Giá trị của từ ngữ chỉ sự vật liên quan đến con người và chiến tranh trong tiểu thuyết Trước giờ nổ súng của Lê Khâm trong việc thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm .... Giá trị của
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Chanxaikham KHOUNTHILARD
TỪ NGỮ CHỈ SỰ VẬT TRONG TIỂU THUYẾT
“TRƯỚC GIỜ NỔ SÚNG” CỦA LÊ KHÂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN, NĂM 2020
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Chanxaikham KHOUNTHILARD
TỪ NGỮ CHỈ SỰ VẬT TRONG TIỂU THUYẾT
“TRƯỚC GIỜ NỔ SÚNG” CỦA LÊ KHÂM
Ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 8.22.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THU QUỲNH
THÁI NGUYÊN, NĂM 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu khảo sát, thống kê, nghiên cứu, kết luận trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố ở bất kì công trình nào khác
Ngày 28 tháng 9 năm 2020
Tác giả
Chanxaikham KHOUNTHILARD
Trang 4
LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS Nguyễn Thu Quỳnh,
người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Luận văn này là kết quả của một quá trình học tập và nghiên cứu Vì vậy, tôi xin chân thành cảm ơn đến những người thầy, người cô đã giảng dạy các chuyên đề cao học cho lớp Ngôn ngữ K26 (2018 - 2020) tại trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, người thân đã luôn ủng hộ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2020
Tác giả
Chanxaikham KHOUNTHILARD
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp, thủ pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của luận văn 4
6 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt 6
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về tiểu thuyết Trước giờ nổ súng của Lê Khâm và ngôn ngữ trong tác phẩm 9
1.2 Cơ sở lí luận và thực tiễn 11
1.2.1 Cơ sở ngôn ngữ học 11
1.2.2 Cơ sở thực tiễn 34
1.3 Tiểu kết 36
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ CHỈ SỰ VẬT LIÊN QUAN ĐẾN CON NGƯỜI VÀ CHIẾN TRANH TRONG TIỂU THUYẾT TRƯỚC GIỜ NỔ SÚNG CỦA LÊ KHÂM 38
Trang 62.1 Đặc điểm cấu tạo của từ ngữ chỉ sự vật liên quan đến con người và
chiến tranh trong tiểu thuyết Trước giờ nổ súng của Lê Khâm 38
2.1.1 Khái quát về cấu tạo của từ ngữ chỉ sự vật liên quan đến con người và chiến tranh 38
2.1.2 Đặc điểm cấu tạo của từ chỉ sự vật liên quan đến con người và chiến tranh 40
2.1.3 Đặc điểm cấu tạo của ngữ chỉ sự vật liên quan đến con người và chiến tranh 42
2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ sự vật liên quan đến con người và chiến tranh trong tiểu thuyết Trước giờ nổ súng của Lê Khâm 46
2.2.1 Khái quát về từ ngữ chỉ sự vật liên quan đến con người và chiến tranh 46 2.2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ sự vật liên quan đến con người 51
2.2.3 Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ sự vật liên quan đến chiến tranh 59 2.3 Tiểu kết 73
Chương 3 GIÁ TRỊ CỦA TỪ NGỮ CHỈ SỰ VẬT LIÊN QUAN ĐẾN CON NGƯỜI VÀ CHIẾN TRANH TRONG TIỂU THUYẾT TRƯỚC GIỜ NỔ SÚNG CỦA LÊ KHÂM 75
3.1 Giá trị của từ ngữ chỉ sự vật liên quan đến con người và chiến tranh trong tiểu thuyết Trước giờ nổ súng của Lê Khâm trong việc thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm 75
3.1.1 Khắc họa hiện thực cuộc sống và hiện thực chiến tranh khốc liệt 75 3.1.2 Ngợi ca phẩm chất anh hùng của người lính và tinh thần yêu nước, căm thù giặc của người dân Lào 81
3.2 Giá trị của từ ngữ chỉ sự vật liên quan đến con người và chiến tranh trong tiểu thuyết Trước giờ nổ súng của Lê Khâm trong việc thể hiện phong cách nghệ thuật của tác giả 84
3.2.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 84
3.2.2 Nghệ thuật khắc họa không gian, thời gian 90
3.3 Tiểu kết 98
KẾT LUẬN 100
Trang 7CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 107
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Bảng các diện đối lập cơ bản trong phạm trù danh từ của
Nguyễn Văn Lộc 21Bảng 2.1: Cấu tạo của từ ngữ chỉ sự vật liên quan đến con người và chiến
tranh trong tiểu thuyết Trước giờ nổ súng của Lê Khâm 38
Bảng 2.2: Số lượng từ ngữ chỉ sự vật liên quan đến con người và chiến
tranh trong tiểu thuyết Trước giờ nổ súng của Lê Khâm 47
Bảng 2.3: Các nhóm từ ngữ chỉ sự vật liên quan đến con người trong
tiểu thuyết Trước giờ nổ súng của Lê Khâm 48
Bảng 2.4: Các nhóm từ ngữ chỉ sự vật liên quan đến chiến tranh trong
tiểu thuyết Trước giờ nổ súng của Lê Khâm 48
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Sự hình thành nghĩa của từ 25
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ tam giác nghĩa của C K Ogden và I A Richards 26
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ hình tháp ngữ nghĩa của Đỗ Hữu Châu 26
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Từ ngữ là một phạm trù ngôn ngữ quan trọng vào bậc nhất trong đời sống con người Trên một ý nghĩa nhất định, cũng có thể nói, ngôn ngữ được hình thành từ hệ thống từ ngữ Điều này lí giải không phải ngẫu nhiên mà trong các truyện cổ của nhiều dân tộc trên thế giới về nguồn gốc ban đầu của con người thường có những tình tiết về việc con người đặt tên cho các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan
Từ ngữ chỉ sự vật là một bộ phận cơ bản trong hệ thống từ ngữ của một ngôn ngữ Nó là một loại vật liệu đặc biệt mà nếu thiếu thì không thể nói đến
sự tồn tại của ngôn ngữ Vì vậy, khi nghiên cứu bất kì ngôn ngữ nào, người ta cũng không thể không nghĩ tới việc xác định về loại đơn vị là từ ngữ nói chung
và từ ngữ chỉ sự vật nói riêng Đây là một nhóm từ chiếm số lượng lớn, đóng vai trò trọng tâm và là chỗ dựa quan trọng để nghiên cứu về hệ thống từ ngữ của một ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng Tìm hiểu về lớp từ ngữ chỉ sự vật ở phương diện cấu tạo, ngữ nghĩa trong một tác phẩm văn học cụ thể
có thể coi là một hướng đi khả quan góp phần đào sâu phân tích về một lớp từ ngữ cơ bản trong tiếng Việt khi nó được đưa vào sử dụng
Lê Khâm (còn có bút danh là Phan Tứ) là một trong những nhà văn xuất sắc viết về đề tài chiến tranh cách mạng Với vốn sống phong phú trong quá trình tham gia chiến đấu ở Hạ Lào, tinh thần quốc tế vô sản, tinh thần đoàn kết giữa hai dân tộc Việt - Lào, Lê Khâm đã có nhiều tác phẩm viết về mối tình
chiến đấu hữu nghị của hai dân tộc Có thể nói, cùng với Mẫn và tôi, Trước giờ
nổ súng là hai đỉnh cao trong đời viết văn của Lê Khâm Tác phẩm được xây dựng theo kiểu cốt truyện phiêu lưu như sử thi Odyssee và Ramayana, có sự
xen cài giữa cái tốt và cái xấu, cái anh hùng và sự hèn nhát… Ở đơn vị CC3 của quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ trinh sát, chuẩn bị cho trận mở màn đánh đồn Pà Thạc (Lào), bộ đội Việt Nam và Lào phải trải qua nhiều gian
Trang 11nan và thử thách, thậm chí bị tổn thất nặng nề như: bị địch phục kích, thiếu gạo, thiếu nước, mất điện đài không liên lạc được, nội bộ phân hóa, người thì giảm sút ý chí đi đến tự sát, người bị sa vào tay giặc, kẻ đào ngũ, người hi sinh, cuối
cùng chỉ còn một người duy nhất đem được tài liệu về tới mặt trận “trước giờ
nổ súng”
Với cách tiếp cận vấn đề từ phương diện từ ngữ chỉ sự vật, luận văn hướng đến việc khai thác sự sử dụng của Lê Khâm ở một lớp từ cơ bản là từ ngữ chỉ sự vật để thấy được bức tranh chiến trường và những người lính cùng với những điều thú vị về bút pháp ngôn từ của tác giả Xuất phát từ những lí do
trên, đề tài Từ ngữ chỉ sự vật trong tiểu thuyết “Trước giờ nổ súng” của Lê
Khâm được lựa chọn để thực hiện nghiên cứu
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích cơ bản của luận văn này là làm rõ đặc điểm của lớp từ ngữ chỉ
sự vật trong tiểu thuyết Trước giờ nổ súng của Lê Khâm trên các phương diện
cấu tạo, ngữ nghĩa và giá trị nghệ thuật của lớp từ ngữ chỉ sự vật trong tác phẩm Trên cơ sở đó, giúp hiểu rõ và nâng cao hiệu quả của việc sử dụng từ ngữ nói trên trong các tác phẩm văn học; đồng thời, góp phần làm rõ đặc điểm phong cách nghệ thuật của Lê Khâm
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ
cụ thể sau đây:
- Xác lập và hệ thống hóa một số vấn đề lí thuyết và thực tiễn có liên quan đến đề tài
- Nhận diện, thống kê, phân loại các từ ngữ chỉ sự vật trong tiểu thuyết
Trước giờ nổ súng của Lê Khâm
- Miêu tả đặc điểm của các từ ngữ chỉ sự vật trong tiểu thuyết Trước giờ
nổ súng của Lê Khâm ở các phương diện: cấu tạo và ngữ nghĩa
Trang 12- Tìm hiểu giá trị nghệ thuật của các từ ngữ chỉ sự vật trong tiểu thuyết
Trước giờ nổ súng của Lê Khâm trong việc thể hiện nội dung tư tưởng của tác
phẩm và phong cách nghệ thuật của tác giả
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các từ ngữ chỉ sự vật trong tiểu
thuyết Trước giờ nổ súng của Lê Khâm
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trước giờ nổ súng của Lê Khâm là một tiểu thuyết viết về đề tài chiến
tranh nên luận văn xác định phạm vi nội dung nghiên cứu sẽ tập trung vào các
từ ngữ chỉ sự vật liên quan đến con người và chiến tranh ở các phương diện đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa và giá trị nghệ thuật của các từ ngữ này trong việc thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm và phong cách nghệ thuật của tác giả
Phạm vi tư liệu nghiên cứu của luận văn là tiểu thuyết Trước giờ nổ súng
(Nhà xuất bản Văn học, 2007, 291 trang) của Lê Khâm
4 Phương pháp, thủ pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính, cụ thể như sau:
- Phương pháp miêu tả được sử dụng để miêu tả, phân tích các đặc điểm của từ ngữ chỉ sự vật (tập trung vào các từ ngữ chỉ sự vật có liên quan đến con
người và chiến tranh) trong tiểu thuyết Trước giờ nổ súng của Lê Khâm Từ đó,
phân tích, tổng hợp, tìm ra các quy luật chung của từ ngữ chỉ sự vật liên quan đến con người và chiến tranh ở các phương diện đặc điểm cấu tạo, cách gọi tên của các từ ngữ chỉ sự vật liên quan đến con người và chiến tranh trong tiểu
thuyết Trước giờ nổ súng của Lê Khâm
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa được sử dụng để phân tích đặc điểm ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ sự vật có liên quan đến con người và chiến tranh
trong tiểu thuyết Trước giờ nổ súng của Lê Khâm trong mối quan hệ với ngữ
Trang 13cảnh của văn bản và hoàn cảnh sử dụng Phương pháp này cũng được áp dụng
để phân tích nghĩa của các từ ngữ trong hệ thống theo các quan hệ dọc (so sánh nghĩa của những từ ngữ biểu thị sự vật ở những bậc khác nhau theo quan hệ lớp
- loại) và quan hệ ngang (so sánh nghĩa của những từ ngữ biểu thị các sự vật ở cùng một bậc phân loại) Từ đó, thấy được giá trị của việc sử dụng các từ ngữ này khi thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm và phong cách nghệ thuật của tác giả
4.2 Thủ pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng hai thủ pháp nghiên cứu chính, cụ thể như sau:
- Thủ pháp thống kê, phân loại được sử dụng để khảo sát, thống kê các
từ ngữ chỉ sự vật có liên quan đến con người và chiến tranh trong tiểu thuyết
Trước giờ nổ súng của Lê Khâm
- Thủ pháp phân tích văn cảnh (bao gồm thủ pháp phân bố và thủ pháp thay thế) được sử dụng để xác định ngữ trị của các đơn vị từ vựng, xác định được khả năng tham gia hoặc thay thế của đơn vị từ ngữ ấy trong mối quan hệ với các từ ngữ khác cùng ngữ cảnh Từ đó, thấy được giá trị, vai trò của các từ ngữ chỉ sự vật trong tác phẩm và tài năng ngôn ngữ của tác giả
5 Đóng góp của luận văn
5.1 Về lí luận
Qua việc miêu tả làm rõ đặc điểm của từ ngữ chỉ sự vật trong tiểu thuyết
Trước giờ nổ súng của Lê Khâm, luận văn bổ sung một số khía cạnh lí thuyết
về từ ngữ chỉ sự vật ở các phương diện cấu tạo và phương diện ngữ nghĩa trong một thể loại văn học cụ thể là tiểu thuyết Từ đó, góp phần làm rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy được thể hiện qua đặc điểm của một lớp từ ngữ trong tác phẩm văn học Những kết quả nghiên cứu của đề tài cũng có thể giúp ích cho chuyên ngành Từ vựng học, Phong cách học khi tiếp cận nghiên cứu ngôn ngữ được sử dụng trong một tác phẩm nghệ thuật
Trang 145.2 Về thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc biên soạn giáo trình, học liệu về đặc điểm tiếng Việt trong văn bản nghệ thuật, đồng thời là gợi ý lựa chọn cho các tác giả trong
sử dụng ngôn ngữ nói chung, trong sự lựa chọn từ ngữ nói riêng khi viết về
đề tài chiến tranh
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được triển khai theo ba chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lí luận và thực tiễn Chương 2: Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ sự vật liên quan
đến con người và chiến tranh trong tiểu thuyết Trước giờ nổ súng của Lê Khâm
Chương 3: Giá trị của từ ngữ chỉ sự vật liên quan đến con người và chiến
tranh trong tiểu thuyết Trước giờ nổ súng của Lê Khâm
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt
F de Saussure đã từng viết: “… từ là một đơn vị luôn luôn ám ảnh tư tưởng chúng ta như một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ, mặc dù khái niệm này khó định nghĩa” [dẫn theo 20, tr.28] Vấn đề về từ tiếng
Việt đã được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu Trong đó, phải kể đến một
số tác giả lớn như Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Lê Quang Thiêm, Đỗ Việt Hùng, Hà Quang Năng…
Từ những nghiên cứu về từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, trong những công trình gần đây, xuất hiện một hướng quan tâm khác là tìm hiểu chuyên sâu
về một hệ thống từ ngữ gắn một đối tượng cụ thể, trong đó có hướng nghiên cứu về từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt
Hướng nghiên cứu về từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt được các tác giả tập trung khai thác ở một số nhóm như: từ ngữ chỉ người, từ ngữ chỉ động thực vật, từ ngữ chỉ đồ vật, từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên, hiện tượng xã hội…
Có thể kể tên một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau: Đặc điểm danh học và ngữ nghĩa của nhóm từ ngữ chỉ “sự kết thúc cuộc đời của con người
(Nguyễn Đức Tồn, 1994), Nghĩa của thành ngữ có thành tố chỉ vật thể hiện tượng tự nhiên trong tiếng Việt (Chu Thị Hảo, 1995), Đặc điểm trường từ vựng
- ngữ nghĩa tên gọi động vật (trên tư liệu đối chiếu tiếng Việt với tiếng Nga (Nguyễn Thúy Khanh, 1996), Đặc điểm của lớp tên riêng chỉ người (chính danh) trong tiếng Việt (Phạm Tất Thắng, 1996), Mô hình các từ ghép và ngữ định danh chỉ y phục của người Việt xét về mặt cấu tạo và ngữ nghĩa (Lê Thị
Hà, 1998), Từ ngữ gọi tên các công cụ trong tiếng Nghệ Tĩnh (Hoàng Trọng Canh, 2008), Trường từ vựng chỉ không gian trong tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận (Trần Thị Mai, 2010), Từ ngữ nghề gốm Thổ Hà (Nguyễn Văn An, 2011),
Trang 16Trường từ vựng về con người Tây Nguyên trong sáng tác của nhà văn Nguyên Ngọc (Nguyễn Thị Thu Hiền, 2011), Trường từ vựng - ngữ nghĩa món ăn và ý niệm CON NGƯỜI (Đặng Thị Hảo Tâm, 2011), Từ ngữ nghề mộc ở Đạt Từ, Hoằng Hóa, Thanh Hóa (Nguyễn Phương Anh, 2012), Định danh sự vật liên quan đến sông nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong phương ngữ Nam
Bộ (Trịnh Sâm, 2013), Định danh sự vật liên quan đến sông nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong phương ngữ Nam Bộ (Hồ Xuân Tuyên, 2013), Đặc điểm các nhóm từ chỉ sông nước trong tiếng Việt ở Nam Bộ (Tăng Tấn Lộc, 2014), Trường từ vựng động vật trong truyện đồng thoại Việt Nam (Nguyễn
Thị Bạch Dương, 2015)…
Có thể thấy, nghiên cứu về từ ngữ chỉ người là nội dung nghiên cứu được nhiều tác giả tìm hiểu Các tác giả thường dành sự quan tâm của mình khi nghiên cứu về lớp từ chỉ tên người (Phạm Tất Thắng) hay các từ ngữ chỉ sự kết thúc cuộc đời của con người (Nguyễn Đức Tồn) hoặc các từ ngữ gọi tên các bộ phận cơ thể con người (Đặng Thị Hảo Tâm) …
Ngoài ra, vấn đề về từ ngữ chỉ động vật, thực vật cũng được các tác giả đề cập đến Tác giả Nguyễn Thị Bạch Dương đã thống kê, phân loại và xác lập được các tiểu trường thuộc trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ động vật khi tìm hiểu về truyện đồng thoại Việt Nam Tác giả cũng đã chỉ ra những giá trị nổi bật của trường từ vựng ngữ nghĩa này trong truyện đồng thoại ở các phương diện như phát triển ngôn ngữ, phát triển nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ cho trẻ em
Nghiên cứu về từ ngữ chỉ đồ vật, hiện tượng tự nhiên, hiện tượng xã hội cũng là nội dung thu hút các nhà nghiên cứu Các từ ngữ chỉ nghề nghiệp cũng nhận được sự quan tâm của giới ngôn ngữ học Nguyễn Văn An đã tiến hành thống kê, phân loại và phân tích các đặc điểm của từ ngữ chỉ nghề gốm Từ đó, tác giả cũng đã chỉ ra được những nét đặc trưng văn hóa của người dân vùng Kinh Bắc Đặng Thị Hảo Tâm có cách tiếp cận khác khi tìm hiểu về trường từ vựng - ngữ nghĩa món ăn, đã thống kê, khảo sát và phân loại các món ăn dựa trên những ý niệm về con người
Trang 17Vẫn là hướng nghiên cứu về từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt, một số tác giả lại tập trung đi sâu vào việc phân tích đối sánh giữa một nhóm từ tiếng Việt
và một nhóm từ tương ứng trong các ngôn ngữ khác Qua đó, có thể cho thấy được sự khác biệt về đặc trưng văn hóa dân tộc và tư duy ẩn đằng sau những ngôn ngữ đó Chănphômmavông khảo sát về đặc điểm định danh và hiện tượng chuyển nghĩa trong trường từ vựng tên gọi các bộ phận con người tiếng Lào (có xem xét trong mối quan hệ với tiếng Việt) Phan Văn Quế nghiên cứu về ngữ nghĩa của thành ngữ - tục ngữ có thành tố chỉ động vật trong tiếng Anh (trong sự
so sánh đối chiếu với tiếng Việt) Nguyễn Thanh Tùng tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của nhóm từ chi động thực vật tiếng Việt (có so sánh với tiếng Anh) Nguyễn Thế Truyền lại so sánh để tìm ra sự khác biệt về định danh sự vật giữa tiếng Việt và tiếng Hàn Ông cho rằng số lượng yếu tố khu biệt trong định danh sự vật giữa tiếng Việt và tiếng Hàn rất đa dạng thể hiện đặc trưng về màu sắc cơ thể, hình dạng, môi trường sống, tiếng kêu/ hót của động vật Từ đó, ông phân tích sự khác biệt sâu sắc trong đặc trưng văn hóa dân tộc của tiếng Việt và tiếng Hàn trong cách định danh sự vật Nguyễn Ngọc Vũ phân tích thành ngữ tiếng Anh và thành ngữ tiếng Việt có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người từ góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận
Như vậy, có thể thấy, các công trình nghiên cứu về từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt đã được khai thác ở nhiều nội dung khác nhau từ phương diện
lí thuyết thuần túy trong sự tiếp cận với nhiều lí thuyết ngôn ngữ học cho đến nguồn ngữ liệu thực tiễn Những nghiên cứu này chủ yếu đi theo hướng tìm hiểu nghĩa biểu trưng của tên gọi sự vật hoặc tìm hiểu đặc điểm tri nhận của con người thông qua một số trường cụ thể Đây cũng là những cơ sở để luận văn nghiên cứu tìm hiểu về hệ thống từ ngữ chỉ sự vật trong một tác phẩm văn
học, cụ thể là tiểu thuyết Trước giờ nổ súng của Lê Khâm
Trang 181.1.2 Tình hình nghiên cứu về tiểu thuyết Trước giờ nổ súng của Lê Khâm
và ngôn ngữ trong tác phẩm
Lê Khâm là một trong những nhà văn xuất sắc viết về đề tài chiến tranh cách mạng Ông đã gắn bó mật thiết, sống và hi sinh cho cách mạng, cho đất nước; góp phần xứng đáng vào thành tựu chung của nền văn học cách mạng Việt Nam
Đã có nhiều bài viết về Lê Khâm và đề tài chiến tranh trong tác phẩm
của ông Có thể kể đến một số bài viết như: Phan Tứ (Lê Khâm) (Lê Thị Đức Hạnh), Phan Tứ với những tiểu thuyết viết về chiến tranh (Trần Đăng Suyền), Phan Tứ - vài suy nghĩ nhỏ về những trang viết chiến tranh (Trần Ngọc Tuấn)
Lê Thị Đức Hạnh đã cho rằng Lê Khâm thật sự say sưa khi viết về quân tình nguyện Việt Nam và tinh thần bất khuất của quân dân Lào Những trang viết của Lê Khâm đã làm hiện lên một chiến trường đầy cam go, thử thách, gian khổ, ác liệt nhưng cũng vô cùng anh dũng, can trường Trần Đăng Suyền giúp
người đọc có cái nhìn toàn diện về Lê Khâm khi viết “hạt nhân cơ bản chi phối toàn bộ sáng tác của Phan Tứ là quan niệm của anh về chiến tranh, về con người trong chiến tranh cách mạng” Trần Ngọc Tuấn thì lại khẳng định trong
bài viết của mình rằng Lê Khâm là một trong số ít nhà văn đi đến cùng với
những đề tài chiến tranh và cách mạng Điều đó được Lê Khâm đi bằng “chính cuộc đời đầy nhiệt huyết của mình”
Nhà văn Lê Khâm được Mai Hương trong bài viết Phan Tứ - nhà văn chiến sĩ nhận xét ông là một trong những tác giả khá thành công về đề tài kháng chiến chống Pháp, đặc biệt với tiểu thuyết Trước giờ nổ súng Về nội dung của Trước giờ nổ súng, Phong Lê trong bài viết Mấy vấn đề văn xuôi Việt Nam
1945 - 1970 đã nhận định “Trong Trước giờ nổ súng, Lê Khâm miêu tả những gian khổ của một đơn vị tình nguyện quân chiến đấu trên đất Lào Nhà văn cho
ta thấy khung cảnh của đất nước Lào, ca ngợi mối tình hữu nghị của nhân dân hai dân tộc Việt Lào” Hữu Hồng trong bài viết Trước giờ nổ súng của Lê Khâm
Trang 19cũng nhận xét: “chủ đề chính trong tác phẩm là phẩm chất anh hùng của những người chiến sĩ cách mạng không phân biệt Lào hay Việt” Trong bài viết Không gian - thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Trước giờ nổ súng của Phan Tứ, Phạm Ngọc Hiền cho rằng: “Phan Tứ đã chú trọng xây dựng loại không - thời gian cản trở với chức năng thử thách nhân vật Cả không gian lẫn thời gian đều cộng hưởng nhau gây sức ép lên các hoạt động nhân vật, để từ đó sàng lọc, chỉ giữ lại những anh hùng lí tưởng theo quan điểm cách mạng”
Có thể thấy, Trước giờ nổ súng của Lê Khâm đã được các tác giả quan
tâm nghiên cứu nhưng xét về phương diện ngôn ngữ nghệ thuật thì chưa có
nhiều công trình nghiên cứu hay bài viết Luận văn Thạc sĩ Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Lê Khâm qua Bên kia biên giới và Trước giờ nổ súng của Bùi Thị
Lệ Huyền cũng mới dành dung lượng một chương để tìm hiểu về những phương
thức nghệ thuật nổi bật trong Bên kia biên giới và Trước giờ nổ súng Trong đó,
Bùi Thị Lệ Huyền có nhắc đến không gian, thời gian nghệ thuật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm Ngôn ngữ sử dụng trong tác phẩm được Bùi Thị Lệ Huyền nhận xét là sử dụng hợp lí phương ngữ và tiếng nước ngoài Lời
ăn tiếng nói của con người miền Trung Việt Nam đi vào tiểu thuyết rất tự nhiên
Lê Khâm đã sử dụng nhiều từ địa phương, nhiều câu văn đậm đặc giọng nói của người Quảng Ngãi, Hà Tĩnh… Bùi Thị Lệ Huyền cũng chỉ ra, Lê Khâm trong sáng tác của mình có sử dụng nhiều từ tiếng Pháp được phiên âm; đặc biệt ngôn ngữ trong tác phẩm có nhiều từ, nhiều câu tiếng Lào được sử dụng với tần suất lớn như không gian địa lí, tên các làng Lào, tên các dòng sông… Lời nói của người Lào cũng được nhà văn sử dụng trực tiếp kèm chú thích trong
các trang văn Việc sử dụng ngôn ngữ Lào trong Trước giờ nổ súng đã chứng
tỏ khả năng am hiểu và vận dụng linh hoạt ngôn ngữ Lào của nhà văn giàu trải nghiệm Lê Khâm
Trang 20Như vậy, với những phân tích và cứ liệu đã dẫn ở trên, có thể cho rằng
tác giả và tác phẩm của Lê Khâm, cụ thể hơn là Trước giờ nổ súng của Lê
Khâm đã được nhiều người quan tâm tìm hiểu Tuy nhiên, đến nay, nếu đứng
từ góc nhìn về ngôn ngữ thì chưa có nhiều công trình, bài viết đi sâu tìm hiểu Điều này mở ra một hướng nghiên cứu khả quan là tìm hiểu về những lớp từ
ngữ trong tiểu thuyết Trước giờ nổ súng như là một cách tiếp cận từ phương
diện nghệ thuật ngôn từ, từ đó thấy được cái hay, cái đẹp của tác phẩm, khẳng định giá trị của tác phẩm cả về phương diện nội dung lẫn phương diện hình
nghĩa thống nhất về từ thì đến nay câu trả lời đó vẫn còn bỏ ngỏ Hiện nay, trên
thế giới có khoảng hơn 300 định nghĩa về từ nhưng không có định nghĩa nào phản ánh bao quát được bản chất của từ trong mọi ngôn ngữ
Trước tình hình có nhiều quan niệm khác nhau và chưa thống nhất về
cách hiểu bản thân khái niệm từ thì việc đưa ra một định nghĩa về từ của tiếng
Việt cho thống nhất cũng là một việc khó
Trong công trình Các bình diện của từ và ngữ cố định trong tiếng Việt,
Mai Thị Kiều Phượng [43, tr.80 - 87] đã dẫn ra mười quan niệm khác nhau định nghĩa về từ tiếng Việt
(1) Quan niệm của M.B Emeneau: Từ tiếng Việt bao giờ cũng tự do về mặt âm vị học, nghĩa là ta có thể miêu tả bằng những danh từ của sự phân phối các âm vị và bằng những thanh điệu Định nghĩa này phù hợp với tiêu chuẩn về
từ ngữ âm trong tiếng Việt: Mỗi từ là một âm tiết
Trang 21(2) Quan niệm của Cao Xuân Hạo: Chúng ta hiểu tính đa dạng về tên gọi mà các tác giả khác nhau đã đề nghị cho đơn vị khác thường đó của các ngôn ngữ đơn lập, phân tiết tính là: tiết vị, hình tiết, từ tiết, đơn tiết hoặc đơn giản là từ Thật ra, nó chính là âm vị, hình vị hoặc từ và tất cả là đồng thời…
Cơ cấu tiếng Việt hầu như là sự kết hợp của ba trục âm vị, hình vị và từ đó thành một trục duy nhất: âm tiết
(3) Quan niệm của Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê: Từ là âm có nghĩa dùng trong ngôn ngữ để diễn tả một ý đơn giản nhất, nghĩa là ý không
thể phân tích ra được Đơn vị là từ theo quan niệm của Trương Văn Chình và
Nguyễn Hiến Lê phải thỏa mãn hai điều kiện: từ phải có nghĩa; nghĩa của từ phải là ý đơn giản nhất, nhỏ nhất, không thể tách ra, hay phân tích ra được nữa
(4) Quan niệm của Lê Văn Lí: Từ trong tiếng Việt Nam bấy giờ sẽ biểu hiện thành một kí hiệu âm thanh mà hình thức của nó có thể bắt đầu từ một âm
vị đơn hoặc một kết hợp bao gồm nhiều âm vị, mà sự biểu hiện về mặt âm thanh chỉ là một lần phát âm hoặc chỉ là một âm tiết Và khi viết, nó được biểu lộ ra
bằng một đơn vị tách biệt và có một ý nghĩa có thể hiểu được
(5) Quan niệm của Hoàng Tuệ: Từ là kết quả của một sự kết hợp giữa một ý nghĩa nhất định và một chỉnh thể ngữ âm nhất định, có khả năng giữ một chức năng ngữ pháp nhất định
(6) Quan niệm của Nguyễn Văn Tu: Từ là đơn vị nhỏ nhất và độc lập,
có hình thức vật chất (vỏ âm thanh và hình thức) và có nghĩa mang tính chất biện chứng và lịch sử
(7) Quan niệm của Nguyễn Kim Thản: Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách ra khỏi các đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, về ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp)
và chức năng ngữ pháp
Trang 22(8) Quan niệm của Hồ Lê: Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa
(9) Quan niệm của Đỗ Hữu Châu: Từ của tiếng Việt là một hoặc một số
âm tiết cố định, bất biến về hình thức ngữ âm theo các quan hệ hình thái học (như quan hệ về số, về giống…) và cú pháp trong câu, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, sẵn có đối với mọi thành viên của xã hội Việt Nam, lớn nhất trong hệ thống tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu
(10) Quan niệm của Nguyễn Thiện Giáp: Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất, có ý nghĩa, dùng để tạo nên câu nói; nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền
Như vậy, có thể thấy, ở mỗi định nghĩa về từ tiếng Việt, các tác giả lại tập trung vào việc nhận diện một hoặc một số phương diện như: hình thức ngữ
âm của từ (M B Emeneau, Cao Xuân Hạo); ý nghĩa của từ (Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê); hình thức ngữ âm và ý nghĩa (Nguyễn Văn Tu); cấu tạo và
ý nghĩa (Hồ Lê); hình thức ngữ âm, ý nghĩa và chữ viết của từ (Lê Văn Lí, Nguyễn Thiện Giáp); hình thức ngữ âm, ý nghĩa và ngữ pháp của từ (Hoàng Tuệ, Nguyễn Kim Thản); hình thức ngữ âm, cấu tạo, ý nghĩa, ngữ pháp (Đỗ Hữu Châu)
Từ các định nghĩa về từ có thể nhận thấy, từ là một đơn vị cơ bản của ngôn ngữ Từ tiếng Việt là đơn vị ngôn ngữ có tính tổng thể, toàn khối về hình thức, trọn vẹn về nội dung, mang những đặc trưng riêng về ý nghĩa ngữ nghĩa
và ngữ pháp, lớn nhất trong hệ thống các đơn vị ngôn ngữ của tiếng Việt và là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất để tạo câu Trong luận văn này, chúng tôi theo định nghĩa của Đỗ Hữu Châu về từ bởi định nghĩa này đã đề cập được một cách đầy
đủ và toàn diện các đặc điểm của từ tiếng Việt trên các phương diện: ngữ âm, cấu tạo, ngữ nghĩa và ngữ pháp
Trang 23thợ mộc, máy bay Về sau, những người theo hướng này gọi tất cả các đơn vị
định danh chứa một tiếng lẻ là một “từ”, hơn một tiếng lẻ là một “ngữ” Diệp Quang Ban cho rằng cách nhìn nhận này sẽ làm cho việc phân biệt từ loại gặp nhiều trở ngại
(2) “Ngữ” trong nghĩa “cụm từ” được Nguyễn Kim Thản (1963, 1964) gọi bằng “từ tổ”, với tác dụng định loại từ và xác định thành phần câu
(3) “Ngữ” là cách gọi gọn của “đoản ngữ” do Nguyễn Tài Cẩn (1975)
sử dụng và được hiểu tương đương với “cụm từ”, cụ thể là không tính sự có mặt của giới từ đứng đầu Theo Diệp Quang Ban, “ngữ” trong nghĩa này được coi là cấu trúc tối ưu, với tất cả các thành tố phụ có thể có đi kèm đầu tố, và mỗi thành tố phụ chiếm một vị trí xác định trong quan hệ với đầu tố, nếu nó vắng mặt trong cụm từ thì vị trí của nó được coi là “âm tính”, chứ không phải
Trang 24Khi phân tích về “cụm từ” và “ngữ”, Nguyễn Thiện Giáp cũng có sự phân
biệt về hai khái niệm này Theo ông, “Cụm từ là các tổ hợp bao gồm từ hai thực
từ có quan hệ ngữ pháp với nhau trở lên Về mặt quan hệ cú pháp, cụm từ gồm ba loại: cụm từ đẳng lập (các thành tố có quan hệ bình đẳng với nhau), cụm từ chính phụ (các thành tố có quan hệ chính phụ với nhau) và cụm từ chủ vị (các thành tố
có quan hệ tường thuật với nhau” [21, tr.136]; “Ngữ là cụm từ có sẵn trong ngôn ngữ, có giá trị tương đương với từ, có nhiều đặc điểm giống với từ Tính cố định
và tính thành ngữ là hai đặc trưng cơ bản của ngữ Có nhiều kiểu ngữ khác nhau như đặc ngữ, thành ngữ, quán ngữ” [21, tr.349]
Còn theo Diệp Quang Ban, nếu xét trong quan hệ với những cách nhìn trên đây, tên gọi “cụm từ” vẫn là một tên gọi tiện dụng theo cách hiểu vốn có của nó Còn tên gọi “ngữ” vẫn là tên gọi thích hợp khi xem xét nó như là một bộ phận trong cái đơn vị lớn hơn chứa nó là câu, kể cả trường hợp nó được làm thành chỉ bằng một từ Xét theo quan hệ của các đơn vị trong cụm từ, Diệp Quang Ban chia cụm từ thành ba loại: cụm từ tự do, cụm từ cố định và ngữ
Như vậy, “ngữ” có thể hiểu là một bộ phận lớn hơn từ Khi xét các quan
hệ giữa các bộ phận trong cụm từ, ngữ là tổ hợp từ thường có quan hệ chính phụ Trong luận văn này, “ngữ” được quan niệm chính là đoản ngữ (cụm từ chính phụ trong tiếng Việt) Trong ngữ, từ đóng vai trò chủ yếu về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp là thành tố chính (thành tố trung tâm) Các từ phụ thuộc vào thành tố chính gọi là thành tố phụ
1.2.1.2 Cấu tạo của từ ngữ
a Cấu tạo từ
Việc xác định đơn vị cấu tạo từ có vai trò quan trọng trong việc xác định kiểu cấu tạo của từ Đại đa số các nhà nghiên cứu ngôn ngữ cho rằng, đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Việt được xác định là hình vị Đơn vị này còn được gọi bằng các thuật ngữ khác như: từ tố, tiếng, nguyên vị, yếu tố cấu tạo từ…
Trang 25Vũ Đức Nghiệu cho rằng: “Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa và/ hoặc có giá trị (chức năng) về mặt ngữ pháp” [10, tr.139]
Đỗ Hữu Châu định nghĩa: “Các yếu tố cấu tạo từ (hình vị) là những hình thức ngữ âm có nghĩa nhỏ - tức là những yếu tố không thể nào phân chia thành những yếu tố nhỏ hơn nữa mà cũng có nghĩa - được dùng để cấu tạo ra các từ theo các phương thức cấu tạo của tiếng Việt” [7, tr.28]
Hình vị tiếng Việt có những đặc điểm sau:
- Hình vị trong tiêng Việt chỉ thực hiện chức năng cấu tạo từ mà không
có chức năng biến đổi từ như trong các ngôn ngữ châu Âu
- Ranh giới hình vị trong tiếng Việt phần lớn trùng với ranh giới của
âm tiết
- Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa
Để phát triển từ vựng phục vụ các nhu cầu gọi tên sự vật, hiện tượng trong giao tiếp, tiếng Việt sử dụng nhiều phương thức như phương thức chuyển nghĩa của từ và phương thức cấu tạo từ Phương thức cấu tạo từ là cách thức tổ chức các đơn vị cấu tạo từ để tạo ra từ Có ba phương thức cấu tạo từ cơ bản là:
- Phương thức từ hóa hình vị: Phương thức từ hóa hình vị là phương thức
tác động vào bản thân một hình vị, làm cho nó có những đặc điểm ngữ pháp và
ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ mà không thêm bới gì vào hình thức của
nó
- Phương thức ghép: Phương thức ghép là phương thức tác động vào hai
hoặc hơn hai hình vị có nghĩa, kết hợp chúng với nhau để sản sinh ra từ mới Thông qua phương thức ghép, từ ghép được xác lập
- Phương thức láy: Phương thức láy là phương thức tác động vào một
hình vị cơ sở làm xuất hiện một hình vị láy giống nó toàn bộ hay bộ phận về
âm thanh Cả hình vị cơ sở và hình vị láy tạo thành một từ (mang đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ) Thông qua phương thức láy, từ láy được xác lập
b Cấu tạo của ngữ
Trang 26Xét về cấu tạo, ngữ có cấu tạo gồm hai thành tố: thành tố chính (phần trung tâm) và thành tố phụ (phần phụ) Thành tố chính là thành tố giữ vai trò quan trọng về ngữ pháp đối với ngữ Các từ có thể làm thành tố chính bao gồm: danh từ, động từ, tính từ, số từ và đại từ Thành tố phụ là thành tố giữ vai trò
bổ sung ý nghĩa cho thành tố chính, là điều kiện cần để tồn tại ngữ Thành tố phụ có thể được phân biệt là phần phụ trước và phần phụ sau
Trong giới hạn phạm vi nghiên cứu, luận văn sẽ đi sâu tìm hiểu cấu tạo của ngữ danh từ để có cơ sở phân tích và phân loại cấu tạo của ngữ danh từ chỉ sự vật liên quan đến con người và chiến tranh trong một tác phẩm văn học cụ thể
Theo Diệp Quang Ban [4, tr.268], cấu tạo của ngữ danh từ gồm ba phần: phần trung tâm, phần phụ trước và phần phụ sau Phần trung tâm thường là một danh từ hoặc một từ chỉ loại cộng với một với một danh từ hoặc động từ, tính
từ như cái nhà, cây tre, con mèo, người thợ, niềm vui, cuộc họp, vẻ đẹp… Phần
phụ trước có thể có ba vị trí được sắp xếp theo một trật tự nhất định Phần phụ sau thường được xác định là hai vị trí và cũng có trật tự ổn định Các vị trí này thường được quy ước sắp xếp trong lược đồ sau:
tất cả những cái con mèo đen ấy
Lược đồ 1.1: Lược đồ cấu tạo ngữ danh từ của Diệp Quang Ban
Nguyễn Tài Cẩn [5, tr.166] trước đó khi phân tích về cấu tạo của đoản ngữ cũng đã đưa ra lược đồ về 6 thành tố này
Thành tố tất cả mấy cái tỉnh lớn này
Lược đồ 1.2: Lược đồ cấu tạo đoản ngữ của Nguyễn Tài Cẩn
Phân tích lược đồ cấu tạo đoản ngữ là ngữ danh từ của Nguyễn Tài Cẩn,
có thể thấy:
Trang 27- Phần trung tâm của ngữ danh từ nằm ở vị trí 0 Đây là thành tố quan trọng nhất trong ngữ danh từ Theo Nguyễn Văn Lộc [35, tr.76], trung tâm của ngữ danh từ có thể tồn tại ở hai dạng: dạng đơn và dạng ghép Dạng đơn là dạng
được biểu hiện bằng một danh từ (những vấn đề ấy, hai tác phẩm này); dạng
ghép là dạng được biểu hiện bằng hai danh từ: danh từ chỉ đơn vị và danh từ
chỉ sự vật (hai con mèo, ba mét vải) Ở dạng ghép, trung tâm của ngữ danh từ
có thể xuất hiện dưới ba biến thể cụ thể: dạng đầy đủ gồm cả danh từ chỉ đơn
vị và danh từ chỉ sự vật (con mèo này); dạng vắng danh từ chỉ đơn vị (mèo này); dạng vắng danh từ chỉ sự vật (con này)
- Phần phụ trước của ngữ danh từ có thể có ba vị trí như lược đồ Nguyễn Tài Cẩn đã chỉ ra (vị trí -3, vị trí -2, vị trí -1)
+ Vị trí -3 là vị trí của định tố chỉ toàn bộ (cả, tất cả, tất thảy, hết thảy…)
+ Vị trí -2 là vị trí của định tố chỉ số lượng, bao gồm: định tố chỉ số lượng
chính xác (hai, ba, bốn…), định tố chỉ số lượng ước chừng (mấy, vài, dăm…), định
tố chỉ số ít hay số nhiều nói chung (những, các, mỗi, mọi, từng…)
+ Vị trí -1 là vị trí của định tố chỉ xuất cái, dùng để nhấn mạnh vào sự vật, để chỉ xuất sự vật Tuy nhiên, theo Nguyễn Văn Lộc, “Mặc dù về lí thuyết,
từ “cái” ở trước danh từ nhưng có thể thấy rằng, loại định tố này không thực
sự phổ biến như các định tố chỉ số lượng và định tố chỉ toàn bộ Thực tế cho thấy “cái” hầu như chỉ xuất hiện khi người nói muốn nhấn mạnh vào sự vật và thể hiện tình cảm, thái độ (thường là không tôn trọng) đối với đối tượng được nói đến.” [35, tr.77]
- Phần phụ sau của ngữ danh từ có thể có hai vị trí như trong lược đồ của Nguyễn Tài Cẩn (vị trí 1, vị trí 2)
+ Vị trí 1 là vị trí của định tố chỉ đặc điểm về mặt nào đó của sự vật nêu
ở danh từ trung tâm Nguyễn Văn Lộc [35, tr.78-81] đã chỉ ra một số kiểu cụ thể của loại định tố này như: định tố chỉ sự vật có quan hệ đồng nhất với sự vật
nêu ở danh từ trung tâm (thủ đô Hà Nội, thành phố Thái Nguyên); định tố nêu
Trang 28đặc trưng của sự vật nêu ở danh từ trung tâm (người Việt Nam, tâm lòng vàng); định tố chỉ kẻ sở hữu sự vật nêu ở danh từ trung tâm (tình thương của mẹ, tương lai của đất nước); định tố chỉ chất liệu tạo nên sự vật (bức tường bằng đá, chiếc nhẫn bằng thép); định tố chỉ phạm vi, phương diện hay nội dung được bao quát (đường lối về kinh tế, nghị quyết về nông nghiệp); định tố chỉ vị trí của sự vật nêu ở trung tâm (nhân dân ở miền núi, tình hình ở mặt trận phía Nam); định
tố chỉ kẻ tiếp nhận hay được hưởng lợi (quà cho thiếu nhi, sách cho trẻ em);
định tố chỉ vật thuộc sở hữu của chủ thể nêu ở danh từ trung tâm (người đàn bà
với đôi chân trần); định tố được biểu hiện bằng vị từ, cụm vị từ (người lính cầm cờ, cái cốc vỡ, ngôi nhà mới, giấy chứng nhận, bằng lái xe, cuốn sách vừa mua, ngôi nhà mới xây); định tố được biểu hiện bằng số từ (người thứ ba,
tầng chín)
+ Vị trí thứ 2 là vị trí của định tố dùng để trỏ, xác định sự vật trong không
gian hay thời gian như này, kia, ấy, nọ, nay, nãy…
1.2.1.3 Phân loại từ ngữ
a Phân loại từ
Xét về mặt cấu tạo, từ tiếng Việt được hình thành qua ba phương thức cấu tạo cơ bản là từ hóa hình vị, phương thức ghép và phương thức láy Thông qua ba phương thức này, từ tiếng Việt có thể phân loại về mặt cấu tạo như sau:
- Từ đơn: là từ do một hình vị tạo thành Theo Đỗ Hữu Châu, “Về mặt ngữ nghĩa chúng không lập thành những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung Chúng ta lĩnh hội và ghi nhớ nghĩa của từng từ một riêng rẽ Kiểu cấu tạo không đóng vai trò gì đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghĩa của từ” [7,
tr.40]
- Từ ghép: là từ được sản sinh ra do sự kết hợp của hai hoặc hơn hai hình
vị tách bạch, riêng rẽ, độc lập với nhau Từ ghép được chia thành ba loại: từ ghép phân nghĩa, từ ghép hợp nghĩa và từ ghép biệt lập
Trang 29+ Từ ghép phân nghĩa là từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị theo quan
hệ chính phụ, trong đó có một hình vị chỉ loại lớn, một hình vị có tác dụng phân hóa loại lớn đó thành những loại nhỏ hơn nhưng độc lập với nhau và độc lập với loại lớn
+ Từ ghép hợp nghĩa là từ ghép do hai hình vị tạo nên, trong đó không
có hình vị nào là hình vị chỉ loại lớn, không có hình vị nào là hình vị phân nghĩa Các từ ghép này không biểu thị những loại nhỏ hơn, trái lại chúng biểu thị những loại lớn hơn, bao trùm hơn so với loại của từng hình vị tách riêng
+ Từ ghép biệt lập là từ được hình thành trên cơ sở quan hệ chính phụ hay đẳng lập nhưng tính hệ thống thì không có Mỗi từ là một trường hợp riêng
rẽ, không có những hình vị chỉ loại lớn chung với các từ khác, không có hình
vị chỉ loại nhỏ trong một loại lớn Những đặc trưng ngữ nghĩa của mỗi từ không lặp lại ở các từ khác, chúng là những sự kiện biệt lập
- Từ láy là từ được cấu tạo theo phương thức láy Đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (thanh điệu giữ nguyên hoặc biến đổi theo quy tắc biến thanh) của một hình vị Căn cứ vào số lần láy, từ láy được chia thành từ láy đôi, từ láy ba và từ láy tư Trong số từ láy đôi, căn cứ vào mức
độ lặp lại về hình thức ngữ âm, từ láy được chia thành từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận Từ láy bộ phận tiếp tục được phân loại thành từ láy âm và từ láy vần
Xét về mặt từ loại, tức là căn cứ vào ý nghĩa khái quát và đặc điểm hoạt động ngữ pháp của từ, từ loại tiếng Việt được chia thành hai kiểu lớn là thực từ (từ định danh) và hư từ (từ phi định danh) Thực từ bao gồm danh từ, động từ, tính từ, số từ và đại từ Hư từ gồm phó từ, kết từ, trợ từ và thán từ Trong đó, danh từ được định nghĩa là những từ biểu thị sự vật, hiện tượng
và khái niệm Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn sẽ đi sâu tìm hiểu về phân loại của danh từ để làm cơ sở cho những nghiên cứu ở các chương tiếp theo
Trang 30Theo Nguyễn Văn Lộc [35, tr.83], có thể dựa vào ý nghĩa và hình thức ngữ pháp để chia danh từ thành những tiểu loại khác nhau Nguyễn Văn Lộc đã xác lập bảng về các diện đối lập cơ bản trong phạm trù danh từ như sau:
Bảng 1.1: Bảng các diện đối lập cơ bản trong phạm trù danh từ
của Nguyễn Văn Lộc
Danh từ trừu tượng
Danh
từ
cụ thể
Danh từ tổng hợp Danh từ
đơn loại (danh từ không tổng hợp)
Danh từ chỉ vật thể (danh từ biệt loại) Danh từ chỉ chất liệu (danh từ không biệt loại)
Trên cơ sở đó, Nguyễn Văn Lộc [35, tr.84-100] đã đưa ra phân loại danh
từ thành các tiểu loại và nhóm là:
(1) Danh từ riêng bao gồm: danh từ chỉ tên riêng Việt Nam (danh từ chỉ tên người, danh từ chỉ tên địa lí); danh từ chỉ tên riêng nước ngoài (danh từ chỉ tên người, danh từ chỉ tên địa lí)
(2) Danh từ chỉ đơn vị bao gồm: danh từ chỉ đơn vị điển hình (danh từ chỉ đơn vị tính đếm sự vật: danh từ chỉ đơn vị quy ước, danh từ chỉ đơn vị tự nhiên; danh từ chỉ đơn vi tính đếm hoat động); danh từ chỉ đơn vị không điển hình (danh từ chỉ đơn vị thời gian, danh từ chỉ đơn vị hành chính tổ chức)
(3) Danh từ trừu tượng
(4) Danh từ tổng hợp
(5) Danh từ biệt loại bao gồm: danh từ chỉ người (danh từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ; danh từ chỉ quan hệ thân thuộc); danh từ chỉ động vật; danh từ chỉ thực vật; danh từ chỉ vật vô sinh (danh từ chỉ đồ vật hoặc vật dụng; danh từ chỉ các thực thể tự nhiên); danh từ không biệt loại (danh từ chỉ chất liệu)
Trang 31Nguyễn Thị Nhung [38, tr.38-50] phân loại danh từ thành hai nhóm lớn
là danh từ riêng và danh từ chung Danh từ chung được chia thành hai loại: danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp
Danh từ không tổng hợp bao gồm: danh từ chỉ đơn vị, danh từ chỉ sự vật, danh từ chỉ chất liệu và danh từ chỉ khái niệm trừu tượng
Danh từ chỉ đơn vị được phân biệt thành các tiểu loại: danh từ chỉ đơn vị
tự nhiên; danh từ chỉ đơn vị quy ước (danh từ chỉ đơn vị quy ước chính xác, danh từ chỉ đơn vị quy ước phỏng chừng); danh từ chỉ đơn vị tập hợp; danh từ chỉ đơn vị phạm vi, khoảng không gian, thời gian; danh từ chỉ đơn vị sự việc; danh từ chỉ đơn vị hành chính, nghề nghiệp; danh từ chỉ số; danh từ chỉ màu sắc, mùi vị, âm thanh
Danh từ chỉ sự vật bao gồm: danh từ chỉ người (danh từ chỉ quan hệ thân tộc, lớp người, chức vụ, nghề nghiệp); danh từ chỉ thực vật, động vật, đồ vật, công trình xây dựng, hiện tượng tự nhiên
Các cách phân loại này sẽ được luận văn vận dụng ở các chương tiếp theo để xác định các nhóm từ ngữ chỉ sự vật liên quan đến con người và chiến
tranh trong tiểu thuyết Trước giờ nổ súng của Lê Khâm
b Phân loại ngữ
Theo Nguyễn Tài Cẩn [38, tr.171], căn cứ vào đặc điểm của trung tâm, đặc điểm của các thành tố phụ và căn cứ vào đặc điểm của các mối quan hệ giữa các thành tố với nhau, có thể xác lập được trong ngôn ngữ một số kiểu loại đoản ngữ1 như: đoản ngữ có danh từ làm trung tâm, đoản ngữ có động từ làm trung tâm, đoản ngữ có tính từ làm trung tâm
Nguyễn Thị Nhung [38, tr.127] cũng cho rằng có thể dựa vào thành tố trung tâm của ngữ để phân loại ngữ thành danh ngữ, động ngữ và tính ngữ
Dựa vào cấu tạo, Nguyễn Thị Nhung xác định danh ngữ có các dạng sau:
- Dạng đầy đủ: danh ngữ có cả 3 phần: phần đầu, phần trung tâm và phần cuối Ví dụ:
1 Nguyễn Tài Cẩn dùng thuật ngữ này
Trang 32Phần đầu Phần trung tâm Phần phụ
cả ba cậu học trò thông minh ấy
tất cả những cái quan niệm lạc hậu của ông
- Dạng không đầy đủ: danh ngữ chỉ có 2 phần
+ Dạng chỉ có phần đầu và phần trung tâm Ví dụ:
+ Dạng chỉ có phần trung tâm và phần cuối
Ngoài 4 dạng trên, Nguyễn Văn Lộc [35] đề cập đến “dạng ghép” thuộc thành tố trung tâm của ngữ danh từ khi danh từ chỉ đơn vị kết hợp với danh từ
chỉ sự vật như hai con mèo, ba mét vải… Nguyễn Thị Nhung [38] đề cập đến
dạng “quan hệ đồng vị” khi danh từ chỉ quan hệ thân tộc đứng trước danh từ
riêng như chị Hồng, bác Thành… Trong thực tế khảo sát, luận văn nhận thấy,
dạng “quan hệ đồng vị” như Nguyễn Thị Nhung nhắc đến còn xuất hiện ở các trường hợp: danh từ chỉ chức vụ đứng trước danh từ riêng, danh từ chỉ nghề nghiệp đứng trước danh từ riêng Những trường hợp như “dạng ghép” hay dạng “quan hệ đồng vị” như trên, luận văn xếp vào dạng cấu tạo thứ 5 của danh ngữ
Trang 33Như vậy, có thể phân loại danh ngữ thành 5 dạng sau:
(1) Danh ngữ có phần đầu, phần trung tâm và phần cuối;
(2) Danh ngữ có phần đầu và phần trung tâm;
(3) Danh ngữ có phần trung tâm và phần cuối;
(4) Danh ngữ có phần đầu và phần cuối;
(5) Danh ngữ có phần quan hệ ghép hoặc quan hệ đồng vị
1.2.1.4 Ngữ nghĩa của từ ngữ
a Khái niệm nghĩa của từ
Vấn đề nghĩa của từ rất phức tạp Đây cũng là một trong những khái niệm quan trọng nhất của ngôn ngữ học Theo Nguyễn Thiện Giáp, có nhiều cách giải thích khác nhau về khái niệm này
Quan niệm thứ nhất (đại diện là B Rusell) cho rằng nghĩa của từ là sự vật hay hiện tượng do từ biểu thị Chẳng hạn, nghĩa của từ “nhà” là bản thân cái nhà có trong thực tế; nghĩa của từ “đi” là bản thân hành động; nghĩa của từ
“đẹp” là bản thân tính chất tương ứng
Quan niệm thứ hai (đại diện là R Carnap, E Grodzinski, Marudo) cho rằng nghĩa của từ đồng nhất với khái niệm logic hay biểu tượng tâm lí có liên hệ với từ
ấy Nghĩa của từ có thể được xem là toàn bộ các biểu tượng được gọi tên bằng ngữ
âm của từ Nói cách khác, nghĩa là sự tổng hợp những biểu tượng
Quan niệm thứ ba (đại diện là F de Saussure) chỉ ra dấu hiệu ngôn ngữ kết liền thành một không phải một sự vật với một tên gọi, mà là một khái niệm với một hình ảnh âm thanh
Quan niệm thứ tư (đại diện là A.A Reformatsky) quy nghĩa về mối quan hệ giữa từ và đối tượng Nghĩa được hiểu là quan hệ giữa từ với sự vật, hiện tượng mà
nó biểu thị, đó là quan hệ của sự kiện ngôn ngữ với sự kiện ngoài ngôn ngữ
Quan niệm thứ năm (đại diện là P.A Budagov) cũng cho nghĩa của từ là quan hệ, nhưng không phải là quan hệ giữa từ và đối tượng mà là quan hệ giữa
từ và khái niệm, biểu tượng
Trang 34Quan niệm thứ sáu (đại diện là J D Aprecjan) coi nghĩa của từ là quan
hệ giữa các từ với nhau Nội dung ngữ nghĩa của từ không phải là cái gì tự thân
Nó hoàn toàn bị quy định bởi những mối quan hệ được hình thành trong hệ thống những sự đối lập của từ này với các từ khác cùng thuộc trường ấy
Đỗ Việt Hùng định nghĩa: “Nghĩa của từ là toàn bộ nội dung tinh thần xuất hiện trong suy nghĩa của một người bản ngữ khi người đó tiếp xúc (tạo lập hoặc lĩnh hội) với một hình thức âm thanh ngôn ngữ nhất định” [27, tr.38]
Như vậy, có thể thấy, nghĩa của từ chính là khái niệm về sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan được phản ánh vào trong tư duy và được ngôn ngữ hóa
Có thể hình dung về nghĩa của từ như sau:
Sơ đồ 1.1: Sự hình thành nghĩa của từ
b Các thành phần ý nghĩa
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu được dùng để thể hiện các đối tượng
và sự tình trong thế giới Do đó, nghĩa của từ ngữ chính là quan hệ giữa các tín hiệu ngôn ngữ (từ ngữ) với các sự vật hoặc sự tình có thực mà chúng ta dùng các tín hiệu này để miêu tả
C K Ogden và I.A Richards trong The meaning of meaning: A study of the influence of language upon thought and of the science of symbolism [dẫn
theo 18, tr.37] đã đưa ra một sơ đồ gọi là “tam giác nghĩa”
Nguyễn Thiện Giáp đã phân tích sơ đồ tam giác nghĩa này như sau: một
đỉnh là biểu hiện (symbol), một đỉnh là tư duy (thought) hoặc quy chiếu (reference) và một đỉnh là sở chỉ (referent)
Theo Nguyễn Thiện Giáp, “Quan hệ giữa biểu hiện và tư duy là quan hệ biểu trưng; quan hệ giữa tư duy hay sự quy chiếu với sở chỉ là quan hệ quy chiếu; quan hệ giữa biểu hiện với sở chỉ là quan hệ thay thế hay gọi tên Biểu hiện không
có quan hệ trực tiếp với sở chỉ mà quan hệ với sở chỉ thông qua tư duy” [18, tr.37]
Trang 35Sơ đồ 1.2: Sơ đồ tam giác nghĩa của C K Ogden và I A Richards
Phát triển quan niệm về các nhân tố ảnh hưởng đến nghĩa của từ, Đỗ Hữu Châu đã sử dụng hình tháp ngữ nghĩa:
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ hình tháp ngữ nghĩa của Đỗ Hữu Châu
Theo Đỗ Việt Hùng phân tích [ĐVH, tr.50], số lượng các đỉnh ở đấy có thể thay đổi tăng lên, tùy thuộc vào những nhân tố có thể sẽ được phát hiện
- Từ mối quan hệ giữa từ với sự vật sẽ hình thành ý nghĩa biểu vật
Trang 36- Từ mối quan hệ giữa từ với tư duy sẽ hình thành ý nghĩa biểu niệm
- Từ mối quan hệ giữa từ với người dùng sẽ hình thành ý nghĩa phong cách, liên hội
- Từ mối quan hệ giữa từ với chức năng tín hiệu học sẽ hình thành ý nghĩa giá trị chức năng
- Từ mối quan hệ giữa từ với hệ thống ngôn ngữ sẽ hình thành ý nghĩa cấu trúc (cấu tạo từ, ngữ pháp)
Các thành phần nghĩa được đa số các nhà ngôn ngữ học thống nhất gồm:
ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa biểu thái
* Ý nghĩa biểu vật
Ý nghĩa biểu vật là thành phần nghĩa của từ liên quan đến sự vật hoặc phạm vi sự vật trong thế giới khách quan mà từ ngữ gợi ra Thành phần ý nghĩa này có sự liên hệ giữa từ với sự vật (hoặc hiện tượng, thuộc tính, hành động…)
mà nó biểu thị Bản thân sự vật, hiện tượng, thuộc tính, hành động… đó người
ta gọi là biểu vật hay cái biểu vật
Đỗ Hữu Châu định nghĩa: “Nghĩa biểu vật là một phạm trù của ngôn ngữ, là kết quả của sự ngôn ngữ hóa các sự vật ngoài ngôn ngữ” [8, tr.95] Đỗ
Việt Hùng cũng cho rằng ý nghĩa biểu vật liên quan đến các sự vật trong thế giới bên ngoài Tuy nhiên, ý nghĩa biểu vật của từ không phải là chính các sự vật trong thế giới mà chỉ bắt nguồn từ các sự vật đó Sự vật tồn tại trong thế giới là những dạng khác nhau, trong đó dạng cơ bản nhất là vật chất
Hành động chiếu vật là hành động mà người nói sử dụng các từ ngữ để đưa sự vật, hiện tượng từ thế giới bên ngoài vào trong diễn ngôn còn người nghe lại từ các hình thức ngôn ngữ tiếp nhận được mà suy ra các sự vật, hiện tượng trong thế giới
Ý nghĩa biểu vật của từ là cơ sở để các từ thực hiện chức năng chiếu vật của mình khi ngôn ngữ thực hiện hoạt động hành chức hay khi các từ ngữ được
sử dụng để phục vụ cho giao tiếp
Trang 37* Ý nghĩa biểu niệm
Ý nghĩa biểu niệm là thành phần nghĩa của từ liên quan đến hiểu biết về
ý nghĩa biểu vật, chứa đựng những hiểu biết của con người về những thuộc tính bản chất cuẩ sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan Đây là thành phần nghĩa có sự liên hệ giữa từ và ý (hoặc ý nghĩa, ý niệm) Cái ý đó người ta gọi
là cái biểu niệm
Đỗ Hữu Châu định nghĩa: “Nghĩa biểu niệm của từ là hiểu biết về nghĩa biểu vật của từ” [8, tr.95] Theo Đỗ Việt Hùng, sự phân biệt ý nghĩa biểu vật với
ý nghĩa biểu niệm trong ngôn ngữ tương đương với sự phân biệt sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan với khái niệm trong tư duy về chúng Khái niệm và ý nghĩa biểu niệm thống nhất với nhau nhưng không đồng nhất
* Ý nghĩa biểu thái
Ý nghĩa biểu thái là thành phần nghĩa của từ liên quan đến thái độ, cảm xúc, cách đánh giá Nó là mối liên hệ giữa từ với thái độ chủ quan, cảm xúc, cách đánh giá của người nói Ý nghĩa biểu thái có vai trò quan trọng trong hướng dẫn cách dùng từ nên ý nghĩa biểu thái là một nét nghĩa trong cấu trúc biểu niệm của từ
c Sự hiện thực hóa các thành phần nghĩa trong ngôn ngữ văn chương
Nghĩa của từ tồn tại ở trạng thái tĩnh (trong hệ thống ngôn ngữ) và ở trạng thái động trong sử dụng Quá trình chuyển từ trạng thái tĩnh sang trạng thái động của từ tuân theo những quy luật nhất định Trên một số cứ liệu cụ thể,
Đỗ Việt Hùng cho rằng có thể tách riêng các thành phần nghĩa của từ để phân tích sự hiện thực hóa của từng thành phần trong văn bản
* Ý nghĩa biểu vật
Sự khái quát của nghĩa biểu vật trở nên xác định khi từ được sử dụng Khi sử dụng, nghĩa biểu vật của từ tương ứng với những sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất… cụ thể xác định Các nhà văn thường thể hiện những đặc điểm cụ thể của các sự vật, hiện tượng, các hoạt động, tính chất bằng các cách sau:
Trang 38- Dùng các từ ngữ miêu tả đi kèm để tạo cụm từ: Để hiện thực hóa những đặc điểm riêng của sự vật, hiện tượng cụ thể, người viết thường không dùng các từ riêng lẻ mà dùng đến các từ ngữ miêu tả đi kèm, tạo thành các cụm từ Định tố miêu tả trong cụm từ thường có tác dụng cụ thể hóa sự vật, hiện tượng; nêu rõ các đặc điểm, tính chất của sự vật, hiện tượng mà thiếu chúng, người đọc không thể nhận ra được
- Dùng các từ đồng nghĩa để có thể lựa chọn trong các từ ngữ trong nhóm đồng nghĩa nhưng mang những sắc thái khác nhau
- Dùng từ với nghĩa đa chiếu vật, tức là cách dùng một từ ứng với nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau Các từ ngữ trong văn bản văn chương thường thống nhất với nhau để làm nổi rõ một hình tượng nào đó Thông qua những sự kiện, những con người cụ thể, tác giả có thể phản ánh về các khía cạnh của đời sống Từ ngữ được sử dụng do đó không chỉ dừng lại ở ý nghĩa chiếu vật cụ thể chỉ ở một nhân
vật mà còn chiếu vào những số phận, những con người khác trong cuộc sống
Các từ ngữ miêu tả đi kèm các danh từ không chỉ giúp cho sự chiếu vật được thực hiện dễ dàng mà còn có giá trị làm tăng tính cụ thể, tính hình tượng của câu văn; đồng thời thể hiện cách quan sát, nhận thức hiện tượng của nhà văn Bằng những từ ngữ miêu tả đi kèm các từ ngữ gọi tên sự vật được nói đến (trong
luận văn này, chúng ta dùng thuật ngữ từ ngữ để chỉ những hiện tượng kết hợp
như vậy), ngôn ngữ tác giả, tác phẩm sẽ được cá thể hóa; giúp làm nổi bật lên vẻ riêng trong phong cách sử dụng ngôn ngữ của người sáng tác
* Ý nghĩa biểu niệm
Đỗ Hữu Châu cho rằng sự phân biệt ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm không phải là sự “bày đặt” cho rắc rối thêm Nó không chỉ có tác dụng giải thích và miêu tả các sự kiện từ vựng mà còn là cơ sở để giải thích, nắm được ý định, dụng ý nghệ thuật của người viết trong ngôn ngữ văn chương Ông
đã từng viết: “Nghệ thuật văn chương là nghệ thuật diễn đạt các ý nghĩa biểu niệm khác nhau bằng cách dùng những từ ngữ khác nhau ứng với một ý nghĩa biểu vật đồng nhất” [dẫn theo 26, tr.172]
Trang 39Việc sử dụng từ ngữ như vậy, theo Đỗ Việt Hùng có thể quy về hai trường hợp chính, dựa trên cơ sở mục tiêu hướng tới:
- Thể hiện thái độ của tác giả đối với nhân vật Điều này có thể thể hiện qua ngôn ngữ tác giả hoặc ngôn ngữ nhân vật Mỗi nhân vật trong hoàn cảnh khác nhau thể hiện tính cách khác nhau Do đó, ngôn ngữ miêu tả nhân vật của tác giả cũng khác nhau Có thể thấy điều đó qua cách gọi tên nhân vật thông qua phương thức biểu vật bằng định danh (bằng từ là tên gọi của sự vật) và biểu vật theo lối miêu tả Biểu vật theo lối định danh là biểu vật mang tính tổng hợp,
võ đoán cho sự vật, hiện tượng; còn biểu vật theo lối miêu tả là biểu vật mang tính phân tích; sự vật, hiện tượng hiện ra theo những đặc điểm đặc trưng của
nó Biểu vật theo lối miêu tả bị chi phối ở nguyên tắc có lí do, nó phụ thuộc nhiều vào nhận thức chủ quan của người sử dụng Vì thế, biểu vật theo lối miêu
tả giúp người nói thể hiện được cách nhìn của mình về đối tượng Ngoài ra, trong tác phẩm văn chương, việc sử dụng từ ngữ còn có thể thể hiện thái độ của tác giả qua ngôn ngữ nhân vật Các nhân vật trong tác phẩm có những mối quan
hệ nhất định với nhau Việc xưng hô giữa các nhân vật sẽ giúp thể hiện rõ những mối quan hệ đó Tác giả cũng có thể lồng ý kiến đánh giá của mình về từng nhân vật Đặt nhân vật vào đối thoại với nhau và suy nghĩ về nhau, tác giả có thể đứng vào nhân vật của mình để thể hiện thái độ đối với những nhân vật khác
- Thể hiện quan điểm của tác giả về sự vật, hiện tượng được nói đến Việc dùng các từ ngữ khác nhau để cùng chỉ về một sự vật, hiện tượng… trong một tác phẩm văn chương có thể giúp thể hiện những cách nhìn khác nhau, cách đánh giá khác nhau về một sự vật, hiện tượng trong những hoàn cảnh khác nhau là phổ biến Một từ thường có cả thành phần nghĩa biểu vật và biểu niệm Phần lớn các từ khi được đưa vào sử dụng sẽ mang cả hai thành phần nghĩa này Song trong thực tế sử dụng, nhiều khi chỉ có thành phần nghĩa biểu niệm được hiện thực hóa Nhờ đặc điểm sử dụng từ như vậy nên trong các
Trang 40tác phẩm văn chương nghệ thuật, qua các từ ngữ chỉ được dùng với ý nghĩa biểu niệm, tác giả có thể thể hiện quan điểm, quan niệm của mình về các sự vật, hiện tượng
1.2.1.5 Trường từ vựng - ngữ nghĩa
a Khái niệm
Từ vựng trong một ngôn ngữ không phải là tập hợp ngẫu nhiên của các
từ và các đơn vị tương ứng mà là một hệ thống Biểu hiện quan trọng của hệ thống là mối quan hệ của các đơn vị trong hệ thống đó Một trong những quan
hệ cơ bản là quan hệ đồng nhất về nghĩa tạo nên trường từ vựng - ngữ nghĩa
J Trier - người đề xướng lí thuyết trường nghĩa đã viết: “Trong hệ thống, tất cả chỉ nhận được ý nghĩa qua cái toàn thể Có nghĩa là từ của ngôn ngữ nào
đó không phải là đại diện tách biệt của ý nghĩa; ngược lại, mỗi một từ có ý nghĩa chỉ là vì có các từ khác liên hệ trực tiếp với nó” [dẫn theo 26, tr.183]
J Trier quan niệm về trường nghĩa là: “tập hợp các đơn vị từ vựng có chung một thành tố nghĩa có giá trị nhận diện một trường nghĩa” [dẫn theo 26,
tr.185]
Mối quan hệ đồng nhất về nghĩa tạo nên trường từ vựng - ngữ nghĩa cũng là một trong những vấn đề được các nhà ngôn ngữ học Việt Nam quan tâm Người đã
giới thiệu lí thuyết này vào Việt Nam là Đỗ Hữu Châu Theo Đỗ Hữu Châu, “trường
từ vựng ngữ nghĩa là tập hợp các từ và ngữ cố định trong từ vựng của một ngôn ngữ dựa vào sự đồng nhất nào đấy về ngữ nghĩa” [8, tr.127] Ông sau đó dùng thuật ngữ “trường nghĩa” để chỉ “trường từ vựng - ngữ nghĩa”
b Phân loại
b1 Trường biểu vật
Các từ cùng chỉ những sự vật thuộc một phạm vi sự vật nào đó lập thành một trường biểu vật Trường biểu vật là tập hợp các từ ngữ đồng nhất với nhau
về nghĩa biểu vật [27, tr.191]
Để xác lập trường biểu vật, người ta chọn một danh từ biểu thị sự vật làm gốc, rồi trên cơ sở đó thu thập các từ ngữ có cùng phạm vi biểu vật với danh từ được chọn làm gốc đó