu như ai cũng biết,

có thể nói là một truyền thuyết đã phản ánh một trorm những động thái quan trọng của việc canh tác là quá trình thuần hoá cây trồng Theo truyền thuyết này thì cây dưa hấu (vốn là một loại cây hoang dại) đã được vợ chồng Nàng

Ba chăm sóc, thuần hoá trở thành một giống cây trồng hữu ích, bổ sung vào

hệ thống cây trồng của người Việt Cũng theo truyền thuyết này thì Nàng Ba

và chồng của mình là Mai An Tiêm đã biết viết chữ quả dưa hấu và thả xuống biển để liên lạc và từ đó mà thiết lập mối quan hệ buôn bán với đất liền Chi tiết ấy kết hợp với chi tiết Tiên Dung (Truyện Chử Đồng Tử) [26] đã biết mở mang công việc buôn bán để tạo nên mộl địa bàn sầm uất ở nơi vợ chồng mình sinh sống đã phản ánh vai trò to lớn cuả người phụ nữ Kinh cổ xưa trong sự nghiệp canh tác nông nghiệp cũng như thương mại Cũng trong

"Truyện Chử Đồng Tử" chúng ta lại còn thấy địa vị rất cao của người phụ nữ

Trang 24

Kinh trong đời sống cộng đồng, ở đây lần đầu tiên người phụ nữ Kinh ngay

từ thời rất xa xưa ấy đã biết tự chọn cho mình một quyết định về tình ycu và hôn nhân mà không bị lệ thuộc vào gia đình hay áp lực xã hội

Như vậy là kể cả về phương diện sản xuất cũng như đời sống tình cảm,

hệ thống huyền thoại và huyền tích Việt Nam cũng đều phản ánh một vị thế khá vững và khá lớn của người phụ nữ Kinh trong dời sống cộng đồng

Cũng theo truyền và dã sử thì chúng ta còn thấy một nhân vật Nữ rất nổi tiếng khác, một trong "Tứ Bất Tử" của người Việt đó là công chúa Liễu Hạnh Có thể nói rằng với sự xuất hiện của chúa Lieu Hạnh, xét về mặt tâm thức và tín ngưỡng dân gian (cụ thể là đạo thờ Mẫu của người Việt ) thì đây

là một bước tiến đáng kể theo xu hướng chính thống hoá tín ngưỡng dân gian (Về vấn đề này chúng tôi xin phép sẽ được quay Irở lại ở chương sau) Còn nếu xét về phương diện tiến bộ xã hội về mặt ý thức và quan niệm xã hội thì huyền tích và huyền thoại xung quanh chúa Liễu Hạnh cũng lại là một tiến bộ lớn Đó là xu hướng đời thường hoá, bình dân hoá những yếu tô' siêu nhiên và lực lượng siêu nhiên Điều thú vị ở đây là nhân vật được đời thường hoá lại là người Nữ Động thái ấy, trong tiến trình của tiến bộ xã hội đã phản ánh một bước tiến đáng kể của quan niệm xã hội và ý Ihức xã hội về đại vị, năng lực hoạt động của người phụ nữ, đi từ huyền thoại mơ hồ đến hiện thực đời thường Như vậy, rõ ràng là cùng với sự phát triển của lịch sử, quan niệm

xã hội về địa vị người phụ nữ, chức năng và hoạt động của người phụ nữ cũng phát triển từ trừu tượng đến cụ thể

Không chỉ có như vậy, với sự xuất hiện của chúa Liễu Hạnh, lần đầu tiên quan niệm xã hội của cộng đồng người Việt đã trực tiếp đề cập tiến người phụ nữ không phải chỉ như một biểu tượng của cội nguồn Mẹ (Truyện

Họ Hồng Bàng), một nền lảng để nhận thức vũ trụ (Truyện Nữ Oa, Ông Đùng Bà Đùng), một tác nhân trực tiếp hay gián tiếp đối với công cuộc đấu tranh sinh tồn và phát triển của dân tộc (Truyện Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Truyện

Trang 25

Quả Dưa Hấu, Truyện Thánh Gióng, Truyện Nỏ Thần, Truyện Chử Đồng Tử

V.V ) mà còn như một nhân vật kiệt xuất trên lĩnh vực văn hoá

Như vậy truyền thuyết dân gian Việt Nam - một trong những giá trị

tinh thần cổ xưa nhất đối với mỗi dân tộc - đã phản ánh hoặc trực tiếp hoặc

gián tiếp một cách tương đối hệ thống, đầy đủ về người phụ nữ Kinh trcn hầu

hết các phương diện cơ bản của đời sống, nhận thức, tình cảm v.v Đicu đó

không chỉ phản ánh dấu ấn sâu đậm của hệ mẫu hệ tại Việt Nam mà quan

trọng hơn, còn phản ánh một vị thế đã được xác lập khá vững và khá lớn từ

rất xa xưa của người phụ nữ Kinh trong đời sống cộng đổng Đây là một điều

khá đặc biệt mà khi nghiên cứu về hệ thống truyền thuyết dân gian Hàn

Quốc, theo kết quả khảo sát sơ bộ của chúng tôi thì tuy vẫn có những tương

đồng nhưng mức độ tập trung và phạm vi phổ biến của Hàn Quốc vẫn lì

nhiều chưa bằng Việt Nam

1.1.2 Vai trò lịch sử lớn lao của người phụ nữ Kinh (Việt) đối vói

sự nghiệp quốc gia

Như ở trên đã phân tích, thông qua hệ thống huyền tích và huyền thoại

dân gian, địa vị người phụ nữ Kinh trong đời sống hiện thực và tâm linh, tình

cảm của cộng đồng đã được ghi nhận và khẳng định rất sớm Điéu quan trọng

là ở chỗ với hệ thống này, người phụ nữ Kinh được khảng định n h ư là một

đôi tượng trực tiếp hoặc gián tiếp của nhận thức của người Kinh về các

phương diện tự nhiên, hoạt động xã hội và bản Ihổ Có thể nói rằng chính từ

cái nền vô cùng quan trọng của phương thức tiếp cận và nhận thức này mà

trong tiến trình lịch sử của mình, dân tộc Việt đã sản sinh ra những Nữ anh

hùng có công lao to lớn đối với sự nghiệp cộng đồng ở tất cả mọi thời đại

Trong giai đoạn lịch sử trước năm 1010, chúng ta thấy nổi lên vai trò

lịch sử lớn lao của Hai Bà Trưng cùng các Nũ' tướng (năm 40-43), của Bà

Triệu (năm 248)

Như chúng ta đều biết, sau thời đại Hùng Vương là thời kỳ của nhà

nước Âu Lạc tồn tại không lâu dưới sự trị vì của An Dương Vương Thục

Trang 26

Phán N h à nước ấy đã sớm bị thôn tính bởi Triệu Đà (năm 179 trước công nguyên) Sau đó năm 111 trước công nguyên, nhà nước N am Việt của Triệu

Đ à lại tiếp tục bị thôn tính bởi nhà Hán Từ đây lịch sử Việt Nam đã bước vào thời kỳ đen tối của đêm trường nô lệ hàng nghìn năm dưới ách thống trị của phong kiến phương Bắc

Trong thời kỳ Bắc thuộc, dân tộc Việt đã nhiều lần đứng lên đấu tranh

tự giải phóng Lịch sử dân tộc giai đoạn này đã ghi lại những trang hào hùng

về Lý Bôn, Lí Bí, Triệu Việt Vương, Phùng Hưng, Mai Hắc Đ ế v.v Trong

số đó nổi bật lên ba gương mặt N ữ là Hai Bà Trưng và Bà Triệu

Sử cũ ghi lại rằng vào năm 40, do có mối thù với viên quan cai trị của nhà Hán là Thái Thú Tô Định đã giết chồng mình là Thi Sách m à Trưng Trắc

đã cùng em gái là Trưng Nhị khởi nghĩa, đánh đuổi Tô Định, xung Vương và đóng đô ở M ê Linh (Phong Châu Vĩnh Phú) Thực ra theo "Hậu Hán Thư" cũng như các cứ liệu lịch sử và truyền thuyết dã sử thì đây thực sự là mội cuộc khởi nghĩa giành độc lập của dân tộc Việt thời kỳ ấy Bởi vì xét về lính chất, m ục đích, quy mô và kết quả thì cuộc khởi nghĩa này đã m ang đậm tính chất đấu tranh dân tộc m à không phải là mối thù cá nhân, càng không phải chỉ là sự phản ánh của cuộc đấu tranh giành lại địa vị thống trị cho ch ế độ mẫu hệ đối với c h ế độ phụ hệ như một số hoc giả phương Tây tả khuynh từng quan niệm [64]

Đ iều quan trọng là ở chỗ chính sử đã ghi nhân công cuộc p h in kháng

để giành độc lập cúa dân tộc Việt bằng một mốc đầu tiên là sự nghiệp giải phóng dưới sự lãnh đạo của người phụ nữ Điều đó lại m ột lần nữa cùng với

hệ thống huyền tích và huyền thoại, khẳng định vị thế lớn lao cua người phụ

nữ Kinh trong tiến trình lịch sử

K hông chỉ có Trưng Trắc và Trưng Nhị m à dã sử cũng như chính sử

Việt N am còn ghi lại được khá nhiều nhân vật phụ nữ thời kỳ ấy như là những Nữ tướng kiệt xuất của công cuộc đấu tranh giải phóng Quy mô của

Trang 27

cuộc khởi nghĩa này rộng lớn và tính chất của nó mang đậm tính dân tộc.Trên hầu hết lãnh thổ của Giao Chỉ ỉúc ấy đều có sự hưởng ứng đối với lá cờnghĩa của Hai Bà Tại vùng duyên hải (Kiến An Hải Phòng bây giờ) đã nổi lên nhân vật Nữ tướng Lê Chân Đây là một trong những Nữ tướng tài giỏi nhất của Hai Bà mà cho đến ngày nay dân gian vẫn còn ghi nhớ và thờ phụng Và cũng vì đóng góp to lớn ấy của bà mà Thành ủy và u ỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng đã dùng tên Lê Chân để đặl cho một quận của mình như là một chứng tích về vai trò lịch sử của vị Nũ' tướng này dối với địa phương nói riêng và toàn dân tộc nói chung.

Về phương diện ngôn ngữ, chúng ta cũng có thể tìm thây được dấu ấn sâu đậm trong tâm linh của người Việt từ cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng Tiếng Việt hiện đại đang tồn tại một thành ngữ như một hệ thống bổ sung ý nghĩa mức độ có tính chất nhận xét cho tính từ, trạng từ và dộng từ cảm nghĩ

Theo truyền thuyết dán gian thì trong cuộc chiến đấu gian khổ và ác liệt của mình, đội quân khởi nghĩa của Hai Bà Trưng luôn luôn phải vận động, sinh hoạt, cư trú ở vùng rừng núi Giữa môi trường tự nhiên đầy lam sơn chướng khí như vậy, tình trạng sức khỏe của quân đội đã bị ảnh hưởnơ nặng nề Hầu hết binh lính đều mỏi mệt và đau ốm Trong tình trạng chune như vậy, chỉ có quân đội của một viên Nữ tướng là linh hoạt và khỏe mạnh

Bí quyết là ở chỗ viên Nữ tướng này đã sáng tạo ra một trò chơi như là một môn thể thao dân dã Theo trò chơi này thì người ta dùng dây mây đan thành

Trang 28

một quả cầu gọi là quả phết Những người chơi phết chia làm hai phe, cầm gậy ngắn, cố gắng tranh giành quả phết và đánh về phía sân của đối phương Chúng ta có thể hình dung trò chơi này gần giống như môn khúc côn cầu đơn giản trên sân cỏ Có thể nói đây vừa là một môn thể thao, vừa là một trò giải trí có tác dụng rèn luyện sức khỏe và giải phóng thần kinh, nâng cao năng lực hoạt động và chiến đấu cho quân đội Từ tác dụng to lớn ấy mà trò chơi này

đã được phổ biến trong quân đội của Hai Bà Trưng Trong trò chơi ấy thì lúc vui nhất, sôi động nhất là lúc mà quả phết được tung ra giữa sân chơi - lúc ra phết Từ đó xuất hiện một câu ví cửa miệng mà sau này được dùng như một thành ngữ: vui như lúc ra phết!

Tuy nhiên từ vui như lúc ra phết! chuyển thành vui ra phết! và mở rộng

ra hệ thống bổ sung ý nghĩa mức độ có tính chất nhận xct cho tính từ, trạng

từ và động từ cảm nghĩ như trên trong tiếng Việt hiện đại lại là cả một quá trình lịch sử có liên quan đến vấn đề phát triển của ngôn ngữ mà cụ thể là tiếng Việt

Quá trình đó là: Trong ngôn ngữ nói chung và trong tiếng Việt nói riêng luôn luôn tồn tại và hoạt động một dạng thành ngữ được cấu tạo theo nguyên tắc ví von, so sánh

Cụ thể cấu trúc này là:

Tính từ Trạng từ Động từ

+ như +

danh từ động từ

L C - VVới tiếng Hàn Quốc, có cách nói : nhanh như sấm sét, lười như ve sầu, chãm như kiến, chậm như bò, trắng như tuyết, đẹp như lụa, thiện như liên, đẹp như công chúa, hhớn nhác như chó tháng năm, tháng sáu v.v (Người Hàn Quốc cũng ăn thịt chó và đặc biệt là ăn thịt chó nhiều nhất là vào tháng năm, tháng sáu âm lịch Vì vậy thành ngữ này diễn tả trạng thái tâm lý lo sợ, bất an)

Trang 29

Đối với tiếng Việt, vì một đặc trưng của ngôn ngữ tiếng Việt là thường

sử dụng thủ pháp so sánh, ví von nên dạng thành ngữ này được sử dụng rất nhiều : bẩn như ma, cao như núi, thấp như vịt, đẹp như tiên; nghịch như khỉ, ngủ như chết; ăn như rồng cuốn, uống như rồng leo, làm như mèo mửa, vui như hội và vui như mở hội v.v

Từ hệ thống cấu tạo thành ngữ trên chúng ta sẽ thấy một quy luật biến đổi từ cụ thể, giới hạn chuyển thành khái quát, mở rộng: vui như lúc mở hội

=> vui như mở hội => vui như hội Tương tự như vậy chúng ta sẽ có: vui như lúc ra phết => vui như ra phết => vui ra phết Cũng iheo quy luật này mà sự

mở rộng của tính từ vui ra trạng từ và động từ cảm nghĩ để trở thành: đẹp ra phết, nhanh ra phết, buồn cười ra phết v.v đã được hoạt độim

Có thể có ý kiến cho rằng chúng tôi đã hơi xa dề tài Nhưng theo chúng tôi, với góc độ là một người ngoại quốc thì điều này vô cùng thú vị đồng thời lại rất nhân bản và rất đăc thù Việt Nam Đặc thù ấy nhân bản ấy nằm trong phẩm chất vô cùng cao quý của người Việt là luôn luôn trân trọng, nâng niu và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống, kể cả những giá trị rất cổ xưa Điều đáng trân trọng hơn nữa ở đây là ở chỗ đây không chỉ là giá trị lưu giữ từ thời kỳ vô cùng xa xưa (đầu công nguyên) mà còn là lưu giữ những giá trị gắn liền với người Nữ - Hai Bà Trưng và Nữ tướng của Hai Bà Chi tiết này dù rất nhỏ nhưng lại có một giá trị nhân văn và lịch sử rất to lớn, khẳng định vị thế lớn lao của người phụ nữ Kinh đối với hiện thực lịch sử nhiều mặt cũng như trong quan niệm và đời sống tâm linh, tình cảm của cộng đồng Việt

Sau Hai Bà Trưng và các Nữ tướng là Bà Triệu Theo một số tài liệu cổ

sử Trung Hoa như "Nam Việt chí", "Giao Châu kí" (thế kỷ IV, V), "Thái Bình hoàn vũ kí" (thế kỷ X) và theo truyền thuyết cũng như thần tích thì vào năm 246- 248, Bà Triệu đã cùng anh là Triệu Quốc Đạt khởi nshĩa chống quân Ngô Khi Triệu Quốc Đạt mất, Bà được toàn quân tôn làm chủ soái

Trang 30

Cuộc khởi nghĩa đã thu nhiều thắng lợi và mở rộng phạm vi từ Cửu Chân ra Giao Châu [47-24] Quân Ngô rất sợ Bà Triệu và thường nói: "múa giáo đánh

hổ thì dễ, còn đối diện với Bà Vương rất khó" Sử sách Việt Nam cũng như trong dân gian còn lưu truyền một câu nói nổi tiếng của Bà : "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp ngọn sóng dữ, chém cá Kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ cho dân chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người"

Ờ đây điều đáng nói là ở chỗ ngay từ thời ấy, trong quan niệm của quận Ngô, dù với tư thế là kẻ xâm lược, thống trị, dù mang nặne; tư tưởng

"trọng nam khinh nữ" nhưng vẫn phải sợ hãi mà tôn Bà là Bà Vương (vua Bà) Điều đó đã chứng tỏ sự nghiệp to lớn của Bà đối với lịch sử dân tộc, đồng thời cũng phản ánh và khẳng định vị thế đáng kể của người phụ nữ Kinh không chỉ trong cộng đồng mà còn ngay cả đối với kẻ thù

Đáng trân trọng hơn nữa là ngay từ những thế kỷ đầu công nguyên, người phụ nữ Kinh mà tiêu biểu là Bà Triệu đã biết tự xác định cho mình một giá trị bền vững, đích thực và rất nhân bản Đó là giá trị nằm trong lợi ích của quốc gia cộng đồng mà không phải là sự lệ thuộc, phục tùng trong khuôn khổ gia đình, nội trợ Có thể nói rằng chính vì đã biết nhận chân giá trị của mình

từ rất sớm mà sau này người phụ nữ Kinh nói riêng, dân tộc Việt nói chung

đã tạo nên cho mình một đặc thù dường như không thể tìm thấy ở các dân tộc khác (đặc biệt là Trung Hoa và các quốc gia phương Đông) là địa vị cao, địa

vị được cộng đồng ghi nhận và được người phụ nữ tự giác ngộ!

K ế tục truyền thống ấy, người phụ nữ Kinh trong các giai đoạn lịch sử sau này đã luôn luôn tự xác định cho mình một vai trò, một trách nhiệm mang tính lịch sử vô cùng cao cả :

Trang 31

"Em là con gái Bắc Giang Rét thì mặc rét, nước làng em lo"

(Phá Đường) [41-217]

Có một điều vô cùng thú vị là huyền thoại dân gian lưu truyền rằng Bà

Triệu-còn gọi là Triệu Âu - có vú dài ba thước, thường vất vú lên vai khi đánh

giặc Rõ ràng rằng, với chi tiết này nhân vật hiện thực của lịch sử, thông qua

tâm linh đã đi vào huyền thoại Và rõ ràng rằng trong đời sống tâm linh của

người Việt, Bà Triệu đã được dân gian hoá, biểu tượng hoá, siêu nhiên hoá để

hoà nhập vào tín ngưỡng sơ khai nguyên thủy của dân Việt về thiên nhiên, vũ

trụ, nhân sinh- tín ngưỡng về những Bà Mẹ Lớn Với huyền thoại này, sự tồn

tại của Bà Triệu là sự tồn tại vĩnh cửu cùng trời đất, cùng hệ thống Mẹ vừa kỳ

vĩ, vừa gần gũi như : Mẹ Cây, Mẹ Nước, Mẹ Lúa v.v

1.2 ĐỊA VỊ PHỤ NỮ KINH (VIỆT) THỜI KÌ TRƯNG ĐẠI

1.2.1 Sự suy giảm của địa vị người phụ nữ cũng như tình trạng tiêu cực hoá trong quan niệm xã hội vể người phụ nữ.

Như ở phần trên chúng tôi đã trình bày, từ hệ thống truyện thần thoại,

cổ tích, huyền tích v.v của Việt Nam, chúng ta phẩn nào thấy được rằng ý

thức của người dân Việt về người phụ nữ cũng như ý thục của người phụ nữ

Kinh về bản thể tự thân của họ là khá cao ngay từ thời kỳ bình minh của lịch

sử dân tộc Và, về một phương diện nào đó, chúng ta có thể nói rằng chính từ

cái nền của ý thức xã hội về người phụ nữ cũng như ý thức tự thân của người

phụ nữ này mà lịch sử Việt Nam trước giai đoạn 1010 mới có thể có được

những nhân vật Nữ với những vị thế lớn lao, với những giá trị lớn lao trong

tiến trình chung của lịch sử dân tộc như Hai Bà Trưng, Bà Triệu v.v bên

cạnh những ngôi sao sáng khác như Mai Thúc Loan, Triệu Việt Vươn2,

Phùng Hưng, Lý Nam Đ ế v.v Điều này đã lí giải tại sao nếu như so sánh

với lịch sử của Hàn Quốc cùng vào giai đoạn đầu tiên ấy của dân tộc (giai

Trang 32

công nguyên đến đầu thế k ỷ IV sau công nguyên ) thì Hàn Quốc bị hạn chế

sự xuất hiện nhiều những nhân vật lịch sử là người Nữ như Việt Nam Lý do chính là bởi vì, nếu xét từ phương diện huyền tích và huyền thoại chúng ta cũng có thể thấy rằng lịch sử tiền sử cũng như cổ đại của Hàn Quốc, khái niệm ý thức công đồng về địa vị được xác lập tương dối cao của ngirời phụ nữ như ở Việt Nam xuất hiện yếu hơn; và đi đôi với nó, ý thức tự thân của người phụ nữ về bản thân họ trong mối liên hệ với cộng đồng như đối với người phụ

nữ Kinh của Việt Nam cũng phát triển không mạnh bằng

Lịch sử Việt Nam bắt đầu thời kỳ quốc gia độc lập từ năm 938 với sự kiện Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán, giành độc lập dân tộc Tuy nhiên

từ đó đến 1010 thì dù sao đi chăng nữa, xã hội Việt vẫn đang ở giai đoạn còn lưu giữ khá nhiều yếu tố bản địa phần nào còn nguyên sơ của thời kỳ Vãn Lang, Âu Lạc Với sự kiện Ngô Vương Quyển xưng Vương và đóng đô ở c ổ Loa, Việt Nam đã thể hiện quyết tâm kế thừa quốc thống của An Dương Vương và nhà nước Âu Lạc- cái quốc thống hầu như nguyên sơ, bản địa, tự thân Sự kế tiếp của Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành cũng chỉ là trong một giai đoạn quá ngắn, chưa thực sự tạo dựng được một sự ihay đổi về chất nếu xét về tổng thể xã hội

Tuy nhiên, năm 1010, nhà Lý xuất hiện Một sứ mạng vô cùng to lớn

mà lịch sử đặt ra cho dân tộc Việt lúc này là phát triển Nếu như trong suốt ca một thời kỳ dài Bắc thuộc, sứ mạng lịch sử của dân tộc Việt, quốc eia Việt là tồn tại, tồn tại bằng bản sắc của mình trước nguy cơ đổng hoá thì sau năm

938, Việt Nam đã bước vào kỷ nguyên độc lLp; và lúc này (từ sau 1010), trên

cơ sở của cái nền quốc thống từ Ngô Vương Quyền, Đinh Tiên Hoàng, từ kết qủa của sự nghiệp kháng Tống thắng lợi dưới triều Lê Đại Hành, đã xuất hiện

sứ mạng lịch sử to lớn đối với dân Việt Sứ mạng đó là: không phải chỉ tồn tại

Trang 33

độc lập với phương Bắc mà quan trọng hon là phải tồn tại tự cường với phương Bắc Chính vì vậy mà có thể nói rằng lúc này, một đặc trưng rất cơ bản của xã hội Việt là ý thức tự cường, tự tôn dân tộc Nó đã trở thành một cái nền, một cơ sở vững chắc cho tất cả mọi tiến bộ xã hội của Việt Nam vào giai đoạn này Và cũng chính nó đã góp phần tạo dựng những thành tựu lớn lao của công cuộc kiến thiết mọi mặt đất nước cũng như sự phát triển của ý thức dân tộc để kết tinh thành hào khí Đông A trong triều đại nhà Trổn(,).

Như vây, lịch sử đặt ra chữ dân tộc Việt lúc này là tồn tại trong cường thịnh; và tâm lí dân tộc lúc này là tự hào và tự tôn Sứ mạng lịch sử ấy cũng như tâm lí dân tộc ấy đã được phản ánh khá rõ thông qua "Thiên Đô chiếu" (1010) của Lý Thái Tổ Tuy nhiên, để thực hiện được sứ mạng lịch sử này, Việt Nam bắt buộc phải có nhũng thay đổi Những thay dổi ấy chỉ có thể có được từ hai nguồn cơ bản là tự thân và thâu hóa Tự thân là bản sắc truyền thống đã được lưu giữ và phát triển, là những thành tựu từ Ngô Vương Quyền qua Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành Còn thâu hóa tất yếu sẽ là từ những yếu tố tiến bộ của nền văn hóa bên ngoài mà quan trọng nhất chính là từ Trung Hoa và Ân Độ Trong bối cảnh xã hội nói chung của Việt Nam lúc ấy thì một nhu cầu có tính chất cấp bách đối với sự nghiệp phát triển quốc gia chính là nhu cầu về một mô hình nhà nước điều hành và quản lí Như ở trên chúng tôi đã trình bày, sau thời kỳ Ngô Vương Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, mặc dù quốc gia đã độc lập nhưng yếu tố bản địa vẫn còn rất đậm nét, một mô hình nhà nước đảm bảo được sự cường thịnh độc lập với phưonc Bắc vẫn chưa xuất hiện Chính vì vậy mà sau năm 1010, trước sứ mạng lịch

sử lớn lao là cường thịnh, nhà Lý đã thâu hóa những tiến bộ từ phươns Bắc

để thiết lập và phấn đấu xây dựng quốc gia theo mô hình nhà nước phong kiến trung ương tập quyền Chính vì vậy mà, dù muốn hay không thì xã hội Việt Nam từ đây cũng đã bắt đầu chịu ảnh hưởng khá lớn những vấn đề từ nền văn minh Trung Hoa Và như chúng ta đều biết, nhà nước phong kiến

Trang 34

trung ương tập quyền theo mô hình của Trung Hoa cổ đại lại lấy Nho giáo làm nền tảng, làm ý thức hệ xã hội cơ bản và độc tôn Nhà Lý xây dựng quốc gia theo mô hình này, mặc dù quốc giáo là Phật giáo mà không phải là Nho giáo thì dù muốn hay không vẫn bị ảnh hưởng của ý thức hệ Nho giáo Chính

vì vậy m à nếu như trước 1010, địa vị của người phụ nữ Kinh, ý thức xã hội Việt Nam về người phụ nữ, ý thức tự thân của người phụ nữ Kinh về vai trò của mình là tương đối lớn lao và đã được khẳng định thì vào thời gian này, tất

cả những điều đó đã bị giảm xuống một bậc

Nói tóm lại, bước vào giai đoạn 1010, trước nhu cẩu phát triển có tính tất yếu lịch sử là tổn tại tự cường, trước thực trạng tâm lí dân tộc là tự hào tự tôn, nhà Lý với quyết tâm xây dựng Việt Nam trở thành một quốc gia độc lập trong tư thế của một con rồng bay lên (Thăng Long), dã chọn ý Ihức hệ xã hội là phong kiến và chọn nhà nước phong kiến trung ương tập quyền phương Bắc làm mô hình của một nhà nước quản lý điều hành Có thể nói đây là một

sự lựa chọn họp quy luật tự nhiên, xã hội đổng thời cũng hợp với lòng dân Bởi vì, để đạt được mục đích cường thịnh thì trong bối cảnh của Việt Nam nói riêng và phương Đông nói chung lúc ấy, chỉ có mô hình này là tỏ ra thích hợp và tiến bộ Tuy nhiên, về phương diện đời sống tinh thần xã hội thì rõ ràng lấy phong kiến làm mô hình cũng có nghĩa là sẽ phải chịu sự chi phối của ý thức hệ phong kiến mà cụ thể là Nho giáo Điều đó đã dẫn đến tình trạng là dù muốn hay không, trong ý thức chung của xã hội, trong ý thức riêng của bản thể người phụ nữ thì địa vị người phụ nữ cũng đã bị ỄŨảm sút so với thời đại trước; cũng như tình trạng tiêu cực hóa về quan niệm đối với người phụ nữ đã xuất hiện và càng ngày càng phát triển Tuy vậy lịch sử Việt Nam ở giai đoạn đầu của thời kỳ sau 1010 (cụ thể là triều Lv, vì lấy Phật giáo làm quốc giáo nên ít nhất lúc này ý niệm về sự bình đảim và bác ái của Phật giáo kết hợp với dấu ấn còn sâu đậm của chế độ mẫu hệ c ũ n ơ như đặc thù dân chủ chất phác của dân tộc cũng chưa làm cho giũa địa vị người phụ nữ và

Trang 35

người nam giới có một sự cách bức lớn Chính vì thế mà ở giai đoạn lịch sử

này, chúng ta vẫn có thể tìm thấy những nhân vật Nữ kiệt xuất thật sự ở cả vể

sự nghiệp, tài năng, đức độ mà cả dã sử cũng như chính sử đều ghi nhận là Ỷ

Lan Nguyên Phi; hoặc Nữ Vương (mặc dù chỉ tồn tại trong một thời gian

ngắn) là Lý Chiêu Hoàng (Chúng tôi sẽ xin phép quay lại vấn đề Ỷ Lan

Nguyên Phi ở phần sau) Chỉ có sau này (từ triều đại nhà Lê) khi mà Nho

giáo đã trở thành Quốc giáo, cũng có nghĩa là cả mô hình nhà nước, cả ý thức

hệ xã hội, cả tôn giáo đều tuân thủ theo phong kiến thì lúc ấy địa vị của

người phụ nữ Kinh còn bị hạ thấp hơn nữa Nhất là khi Nho giáo đã thực sự

trở thành tôn giáo độc tôn thì sự cách bức giữa địa vị người nam so với người

nữ đã trở nên rất to lớn và người phụ nữ hầu như đã bị biến thành một loại

nô lệ nội gia

1.2.2 Những yếu tô tiến bộ về mặt nhà nước, xã hội đối với người phụ nữ.

Nghiên cứu địa vị người phụ nữ Kinh thời kỳ Truns đại chúng tôi thâv

rằng mầu sắc chung là địa vị, vai trò của người phụ nữ Kinh, quan niệm xã

hội về người phụ nữ, ý thức tự thân của người phụ nữ về vai trò của mình

cũng như những hoạt động và đóng góp thực tiễn của họ đối với lịch sử v.v

# f

tất cả đều bị giảm xuống một bậc so với thời kỳ trước Lý do cơ bản của hiện

tượng này chúng tôi đã có dịp trình bày ở phần trên và hiện thực lịch sử, kể

cả dã sử cũng đã chứng minh tình trạng ấy Suốt cả một thời gian rất dài của

lịch sử Trung đại Việt Nam, chúng ta chỉ có thể điểm được một số lượne rất

ít ỏi các nhân vật Nữ có đóng góp tích cực đối với tiến trình cũng như tiến bộ

của cộng đổng Điểu này chúng tôi xin phép sẽ được trình bày kỹ hơn trong

phần "Một số nhân vật phụ nữ tiêu biểu của thời kỳ Trung đại"

Tuy nhiên như ở phần đầu luận án chúng tôi đã có dịp irình bày, nền

văn hoá Việt Nam mang đậm mầu sắc thái âm và điều đó cũng có nghĩa là

Trang 36

mặc dù bước vào thời kỳ Trung đại, địa vị người phụ nữ đã bị giảm xuống so

với trước kia nhưng nếu nghiên cứu một cách tổng thể theo quan niệm xã hội

học thì địa vị ấy vẫn là một cái gì đó có tính chất đối trọng Giá trị như một

đối trọng này của địa vị người phụ nữ Kinh trong xã hội sẽ càng được bộc lộ

rõ hơn nếu như đặt nó trong mối tương quan với địa vị người phụ nữ Trung

Quốc và Hàn Quốc, hoặc Nhật Bản cũng vào thời kỳ Trung đại Điều đó có

nghĩa là mặc dù suy giảm nhưng trong nội bộ xã hội Việt Nam thời kỳ Trung

đại, người phụ nữ Kinh vẫn được nhìn nhận trong một tương quan tồn tại

đáng kể; và đối ngoại thì sự tồn tại của người phụ nữ Kinh lại là một sự tồn

tại với địa vị tương đối cao so với người phụ nữ Hàn Quốc, Trunc Quốc và

Nhật Bản- những quốc gia chịu sự áp chế nặng nề của Nho giáo độc tôn ngay

từ thời kỳ đầu của thể chế phong kiến Trung đại Sự tồn tại của người phụ nữ

Kinh với tính chất như một đối trọng xã hội trong thời kỳ Trung đại được thể

hiện khá rõ khi chúng ta nghiên cứu về phương diện luật pháp, quy chế cộng

đồng, phong tục tập quán của người Việt ở giai đoạn Trung đại này

1.2.3 Những điều khoản trong luật định về phụ nữ qua một sô Vương triều Trung đại.

Lịch sử phong kiến Trung đại Việt Nam trải qua một thời kỳ dài cho

đến cuối thế kỷ XIX đã tồn tại qua nhiều hình thức Vương triều khác nhau

Dưới mỗi triều đại hoặc ở từng thời kỳ lịch sử, mặc dù nhà nước, chính quyền

địa phương đều có những quy định, quy chế v.v cho việc quản lý và điều

hành, nhưng nhìn chung hoạt động lập pháp của Việt Nam tronLíi thời kỳ

Trung đại vẫn chưa hoàn thiện Văn bản pháp lý đầu tiên mà chúng ta biết

được là "Quốc triều hình luật" Đây có thể nói là một văn bản chính thông và

quan trọng không chỉ đối với triều Lê mà còn đối với cả lịch sử pháp luật

Việt Nam Trung đại nói chung

Trang 37

Xã hội phong kiến Việt Nam sau năm 1010 trải qua các triều đai Lý, Trần, Hồ, mặc dù đã thu được nhiều thành tựu to lớn về các phương diện quân sự, kinh tế, văn học, nhà nước v.v nhưng về phương diện luật pháp thì hầu như hoạt động lập pháp chưa được tiến hành một cách chính thống Các chỉ dụ hoặc thông tri chỉ dẫn chỉ được tồn tại như các vãn bản dưới luật mà không mang tính chính thống pháp luật Vào đầu thế kỷ thứ XV, trên cơ sỏ' thành tựu của cuộc kháng chiến chống Minh thắng lợi; trên cơ sở của nền tảng xây dựng quốc gia theo mô hình nhà nước phong kiến trung ương tập quyền của các triều đại Lý, Trần; trước nhu cầu lịch sử dân tộc cần phải đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp tái thiết và xây dựng quốc gia cường thịnh cũng như nhu cầu tự thân cần xác định, thiết lập ý chí thống trị và quyền thống trị chuyên chính của giai cấp phong kiến mà nhà nước phong kiến Việt Nam triều Lê, mở đầu với Lê Thái Tổ (năm 1428) đã tiến hành những hoạt độnc đồng bộ để xác lập chế độ phong kiến trung ương tập quyền theo chuẩn mực của Nho giáo chính thống Điều đó cũng có nghĩa là từ nền tảng lịch sử, từ nhu cầu lịch sử đối với dân tộc cũng như nhu cầu lịch sử đối với bản thân giai cấp phong kiến quý tộc, nhu cầu lập pháp đã trở nên vô cùng cấp thiết để đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp phát triển dân tộc Vì vậy, triểu đại Lê Sơ đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể về phương diện lập pháp cũng như ban hành điển chế Hệ thống văn bản pháp quy mà triều Lê để lại cho ngày nay khá phong phú Đó là "Luật thư” do Nguyễn Trãi biên soạn (1440-1442); "Quốc triều luật lệnh" do Phan Phu Tiên biên soạn (1440-1442), "Lê triều quan chế" (1471), "Thiên Nam dư hạ tập" (1483), "Hổng Đức thiện chính thư" (1470­1497) v.v [73-91].

Trong số các văn bản pháp luật của triều Lê Sơ thì văn bản quan Irọnc nhất là "Quốc triều hình luật" Theo tác giả Phan Huy Chú trong "Lịch triểu hiến chương loại chí" thì bộ luật này được ban hành vào triều đại Lê Thánh Tông (niên hiệu Hổng Đức- 1483) Bộ luật này cùng với bộ "Hoàng triều luật

Trang 38

lệ" ban hành năm 1815 dưới triều đại Gia Long (còn gọi là luật Gia Long) chính là hai văn bản pháp luật quan trọng nhất trong lịch sử lập pháp Việt Nam thời Trung đại.

Trong khuôn khổ của bản luận án này, chúng tôi xin phép chỉ trình bày những điều khoản có liên quan đến vấn đề người phụ nữ, những mặt tiêu cực

và tích cực của nó về phương diện này như là một trong những bằng chứng lịch sử có tính pháp luật chính thống về quyền hạn, địa vị của người phụ nữ Kinh trong xã hội phong kiến Trung đại cũng như một bằng chứnc, gián tiếp

về quan niệm xã hội nói chung của thời kỳ này đối với người phụ nữ

Khi nghiên cứu văn bản pháp luật thời kỳ Lê Sơ chúng tôi nhận thấy một điều đó là tỷ lệ của những điều khoản quy định có liên quan đến người phụ nữ là một tỷ lệ tương đối lớn Theo sô' liệu thông kô của chúng tôi thì trong số 39 điều niên hiệu Quang Thuận thi hành đã có đến mười điều có liên quan đến người phụ nữ Còn niên hiệu Hổng Đức thì cũne có đến mười điều khoản liên quan đến người ph ỉ nữ trong số 61 cliéu khoản được thi hành [109] Nếu đứng trên phương diện lý thuyết thống kê tần số thì chúng ta sẽ thấy rằng việc xuất hiện những điều khoản có liên quan đến người phụ nữ với một tần số tương đối cao như vậy đã chứng tỏ rằng, bước vào thời kỳ Lê Sơ, mặc dù Việt Nam đã chính thức áp đụn? mô hình nhà nước phong kiến trung ương tập quyền phương Bắc, mặc dù Nho giáo đã trở thành Quốc giáo và điều

đó cũng có nghĩa là người phụ nữ sẽ khó có thể có được một địa vị như trước kia nhưng thực tiễn xã hội cũng như quan niệm xã hội về địa vị người phụ nữ trong một chừng mực nào đó vẫn còn là một đối trọng Điều đó cũng có ngh: a là người phụ nữ cũng như những vấn đề có liên quan đến người phụ nữ thật sự đã trở thành một tổn tại hiện thực của xã hội- một tồn tại mà dù muốn hay không thì nhà nước Nho giáo chính thống vẫn bắt buộc phải quan tâm và

vì vậy mà lâp pháp chính thống bắt buộc phải đề cập đến! không nhữne vậy

mà còn phải đề cập đến với một tỷ lệ tương đối cao trong tổng sô các điểu

Trang 39

khoản Trong khi đó về phương diện pháp luật chính thống, các triều đại Hàn

Quốc thời kỳ Trung đại hầu như đề cập đến vấn đề người phụ nữ rất ít và tinh

thần nói chung là thiếu công bằng và không bảo vệ

Tuy nhiên, tần số xuất hiện dù có quan trọng đến đâu đi chăng nữa thì

cũng không thể thay thế được nội dung trực tiếp của những điều khoản được

quy định trong pháp luật có liên quan đến người phụ nữ Tần số ấy chỉ có giá

trị gián tiếp để suy ra sự tồn tại thực tiễn của hiện tượng và Iĩiối quan tâm xã

hội đối với hiện tượng đó Muốn biết giá trị tiến bộ, nhân văn hay lạc hậu thì

điều cốt yếu là phải tìm hiểu nội dung cụ thể của những điều khoản này

Khi nghiên cứu "Thiên Nam dư hạ tập" chúng tôi nhận thấy triều đại

phong kiến thời Lê Sơ đã ban hành và thực thi nhiều điều khoản có quan hệ

trực tiếp đối với quyền hạn, nghĩa vụ, lợi ích của người phụ nữ Có thể nói

rằng trên hầu hết các phương diện của hoạt động thực tiễn cũng như tinh thẩn

và quan hệ cộng đồng có liên quan đến người phụ nữ, luật pháp thời Lê Sơ

đều đề cập Có thể liệt kê những điều khoản chính như sau: lệnh về phụ nữ đã

xuất giá được miễn vào cửa quan, lệnh về ngục quan giúp phụ nữ gian trong

vụ kiện, lệnh cấm phụ nữ phản bội chồng, nam giới gian dâm vợ người, lệnh

cấm uống thuốc đọa thai, cấm dạy nói điêu, lệnh về việc mắng vợ quan chức

và cấm trêu chọc đùa cợt, lệnh về việc gả con o;ái chưa kịp cưới mà con trai

mang bệnh xấu, lệnh về việc thông gia và điều lệnh về tài sản ruộng đất v.v

Nhìn chung, về phương diện pháp luật của các triều đại thời Lê Sơ có

thể rút ra một số kết luận như sau:

- Từ sự liệt kê như trên, chúng ta thấy rằng về hầu hết các phươnc diện

cơ bản trong đời sống thực tiễn cũng như tinh thần, tình cảm và ý thức xã hội

cộng đồng có liên quan đến người phụ nữ, pháp luật thời Lê Sơ đã có sự quan

tâm quy định và xử lý Điều đó chứng tỏ một điều là trong quan niệm có tính

chất xã hội, người phụ nữ Kinh thời Lê Sơ mặc dù đã thấp hơn so với trước

Trang 40

kia nhưng vẫn được nhìn nhận với một tư cách của một thực thể tồn tại xã

hội, một thực thể hoạt động xã hội không thể không đề cập đến

- Những điều khoản có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến người phụ nữ trong luật pháp thời Lê Sơ chủ yếu được xây dựng trên cơ sở của một

số phương diện cơ bản như sau: hạt nhân trung tâm là giáo lý phong kiến có

tính chất điển chế; bên cạnh đó là phong tục tập quán mang tính truyền Ihống

dân tộc về phép ứng xử cộng đồng, mối quan hộ cộng clổng, cơ cấu tổ chức

cộng đồng, đặc trưng tâm lý cộng đổng v.v ; đồng thời cũng dựa trên cơ sở

của đặc trưng truyền thống sinh hoạt, phương thức canh tác và kiếm sống của

dân tộc Theo "Thiên Nam dư hạ tập" thì niên hiệu Quang Thuận năm thứ

tám (1467) đã ban hành điều lệ: "Quan lại để tang mẹ đẻ đã đi lấy chồng bị

chết Kính xét trong Kinh Lễ, mẹ đã đi lấy chồng thì không phải để tang

Lệnh cho các nơi đều y theo Kinh Lễ" [109-218] Từ lệnh trên chúng ta thấy

rằng đã tồn tại một hiện thực ứng xử mang tính truyền thống iâu đời của dân

tộc Việt là "để tang mẹ đẻ đã đi lấy chồng bị chết", úhg xử này nằm trong

đặc trưng của bản sắc thái âm của văn hoá Việt nghiêng về cội nguồn Mẹ,

liên hệ chặt chẽ với cội nguồn Mẹ Nhưng mặt khác chúng ta cũng thấy rằng

từ sau thế kỷ thứ XV, vương triều phong kiến Việt Nam đã lấy Nho giáo làm

quốc giáo và vì vậy đã "lệnh cho các nơi đều y theo Kinh Lễ", "không phải

để tang" mẹ đẻ đã đi lấy chổng mà bị chết Từ đó chúng ta thấy một mặt điều

khoản trên đã phản ánh truyền thống dân tộc, mặt khác nó cũng lại lấy tinh

thần giáo lý Nho giáo làm tiêu chuẩn để quy định ứng xử của các thành viên

trong cộng đồng Tuy nhiên giữa lập pháp và thực thi pháp luật lại là cả một

vấn đề! Như ở trên chúng tôi đã nói, việc để tang mẹ đẻ đã đi lấy chồng mà

bị chết là thuộc về bản sắc thái âm nghiêng về cội nguồn Mẹ của người Việt

Vì vậy quy định này một mặt chỉ mang tính chất luật pháp đối với quan lại

(thuộc cơ tầng văn hoá bác học) mà không mang tính chất pháp luật đối với

dân gian, mặt khác cũng khó có thể được thực thi một cách thực tế Theo chỗ

Ngày đăng: 12/03/2021, 19:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]- Toan Anh. Phong tục Việt Nam, nếp cũ gia đình (tập II), Nxb. Thanh niên, H. 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục Việt Nam, nếp cũ gia đình
Nhà XB: Nxb. Thanh niên
[2]. Toan Ánh. Nếp cũ, tín ngưỡng Việt Nam (quyển thượng), Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh. 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ, tín ngưỡng Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh. 1992
[3]. Toan Ánh. Nếp cũ, tín ngưỡng Việt Nam (quyển hạ), Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh. 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ, tín ngưỡng Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh. 1992
[4]. Toan Ánh. Nếp cũ hội hè đình đám (quyển thượng), Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh. 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ hội hè đình đám
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh. 1992
[5]. Toan Ánh. Nếp cũ hội hè đình đám (quyển hạ), Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh. 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ hội hè đình đám
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh. 1992
[6]. Toan Ánh. Nếp cũ con người Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh.1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ con người Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh.1992
[7]. Toan Ánh. Nếp cũ làng xóm Việt Nơm, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh.1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ làng xóm Việt Nơm
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh.1992
[8]. Phan Thuận An. Kỉêh trúc cô'đô Huế. Nxb. Thuận Hóa. Huế 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỉêh trúc cô'đô Huế
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa. Huế 1994
[9]. Trần Thị Vân Anh- Lê Ngọc Hùng. Phụ nữ giới và phát triển, Nxb. Phụ nữ, H. 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ giới và phát triển
Nhà XB: Nxb. Phụ nữ
[10]. Vương Thừa Ân. Phòng và chữa bệnh bằng món ăn hàng nqày. Nxb. Tổng họp Đồng Tháp. 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và chữa bệnh bằng món ăn hàng nqày
Nhà XB: Nxb. Tổng họp Đồng Tháp. 1995
[11]. Lê Văn Ba. Chử Đồng Tử- Tiên Dung- Vùng đất con người , Nxb. Văn hóa thống tin. 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chử Đồng Tử- Tiên Dung- Vùng đất con người
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thống tin. 1994
[13]. Mai Huy Bích. Đ ặc điểm đồng bằng sông H ỏng, Nxb. Văn hóa thôrm tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đ ặc điểm đồng bằng sông H ỏng
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thôrm tin
[16]. ĐỖ Thuý Bình. Hôn nhân và gia đỉnh các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt N a m , Nxb. Khoa học xã hội, H. 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân và gia đỉnh các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt N a m
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
[17]. Phan Kế Bính. Việt Nam phong tục, Nxb. Tổng hợp Đồng Tháp. 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp Đồng Tháp. 1990
[18]. Nguyễn Đình Bưu. Xung quanh sự tích hoànẹ tử Lý Long Tường ở nước ngoài. Nxb. Văn hóa thông tin Hà Bắc. 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xung quanh sự tích hoànẹ tử Lý Long Tường ở nước ngoài
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin Hà Bắc. 1994
[19]. Ban Nông nghiệp Trung ương. Kinh tế- x ã hội nônẹ thôn Việt Nam ngày nay (tập I), Nxb. Tư tưởng- Vãn hóa, H. 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế- x ã hội nônẹ thôn Việt Nam ngày nay
Nhà XB: Nxb. Tư tưởng- Vãn hóa
[20]. Báo cáo quốc gia lần II về tình hình thực hiện cony ước Liên hợp quốc xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Cedaw), Nxb. Phụ nữ, H.1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quốc gia lần II về tình hình thực hiện cony ước Liên hợp quốc xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Cedaw)
Nhà XB: Nxb. Phụ nữ
[21]. Báo Nhân dân s ố Tết. 1999.[22]. Báo Tiếng dân số 1304 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Nhân dân s ố Tết." 1999.[22]. Báo "Tiếng dân
[23]. Hà Văn Cầu. Phong tục cưới ẹả Việt Nam, Nxb. Hội nhà văn, H. 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục cưới" ẹả "Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Hội nhà văn
[24]. Hoàng Hổng cẩm . Bà Chúa Kho Thành H oàn ẹ lànẹ Gidng Vỗ, Nxb. Văn hóa dân tộc, H. 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bà Chúa Kho Thành H oàn"ẹ "lànẹ Gidng Vỗ
Nhà XB: Nxb. Văn hóa dân tộc

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w