- Giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ đang yêu: nỗi nhớ, lòng thủy chung son sắt và khát vọng dâng hiến cho tình yêu qua hình tượng “sóng”2. - Nhận thấy được đặc [r]
Trang 1Người soạn: Vũ Thị Kim Ngân
Ngày soạn:
Lớp dạy: 12A…
I Mục tiêu bài dạy
1 Về mặt kiến thức
- Giúp học sinh nắm được những kiến thức cơ bản về tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh ra đời, xuất xứ, ý nghĩa nhan đề của bài thơ
- Hiểu được tác giả mượn những trạng thái của sóng để nói lên tâm trạng, tính cách và cả những cung bậc cảm xúc của người phụ nữ trong tình yêu
2 Về mặt kĩ năng
- Biết kĩ năng đọc – hiểu một bài thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại
- Rèn cho học sinh kĩ năng cảm thụ thơ
II Chuẩn bị
1 Đối với giáo viên: Sách giáo khoa, sách giáo viên, giáo án, tài liệu tham
khảo
2 Đối với học sinh: Sách giáo khoa, vở soạn.
III Tiến trình bài dạy
1 Ổn định lớp
2 Kiểm tra bài cũ
Câu hỏi: Em hãy đọc thuộc lòng 9 câu thơ đầu của bài thơ “Đất nước” của
nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm và nêu khái quát nội dung chính của đoạn thơ này
3 Dạy bài mới
Lời vào bài
Đại văn hào Pháp Vich-to Huy-go đã từng khẳng định: “Cuộc đời là bông hoa và tình yêu là mật ngọt” Từ thuở xa xưa mông muội cho đến hiện đại ngày
Trang 2hôm nay, tình yêu mãi là đề tài vĩnh cửu cho người nghệ sĩ sáng tạo và làm thơ Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, nếu như Xuân Diệu được tuổi trẻ xưng tụng là “ông hoàng” của thơ tình thì có thể coi Xuân Quỳnh chính là “nữ hoàng” của thơ tình yêu Vậy tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh có đặc điểm gì nổi bật, hôm nay chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu bài thơ được coi là tiêu biểu nhất của hồn
thơ Xuân Quỳnh – bài thơ “Sóng”.
Hoạt động của GV Hoạt động
của HS Nội dung cần đạt
Hoạt động 1: Hướng dẫn
học sinh tìm hiểu tác giả,
tác phẩm
- GV gọi HS đọc phần tiểu
dẫn SGK trang 154? GV yêu
cầu 1 HS trình bày khái quát
về tác giả Xuân Quỳnh?
(GV nói kĩ hơn)
GV: hãy nêu hoàn cảnh sáng
tác và xuất xứ của bài thơ?
(GV nói thêm về hoàn cảnh
chung: Bài thơ ra đời trong
những năm cuộc kháng
chiến đang bước vào giai
đoạn cam go, ác liệt,…
=> thấy được khao khát của
người con gái trong tình yêu
- Hoàn cảnh riêng (nói
HS đọc
HS trình bày, bổ sung
và ghi ND chốt lại của GV
HS trình bày, bổ sung, ghi
I Tìm hiểu chung
1 Tác giả
- Quê hương: La Khê – Hà Đông cũ bình yên và thơ mộng
- Gia đình: không được chăm sóc từ người mẹ nên Xuân Quỳnh hiểu tình mẫu
tử thiêng liêng
- Đặc điểm bản thân: khát khao tình yêu nhưng lại lận đận trên con đường tình
- Đặc điểm hồn thơ: tiếng nói tâm hồn của người phụ
nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn tha thiết trong khát khao hạnh phúc đời thường
2 Tác phẩm
a Hoàn cảnh sáng tác và xuất xứ
- Bài thơ được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế tại vùng biển Diêm Điền – Thái Bình Bài thơ ra đời khi mà nhà thơ đã phải nếm trải những đổ vỡ trong tình yêu
Trang 3thêm): “Lần ấy Quỳnh về
Diêm Điền – Thái Bình, đạp
xe nhìn biển mãi rồi tứ thơ
cũng hình thành Đạp ngay
về trong cơn mưa, 20 cây số
đường đất, xe đạp lúc dắt lúc
đi xiêu vẹo cả người, có lúc
ngã sấp mặt xuống đất,
người như mê man đi nhưng
không phải mê man vì mưa
gió mà vì bài thơ đang làm
dở”)
- GV: Em hãy nêu bố cục
của bài thơ và ý nghĩa từng
phần?
(HS đọc tác phẩm ở nhà,
mời 1 HS đọc lại và yêu cầu
HS chia bố cục và nêu nội
dung khái quát từng phần)
GV: Em hãy nêu ý nghĩa của
hình tượng sóng? (Ý nghĩa
nhan đề)
(GV liên hệ: Hình tượng
sóng tình trong thơ ca khá
nhận phần chốt lại của GV
HS trình bày
- In trong tập “Hoa dọc
chiến hào” (1968)
b Bố cục: 3 phần
- Phần 1: Hai khổ thơ đầu: Xuân Quỳnh mượn hình ảnh sóng để liên tưởng đến tình yêu và tâm hồn của người phụ nữ đang yêu (Sóng và tình yêu)
- Phần 2: 5 khổ thơ tiếp theo:
Xuân Quỳnh mượn sóng để nói về tâm hồn của người phụ nữ đang yêu (Tình yêu
và nỗi nhớ)
- Phần 3: Còn lại:
Suy tư về thời gian và khát vọng dâng hiến cho tình yêu (Khát vọng trong tình yêu)
c Ý nghĩa nhan đề
- “Sóng”: ngắn gọn, giản
dị nhưng hàm ẩn và gợi mở
- Sóng: + Sóng biển + Sóng tình
Trang 4quen thuộc, ca dao:
“Bao giờ cho sóng bỏ ghềnh
Cù lao bỏ bể anh mới đành
bỏ em”
hay Xuân Diệu:
“Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ thật êm
Hôn êm đềm, mãi mãi
Đã hôn rồi hôn lại
Cho đến mãi muôn đời
Đến tan cả đất trời
Anh mới thôi dào dạt”
So sánh:
- Sóng Xuân Diệu, ca dao
mang mãnh lực của đàn ông
si tình
- Sóng Xuân Quỳnh ẩn dụ
cho “Em”)
Hoạt động 2: Hướng dẫn
HS đọc – hiểu văn bản
- GV: Mở đầu bài thơ, tác
giả đã sử dụng những hình
ảnh gì để nói về sóng? Điều
đó có gì đặc biệt?
(GV nói thêm về cách sử
dụng từ “và” chứ không phải
“mà”
+ “mà”: chuyển hóa trong
nhau
+ “và”: tồn tại độc lập, bổ
sung cho nhau)
GV: Qua đó, nhà thơ muốn
HS trình bày
và ghi nhận phần chốt lại của GV
HS trình bày, bổ sung
Sóng ẩn dụ cho cái tôi Xuân Quỳnh “sóng” và “em” lúc phân đôi để soi chiếu vào nhau, lúc lại hòa nhập làm một “sóng” và “em” tuy 2 nhưng là 1 như nốt nhạc của bản hòa tấu du dương giúp Xuân Quỳnh hát lên những cung bậc của tình yêu
II Đọc – hiểu văn bản
1 Hai khổ thơ đầu: Sóng
và tình yêu
- Cung bậc phong phú, trạng thái đối cực phức tạp đầy bí ẩn và nghịch lí của nhân vật trữ tình
+ Hình ảnh đối lập, NT đối lập song hành
Dữ dội – dịu êm
Ồn ào – lặng lẽ
Sóng luôn tồn tại những trạng thái quen thuộc tưởng chừng như đối lập: dữ đấy rồi lại êm, ồn đấy rồi lại
Trang 5gửi gắm điều gì?
GV: Bản thân sóng cũng
không lí giải nổi tại sao lại
tồn tại những tính cách như
vậy Theo đó, 2 câu thơ sau
như một cách giãi bày của
nhà thơ khi nói về khát vọng
tự nhận thức của sóng:
“Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể.”
GV: Em có nhận xét gì về
hành trình của sóng?
GV: 4 câu thơ mở đầu bài
“Sóng”, không có thi liệu
nào nói về tình yêu cả nhưng
đọc lên ta thấy bao trùm lên
khổ thơ là cảm xúc yêu
đương bởi con sóng ở đây ẩn
dụ cho “em”, cho trái tim
của người phụ nữ đang yêu
GV: Thực chất XQ muốn
gửi gắm khao khát gì của trái
HS trả lời
HS trả lời
lặng
Trạng thái tâm lí khác thường của người phụ nữ đang yêu tràn đầy biến động phức tạp, lúc sôi nổi, tha thiết, chân thành mãnh liệt; lúc trầm tư, sâu lắng
+ Tương quan “sông – bể” vẽ ra 1 hành trình nhận thức:
“sông”: hữu hạn, chật hẹp
“bể”: bao la, rộng lớn, vô cùng
- Khát vọng vươn ra xa, thoát khỏi những gì nhỏ hẹp, chật chội, tầm thường của nhân vật trữ tình
Từ “sông” đến “bể”, sóng đã làm 1 hành trình từ cái hữu hạn đến cái vô cùng Sóng dứt khoát chối bỏ cái chật chội, tù túng để đến với trời nước bao
la, khoáng đạt, vĩnh hằng
Trang 6tim người phụ nữ đang yêu?
(GV: Trái tim người phụ nữ
đang yêu cũng giống như
sóng đó, có thể lúc dữ dội,
mạnh mẽ, có lúc lại dịu êm,
hiền hòa Đây là một nhận
thức táo bạo mà vẫn đáng
yêu bởi dẫu có “dữ dội”, “ồn
ào” đến đâu, sóng vẫn không
mất đi bản chất lặng lẽ, dịu
êm như người phụ nữ Á
Đông hiện đại mà vẫn giữ
được nét đằm thắm, trữ tình
và tình yêu cũng giống như
song đó, luôn mang trong
mình những khát khao lớn
lao, vĩnh cửu như ở một bài
thơ khác, XQ đã từng giải
thích:
“Vì tình yêu muôn thưở
Có bao giờ đứng yên”)
- GV: Và từ câu chuyện
sóng tồn tại bất diệt với đại
dương thì tình yêu là chuyện
muôn đời của con người
Khổ thơ thứ hai như lời dẫn
về điều đó
GV: Em thấy có điều gì đặc
biệt trong khổ thơ thứ hai
này?
HS trả lời
HS trả lời
Khao khát vượt khỏi tình yêu cá nhân chật hẹp đối với tình yêu cuộc đời rộng lớn để khẳng định mình, tự nhận thức về mình
- Sóng tồn tại với đại dương và tình yêu tồn tại với con người
+ “Ngày xưa”: thời gian trong quá khứ không xác định
+ “Ngày sau”: là tương lai không giới hạn
Trang 7GV: Nhà thơ nước Đức,
Hen-rich Hai-nơ có tứ thơ dí
dỏm nhưng rất sâu sắc khẳng
định sự bất diệt của tình yêu:
“Ta đi chôn tình yêu
…
Ta đang sống đây mà”
Có lẽ vì thế mà ông hoàng
thơ tình Xuân Diệu mới viết:
“Hãy để cho trẻ con
Nói cái ngon của kẹo
Hãy để tuổi trẻ
Nói hộ tình yêu”.
+ “Vẫn thế”: không thay đổi
Sóng biển vẫn tồn tại bất diệt với đại dương, cũng như tình yêu tồn tại bất diệt với con người, đặc biệt là
“ngực trẻ”
IV Củng cố - dặn dò
1 Củng cố
- GV chốt lại kiến thức cần nhớ về tác giả Xuân Quỳnh, hoàn cảnh ra đời, xuất xứ của bài thơ
- Nhấn mạnh mượn “Sóng” để liên tưởng đến tình yêu và tâm hồn của người phụ nữ đang yêu
2 Dặn dò
Đọc và chuẩn bị các khổ thơ tiếp theo
Trang 8Người soạn: Vũ Thị Kim Ngân
Ngày soạn:
Lớp dạy: 12A…
I Mục tiêu bài dạy
1.Về mặt kiến thức
- Giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ đang yêu: nỗi nhớ, lòng thủy chung son sắt và khát vọng dâng hiến cho tình yêu qua hình tượng “sóng”
- Nhận thấy được đặc sắc nghệ thuật trong xây dựng hình tượng ẩn dụ, giọng thơ tha thiết, sôi nổi, nồng nàn, nhiều suy tư, trăn trở
2 Về mặt kĩ năng
- Biết kĩ năng đọc – hiểu một bài thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại
- Rèn cho học sinh kĩ năng cảm thụ thơ
II Chuẩn bị
1 Đối với giáo viên: Sách giáo khoa, sách giáo viên, giáo án, tài liệu
tham khảo
2 Đối với học sinh: Sách giáo khoa, vở soạn.
III Tiến trình bài dạy
1 Ổn định lớp
2 Kiểm tra bài cũ
Câu hỏi: Em hãy nêu khái quát những nét chính về tác giả Xuân Quỳnh,
và nêu hoàn cảnh ra đời và xuất xứ của bài thơ “Sóng”.
3 Dạy bài mới
Lời vào bài:
Trang 9Như chúng ta đã tìm hiểu trong bài trước, thơ tình của Xuân Quỳnh thể hiện tiếng nói tâm hồn của người phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn khao khát hạnh phúc đời thường Vậy điều
đó được thể hiện như thế nào, bài hôm nay chúng ta sẽ cùng tìm hiểu nốt những
khổ thơ còn lại trong bài thơ “Sóng” để hiểu rõ hơn về tình yêu trong thơ Xuân
Quỳnh
Hoạt động của GV Hoạt động
của HS
Nội dung cần đạt
GV: Khát khao lí giải được cội
nguồn của tình yêu được tác giả thể
hiện như thế nào?
GV: Hiện tượng sóng không đủ để
nhà thơ giãi bày khát vọng -> Xuân
Quỳnh đã bộc bạch trực tiếp qua
nhân vật “em”…
Đáng yêu biết bao nhiêu cái lắc đầu
nhè nhẹ ấy bởi tình yêu là câu
chuyện của trái tim, không thể dung
HS trả lời
2 Năm khổ thơ tiếp theo:
Tình yêu và nỗi nhớ
* Khổ 3,4: Sóng và tình yêu
- “Em” xuất hiện -> chứng
tỏ cảm xúc mãnh liệt
- Câu hỏi về nguồn gốc của sóng: “Từ nơi nào sóng lên?” – câu hỏi có vẻ giản dị nhưng mang tầm vóc triết luận vũ trụ lớn lao
- Câu hỏi dồn dập như những con sóng nối tiếp đến
vô cùng, miên man không dứt -> đưa suy nghĩ con người đến vô tận
- Lời bộc bạch dễ thương:
“Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau”
Câu thơ tựa như cái lắc đầu nũng nịu của “em” Chính sự bất lực không có câu trả lời ấy góp phần kì ảo hóa tình yêu, làm cho tình yêu trở nên lung linh, bất tử
Trang 10lí trí tỉnh táo để xác định thời điểm
chính xác của mối tình
GV: Sang đến khổ thơ thứ 5, Xuân
Quỳnh liên tưởng đến nỗi nhớ bởi
yêu và nhớ là hai mặt của tình yêu
GV: Nếu sóng là sự sống của đại
dương thì nỗi nhớ là sự sống của
tình yêu Liên hệ với ca dao:
“Đêm nằm lưng chẳng tới
giường
Trông cho mai sáng ra đường
gặp anh”
Hay:
“Nhớ ai bổi hổi, bồi hồi
Như đứng đống lửa, như ngồi
đống than”
Xuân Diệu – kẻ uống tình yêu dập
cả môi đã bày tỏ nỗi nhớ trong thơ:
“Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình, anh
nhớ ảnh,
Anh nhớ em, anh nhớ lắm, em
ơi!”.
GV: Vậy nỗi nhớ trong tình yêu
được thể hiện như thế nào trong khổ
thơ này?
GV: “Cả trong mơ còn thức” thật
thà và mãnh liệt quá chăng bởi cùng
thời đại, vẫn còn những người dùng
“thương thầm” để làm sứ giả tình
yêu:
“Cô gái như chùm hoa lặng lẽ
HS trả lời
* Khổ 5: Nỗi nhớ
- Khám phá sáng tạo ở 2 chiều:
+ Không gian (trên mặt nước – dưới lòng sâu)
+ Thời gian (ngày – đêm)
Sóng luôn thao thức nỗi nhớ bờ Thán từ “ôi” -> câu thơ bồi hồi cảm xúc -> Chính là nỗi nhớ của “em” dành cho “anh”
- Mượn sự phi lí của ngôn
từ để diễn tả cái có lí của con tim:
“Cả trong mơ còn thức”
Thời gian sinh hoạt
Trang 11Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu”
(Phan Thị Thanh Nhàn)
GV: Trạng thái “trong mơ còn
thức” ta còn có thể hiểu là thức
không chỉ để nhớ mà còn để canh
giữ tình yêu – đó là những dự cảm
âu lo của 1 trái tim người phụ nữ
khao khát yêu thương nhưng lại có
quá nhiều những trải nghiệm cay
đắng
Như vậy, những lo âu, trăn trở
luôn là sự ám ảnh quen thuộc trong
thơ Xuân Quỳnh
GV liên hệ ca dao:
“Thuyền về có nhớ bến chăng?
Bến thì một dạ khăng khăng đợi
thuyền.”
Hay:
“Những người vợ nhớ chồng còn
góp cho đất nước núi Vọng Phu,
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên
hòn Trống Mái.”
(Nguyễn Đình Thi)
Sự mất tín hiệu của lí trí tỉnh táo
khi đang yêu:
“ Lá này là lá xoan đào
Tương tư gọi nó thế nào hở anh ”
(Phương hướng – liên hệ thơ Thúy
Bắc
“Rợp trời thương
Màu xanh suốt
Em nghiêng hết
Về phương anh.”
GV: Liên hệ đến câu nói của 1 nhà
văn Colombia, người từng đạt giải
Nobel văn học: “Con bướm phải
của con người bị giới hạn bởi ngày đêm, thức – ngủ nhưng trong tình yêu đã phá với mọi giới hạn
* Khổ 6: Lòng thủy
chung trong tình yêu
- Đề tài thủy chung là đề tài quen thuộc (liên hệ ca dao)
Xuân Quỳnh khi nói về lòng thủy chung lại mượn phương hướng – 1 cách nói sáng tạo
- Mượn cách nói ngược với điều thường: “xuôi Bắc – ngược Nam” – 1 cách nói
lạ hóa – sự mất tín hiệu của
lí trí tỉnh táo -> cảm xúc mãnh liệt và
Trang 12mất 180 triệu năm mới có thể cất
cánh lên được và loài người cũng
mất ngần ấy năm mới biết khóc, biết
cười cho tình yêu” Hóa ra có 1 thứ
được gọi là văn hóa và biểu hiện
văn hóa trong tình yêu – đó là phẩm
chất thủy chung mà Xuân Quỳnh
nói đến ở khổ thơ thứ 6
GV: Em hãy nêu khái quát điều mà
tác giả muốn gửi gắm trong khổ thơ
thứ 7 này?
(GV: Thông thường: “Dù muôn
vời cách trở - Con nào chẳng tới
bờ”, ý thơ sẽ gọn hơn, sự khẳng
định sẽ chắc chắn, đầy lí trí và tạo
ra 1 kết thúc có hậu, bình ổn
Nhưng Xuân Quỳnh lại chọn kết
cấu đảo:
“Con nào chẳng tới bờ - Dù muôn
vời cách trở”
Niềm tin sâu sắc mà vẫn
mong manh, niềm tin mãnh liệt,
chân thành vào đích đến cuối cùng
như có thêm dư vị đắng cay của sự
nếm trải Niềm tin, nghị lực quyết
tâm ấy của Xuân Quỳnh có sự đồng
điệu với người xưa:
“Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo
Ngũ lục sông cũng lội, thất bát
đèo cũng qua”
HS trả lời
cảm xúc đó chính là lòng thủy chung son sắt, chỉ hướng về 1 phương – phương anh (thơ Thúy Bắc)
* Khổ 7
- Láy lại ý của khổ thơ thứ
6 và củng cố niềm tin, nghị lực trong tình yêu
- Khái quát quy luật tất yếu của sóng biển: luôn tan mình trên bờ bãi
- Nghệ thuật đảo tinh tế:
“Con vào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở”
Hồn thơ mãnh liệt, có
vị đắng của sự nếm trải