1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyền hình thực tế cho nhóm đối tượng yếu thế trên sóng truyền hình tây nam bộ khảo sát đài ptth tiền giang vĩnh long đồng tháp

115 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vận dụng đặc điểm của Truyền hình thực tế THTT - một thể loại chương trình truyền hình miêu tả chân thực những tình huống, hoàn cảnh và sự kiện không sắp đặt trước trong kịch bản, nhân v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÂM KIM PHƯƠNG

TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ CHO NHÓM ĐỐI TƯỢNG YẾU THẾ TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH TÂY NAM BỘ

(Khảo sát Đài PTTH Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Vĩnh Long-2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÂM KIM PHƯƠNG

TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ CHO NHÓM ĐỐI TƯỢNG YẾU THẾ TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH TÂY NAM BỘ

(Khảo sát Đài PTTH Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp)

Chuyên ngành: Báo chí học định hướng ứng dụng

Mã số: 8320101.01 UD

Chủ tịch hội đồng chấm luận văn Người hướng dẫn khoa học

PGS TS Vũ Văn Hà PGS.TS Nguyễn Ngọc Oanh

Vĩnh Long-2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân, dưới sự hướng

dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Ngọc Oanh Các số liệu, thông tin và kết quả được

nêu trong luận văn rõ ràng và trung thực

Lâm Kim Phương

Trang 5

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU - 5

1 Lý do chọn đề tài: - 5

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề: - 6

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài: - 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - 13

5 Phương pháp luận nghiên cứu - 13

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài - 15

7 Kết cấu của luận văn - 15

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THTT VÀ NYT - 16 1.1 Khái quát về THTT - 16

1.2 Khái quát về NYT - 20

1.3 Mối quan hệ giữa THTT và NYT tại Việt Nam - 26

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 - 38

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH TTHTT VỀ NYT TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH TÂY NAM BỘ HIỆN NAY - 39

2.1 Tổng quan về Đài PTTH Vĩnh Long, Đồng Tháp, Tiền Giang - 39

2.2 Định hướng phát triển chương trình thực tế về NYT của Đài PTTH Vĩnh Long, Đồng Tháp, Tiền Giang - 44

2.3 Khái quát một số chương trình THTT về NYT trên sóng của truyền hình Tây Nam bộ - 47

2.4 Về định dạng format, khung chương trình, phương thức sản xuất, nội dung và hình thức thể hiện - 54

2.5 Đánh giá thành công, hạn chế và nguyên nhân của các chương trình THTT về NYT trên sóng truyền hình Tây Nam bộ - 66

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 - 73

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH THTT CHO NHÓM ĐỐI TƯỢNG YẾU THẾ TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH TÂY NAM BỘ - 74

Trang 6

3.1 Những yêu cầu đặt ra đối với sự phát triển THTT ở các đài truyền hình khu

vực Tây Nam bộ - 74

3.2 Bài học kinh nghiệm trong thực tiễn sản xuất chương trình THTT cho NYT tại Việt Nam - 75

3.4 Một số khuyến nghị đối với đài truyền hình địa phương khu vực Tây Nam bộ - 87

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 - 89

C PHẦN KẾT LUẬN - 90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO - 92

PHỤ LỤC - 92

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

PTTH : Phát thanh truyền hình ASXH : An sinh xã hội

THTT : Truyền hình thực tế

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Thống kê số tiền hỗ trợ của các chương trình THTT về NYT của Đài PTTH Vĩnh Long đến năm 2019 - 49 Bảng 2.2: Số lượng chương trình truyền hình thực tế về người yếu thế sản xuất trong năm - 56 Bảng 2.3: Liệt kê các nguồn thực hiện các chương trình THTT về NYT của Đài PTTH Vĩnh Long - 61 Biểu đồ 2.4: Các yêu cầu cần có của một chương trình thực tế hấp dẫn 63 Biểu đồ 2.5: Phương pháp đánh giá hiệu quả chương trình THTT - 64

Bảng 2.6: Thời gian phản hồi comment trên fanpage của các đài PTTH

Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp - 65 Biểu đồ 2.7: Ưu điểm của THTT - 67 Bảng 2.8: Lý do khán giả chưa hài lòng về CT thực tế NYT của PTTH Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp - 69 Biều đồ 2.9: Hạn chế của chương trình THTT về NYT của Đài PTTH Vĩnh Long, Tiền Giang, Đồng Tháp - 71 Bảng 3.1: Phong cách THTT tại VTV 6 - 82 Biểu đồ 3.2: Giải pháp nâng cao chất lượng chương trình THTT - 86

Trang 9

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Cuộc sống hiện đại đem lại cho con người ngày nhiều tiện nghi sống nhưng cũng đang đặt ra những vấn đề xã hội bức xúc: môi trường ô nhiễm, bệnh tật, thiên tai, thất nghiệp, nghèo đói Xã hội ngày nay đang rất quan tâm tới việc bảo

vệ những người bị tổn thương, thiệt thòi, người yếu thế (NYT) do hậu quả của các nguy cơ này gây ra Đại bộ phận các quốc gia trên thế giới đều tổ chức các hoạt động, cơ chế, chính sách nhằm ngăn ngừa, quản lý những khó khăn, giúp con người vượt qua khó khăn Nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội (Disadvantaged group) bao gồm người nghèo, người khuyết tật, người có hoàn cảnh khó khăn, nạn nhân chiến tranh, bệnh nhân nhiễm HIV, người thuộc cộng đồng Đồng tính, song tính và chuyển giới đang chịu sự kỳ thị và khả năng hòa nhập xã hội

Người yếu thế là đối tượng thụ hưởng của cac chương trình chính sách an sinh xã hội Đặc biệt, đối với hoạt động báo chí thì người yếu thế vừa là đối tượng phản ánh vừa là đối tượng thụ hưởng, đóng góp và nhận đóng góp cho các hoạt động nhân văn nhân đạo Khu vực Tây bộ, người yếu thế còn mang đặc điểm đặc thù do bị chi phối bởi các điều kiên tự nhiên xã hội nơi đây như hình xâm ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long diễn biến nặng nề; lối sống lang bạt, thương hồ sông nước; Vì thế rào cản của người yếu ở khu vực Tây Nam bộ ngày càng chịu nhiều thách thức hơn

Vận dụng đặc điểm của Truyền hình thực tế (THTT) - một thể loại chương trình truyền hình miêu tả chân thực những tình huống, hoàn cảnh và sự kiện không sắp đặt trước trong kịch bản, nhân vật chính trong THTT thường là những người chưa nổi tiếng, một số đài truyền hình địa phương khu vực Tây Nam bộ đã cho ra đời những chương trình THTT về nhóm đối tượng này Thông qua chương trình, các đài truyền hình mong muốn lên tiếng bảo vệ quyền lợi cho những NYT, mặt khác đóng góp vào công tác ASXH tỉnh nhà và phục vụ nhiệm vụ tuyên truyền của báo chí địa phương đối với chủ trương chính sách An sinh xã

Trang 10

hội (ASXH ) của Đảng và nhà nước Vừa tạo nên hiệu quả sâu rộng về mặt tuyên truyền và nâng cao đời sống tinh thần giải trí cho công chúng, các chương trình

về từ thiện nhân đạo cho đối tươg yếu thế của truyền hình Tây Nam bộ còn mang lại những lợi ích kinh tế nhất định cho các cơ quan truyền hình

Tuy gặt hái nhiều thành công nhưng các THTT cho người yếu thế trên sóng truyền hình khu vực Tây Nam bộ cũng gặp nhiều khó khăn hạn chế trong cách thức thực hiện dẫn đến chất lượng nội dung hình thức tác phẩm chưa đuọc đồng đều như mong muốn Qua khảo sát 3 đài truyền hình PTTH Vĩnh Long, Tiền Giang, Đồng Tháp thời gian từ tháng 6/2018 đến tháng 6/2019, luận văn hy vọng làm rõ thực trạng sản xuất của các chương trình THTT khu vực Tây Nam bộ trong việc phản ánh về NYT, đồng thời nêu lên các giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng sản xuất các chương trình này ngày một tốt hơn Với tầm quan trọng và ý nghĩa cấp thiết như vậy nên tôi chọn đề tài “Truyền hình thực tế dành cho nhóm đối tượng người yếu thế trên sóng truyền hình khu vực Tây Nam bộ” để thực hiện luận văn thạc sỹ báo chí của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Truyền hình thực tế dành cho nhóm đối tượng người yếu thế trên sóng truyền hình khu vực Tây Nam bộ”, tác giả nhận thấy vấn đề liên quan đã được trình bày trong các sách, giáo trình, cũng như các bài viết, bài báo và luận văn, luận án Cụ thể:

- Nghiên cứu về lĩnh vực báo chí, truyền hình, thể loại báo chí, truyền hình thực tế, tác phẩm báo chí, kỹ năng tác nghiệp:

+ Giáo trình "Báo chí truyền hình" của tác giả PGS TS Dương Xuân Sơn

(Biên soạn), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2009, nội dung trình bày các vấn đề của báo chí truyền hình như: vị trí, vai trò, lịch sử ra đời phát triển của truyền hình, khái niệm, đặc trưng, nguyên lý của truyền hình, chức năng xã hội của truyền hình, kịch bản và kịch bản truyền hình, quy trình sản xuất chương trình truyền hình, các thể loại báo chí truyền hình, các thuật ngữ truyền hình,…; + Sách "Chính luận Truyền hình, lý thuyết và kỹ năng sáng tạo tác phẩm" của tác giả PGS TS Nguyễn Ngọc Oanh, NXB Thông Tấn năm 2014, nội dung

Trang 11

đề cập về loại tác phẩm chính luận nói chung; Về thể loại bình luận, đàm luận trên truyền hình, những đặc trưng sáng tạo tác phẩm; Về vai trò của bình luận viên, cách thức tổ chức sáng tạo tác phẩm, tổ chức sản xuất chương trình; Về quy trình sáng tạo tác phẩm bình luận truyền hình; Về việc sử dụng hình ảnh và viết lời bình cho tác phẩm,… Ngoài ra sách còn đi sâu phân tích các kỹ năng tác nghiệp của nhà báo, phóng viên, biên tập viên truyền hình,…; Tài liệu này giúp tác giả thêm kiến thức về quy trình sản xuất chuẩn dành cho tác phẩm báo hình

và các kỹ năng tác nghiệp cần thiết cho phóng viên truyền hình

+ Sách "Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản", PGS TS Nguyễn

Văn Dững (Chủ biên) và PGS TS Đỗ Thị Thu Hằng, NXB Thông tin và Truyền thông, năm 2018 bàn về vấn đề kỹ năng tác nghiệp của nhà báo cho rằng

“Truyền hình nước ta những năm gần đây phát triển chưa từng có, với khuynh hướng mô hình khác nhau đang hình th nh n n th trư ng truyền thông - truyền hình khá đa ng, phong ph , c h i chia đều cho t t c , đ trôi qua cái th i k

ao c p n ng nề v đang phát triển th o xu hướng x h i hoá không ch trong lĩnh vực s n xu t chư ng trình Truyền hình truyền thông công ngh s trong th giới đang l m ph ng đ v đang đ m l i những th nh công vư t tr i về công ngh c ng như đa ng hoá s n ph m truyền hình v quan tr ng h n, đang đ m

l i l i ch thi t thực trong quá trình đáp ng tho m n nhu cầu thông tin gi i tr

ng y c ng cao của công ch ng x h i” Tài liệu này là cơ sở lí luận để tác giả

phát triển về quy trình sản xuất của truyền hình hiện đại ngày nay, cần có những phương thức sản xuất mới để đáp ứng nhu cầu thông tin giải trí ngày càng cao của công chúng

+ Sách "Một số nội dung cơ bản về nghiệp vụ báo chí xuất bản - Bộ thông tin truyền thông", nhóm tác giả TS Hà Huy Phượng, ThS Đinh Ngọc Sơn, ThS

Vũ Thuý Bình, ThS Lê Thanh Xuân, ThS Đỗ Phan Ái, ở trang 184 khi đề cập đến đặc điểm tác phẩm báo chí truyền hình nhóm tác giả có thống nhất nhận

định: “T nh xác thực của hình nh: ình nh của tác ph m áo ch truyền hình luôn đ t t nh sự th t l n h ng đầu i c nh quay m i nhân v t m i câu chuy n đều có đ a ch th t trong cu c s ng u phóng vi n n ựng c nh quay sai sự th t, óp m o n ch t thì đó l vi ph m v o đ o đ c nghề nghi p

Trang 12

ngư i l m áo ây c ng l đ c điểm để phân i t sự khác nhau giữa tác ph m

áo ch truyền hình v tác ph m đi n nh.” Tài liệu này là cơ sở lí luận để đề

cập phân tích quá trình lao động sáng tạo trong tác phẩm báo chí THTT D là phương thức sản xuất mới nhưng cũng phải dựa trên đặc điểm thể loại báo chí nói chung và qui trình sản xuất của tác phẩm báo chí truyền hình nói riêng

+ Sách "Cơ Sở Lý Luận Báo chí Truyền thông" của nhóm tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2007, nội dung cung cấp những kiến thức cơ bản và hệ thống khái niệm

cơ bản của lý luận báo chí, như khái niệm đặc điểm báo chí, bản chất hoạt động của báo chí, đối tượng, công chúng và cơ chế tác động của báo chí trong đó có báo chí truyền hình, các chức năng và nguyên tắc cơ bản của hoạt động báo chí,

về chủ thể hoạt động báo chí,…; Ở trang 52, 53, bàn về tác ph m truyền hình

“Tác ph m i áo, chư ng trình phát thanh hay truyền hình o nh áo chu n

s n v đư c in tr n áo hay phát tr n đ i phát thanh, vô tuy n truyền hình mới

ch có thể x m x t về ch t lư ng của thông tin tiềm năng đ i với công ch ng vì chưa i t ch ng có đư c ti p nh n hay không iều đó nh c nh những ngư i

l m công tác áo ch ph i quan tâm đ n hi u qu của chư ng trình” Tài liệu

này giúp tác giả nghiên cứu để dẫn dắt sự cần thiết phải nâng chất lượng truyền hình từ nhu cầu của công chúng

+ Sách "Công chúng Truyền hình Việt Nam", tác giả Tiến sĩ Trần Bảo Khánh, NXB Thông Tấn, Hà Nội năm 2011, nội dung cuốn sách đã giúp đọc giả hiểu rõ hơn những vấn đề cần thiết, cơ bản nhất của công chúng truyền hình Việt Nam, với những nội dung: về công chúng truyền hình Việt Nam, công chúng truyền hình Việt Nam nhìn từ góc độ xã hội học, đặc điểm tâm lý tiếp nhận thông tin của công chúng truyền hình Việt Nam hiện nay, đặc điển trong xử lý thông tin truyền hình, cho đến xu hướng thay đổi của công chúng và những đề xuất hướng phát triển của truyền hình trong giai đoạn tới,…

+ Sách "Những vấn đề của báo chí hiện đại" của TS Hoàng Đình Cúc- TS Đức Dũng, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, năm 2007, ở trang 274, tác giả nhận

diện lại hệ thống thể loại báo chí ở nước ta như sau: “ ới tư cách l hình thái

th c x h i đ c th , áo ch ph n ánh thực t i khách quan thông qua các hình

Trang 13

th c thể lo i tư ng đ i n đ nh v những h nh th c chưa n đ nh, thư ng đư c

g i chung l “các ng i thông tin, ph n ánh áo ch ”, còn những hình th c

tư ng đ i n đ nh đư c g i l các thể lo i ho c thể t i trong m t h th ng ói cách khác n u trong s các tác ph m áo ch đu c đăng t i tr n áo ch nói chung, không ph i tác ph m n o c ng thể hi n rõ r ng ti u ch của thể lo i”

Như vậy, có thể thấy THTT (reality television) không phải là một thể loại truyền hình mà là một phương thức làm truyền hình theo hướng mới mẻ và hiện đại khi vận dụng được đặc điểm tính chân thực và sinh động, phương thức này có nhiều điểm khác với cách làm truyền thống vốn nặng về dàn dựng, sắp xếp và có

sự can thiệp sâu của những người thực hiện THTT nằm trong xu hướng phát triển của báo chí hiện đại, trong đó có truyền hình hiện đại Đã có nhiều công trình nghiên cứu như:

+ Sách "Cơ sở lý luận báo chí" của tác giả Tạ Ngọc Tấn (chủ biên), nhà xuất bản văn hoá thông tin 1992, ở trang 199, tác giả đề cập đến truyền hình hiện

đại như sau: “ ng hình nh có m u s c k t h p c ng âm thanh với những cung

c, âm đi u đa ng, truyền hình có kh năng t o n n nhữngc m giác chân

th t, đầy đủ cho công ch ng ó l điều ki n t t cho ngư i x m truyền hình ti p

nh n thông tin nh n th c những giá tr tinh thần của tác ph m ngh thu t, các

ho t đ ng văn hoá Truyền hình tr th nh m t lo i nh hát, qu ng trư ng công

ân, trư ng h c nhân ân, ngư i hướng n văn hoá đ i ch ng, th nh phư ng

ti n ngh ng i, gi i tr có s c h p n lớn đ i với các tầng lớp nhân ân” Tài

liệu này sẽ là cơ sở lí luận về báo chí nói chung và truyền hình nói riêng để tác giả làm nền tảng phân tích thể loại báo chí truyền hình

+ PGS.TS Đức Dũng, năm 2008, trong sách "Nhận diện hệ thống thể loại

báo chí ở nước ta", nêu nhận định: “ ần ch r ng từ trước đ n nay l thuy t

áo ch không nghi n c u những tác ph m không thể hi n rõ đ c điểm thể lo i

m c ch ng v n chi m v tr áp đ o trong s các tác ph m áo ch ” Điều này

cho thấy sự cần thiết bổ sung lý thuyết cách thức sản xuất chương trình THTT, bởi lẽ THTT đang chiếm vị trí áp đảo trong truyền hình hiện nay

+ Sách "Báo chí thế giới, xu hướng phát triển" của PGS TS Đinh Thị Thúy Hằng, Nhà xuất bản thông tấn, năm 2008 Tài liệu này có góc nhìn khái quát về

Trang 14

thực tiễn phát triển báo chí hiện nay trên thế giới, các nước Châu Á trong đó có thực tiển phát triển của truyền hình Ở trang 136, 137 đề cập đến sự phát triển

của truyền hình số, tác giả cho rằng: “ ông ch ng ng y c ng có nhiều sự lựa

ch n v ti p c n l cho h tr n n khó t nh h n, ch n l c h n khi n các c quan thông t n áo ch ng y c ng ph i đ i m t với thách th c m t th phần v o

đó m t ngu n thu qu ng cáo Trước tình hình đó các c quan áo ch ph i t nh

đ n vi c s n xu t n i ung ph h p với th trư ng, t c l các n i ung th o th

hi u của ngư i ti u th s n ph m v các nh qu ng cáo i li n h giữa 3 nhân

t : i ung, ngư i ti u th , v qu ng cáo tr n n ch t ch h n ao gi h t.”

- Nghiên cứu về đối tượng người yếu thế, một số sách, giáo trình, bài báo như: + Bài báo “Về thuật ngữ an sinh xã hội”, Đặng Đức San", Tạp chí khoa học

Kinh tế - Luật , số 1/2002 viết rằng : “Ở Việt Nam, thuật ngữ “an sinh xã hội” được xuất hiện vào những năm 70 trong một số cuốn sách nghiên cứu về pháp luật của một số học giả Sài Gòn Sau năm 1975, thuật ngữ này được dùng nhiều hơn

và đặc biệt là từ những năm 1995 trở lại đây nó được dùng rộng rãi hơn Tuy vậy, từ tiếng Anh (Social Security) mỗi người lại sử dụng thành những từ khác nhau (mặc

dù nội dung đều hiểu như nhau) do đó ta thấy xuất hiện các thuật ngữ: “an sinh xã hội”, “an toàn xã hội”, “an ninh xã hội”, “bảo đảm xã hội”…

+ Sách "Introduction to social welfare and social Work - Nhập môn ASXH

và công tác xã hội", của B R Compton (1980) chỉ ra rằng: Ngày nay ASXH không chỉ được xem là cách giải quyết các vấn đề tiêu cực của xã hội, mà còn hết sức thiết yếu trong phát triển xã hội Nghĩa là chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao, cá nhân không những phải được đáp ứng các nhu cầu căn bản mà còn cần được phát huy tối đa và hòa nhập một cách tốt đẹp vào xã hội.”

+ Giáo trình "Luật An Sinh Xã Hội", Nhà xuất bản tư pháp, Hà Nội, 2005

cung cấp hệ thống lý luận các khái niệm và nguyên tắc cơ bản về an sinh xã hội, pháp luật ưu đãi xã hội và cứu trợ xã hội Tài liệu cung cấp kiến thức về vấn đề ASXH là một chủ trương của Đảng, một biện pháp của chính sách xã hội và là một trong những chỉ báo quan trọng về định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường mà đối tượng của nó là những người gặp rủi ro, bất trắc trong cuộc sống

Trang 15

+ Sách “Thích ứng xã hội của các nhóm xã hội người yếu thế ở nước ta hiện nay” của GS.TS Vũ Dũng, NXB Từ Điển Bách Khoa, đã bàn khá cụ thể về nhóm đối tượng NYT và cách thích ứng với xã hội của nhóm đối tượng đặc biệt Các khái niệm cơ bản về NYT trong cuốn sách giúp tác giả có cái nhìn tổng quan đầu tiên về nhóm đối tượng trung tâm của đề tài Ngoài ra, các nội dung liên quan tới NYT trong cuốn sách cũng là nguồn tài liệu hữu ích để người nghiên cứu hiểu rõ hơn về tình hình thực tế, đặc điểm, rào cản mà NYT gặp phải

+ Một số Luận văn nghiên cứu về người yếu thế như: “Vấn đề người khuyết tật qua sự phản ánh của báo chí hiện nay” của tác giả Vũ Thị Thu Ngà; Luận văn

“Chương trình dân tộc và miền núi trên sóng đài truyền hình Việt Nam” của tác giả Nguyễn Trí Nhiệm, Phạm Ngọc Bách ; Luận văn “Nâng cao chất lượng báo

in phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số” của tác giả Lữ Thị Ngọc; "Hiệu quả xã hội của chương trình truyền hình từ thiện nhân đạo trên kênh VTV1 hiện nay" của tác giả Nguyễn Tôn Nam;v.v

Ngoài ra còn có các tài liệu như: Nghị quyết hội nghị Trung ương; Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác tư tưởng, lý luận và quản lý Báo chí trong giai đoạn mới; Văn kiện Đại hội Đảng các khóa, các văn bản quy định, hướng dẫn, nghiên cứu khoa học về báo chí; Các văn bản pháp luật về chính sách

hỗ trợ đối với người nghèo và bảo trợ, cứu trợ xã hội Bài viết “Nhà nước Việt Nam với công tác hỗ trợ nhóm người yếu thế” của PGS.TS Phạm Văn Quyết (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội) và Phạm Anh Tuấn (Trường Đại học Y tế công cộng), đăng Kỷ Yếu hội thảo ngày công tác xã hội

Thế giới năm 2012; "Vai trò của báo chí Việt Nam với NYT", TS Bùi Chí

Trung, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội; "Thích ứng về mặt nhận

thức của các nhóm NYT", tác giả Mỹ Hạnh; "Người nghèo ở nông thôn và

Chương trình quốc gia chống nghèo đói", Bùi Ngọc Trình, Tạp chí Cộng sản, số 4/1991, tr 23-25; "Vấn đề nghèo đói ở nông thôn Việt Nam", Nguyễn Hữu Dũng, Tạp chí Lao động Xã hội, số 8/92- tr 3-4

Những nghiên cứu trên đây phần nào đã làm sáng tỏ những vấn đề của báo chí hiện đại và xu hướng truyền hình hiện đại nói riêng, cụ thể là xu hướng THTT Nhưng những đề tài hoặc nghiên cứu trên chủ yếu tập trung tìm hiểu hoặc

Trang 16

về THTT, hoặc về nhóm NYT, chưa bàn hoặc chưa bàn chưa sâu về phong cách THTT cho NYT Đặc biệt, tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long chưa có nghiên cứu nào thấu đáo về thực trạng, từ đó tìm nguyên nhân và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cách thức sản xuất chương trình THTT dành cho nhóm đối tượng này

Trên tinh thần kế thừa thành tựu của những nghiên cứu trước và quá trình khảo sát thực tế được coi là nguồn dữ liệu quan trọng để hình thành nội dung luận văn này, tác giả tổng hợp lại để thấy vai trò và tác động của các chương trình THTT với NYT ra sao, nhu cầu và mong muốn của NYT với các chương trình này như thế nào Qua đó, đưa ra giải pháp để cải thiện chất lượng các chương trình, từ đó có thêm một kênh thông tin để nghiên cứu ứng dụng vào thực tiễn tại đài PTTH Vĩnh Long, Tiền Giang, Đồng Tháp và các đài PTTH khu vực Tây Nam bộ

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:

3.1 M c đ ch nghi n c u :

Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến chương trình THTT và đối tượng NYT, luận văn khảo sát thực trạng và đánh giá về cách thức sản xuất của một số chương trình THTT cho NYT của đài PTTH tỉnh Tiền Giang, PTTH Vĩnh Long, PTTH Đồng Tháp Từ đó, đề ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng chương trình này ở các đài truyền hình địa phương Tây Nam bộ Ngoài ra, luận văn còn nêu lên khuyến nghị phát triển của thể loại này đối với các đài truyền hình địa phương thời gian tới

Để đạt được mục đích trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan tới đề tài như “Người yếu thế”,

“Truyền hình thực tế” và phương thức tác động của chương trình đối với nhóm đối tượng NYT

- Khảo sát thực trạng sản xuất chương trình THTT cho NYT tại đài PTTH Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp từ tháng 6/2018 đén tháng 6/2019

Trang 17

- Phân tích thành công, hạn chế về mặt chất lượng của các chương trình THTT cho NYT của đài PTTH Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp

- Tìm nguyên nhân và đề xuất giải pháp nhằm phát huy những mặt ưu điểm

và khắc phục hạn chế trong việc sản xuất chương trình THTT về NYT tại đài PTTH Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp Từ đó khuyến nghị đề xuất đến các đài truyền hình địa phương khu vực Tây Nam bộ nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng các chương trình này thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

là chương trình THTT dành cho NYT của một số đài phát thanh truyền hình địa phương khu vực Tây Nam bộ

THTT về NYT của đài truyền hình 3 tỉnh: Tiền Giang, Đồng Tháp và Vĩnh Long,

từ tháng 6/2018 đến tháng 6/2019 Đây không phải giai đoạn đỉnh cao của phong cách chương trình thực tế format thuần Việt có ý nghĩa nhân văn và tác động xã hội, nhưng do điều kiện và thời gian nghiên cứu nên tác giả đã chọn một số chương trình tiêu biểu giai đoạn gần với thời gian thực hiện đề tài, từ 6/2018 đến 6/2019 Đây cũng là giai đoạn có nhiều chuyển biến trong nội dung, phương thức sản xuất chương trình khi mà chương trình THTT dành cho NYT dần đi vào thoái trào, cần sự cải cách mạnh mẽ để giữ chân khán giả của các đài truyền hình Tây Nam bộ nói chung và 3 đài trong diện khảo sát nói riêng

5 Phương pháp luận nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin và

tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về báo chí và sự nghiệp thông tin đại chúng Lịch sử hình thành và phát triển của truyền hình các tỉnh khu vực Tây Nam bộ Trong quá trình nghiên cứu, luận văn kế thừa một cách có chọn lọc những nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế có liên quan đến đề tài Luận văn sử dụng một số phương pháp thu thập thông tin sau đây:

- Phư ng pháp nghi n c u tài li u: Được tiến hành đối với các công trình

khoa học lí luận về truyền hình của các tác giả trong và ngoài nước đã công bố

Trang 18

(sách chuyên ngành, bài báo, bài tham luận, bài phân tích, các website chính thức của các dự án, bộ ban ngành liên quan…) Phương pháp này được sử dụng với mục đích khái quát, bổ sung hệ thống lí thuyết về truyền hình nói chung và hoạt động sản xuất chương trình THTT cho nhóm đối tượng NYT nói riêng Đây chính là những lí thuyết cơ sở đánh giá các kết quả khảo sát thực tế và đưa ra những giải pháp khoa học cho vấn đề nghiên cứu

- Phư ng pháp th ng kê - so sánh: Được sử dụng Phương pháp này dựa chủ

yếu vào các báo cáo thống kê định kỳ, nhằm xác định tần số xuất hiện, chất lượng những chương trình THTT cho NYT trên sóng truyền hình Tây Nam bộ từ tháng 6/2018 đến tháng 6/2019 Từ đó, lấy các dữ liệu làm luận điểm, luận cứ để phân tích, đánh giá và tổng hợp chỉ ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân

- Phư ng pháp điều tra xã h i h c:

+ Khảo sát mỗi tỉnh 150 công chúng, trong đó có 50% công chúng nông

thôn, 50% công chúng thành thị Cụ thể chọn mẫu là thanh thiếu niên từ 18 đến

35 tuổi, phụ nữ từ 40 đến 60 tuổi, nam giới từ 40 đến 60 tuổi

+ Khảo sát 50 phiếu cho thành viên ekip thực hiện của mỗi đài Cụ thể chọn mẫu phóng viên, biên tập viên, quay phim đạo diễn, kỹ thuật âm thanh, kỹ thuật hình ảnh, ánh sáng, thư ký của các phòng ban sản xuất chương trình, chuyên mục, chuyên đề

+ Khảo sát chuyên gia mỗi đài 10 phiếu Cụ thể chọn mẫu là Ban Giám đốc, lãnh đạo các phòng ban, các phóng viên biên tập viên đạo diễn chủ chốt về việc thu thập thông tin viết bài và việc phương thức sản xuất chương trình THTT cho NYT trên sóng truyền hình Tây Nam bộ

- Phư ng pháp phỏng v n sâu: Phỏng vấn trực tiếp và gửi câu hỏi phỏng

vấn mở cho các chuyên gia trong lĩnh vực báo chí truyền thông, các cán bộ lãnh đạo quản lý các đài truyền hình khu vực Tây Nam bộ và các phóng viên có liên quan (20 phiếu) nhằm thu thập ý kiến đánh giá của cá nhân xung quanh vấn đề nghiên cứu

- Phư ng pháp th o lu n nhóm: Thảo luận nhóm với êkíp sản xuất tại 3

đài trong diện khảo sát về cách thức sản xuất, ưu điểm và hạn chế của quá trình

Trang 19

thực hiện chương trình THTT về đối tượng NYT Từ đó rút ra kinh nghiệm sản xuất chương trình THTT cho NYT hiệu quả

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Về lý luận: Những kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung lý luận

về phương thúc sản xuất để nâng cao chất lượng chương trình THTT các đài PTTH khu vực Tây Nam bộ nói chung và chương trình THTT cho NYT tại ba đài diện khảo sát nói riêng

- Về thực tiễn: Nhận diện rõ hơn quan niệm về THTT, nhìn nhận những

thành công và hạn chế của các chương trình THTT về NYT tại các đài PTTH khu

vực Tây Nam bộ Vận dụng kết quả nghiên cứu để góp phần bổ sung, hoàn thiện cách thức sản xuất chương trình THTT nhằm phát huy những mặt ưu điểm và khắc phục những mặt còn hạn chế của các chương trình này tại các 3 đài PTTH trong diện khảo sát Từ đó giúp các đài PTTH khu vực Tây Nam Bộ nâng cao hiệu quả thông tin, tuyên truyền, nâng vị thế của các Đài trong lòng công chúng

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về THTT và NYT

Chương 2: Thực trạng hoạt động của các chương trình truyền hình thực tế trên sóng truyền hình khu vực Tây Nam bộ

Chương 3: Giải phap nâng cao chất lượng chương trình THTT cho NYT trên sóng truyền hình khu vực Tây Nam bộ

Trang 20

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRUYỀN HÌNH

THỰC TẾ VÀ NGƯỜI YẾU THẾ 1.1 Khái quát về truyền hình thực tế

1.1.1 Khái niệm truyền hình thực tế

Với tư cách là một xu hướng phát triển tất yếu của báo chí hiện đại nói riêng và ngành công nghiệp truyền thông nói chung, nhìn vào bức tranh toàn cảnh truyền hình hiện nay có thể thấy THTT (Reality Television) đang chiếm một ưu thế khá lớn về thời lượng lên sóng, thể loại chương trình và đối tượng công chúng tiếp nhận Những yếu tố mới lạ, hấp dẫn, tính tương tác cao, sự gia tăng quyền lực của khán giả trong các chương trình THTT là các ưu điểm làm nên sức hút của phương thúc làm tuyền hình này

THTT đang là một xu hướng phổ biến và được đặc biệt ưa chuộng trên toàn thế giới THTT thành công bởi nó ra đời và vận dụng được những kỹ thuật công nghệ truyền hình mới nhất, những tư duy mới về xã hội hóa trong sản xuất truyền hình Và vì thế, THTT được xem là một hướng đi tích cực và đúng đắn của ngành truyền hình Có thể nói, sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nhu cầu của khán giả đã khiến ngành công nghiệp dịch vụ truyền hình thay đổi không ngừng

Sự xuất hiện của mạng internet, đã gây ra những xáo trộn đối với các loại hình báo chí khác Sự ưu việt của báo mạng điện tử đã giúp loại hình này lên ngôi và đẩy những loại hình báo chí khác rơi vào khủng hoảng Một trong những giải pháp khả thi để truyền hình giữ được tầm ảnh hưởng của mình đó là tiếp cận khán giả qua internet Bên cạnh bắt tay với internet để tự cứu chính mình, đổi mới các chương trình truyền hình và cho ra đời nhiều phương thức sản xuất mới hơn, gia tăng tính tươngtác với khán giả là một số các giải pháp để các đài truyền hình thu hút khán giả

THTT, loại hình truyền hình đang được các nhà đài từ quốc gia đến địa phương gắn nhãn để đặt tên cho một số chương trình truyền hình của mình hiện nay Vậy, THTT (Reality Television) là gì?

Tìm hiểu thuật ngữ Reality Television (Reality TV), tác giả đã tiếp cận

được với rất nhiều định nghĩa từ trong và ngoài nước

Trang 21

Có rất nhiều nghiên cứu của thế giới về THTT rất có giá trị, như sách

"Audiences and Popular Factual Television" của tác giả Annette Hill, tác giả Deboral Jermyn và Su Holmes có sách "Understanding Reality TV", sách

"Reailty TV: Remaking Television Culture" của Susan Murray Đa số các nhà nghiên cứu thế giới đều đồng tình rằng THTT là một thể loại chương trình truyền hình miêu tả chân thực những tình huống, hoàn cảnh và sự kiện không sắp đặt trước trong kịch bản Nhân vật chính trong THTT thường là những người ít nổi tiếng hoặc không nổi tiếng THTT không chỉ có sự ung rhộ đông đảo từ phía công chúng mà còn đem lại lợi nhuận khổng lồ cho nhà đài, công ty truyền thông hay các tập đoàn kinh tế Xuất hiện đúng thời điểm và có hướng đi đúng đắn đã mang lại thành công cho THTT

Còn trong từ điển Tiếng Việt của NXB từ điển Bách Khoa, định nghĩa thuật

ngữ “thực tế” là những cái hiện tồn tại trước mặt có thể thấy và kiểm soát được Quan điểm của đài truyền hình Việt Nam để phát triển truyền hình thực

tế cho đài, thì dựa vào nội dung tập huấn của Đài truyền hình Việt Nam với Đài truyền hình Cfi- Cộng hoà Pháp thì: THTT là chương trình đưa con người thật vào một hoàn cảnh được dàn dựng, hiệu quả cuối c ng là cảm xúc thực Tác giả Nguyễn Thị Hằng trong Luận văn Nghiên cứu THTT ở Việt Nam

đề xuất khái niệm: “ hư ng trình truyền hình thực t l các chư ng trình đề cao

Th nh t: THTT là phương thức làm chương trình truyền hình sử dụng

camera ghi lại những tình huống, hoàn cảnh và sự kiện thật, ít sắp đặt trước trong kịch bản Những nhân vật (người tham gia) thường là những người bình thường, chọn ngẫu nhiên, không bị chi phối bởi thao tác ghi hình, thậm chí không biết mình đang bị ghi hình Mỗi chương trình THTT có cách tiếp cận nhân vật, lên kế hoạch kịch bản và tổ chức ê kíp sản xuất ph hợp với điều kiện của mình

Trang 22

Th hai: Trong truyền hình, tính thực tế đã có đôi chút biến đổi THTT

cũng hiểu là những cái đang diễn ra một cách tự nhiên, nhưng nó luôn được chỉnh sửa cắt xén theo ý đồ và mục đích của những người thực hiện chương trình, nghĩa là phải có kịch bản chương trình và tuân thủ có yếu tố để tạo sự hoàn hảo theo cách tự nhiên và chân thật nhất trước khi lên sóng Các chương trình THTT thực chất là mang lại tính tự nhiên và khai thác sâu hơn những cảnh hậu trường nên có sự dàn dựng biên tập là không thể tránh khỏi

Th a: Cần thay đổi quan niệm về THTT hiện nay ở Việt Nam THTT có

thể có ở tất cả ở các thể loại truyền hình, chứ không thể chỉ nói đến THTT là chỉ nói đến chương trình giải trí, game shows mà chương trình THTT có ở hầu hết các chương trình truyền hình mang tính chính luận (thời sự, phim tài liệu, ký sự…) các chương trình du lịch, khám phá mang tính trải nghiệm

1.1.2 Phân loại truyền hình thực tế tại Việt Nam

Trên thế giới THTT có nhiều hình thức phong phú, tiêu biểu như: phong cách Tư liệu (Documentary style), phong cách Thi thố (Elimination), phong cách Tìm nghề (Job search), phong cách Vượt lên chính mình (Selfimprovement/makeover), phong cách Trò chuyện (Talk show), phong cách Giấu máy (Hidden cameras), phong cách Chơi khăm (Hoaxes)… Tại Việt Nam

đã có một số đơn vi nghiên cứu học tập những khung (format) chương trình THTT của nước ngoài để xây dựng những chương trình THTT của Việt Nam Đặc biệt VTV3 có nhiều thể nghiệm và áp dụng thành công nhiều format chương

trình THTT Chính thức xuất hiện là chương trình THTT h i nghi p lên sóng VTV3 lần đầu tiên năm 2005 h i nghi p được coi là show THTT tiên phong,

là cơ hội để các bạn trẻ trải nghiệm những khó khăn, thách thức trong công việc Ngay lập tức, chương trình này đã thu hút một lượng lớn khán giả xem mỗi tuần Không lâu sau đó, nhiều chương trình THTT khác được sản xuất theo dạng thức

này như: Ph nữ th k 21, nh trình k t n i trái tim, ư t l n ch nh mình… Sự bão hòa của gameshows (trò chơi truyền hình) chính là điều kiện để THTT kh ng

định ưu thế của mình, đem đến một luồng gió mới khiến khán giả thích thú khi theo dõi, thay vì xem các chương trình đơn điệu, lặp đi lặp lại về nội dung câu chuyện, nay công chúng đã có thể c ng trải nghiệm khóc, c ng cười, thấy được

Trang 23

cuộc sống sinh động hiện ra trước mắt, được sống c ng với cảm xúc chân thật của các nhân vật Và hiện nay chính là thời điểm THTT b ng nổ ở Việt Nam, với

số lượng chương trình lớn, chiếm dung lượng đáng kể trong các khung giờ phát sóng và lôi cuốn trái tim hàng triệu khán giả hồi hộp theo dõi diễn biến của mỗi

chương trình Các cuộc thi: Người mẫu Việt Nam i t am’s xt Top Model (VTV3), Hot V Model (RealTV), Tôi chưa từng (HTV7)… luôn là những chương trình có sức nóng hiện nay với các bạn trẻ Các chương trình THTT có ý nghĩa nhân đạo xã hội như ư t l n ch nh mình, Chuy n x nhân ái, ái m nghĩa tình, âng ước đ n trư ng, Thần T i Gõ ửa… nhận được sự ủng hộ tinh thần và

vật chất nhiệt tình của các nhà tài trợ và khán giả

Điều nhiều người hay nhầm lẫn lâu nay là đồng nhất các chương trình giải trí theo phương thức mới chính là THTT Nhưng trên thế giới cũng như ở Việt Nam, phương thức THTT được áp dụng cho rất nhiều thể loại như tin tức, phóng sự, tọa đàm, trò chơi, phim tài liệu… Quan sát các chương trình truyền hình được gọi là thực tế, được sản xuất và phát sóng trên một số đài truyền hình ở Việt Nam như: phóng sự, ký sự, tài liệu cho thấy rằng chương trình THTT không phải là một thể loại chương trình truyền hình mà đó là một cách thức thể hiện chương trình với mục tiêu hướng tới tính chân thực, như đang chứng kiến các diễn biến chuyển tải đến cho công chúng một cách sinh động Do đó “THTT” là cách gọi chung như tin THTT, phóng sự THTT, gameshows THTT… Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả tạm chia hai nhánh lớn của THTT tại Việt Nam như sau:

THTT game show: Là nhóm các chương trình thiên về tạp kỹ, trình diễn sân

khấu gồm có các chương trình như: Tìm kiếm tài năng Việt Nam (Việt Nam’s got talent), Thần tượng âm nhạc Việt Nam (Việt Nam’s Idol), Người mẫu Việt Nam (Viet Nam Next top Model), Cặp đôi hoàn hảo, Bước nhảy hoàn vũ, Giọng hát Việt (The Voice)…

THTT tr i nghi m: Là nhóm các chương trình thiên về tính trải nghiệm,

khám phá, gồm các chương trình như: Sống khác, Lựa chọn của tôi, Con đã lớn khôn, Cuộc đua kỳ thú, S Việt Nam, Khám phá Miền Sông nước, Trái tim nhân

ái, Ký sự rẻo cao Tây Bắc, Ký sự rẻo đôi, Về miền đất Quảng… Một số đài truyền hình địa phương khu vực Tây Nam bộ như Vĩnh Long, Tiền Giang, Đồng

Trang 24

Tháp thời gian qua đã gây được nhiều tiếng vang khi cho ra đời một loạt các chương trình truyền hình nhân đạo xã hội cho nhóm NYT như người nghèo, người khuyết tật, người mắc bệnh nan y, người già neo đơn, học sinh nghèo hiếu học… như Chắp cánh ước mơ, Thần Tài Gõ Cửa, Chuyến Xe nhân ái, Nâng bước đến trường, Mái ấm nghĩa tình, Nhịp cầu thân ái, Địa chỉ nhân đạo… cũng được xếp vào nhóm trải nghiệm này Đây là nhóm chương trình THTT có tính nhăn văn cao khi trao đi "cầu câu" giúp NYT có thể tự lập và vươn lên trong đời sống, khác với các chương trình từ thiện nhân đạo, chỉ có tính chất hỗ trợ Có thể nói đây là một nhánh THTT tạo được hiệu ứng xã hội tốt khi phản ánh nhiều tấm gương nghị lực sống cảm động, huy động được đông đảo sức người sức của đóng góp vào công tác an sinh

Ngoài ra còn có thể chia các chương trình THTT theo một số cách như thuần Việt và không thuần Việt, chương trình xã hội hoá hay không xã hội hoá, còn dựa vào tính định kỳ thì có THTT có tính khuôn mẫu, định kỳ, thực hiện theo series và THTT thực hiện độc lập, không định kỳ.… Nhìn chung có thể thấy thế giới đang có nhiều cách phân loại tuỳ theo quan điểm Tuy nhiên, để giúp cho khán giả và những nhà nghiên cứu có cơ sơ dữ liệu phong phú khi tìm hiểu

về THTT thì tác giả chọn cách phân loại theo hình thức, theo thể loại báo chí và phương thức sản xuất

1.2 Khái quát về NYT

1.2.1 Một số khái niệm về NYT

Trong cuộc sống, để thoả mãn nhu cầu tối thiểu, con người phải lao động sản xuất để có thu nhập Tuy vậy, không phải lúc nào người lao động cũng đảm bảo duy trì được việc làm thường xuyên và thu nhập ổn định Đó là những lúc gặp rủi ro như ốm đau, bệnh tật, tai nạn lao động dẫn đến bị mất hoặc giảm việc làm Hơn nữa, hoạt động lao động sản xuất của con người còn bị phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, môi trường, xã hội Mặt khác Việt Nam trải qua hai cuộc chiến tranh khốc liệt, số lượng nạn nhân do chiến tranh để lại còn rất lớn Vì thế trong xã hội xuất hiện một nhóm người mà ở đó họ bị từ chối việc tiếp cận và sử dụng các nguồn lực mà bản thân họ không có hoặc các phương tiện được cho là hữu ích với đa số các nhóm xã hội tương tự khác, bao gồm quyền tự chủ, trách nhiệm,

Trang 25

lòng tự trọng, quyền được sự hỗ trợ của cộng đồng, y tế, giáo dục, thông tin, việc làm, vốn và hệ thống hỗ trợ khác Đối tượng này gọi là nhóm NYT thiệt thòi

Theo phân loại của T ch c Y t th giới (WHO) năm 1980, thì "yếu thế - tàn tật" được phân theo 3 thể dạng sau: T n thư ng đó là các cơ quan hoặc các chức năng của con người về mặt sinh học gặp tình trạng khuyết tật, tàn tật; n

ch : đó là các khả năng của con người bị hạn chế; Sự t l i đó là tổng thể

nguyên nhân và hậu quả của sự tàn tật, nó tác động trực tiếp lên từng cá nhân và

xã hội

Trong Pháp l nh về ngư i t n t t của Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì quy định về người khuyết tật là: “ gư i khi m khuy t m t hay nhiều ph n c thể ho c ch c năng iểu hi n ưới những ng t t khác nhau, l m suy gi m kh năng ho t đ ng, khi n cho lao

đ ng, h c t p g p nhiều khó khăn”

Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam,

NXB VHTT, năm 1998, thì huy t có nghĩa là thiếu và không đầy đủ; T t là trạng thái không bình thường ở bộ phận cơ thể do bẩm sinh hoặc hậu quả của tai

nạn, bệnh trạng gây nên

Theo định nghĩa của Liên hợp quốc, nhóm NYT trong xã hội bao gồm người nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi và người khuyết tật Cụ thể, thuật ngữ “nhóm NYT/ thiệt thòi” (Disadvantaged groups) đã được sử dụng như một tính từ để mô tả chất lượng của nhóm NYT/ thiệt thòi và nhiều trường hợp được sử dụng như một động từ,

để chỉ quá trình mà trong đó hành vi xã hội của nhóm đặc biệt này được thực hiện theo cách hoàn toàn “bất lợi”

Còn theo xác định của UNESCO thì nhóm NYT/thiệt thòi bao gồm: những người ăn xin, nạn nhân của các loại tội phạm, người tàn tật, thanh thiếu niên có hoàn cảnh khó khăn, nhóm giáo dục đặc biệt, người cao tuổi, người nghèo, t nhân, gái mại dâm, người thất nghiệp, người lang thang cơ nhỡ Ngpoài ra, những người tị nạn, người bị xã hội loại trừ vẫn được kể đến Theo cách xác định này thì người nghèo, người thất nghiệp cũng được coi thuộc nhóm NYT/ thiệt thòi

Trang 26

Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hồng Xoan trong luận văn

“Chương trình truyền hình chuyên đề về NYT của đài truyền hình Việt Nam” thì

“ hóm YT hay nhóm thi t thòi l những nhóm x h i đ c i t, có ho n c nh khó khăn h n, có v th x h i th p k m h n so với với các nhóm x h i “ ình thư ng” có những đ c điểm tư ng tự g p ph i h ng lo t thách th c, ngăn

c n kh năng hòa nh p v o đ i s ng c ng đ ng ng r o đó có thể li n quan

đ n thể ch t, kh năng, nghề nghi p, ho n c nh s ng, sự đánh giá, k th của x

h i, các v n đề tâm l ng r o đó có thể l vô hình, có thể l hữu hình, ngăn

c n h ti p c n v sử ng các phư ng ti n s ng thi t y u hay các ch v x h i cần thi t cho m i th nh vi n “ ình thư ng” của x h i ể nâng cao v th x

h i, gi m sự thi t thòi, h r t cần đư c sự quan tâm, gi p đỡ, h tr từ x h i”

[52, tr 25]

Ở Việt Nam, do trải qua hai cuộc chiến tranh, NYT thực tế còn phải kể thêm nhóm người là nạn nhân chiến tranh, đặc biệt nạn nhân chất độc da cam Theo số liệu điều tra của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2002, cả nước có khoảng trên 5,3 triệu người khuyết tật, chiếm 6,34% dân số Người khuyết tật ở rải rác trên 8 vùng lãnh thổ Trong đó, ở vùng nông thôn chiếm 87,2% và ở đô thị chiếm 12,8%

Ngoài người khuyết tật thì nhóm bị bạo lực gia đình, nạn nhân bị quấy rối

và lạm dụng tình dục, nạn nhân buôn bán người, các đối tượng mắc bệnh xã hội, trẻ em bị ảnh hưởng của HIV/AIDS… và gần đây là những người thuộc NYT cũng là đối tượng thuộc nhóm NYT thiệt thòi Xét trên nhiều khía cạnh, họ cũng được xem là nhóm NYT bởi những rào cản mà họ gặp phải trong cuộc sống, công việc và những kỳ thị mà họ phải đối mặt Theo quan điểm của tác giả thì NYT được hiểu là những người chịu thiệt thòi, có vị thế thấp bé, gặp nhiều khó khăn trở ngại trong cuộc sống do những rào cản khách quan lẫn chủ quan mà họ gặp phải

1.2.2 Những rào cản đối với NYT tại Việt Nam

NYT do những tổn thương và hạn chế về thể chất và tinh thần nên trong đời sống họ thường gặp nhiều khó khăn và trở ngại Đa số mang tâm lý tự ti, chán nản, mặc cảm dẫn đến khó hoà nhập được với cộng đồng xã hội

Trang 27

Bên cạnh đó, đối với những người khuyết tật nặng, các vấn đề về sức khoẻ luôn bị đe doạ khiến họ không có cảm giác hào hứng với cuộc sống Họ không quan tâm tới các hoạt động xã hội dẫn đến càng tổn thương về mặt tinh thần Vì vậy, mọi cố gắng của người khuyết tật yếu thế để hoà nhập với cộng đồng đều gặp phải “rào cản” Tuỳ theo mô hình cụ thể của nguồn lực bị từ chối mà rào cản

về phương diện đó NYT phải đối mặt Rào cản không chỉ là trở ngại trong việc đi lại, sử dụng công cụ mà còn là trở ngại về tư tưởng, nhìn nhận, đánh giá và cảm thông chưa đầy đủ của cộng đồng đối với NYT Nhưng rào cản khó vượt qua nhất chính là về mặt thái độ, nhận thức của bản thân NYT Bản thân NYT chưa

có được suy nghĩ đúng đắn để tự tin khắc phục hạn chế, vươn lên hoà nhập với cộng đồng

Ch ng hạn, suốt thời kỳ dài người đồng tính bị cộng đồng phân biệt và kỳ thị Ngay trong gia đình của họ cũng có những suy nghĩ lệch lạc cho rằng vấn đề giới tính là một điều xấu và đáng xấu hổ của gia đình, dòng tộc Chính sách Việt Nam cũng chưa rộng cửa để thừa nhận giới tính này về mặt pháp lý Chính vì vậy người đồng tính ở Việt Nam có thái độ xấu hổ, tránh né, hoặc ghét bản thân về vấn đề của họ

Một nhóm NYT có thể gặp phải một hoặc rất nhiều rào cản Rào cản xuất phát từ sự không hiểu biết, sự sợ hãi, hiểu sai lệch hoặc căm ghét của xã hội và bản thân NYT về chính vấn đề yếu thế Một số rào cản có thể dễ dàng vượt qua được và một số thì không T y theo từng nhóm NYT mà hình thành các giải pháp

ph hợp và tốt nhất cho nhóm

Trong những năm qua, một mặt Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách xã hội nhằm cải thiện, nâng cao đời sống của NYT, mặt khác chú trọng nâng cao nhận thức của toàn xã hội với vấn đề này Chính vì vậy, trên các phương tiện truyền thông đại chúng đặc biệt là báo chí đã có nhiều chương trình, bài viết, tác phẩm báo chí đăng tải những thông tin và dẫn chứng cụ thể nhằm góp phần xoá đi những định kiến về NYT, đồng thời mang lại niềm tin, động viên, khích lệ để NYT vươn lên hoà nhập với cuộc sống

Trang 28

1.2.3 Mục tiêu ASXH hướng tới người NYT tại Việt Nam

Một hệ thống các cơ chế, chính sách, biện pháp của Nhà nước nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế - xã hội như ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, tuổi già, mất sức lao động hoặc vì những nguyên nhân khác quan khác mà rơi vào cảnh nghèo khổ thông qua hệ thống mạng lưới về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trợ giúp xã hội thì được gọi là ASXH

ASXH là một chủ trương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, giữ vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội đã được nêu lên trong các Nghị quyết của Đảng, đặc biệt tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001): “Khẩn trương mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội Thực hiện các chính sách xã hội bảo đảm an toàn cho cuộc sống của các thành viên cộng đồng, bao gồm bảo hiểm xã hội đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế, cứu trợ xã hội đối với người gặp rủi ro, bất hạnh, thực hiện chính sách ưu đãi xã hội

và vận dụng toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa ”

Theo Nghị định số 28/CP, ngày 29 tháng 4 năm 1995, vợ chồng, cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng các liệt sỹ mà bị mất một phần hay hoàn toàn khả năng lao động, con em liệt só bị dị tật bẩm sinh hoặc bị khuyết tật, sẽ được giúp đỡ về tài chính, trợ cấp giáo dục, học phí và miễn đóng góp xây dựng trường sở

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 26/2000 QĐ-TTg, ngày 23 tháng

12 năm 2000, về việc giúp những người đã tham gia cách mạng mà con em họ là nạn nhân chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam Ngoài ra còn có Nghị định 25/2001/NĐ-CP, ngày 31 tháng 5 năm 2001, của Chính phủ về việc thành lập và hoạt động của các trung tâm bảo trợ xã hội đã bao gồm cả những người khuyết tật không có thu nhập và không nơi nương tựa cần được các trung tâm này tiếp nhận

Chủ trương này của Đảng và nhà nước rất phù hợp với tinh thần của Luật quốc tế nhân đạo quốc tế khi nhằm giảm bớt nỗi đau của những nạn nhân trong xung đột vũ trang, người bị thương, bị ốm, hay thường dân, nạn nhân chiến tranh

Kh ng định chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc của dân tộc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch danh dự Hội Chữ thập đỏ Việt Nam cho biết tinh

Trang 29

thần nhân đạo từ lâu đã là một truyền thống quý báu, được trao truyền qua nhiều thế hệ của dân tộc

Tính đến hết năm 2019, tổng số người đang thụ hưởng chính sách bảo hiểm

xã hội là: 2.041.538 người, số đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là: 9.101.039 người, số đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là: 34.669 người; tổng số đối tượng tham gia bảo hiểm y tế: 53,3 triệu người; tổng số đối tượng được hưởng trợ cấp xã hôị thường xuyên hàng tháng là: 1.253.000 người

và hàng năm Chính phủ cứu trợ đột xuất cho hàng triệu lượt người, góp phần bảo đảm ASXH cho toàn dân

Với mục đích tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất cả các thành viên NYT trong xã hội phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm

an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội – một giải pháp vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội và nhân đạo sâu sắc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo: “Trong năm 2019 và các năm tới, nước ta vẫn còn một bộ phận người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, kém may mắn dễ bị tổn thương, tập trung chủ yếu ở khu vực miền núi, nông thôn, v ng sâu, vùng xa, những v ng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ Đảng, Nhà nước tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp về kinh tế, xã hội để từng bước nâng cao đời sống của nhân dân, giúp người nghèo, người khuyết tật, nạn nhân chất độc da cam và những người có hoàn cảnh khó khăn vươn lên hoà nhập cuộc sống Trong

sự nghiệp đó, không thể thiếu vai trò của cộng đồng, xã hội và nhất cơ quan thông tấn báo chí”

1.2.4 Đặc điểm kinh tế xã hội khu vực Tây Nam bộ

Tây Nam Bộ còn được gọi ngắn gọn là miền Tây, thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long Ngoài Cần Thơ là thành phố trực thuộc Trung ương, thì toàn khu vực gồm 12 tỉnh: Trà Vinh, Long An, Bến Tre, Tiền Giang, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Hậu Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu và Cà Mau Tuy diện tích chỉ chiếm khoảng 13% diện tích cả nước, nhưng dân số lại chiếm 20% cả nước Tốc độ tăng trưởng dân số ở v ng này khá cao Tuy được xem như là vựa lúa của cả nước và được thiên nhiên ưu đãi, nhưng cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, mặt bằng dân trí thấp so với nhiều vùng miền khác, ảnh hưởng

Trang 30

xâm nhập mặn, hạn hán nên số hộ nghèo và cận nghèo ở khu vực Tây Nam Bộ vẫn còn cao Cái nghèo khó của nông dân vùng Tây Nam Bộ dễ nhận thấy được

đó là nhà tre lá tạm bợ, không có nhà vệ sinh; Tài sản trong nhà không nhiều, thiếu thốn tiện nghi sinh hoạt; Nguồn nước sử dụng chủ yếu từ sông, rạch hoặc giếng đào, không có nguồn nước sạch Các công trình công cộng như: chợ, điện, đường, trường học, trạm y tế cũng rất tạm bợ Đường giao thông nhiều nơi vẫn là đường đất, cầu tre, cầu khỉ chiếm tỷ lệ lớn, đi lại chủ yếu bằng ghe, thuyền Phần lớn nông dân thiếu vốn sản xuất, chi phí vật tư, cây giống, phân bón, thuốc trừ sâu, đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp bấp bênh, không ổn định đã làm cho người dân nơi đây đời sống gặp nhiều khó khăn Sống tại khu vực này nên NYT Tây Nam bộ nhìn chung cũng có những đặc điểm tương đồng lớn của người dân nghèo nơi đây

1.3 Mối quan hệ giữa THTT và NYT tại Việt Nam

1.3.1 Nhiệm vụ của báo chí trong việc phản ánh về NYT

Ở Việt Nam, báo chí là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, diễn đàn của nhân dân, đồng thời là cầu nối hữu hiệu giữa những chính sách đó và việc thực thi trong đời sống thực tiễn Báo chí vừa là công cụ để cung cấp tri thức mọi mặt cho con người, là phương tiện giao lưu, hiểu biết thế giới và giữa các quốc gia, công

cụ văn hóa, giải trí, thư giãn đồng còn được coi là nguồn lực phát triển kinh tế xã hội, bài trừ tiêu cực, xây dựng những điển hình, nhân tố mới

Đối tượng hướng tới của báo chí là đông đảo quần chúng nhân dân, các giai tầng trong xã hội Nội dung thông tin cả báo chí phản ánh tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội Thông qua việc phản ánh, báo chí hình thành và thành và tạo dựng

dư luận xã hội rộng lớn theo mục tiêu và định hướng có tính đại chúng NYT là một bộ phận làm nên dân cư quốc gia, là một đối tượng hướng tới của mạng lưới

an sinh xã hội Chính vì vậy, NYT là đối tượng phản ánh đặc biệt của báo chí Ngược lại, báo chí phải có trách nhiệm phản ánh về NYT để xã hội nhận thức được đúng đắn về vấn đề này Qua đó, chính báo chí góp phần nâng cao nhận thức của NYT khi mang lại cơ hội cho họ tự tin và tự lập trong cuộc sống

Nghị quyết Trung ương khóa X về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới ngày 1 tháng 8 năm 2007, chỉ rõ: “Báo chí phải nắm vững và

Trang 31

tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, có hiệu quả chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bám sát nhiệm vụ công tác tư tưởng, tích cực tuyên truyền, cổ vũ thành tựu của công cuộc đổi mới ” Như vậy, để làm tốt được vai trò của mình trong việc phán ánh về NYT, trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ: Tuyên truyền, cổ vũ; giáo dục… báo chí cần chú trọng lồng ghép các vấn đề NYT Cụ thể báo chí cần:

Thông tin đầy đủ, k p th i, chính xác các chủ trư ng, đư ng l i của ng, chính sách của h nước đ i với nhóm NYT

Từ Đại hội VII (năm 1991) đến nay, xóa đói, giảm nghèo đã trở thành Chương trình mục tiêu quốc gia Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh: “… huy động mọi nguồn lực của Nhà nước và toàn xã hội, Nhà nước tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích mọi người giúp đỡ người nghèo Thực hiện trợ cấp xã hội đối với những người có hoàn cảnh đặc biệt không thể tự lao động, không có người bảo trợ, nuôi dưỡng…” Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách bảo vệ, chăm sóc, trợ giúp người nghèo, người tàn tật, NYT Đây là chủ trương hoàn toàn ph hợp với truyền thống tương thân tương ái, nhân đạo của dân tộc đồng thời phù hợp với xu hướng phát triển quốc tế Chính vì vậy, báo chí cần phải làm tốt việc tuyên truyền các chủ trương, chính sách này vào cuộc sống Để làm được điều này, một mặt, báo chí cần đăng tải, giới thiệu, phổ biến các chủ trương chính sách của Nhà nước vào cuộc sống, mặt khác, báo chí phải trở thành kênh giám sát việc thực hiện những chính sách này trong trong xã hội Ngoài ra, báo chí cần bám sát đời sống NYT, nắm được tâm tư, nguyện vọng của họ để làm công tác tham mưu cho các cơ quan hoạch định chính sách có những bổ sung, điều chỉnh phù hợp và hiệu quả

Phát hi n, c v , kh ch l YT vư n l n trong cu c s ng

Hiện nay, trong xã hội có rất nhiều người khuyết tật thậm chí là khuyết tật nặng nhưng đã nỗ lực vượt qua bệnh tật, khó khăn tự tạo được việc làm cho bản thân, cho người cùng cảnh Nhiều người khuyết tật dù không thể đến trường nhưng đã tự học, nghiên cứu trở thành những kỹ sư, nhà khoa học, nhà sáng chế, vận động viên, doanh nhân, nghệ sĩ tài năng… Họ chính là những tấm gương tiêu biểu về nghị lực sống cho không chỉ những người đồng cảnh, đồng tật mà còn là

Trang 32

tấm gương cho cộng đồng Vì vậy, báo chí cần tích cực tìm tòi và phát hiện những tấm gương điển hình để kịp thời biểu dương, nhân rộng những điển hình vượt khó trong xã hội, khích lệ bản thân họ tiếp tục vươn lên cống hiến cho gia đình và xã hội Như đã biết, sự hỗ trợ về vật chất đối với NYT là cần thiết, tuy nhiên, sự đánh giá, nhìn nhận của xã hội đúng mức về họ còn rất quan trọng Sự đánh giá này có tác dụng rất cổ vũ tinh thần họ rất lớn, giúp họ có thêm tự tin khi

là những công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội

Nâng cao nh n th c cho toàn xã h i và cho b n thân NYT

NYT thường bị gia đình xã hội kỳ thị phân biệt Chính vì vậy, đa số NYT

có tâm lý tư ti, bi quan, chán nản sống không mục đích, niềm tin và hy vọng Lâu dần, nhiều người còn nảy sinh tâm lý ỷ lại, dựa dẫm vào xã hội không tự nỗ lực vươn lên Để giúp NYT thoát khỏi suy nghó này, báo chí cần đến được với NYT, thông qua các bài viết nghiên cứu sâu về lĩnh vực này, phân tích, bình luận, cung cấp thông tin giúp họ nhận thức đúng về bản thân Từ nhận thức đúng về bản thân, họ sẽ hiểu mình đang gặp những khó khăn gì, được Nhà nước, xã hội trợ giúp ra sao, bản thân họ có những khả năng gì và họ có thể kết hợp những khả năng đó c ng với sự trợ giúp của xã hội thu xếp cuộc sống của mình Báo chí phải góp phần nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vấn đề NYT Giúp cho toàn

xã hội hiểu, NYT không đơn thuần chỉ là đối tượng của sự trợ giúp, của bảo trợ

từ thiện và xã hội mà họ còn có thể là những công dân có nhiều đóng góp cho xã hội đều được hỗ trợ kịp thời và phù hợp Để làm được điều này, trước tiên, báo chí cần phải hiểu rõ và hiểu đúng về NYT

Tóm lại, báo chí cần đồng thời làm tốt cả ba nhiệm vụ: Tuyên truyền chủ trường, đường lối của Đảng, Nhà nước; cổ vũ, biểu dương những tấm gương NYT khiếm khuyết điển hình vượt khó; giáo dục nâng cao hiểu biết cho NYT để tạo ra sức mạnh tổng hợp, góp phần giúp NYT nâng cao năng lực Khi mỗi NYT

am hiểu những chủ trương, chính sách của Nhà nước, được cổ vũ khích lệ, được trang bị kiến thức, lòng tin… cộng với sự đồng cảm, chia sẻ và tin tưởng của toàn

xã hội, NYT hoàn toàn có thể tự mình thu xếp cuộc sống, tham gia kiến tạo của cải vật chất cho xã hội

Trang 33

1.3.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng một tác phẩm truyền hình

Có rất nhiều tiêu chí để nhìn nhận và đánh giá chất lượng của một tác phẩm truyền hình Đồng thời, t y theo mục đích đánh giá chương trình khác nhau cũng dẫn tới việc các tiêu chí đánh giá cũng khác nhau Đề cập đến tính hấp dẫn của

một tác phẩm báo chí, tác giả Nguyễn Văn Dững có đưa ra 3 tiêu chí: Th nh t là

"tác ph m đó ph i thông tin v n đề, sự ki n k p th i", "nóng h i" v "đư c ư

lu n xã h i quan tâm, mu n bi t, cần đư c thông tin, cần đư c gi i thích và gi i đáp ngay hôm nay"; thứ hai là "cách s p x p của nhà báo là phát hi n, lựa ch n,

s p x p các chi ti t thành tác ph m thông đi p để có thể t o ra ý t i ngôn ngo i"; thứ ba là cách trình bày diễn đạt, kết cấu chặt chẽ, ngôn ngữ trong sáng,

dễ hiểu và "có s c cu n h t đ i với công chúng- nhóm đ i tư ng" Và "để có

đư c m t tác ph m báo chí hay, h p d n công chúng ph i là m t quá trình lao

đ ng nghiêm túc, công phu" [1, tr.106]

Thông thường, với một tác phẩm truyền hình, hai yếu tố chính thường được đánh giá là nội dung và hình ảnh Tuy nhiên, không phải tác phẩm nào cũng dựa trên hai yếu tố này để nhìn nhận chất lượng Bởi t y theo tính chất và mục đích mới có thể quyết định đâu là yếu tố quan trọng để đánh giá chất lượng một tác phẩm tryuền hình Ch ng hạn, với những chương trình phản ánh các vấn đề tiêu cực của xã hội, phóng sự điều tra, chất lượng hình ảnh lại không phải là yếu tố hàng đầu để kh ng định tác phẩm hay hay không Hình ảnh có thể nhiễu, rung, giật, lắc… nhưng nếu đó là những hình ảnh tốt, phục vụ cho nội dung thì vẫn được chấp nhận Với những chương trình như thế này, nội dung, cách phản ánh

và khai thác vấn đề mới là yếu tố cốt lõi để làm nên chất lượng chương trình Vì vậy, để đánh giá chất lượng của một tác phẩm truyền hình, về cơ bản vẫn dựa trên một số tiêu chí về cả nội dung và hình thức như sau

ề t i: Đề tài là một trong các yếu tố quan trọng nhất để quyết định tới sức

hấp dẫn và thu hút của một tác phẩm truyền hình Xác định đề tài cũng là bước đầu tiên trong quá trình thực hiện một tác phẩm báo chí nói chung, tác phẩm truyền hình nói riêng Một đề tài tốt vừa đáp ứng được nhu cầu thông tin của công chúng, mang hơi thở xã hội và phải luôn là đề tài “nóng” nhưng cũng đồng thời đề tài cũng phải mang tính phát hiện hoặc có những góc nhìn mới Bản thân

Trang 34

đề tài đã hàm chứa một ý nghóa xã hội nào đó bởi đề tài được phát hiện và sinh

ra từ chính hiện thực đời sống xã hội Một chương trình chọn được đề tài tốt là đã đảm bảo 50% sự thành công cho tác phẩm đó bởi đề tài chính là bộ khung để xây dựng nên cả chương trình

hi ti t: Các chi tiết trong chương trình chính là điểm nhấn khiến khán giả

nhớ đến câu chuyện trong chương trình Chi tiết có thể là một hành vi, lời nói, một cử chỉ hoặc thậm chí chỉ là một hình ảnh mang tính chất biểu tượng nhưng chính những chi tiết nhỏ này, tác giả có thể miêu tả cụ thể, phản ánh và lồng ghép

cả quan điểm, cách nhìn nhận về vấn đề của bản thân vào tác phẩm Bởi bản thân mỗi chi tiết đều có khả năng biểu đạt tư tưởng, thái độ và ý nghóa xã hội Những tác phẩm có chi tiết “đắt” có khả năng phản ánh rõ nhất bản chất của sự kiện và biểu đạt ý đồ tư tưởng một cách khách quan nhất Khi khán giả nhớ được một vài chi tiết trong chương trình là họ có thể nhớ tới nội dung của chương trình, tác phẩm phần ấy Các chi tiết rất có ý nghĩa bởi chỉ cần tìm được một vài chi tiết nhỏ nhưng “đắt” thôi cũng đủ để tạo nên sức nặng cho cả một tác phẩm Bởi vậy, một tác phẩm, chương trình hay nhất thiết phải tạo được những chi tiết “đắt” làm điểm nhấn cho chương trình Điều này lại đòi hỏi trình độ nghề nghiệp và năng lực sáng tạo của nhà báo

h nh ki n: Trong một tác phẩm báo chí, chính kiến thể hiện thái độ, quan

điểm của tác giả về vấn đề sự kiện hay câu chuyện được phản ánh.Chính kiến được thể hiện trong một tác phẩm truyền hình góp phần định hướng dư luận xã hội về sự kiện, vấn đề được nói tới Nếu đề tài là hiện thực cuộc sống, thì việc phản ánh đề tài đó như thế nào, lựa chọn góc tiếp cận thế nào…lại phụ thuộc nhiều vào chính kiến của tác giả Đây là yếu tố giúp cho tác phẩm có được cái chất riêng không lẫn với những tác phẩm c ng phản ánh đề tài đó Mặt khác, chính kiến trong tác phẩm phải có tính thuyết phục Tính thuyết phục ấy dựa trên

cơ sở khoa học và thực tiễn đúng đắn, khách quan Một tác phẩm báo chí tốt không chỉ có đề tài hay, có các chi tiết đắt giá mà người xem còn nhận ra cái chất riêng của tác giả trong ấy, nhận ra quan điểm của người làm đối với sự việc hiện tượng ấy Không thể có một tác phẩm nêu lên một đề tài hay nhưng không đưa chỉ ra được cho khán giả cách nhìn nhận, định hướng cho đề tài ấy

Trang 35

Thông đi p, tư tư ng: Thông điệp mà mỗi tác phẩm gửi gắm có vai trò quyết

định trong nội dung tác phẩm báo chí Thông điệp không hiện diện bên ngoài mà là

sự thống nhất của tất cả các yếu tố nội dung biểu hiện qua các chi tiết, cách thể hiện,

bố cục kết cấu Sau khi theo dõi một bài báo hoặc chương rtình truyền thanh, truyền hình thì người xem phải nhìn ra được chủ đề tư tưởng mà tác giả hướng tới Bởi mục đích cuối c ng của một tác phẩm báo chí là có thể truyền tải được thông điệp tới khán giả.Vì vậy, nếu chỉ đơn thuần là cung cấp thông tin thì công chúng có thể tìm kiếm ở vô vàn kênh truyền thông khác mà không cần phải là báo chí Chính thông điệp, tư tưởng là điểm khác biệt tạo nên giá trị cốt lõi cho một tác phẩm báo chí khác với các sản phẩm truyền thông khác

ác y u t như văn phong, thể lo i, c c : Ngoài nội dung tốt, một tác

phẩm báo chí hay còn phải biết cách sử dụng các yếu tố hình thức như ngôn ngữ, bút pháp, bố cục, văn phong… sao cho ph hợp Kết cấu chương trình chính là cách tổ chức, mối quan hệ giữa các bộ phận của một tác phẩm báo chí Chương trình có kết cấu hợp lý thì nó có thể giúp công chúng tiếp nhận các thông tin một cách nhanh nhất và đầy đủ nhất, các thông tin được sắp xếp ph hợp để tạo nên sức thuyết phục cao nhất Tác phẩm báo chí nói chung, chương trình truyền hình nói riêng đều có nhiều cách kết cấu tác phẩm t y theo mục đích của tác giả Và trong quá trình thực hiện, các kiểu kết cấu cũng được vận dụng linh hoạt để đạt được hiệu quả tốt nhất

i u qu tác đ ng x h i: Yếu tố cuối c ng để đánh giá một tác phẩm báo

chí truyền hình thành công hay không chính là khả năng tác động của nó tới công chúng Mọi tác phẩm báo chí đều có đối tượng lớn nhất và cuối c ng chính là hướng tới khán giả Bởi vậy, rõ ràng, hiệu quả tác động của chương trình tới công chúng như thế nào chính là thước đo sự thành công và một phần chất lượng của chương trình Lý thuyết thương hiệu của Mc Dowell (2005) phân tích rằng, xây dựng thương hiệu kênh truyền hình là xây dựng hình ảnh về kênh truyền hình trong tâm trí khán giả Rõ ràng, khán giả - người tiêu dùng - khách hàng của các kênh truyền hình là đối tượng quan trọng nhất để làm cơ sở cho mọi chiến lược thương hiệu

Trang 36

Đã qua rồi giai đoạn báo chí chỉ có nhiệm vụ cung cấp thông tin mà không cần biết thông tin có ích và tác động tới khán giả như thế nào Hiện nay, thời buổi thông tin toàn cầu, vô vàn phương thức truyền tin ra đời Do vậy, báo chí không chỉ có nhiệm vụ truyền tải thông tin mà còn phải xác định thông tin ấy có được công chúng đón nhận hay không và tác động tới suy nghĩ, hành vi của họ như thế nào, ngược lại công chúng còn tương tác trở lại nguồn tin và làm phong phú thêm nguồn tin ấy Đó chính là mục đích lớn hơn của báo chí nói chung và truyền hình nói riêng Vì vậy, những phản hồi, sự đón nhận, sự thay đổi suy nghĩ, thái độ và hành vi của công chúng chính là chiếc gương phản chiếu chất lượng của chương trình Tất cả việc vận dụng kỹ năng nghề nghiệp, cách lựa chọn đề tài, phản ánh

đề tài theo góc nhìn nào, sử dụng thủ pháp nghệ thuật nào để thực hiện v.v đều dẫn tới một kết quả duy nhất là thuyết phục được khán giả và tác động khiến họ thay đổi nhận thức

1.3.3 Cơ chế và phương thức tác động của THTT đối với NYT

Xuất phát từ chủ trương, chính sách an sinh xã hội, từng bước cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân, xóa đói giảm nghèo, trợ giúp cộng đồng đối với các nhóm có hoàn cảnh khó khăn, trong đó, các cơ quan báo chí truyền thông có nhiệm vụ tăng cường công tác thông tin, truyền thông về an sinh xã hội, chú trọng đến người dân, nhất là các hộ nghèo, xã nghèo, huyện nghèo, từ nhiều năm nay mỗi Đài phát thanh và truyền hình ở các tỉnh thành trên cả nước đều có ít nhất một chương trình với mục đích nhân đạo giúp đỡ các hoàn cảnh khó khăn

như: K t n i những m nh đ i - Đài PTTH tỉnh Quảng Nam, Mái m tình thư ng

- Đài PTTH Bình Dương, ư t qua hiểm nghèo - Đài PTTH Long An, Mái m nghĩa tình - Đài PTTH Tiền Giang, Nh p cầu nhân ái - Đài PTTH Bạc Liêu, Mái

m tình thư ng - Đài PTTH Sóc Trăng, Nh p cầu nhân ái - Đài PTTH Đồng Tháp, Mái m ATV - Đài PTTH An Giang, HTV có loạt chương trình: Ngôi nhà

m ước, Câu chuy n ước m , Giai đi u tình thư ng, oa cu c s ng, Tỏa sáng giữa đ i thư ng ; VTV có cả chuyên mục Truyền hình nhân đ o thành lập năm

1992 phát sóng trên kênh VTV1 và VTV4 v.v

Ban đầu, các chương trình về NYT ra đời dưới dạng các chuyên mục ngắn thời lượng từ 5 phút đến 10 phút, chủ yếu thông tin, phóng sự giới thiệu về

Trang 37

những hoàn cảnh khó khăn Sau đó, các chương trình nhân đạo tiếp tục ra đời với thời lượng dài hơn từ 15 phút- 30 phút bao gồm talkshow, trò chuyện thực tế Nội dung chương trình cũng phong phú hơn khi hướng đến các chủ đề, đối tượng

chuyên biệt khác nhau (Chương trình Mái m tình thư ng của Đài PTTH Bình

Dương, Ch p cánh ước m của Đài PTTH Vĩnh Long ) Đặc biệt thời gian này,

các chuyên mục nhân đạo có xu hướng thể hiện theo dạng THTT (reality show)

như: chương trình gôi nh m ước của HTV mang đậm nét sự trải nghiệm của người dẫn chương trình khi tìm đến tận nhà nhân vật; chương trình hư chưa hề

có cu c chia ly của VTV3 xoáy vào chủ đề tìm kiếm người thân bị thất lạc và d cuộc hội ngộ bất ngờ cảm động; chương trình Trái tim nhân ái của THVL là

hành trình thực tế đồng hành cùng bệnh nhân mổ tim

Có thể nói, cho đến nay, THTT vẫn là cách thể hiện hiệu quả nhất bởi nó có thể phản ánh sinh động hiện thực cuộc sống khó khăn của những mảnh đời nghèo, mang đến cho người xem sự trải nghiệm thiết thực để dễ dàng đồng cảm hơn với cảnh sống của nhân vật, đồng thời tạo được sự bất ngờ trong cảm xúc người xem nhằm góp phần tăng hiệu quả xã hội của chương trình Thông qua việc lựa chọn và phát sóng hàng ngày, các đài truyền hình đã định hướng được sự chú ý của công chúng và tác động lên nhận thức của họ về vấn đề của NYT Đó chính là lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự như PGS.TS Nguyễn Thành Lợi

đã chỉ ra trong Bàn về lý thuy t thi t l p chư ng trình ngh sự trong môi trư ng truyền thông internet Vận dụng Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự, báo

chí đã thiết kế ra các tuyến nội dung truyền thông khiến công chúng có những suy nghĩ mới hơn về NYT Trước đây thông tin về NYT không được báo chí lựa chọn để đưa tin, không phải là vấn đề quan trọng để công chúng quan tâm và cần cung cấp thông tin Gần đây, nhiều nhà đài đã thiết lập “chương trình nghị sự” khác biệt cho công chúng khi cho lên sóng hàng loạt format chương trình truyền hinh thực tế từ thiện nhân đạo, khách quan, đa chiều, có nhiều góc độ tích cực hơn về NYT Những thông tin về NYT xuất hiện trên truyền hình được phóng viên ghi nhận một cách khách quan cả những mảng tối và sáng Lấy NYT làm đối tượng chính phản ánh nhưng THTT không sa đà vào việc than nghèo kể khổ lấy nước mắt khán giả, để lượt view tăng cao Hoặc chỉ tuyên truyền một chiều

Trang 38

những chủ trương đường lối chính sách hỗ trợ của đảng nhà nước đến NYT, hoặc những gương người tốt việc tốt biết vươn lên, mà báo chí còn tuyên truyền chiều ngược lại, phản ánh nâng cao nhận thức của NYT, khắc phục tình trạng trông chờ, ỷ lại, đánh giá đúng vai trò của NYT để đẩy mạnh công tác xoá đói giảm nghèo, ASXH đạt kết quả tốt

Không hoàn toàn nuông chiều thị hiếu người xem, các chương trình thực tế

về đối tượng NYT đã chọn một hướng đi riêng biệt để thức tỉnh lòng trắc ẩn đôi khi ngủ yên trong mỗi người xem Để mang lại nước mắt, niềm vui cho những NYT trong cuộc, và cho như khán giả thì kịch bản của các chương trình nói trên phải thực hiện chặt chẽ, chân thực, ít sự dàn xếp, giữ được tính khách quan, trung thực Từ phạm vi khu vực phía nam, thành phố Hồ Chí Minh, miền Trung, miền Đông Nam Bộ, các chương trình đã vươn dài phạm vi cả nước Không phải giải thưởng là hàng trăm triệu đồng hay sự nổi tiếng như phần lớn các chương trình THTT khác, chương trình thực tế về NYT mang đến một hơi hướng mới cho đối tượng NYT cần giúp đỡ, đó là sự vững tin, mạnh mẽ về ý chí nghị lực, để NYT

tự tin hoà nhập vào cuộc sống Đó là nhiệm vụ cao nhất mà báo chí cần đạt được

1.3.4 Nguyên tắc thực hiện chương trình THTT về NYT

Do đặc th là một nhóm đối tượng khá rộng trong xã hội bao gồm trẻ em, người nghèo, người khuyết tật, người già, người mắc bệnh hiểm nghèo… nên về mặt văn bản luật hiện hành và các quy định pháp lý thì NYT chưa được bảo vệ đầy đủ Bởi vậy, trong quá trình thực hiện phong cách truyền hình thực tế cho NYT- nhóm đối tượng nhạy cảm và cần được bảo vệ này, thì phóng viên cần thực sự tôn trọng đạo đức nghề nghiệp người làm báo Trong quá trình thực hiện,

có một số nguyên tắc mà nhà báo phải tuân theo để đảm bảo giá trị và ý nghĩa thông tin chương trình

- t l i ch YT l n h ng đầu: Nguyên tắc đầu tiên đó là cần đặt lợi ích

NYT lên hàng đầu, bất kể, NYT là đối tượng phản ánh hay đối tượng thụ hưởng chương trình Vì như thế, họ sẽ thấy mình đang được bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, và cơ quan bảo vệ họ là báo chí Hiện nay, khi mà các chương trình đang bị tác động và chi phối bởi nhiều thứ, có nhiều trường hợp, người thực hiện chỉ quan tâm tới rating chương trình, quan tâm tới việc chương trình kịp lên

Trang 39

sóng.v.v mà quên mất việc bảo vệ lợi ích của chính nhóm đối tượng trung tâm của mình là NYT Nó không chỉ làm mất niềm tin của họ vào chương trình mà còn vi phạm vào quy định đạo đức nghề nghiệp người làm báo

- Sử ng hình nh, thông tin khách quan, chân th t: Trong sáng tạo tác

phẩm THTT cần lưu ý đó là tính xác thực của chi tiết trong chương trình Tính chân thực không chỉ là nguyên tắc báo chí mà nó còn chứa đựng khả năng tạo sức thuyết phục rất cao THTT luôn đòi hỏi thật như nó vẫn có, không được phép hư cấu Đây không chỉ là nguyên tắc của người làm báo nói chung mà còn

là nguyên tắc cần thiết với người thực hiện chương trình thực tế về NYT Do tính chất, đặc điểm, vai trò của báo chí tác động và chi phối tới xã hội nên việc sử dụng hình ảnh, thông tin như thế nào cũng quyết định phần lớn tới cách nhìn nhận của công chúng với NYT như thế Bởi vậy, việc sử dụng thông tin cần sự khách quan chân thật cũng là thể hiện đạo đức nghề nghiệp của người làm báo, thể hiện tinh thần trách nhiệm đối với thông tin của mình và sự tôn trọng đối với công chúng, đặc biệt là công chúng NYT Sử dụng yếu tố nghệ thuật trong chương trình, dàn dựng trên cơ sở sự thật của vấn đề có tác dụng làm mềm hóa vấn đề, đồng thời tạo vùng cảm xúc cho người xem Tuy nhiên, cần cân nhắc tính

uỷ mỵ, sướt mướt trong việc tả thực các chi tiết, không nên vì đảm bảo yếu tố cảm xúc mà quên đi việc tuân thủ bản chất sự kiện, vấn đề, câu chuyện sẽ mất đi tính khách quan vốn có

Sử ng ngôn ngữ thân thi n, ph h p với từng đ i tư ng, thể hi n sự tôn

tr ng v công ng với YT: Với NYT, rào cản hữu hình mà họ gặp phải lâu

ngày đã trở thành những rào cản vô hình về tâm lý Từ đó, họ luôn cho rằng mình

ở ngoài xã hội và nảy sinh tâm lý dễ tổn thương hơn người bình thường Ngôn ngữ là cầu nối quan trọng để chương trình đến được với NYT Trước tiên, ngôn ngữ phải chuẩn mực, thể hiện sự tôn trọng và công bằng Sau nữa, ngôn ngữ phải

ph hợp với từng nhóm đối tượng riêng biệt Cụ thể, người khiếm thính có ngôn ngữ ký hiệu và họ cảm thấy được tôn trọng khi cộng đồng gọi người khiếm thính chứ không phải người điếc Người dân tộc phải d ng tiếng dân tộc để giao tiếp với họ Hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật, họ mong muốn được yêu thương chứ không phải thương hại

Trang 40

Tôn tr ng quyền ri ng tư cá nhân, sử ng hình nh ho c thực hi n chư ng trình ph i có sự đ ng của YT ho c ngư i giám h : Với một số nhóm đối

tượng nhạy cảm như trẻ em vị thành niên, người mắc bệnh hiểm nghèo, người có tâm lý ngại đám đông và không muốn công khai danh tính thì chương trình cần tôn trọng quyền riêng tư của họ Mỗi công dân đều có quyền đối với hình ảnh của mình được quy định trong luật dân sự Khi đăng tải, phát sóng, sử dụng các hình ảnh liên quan tới NYT thì cần nhận được sự cho phép của người đó hoặc người giám hộ trực tiếp

ần có sự c i ch nh nghi m t c n u thông tin vi ph m lu t v vi ph m đ o

đ c nghề nghi p: Những sai sót trong quá trình thực hiện sẽ trở nên nghiêm

trọng nếu không người làm báo không có thái độ cầu thị, không nhìn ra cái sai của bản thân Nó không chỉ làm mất uy tín của chương trình, của cơ quan đơn vị

và cả bản thân người thực hiện mà còn làm mất niềm tin từ chính NYT vào hệ thống báo chí nói chung Như vậy, với mong muốn thay đổi nhận thức và hành vi của NYT, của cộng đồng với NYT thì cũng khó thành hiện thực

1.3.5 Quy trình thực hiện chương trình THTT cho NYT

Tuỳ theo chương trình mà các chương trình THTT về NYT mà các đài có điểm giống và khác nhau về cách thức tiền kỳ, ghi hình và hậu kỳ Mỗi chương trình cũng đòi hỏi số lượng nhân sự khác nhau, thời gian tổ chức sản xuất khác nhau để đảm bảo hậu kỳ xử lý nội dung, hình ảnh, kỹ xảo hiệu ứng, lời bình…

* Quy trình thực hiện chương trình THTT dành cho NYT thông thường phải

đảm bảo 03 bước:

- Tiền kỳ:

+ Tìm hiểu và nghiên cứu thực tế

+ Xác định chủ đề, tư tưởng cho tác phẩm

+ Phác thảo đề cương kịch bản và kịch bản chi tiết

+ Liên hệ các bộ phận liên quan để chuẩn bị khâu sản xuất, ghi hình thực địa

- Ghi hình:

+ Tiến hành ghi hình theo kịch bản phác thảo

+ Bổ sung yếu tố thực tế trên hiện trường vào kịch bản

- Hậu kỳ:

Ngày đăng: 12/03/2021, 14:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w