1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hàm lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong nước và trầm tích sông nhuệ thuộc địa phận thành phố hà nội và nguy cơ rủi ro đối với hệ sinh thái

68 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN ---***--- MAI ĐỨC BÌNH ĐÁNH GIÁ HÀM LƯỢNG HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT HCBVTV TRONG NƯỚC VÀ TRẦM TÍCH SÔNG NHUỆ THUỘC ĐỊA PHẬN TH

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-*** -

MAI ĐỨC BÌNH

ĐÁNH GIÁ HÀM LƯỢNG HÓA CHẤT BẢO VỆ

THỰC VẬT (HCBVTV) TRONG NƯỚC VÀ TRẦM TÍCH SÔNG NHUỆ THUỘC ĐỊA PHẬN THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ

NGUY CƠ RỦI RO ĐỐI VỚI HỆ SINH THÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-*** -

MAI ĐỨC BÌNH

ĐÁNH GIÁ HÀM LƯỢNG HÓA CHẤT BẢO VỆ

THỰC VẬT (HCBVTV) TRONG NƯỚC VÀ TRẦM TÍCH SÔNG NHUỆ THUỘC ĐỊA PHẬN THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ

NGUY CƠ RỦI RO ĐỐI VỚI HỆ SINH THÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN THIỆN CƯỜNG

TS NGÔ VÂN ANH

Trang 3

Lời cảm ơn

Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến TS Trần Thiện Cường và TS Ngô Vân Anh đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài, đồng thời em xin cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Môi Trường, trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã nhiệt tình truyền đạt kiến thức và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong

suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa học

Hà Nội, ngày tháng năm 2021

Học viên

Mai Đức Bình

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG 3

DANH MỤC HÌNH 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5

LỜI MỞ ĐẦU 6

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 8

1.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 8

1.1.1 Ví trí địa lý 8

1.1.2 Đặc điểm địa hình 8

1.1.3 Đặc điểm thủy văn 10

1.2 Tổng quan nguồn nước sông Nhuệ 11

1.2.1 Nguồn gây ô nhiễm 11

1.2.2 Diễn biến ô nhiễm chất lượng nước trên Hệ thống thủy lợi sông Nhuệ 12

1.3 Tổng quan về hóa chất bảo vệ thực vật 13

1.3.1 Khái niệm hóa chất bảo vệ thực vật 13

1.3.2 Phân loại hóa chất BVTV 14

1.3.3 Hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hiện nay 15

1.3.4 Ảnh hưởng của hóa chất BVTV tồn lưu đến môi trường 16

1.4 Ảnh hưởng của HCBVTV lên con người và động vật 18

1.5 Nguy cơ rủi ro cho HST của HCBVTV trong nước và trầm tích 21

1.5.1 Một số khái niệm về nguy cơ và rủi ro đối với HST 21

1.5.2 Quy trình đánh giá rủi ro HST 23

CHƯƠNG II: ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.2 Phạm vi nghiên cứu 25

2.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 25

2.3.1 Phương pháp luận: 25

2.3.2 Các phương pháp nghiên cứu: 26

2.3.3 Phương pháp đánh giá các rủi ro của thuốc BVTV đến hệ sinh thái: 30

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

3.1 Hiện trạng chất lượng nước sông Nhuệ 32

3.2 Đánh giá các nguồn phát thải chất ô nhiễm vào sông Nhuệ 36

a Nguồn thải sinh hoạt 36

Trang 5

b Nguồn thải nông nghiệp 36

c Nguồn thải công nghiệp 36

d Nguồn thải làng nghề 38

e Nguồn thải y tế 39

3.3 Đánh giá mức độ ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật trong nước và trầm tích của sông Nhuệ 39

3.3.1 Kết quả phân tích mẫu nước tại các điểm quan trắc trên LVS Nhuệ 39

3.3.2 Kết quả phân tích trầm tích tại các điểm trên LVS Nhuệ 44

3.4 Đánh giá nguy cơ rủi ro đối với HST của HCBVTV trong nước và trầm tích sông Nhuệ 48

3.4.1 Ảnh hưởng của HCBVTV đến đa dạng các loài trong hệ sinh thái thủy vực sông Nhuệ 48

3.4.2 Ảnh hưởng của hóa chất bảo vệ thực vật đến môi trường LVS Nhuệ 49

3.5 Đánh giá nguy cơ rủi ro của hóa chất bảo vệ thực vật đến hệ sinh thái môi trường LVS Nhuệ 52

3.6 Đề xuất giải pháp kiểm soát 53

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56

1 Kết luận 56

2 Kiến nghị 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

PHỤ LỤC 59

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu tại hiện trường 27

Bảng 2: Danh mục vị trí lấy mẫu 27

Bảng 3: Phương pháp phân tích phân tích các thông số HCBVTV 29

Bảng 4: Đặc trưng nước thải của một số ngành sản xuất công nghiệp 37

Bảng 5: Kết quả phân tích mẫu nước đợt I trên lưu vực sông Nhuệ 40

Bảng 6: Kết quả phân tích mẫu nước đợt II trên lưu vực sông Nhuệ 41

Bảng 7: Kết quả phân tích mẫu nước đợt III trên lưu vực sông Nhuệ 42

Bảng 8: Kết quả phân tích mẫu nước đợt IV trên lưu vực sông Nhuệ năm 2018 43

Bảng 9: Kết quả phân tích HCBVTV dạng clo hữu cơ trong trầm tích đợt I trên lưu vực sông Nhuệ năm 2018 44

Bảng 10: Kết quả phân tích HCBVTV dạng clo hữu cơ trong trầm tích đợt II trên lưu vực sông Nhuệ năm 2018 45

Bảng 11: Kết quả phân tích HCBVTV dạng Clo hữu cơ trong trầm tích đợt III trên lưu vực sông Nhuệ 46

Bảng 12: Kết quả phân tích HCBVTV dạng clo hữu cơ trong trầm tích đợt IV trên lưu vực sông Nhuệ năm 2018 47

Bảng 13 Đánh giá sơ bộ nguy cơ rủi ro (RQ) của Lindane 52

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Bản đồ lưu vực hệ thống sông Nhuệ 9

Hình 2: Quy trình cơ bản đánh giá rủi ro hệ sinh thái 30

Hình 3: Diễn biến giá trị DO trên sông Nhuệ từ năm 2016 đến năm 2018 32

Hình 4: Diễn biến giá trị BOD5 trên sông Nhuệ năm 2016 – 2018 33

Hình 5: Diễn biến giá trị COD trên sông Nhuệ từ năm 2016 đến năm 2018 34

Hình 6: Diễn biến giá trị N-NH4+ trên sông Nhuệ từ năm 2016 đến năm 2018 35

Hình 7: Diễn biến giá trị TSS trên sông Nhuệ từ năm 2016 đến năm 2018 36

Hình 8: Hình ảnh ô nhiễm môi trường nước từ HCBVTV tại khu vực cầu Tó 50

Hình 9: Ô nhiễm môi trường đất từ thuốc bảo vệ thực vật (Nguồn Internet) 50

Hình 10: Ô nhiệm môi trường không khí từ hóa chất bảo vệ thực vật (Nguồn Internet) 51

Hình 11: Chu trình tuần hoàn của thuốc bảo vệ thực vật 52

Hình 12: Các mối tương quan cơ bản trong việc quản lí thống nhất và tổng hợp môi trường nước lưu vực sông 53

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

Sông Nhuệ là một con sông nhỏ, phụ lưu của sông Đáy Sông dài khoảng

76 km, chảy theo hướng Bắc Tây Bắc - Nam Đông Nam qua địa phận thành phố Hà

Nội và tỉnh Hà Nam Điểm bắt đầu của nó là Cống Liên Mạc, lấy nước từ sông

Hồng trong địa phận quận Bắc Từ Liêm (thành phố Hà Nội) và điểm kết thúc của

nó là cống Phủ Lý khi hợp lưu vào sông Đáy gần thành phố Phủ Lý (tỉnh Hà Nam) Sông chảy qua các quận, huyện, thị trấn gồm các quận: Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm, Hà Đông; các huyện: Thanh Trì, Thường Tín, Thanh Oai, Phú Xuyên của thành phố Hà Nội; Huyện Duy Tiên, Kim Bảng của tỉnh Hà Nam và cuối cùng đổ vào sông Đáy ở khu vực thành phố Phủ Lý Trong những năm gần đây, tình hình phát triển kinh tế - xã hội trên lưu vực sông Nhuệ diễn ra rất mạnh mẽ, đem lại nhiều lợi ích to lớn cho nền kinh tế quốc dân, nộp ngân sách nhà nước hàng trăm tỷ đồng, góp phần nâng cao đời sống, giải quyết công ăn việc làm cho một số lượng

lớn người lao động Tuy nhiên, ngoài những lợi ích mang lại thì tình trạng ô nhiễm

do những mặt trái của các hoạt động trên gây ra đang ở mức đáng báo động Môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng trong khu vực đang bị ô nhiễm nghiêm trọng gây ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ người lao động, dân cư cũng như đến hệ sinh thái cảnh quan trong vùng Các tác động mạnh mẽ nhất đến môi trường nước sông Nhuệ là do các hoạt động phát triển KT - XH như hoạt động của các khu công nghiệp, sản xuất làng nghề, khu khai thác và chế biến, các tụ điểm dân cư Sự

ra đời và hoạt động của hàng loạt các khu công nghiệp thuộc các tỉnh, thành phố, các hoạt động tiểu thủ công nghiệp trong các làng nghề, các xí nghiệp kinh tế quốc phòng cùng với các hoạt động khai thác, canh tác trên hành lang thoát lũ, chất thải

bệnh viện, trường học làm cho môi trường nước ngày càng xấu đi, nhiều đoạn sông đã bị ô nhiễm tới mức trầm trọng Nhận thấy vai trò quan trọng của hệ thống sông Nhuệ đối với sự phát triển kinh tế bền vững của thành phố Hà Nội, tỉnh Hà Nam cũng như để có cơ sở đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường nước lưu vực sông, tôi quyết định chọn đề tài: “Đánh giá hàm lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong nước và trầm tích sông Nhuệ thuộc địa phận thành phố Hà Nội và nguy cơ rủi ro đối với hệ sinh thái” nhằm làm rõ hàm lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong

nước và trầm tích sông Nhuệ hiện nay và các nguy cơ rủi ro ảnh hưởng xấu đối với

hệ sinh thái xung quanh từ đó đưa ra các giải pháp giảm thiểu nguồn gây ô nhiễm với sông Nhuệ, cải thiện chất lượng nguồn nước và hệ sinh thái

Như vậy với những lý do trên đề tài đã thực hiện với các mục tiêu như sau:

Trang 10

- Mục tiêu chung: Đánh giá được mức độ và nguyên nhân ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật trong nước và trầm tích của sông Nhuệ, ảnh hưởng của hàm lượng hóa chất bảo vệ thực vật đối với hệ sinh thái

- Nội dung nghiên cứu:

+ Hiện trạng chất lượng nước và các nguồn phát thải chất ô nhiễm vào sông Nhuệ;

+ Đánh giá được mức độ ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật trong nước và

trầm tích của sông Nhuệ (đoạn thuộc địa phận thành phố Hà Nội);

+ Đánh giá nguy cơ và rủi ro đối với hệ sinh thái xung quanh lưu vực song Nhuệ (đoạn thuộc địa phận thành phố Hà Nội);

+ Đề xuất được các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm nước sông Nhuệ

Trang 11

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

1.1.1 Ví trí địa lý

Sông Nhuệ (còn được gọi với tên Nhuệ Giang) là một con sông nhỏ, phụ lưu của sông Đáy Sông dài khoảng 72 km, chảy theo hướng bắc Tây Bắc-Nam Đông Nam qua địa phận thành phố Hà Nội và tỉnh Hà Nam

Điểm bắt đầu của nó là rãnh Liên Mạc (20005’27” vĩ độ Bắc, 105o46’12” kinh độ Đông), lấy nước từ sông Hồng trong địa phận quận Bắc Từ Liêm (thành phố Hà Nội) và điểm kết thúc của nó là cống Phủ Lý (20032’42” vĩ độ Bắc,

105o54’32 kinh độ Đông) khi hợp lưu vào sông Đáy tại ngã 3 Phù Vân, gần thành phố Phủ Lý (tỉnh Hà Nam) Sông chảy qua các quận, huyện: Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm, Hà Đông, Thanh Trì, Thanh Oai, Thường Tín, Phú Xuyên của thành phố Hà Nội; huyện Duy Tiên của tỉnh Hà Nam và cuối cùng đổ vào sông Đáy ở khu vực thành phố Phủ Lý Sông Nhuệ lấy nước để tưới cho hệ thống thủy nông Đan Hoài với lưu lượng khoảng 30m2/s, sông nhuệ còn còn có nhiệm vụ tiêu nước cho thành phố Hà Nội, thị xã Hà Đông rồi sau đó chảy vào sông Đáy tại thị xã Phủ lý

Diện tích lưu vực của nó khoảng 1.075 km² (phần bị các đê bao bọc) Trên địa bàn Hà Nội, sông có chiều dài 61,5 km Độ rộng trung bình của sông là (30 ÷ 40) m Sông chảy theo hướng Bắc – Nam ở thượng nguồn và theo hướng Đông Bắc – Tây Nam ở hạ và trung lưu Lưu vực được giới hạn phía Đông Bắc giáp với lưu vực sông Hồng, phía Tây giáp với lưu vực sông Đáy, phía Nam giáp với lưu vực sông Châu Giang Ngoài ra, nối sông Đáy với sông Nhuệ còn có các sông nhỏ như sông La Khê (qua quận Hà Đông), sông Tô Lịch, sông Vân Đình, sông Duy Tiên, sông Ngoại Độ [8]

1 1.2 Đặc điểm địa hình

Lưu vực sông Nhuệ nằm trên vùng đồng bằng thấp thuộc châu thổ sông Hồng, không có đồi núi Địa hình có dạng lòng máng cao ở phía sông Hồng, sông Đáy và thấp dần vào trục sông Nhuệ theo hướng Bắc, Tây Bắc – Nam, Đông Nam qua địa phận thành phố Hà Nội và tỉnh Hà Nam Độ cao của khu thượng nguồn sông Nhuệ ở Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm khoảng 5-7m, tại khu lân cận quận Hà Đông cao 4 - 7 m, khu vực huyện Thường Tín cao 1,1 - 3,5 m Độ dốc của lòng sông Nhuệ có cao độ mặt phổ biến từ + 2 đến + 6m Cao trình biến đổi từ + 1 m đến + 9 m

Trang 12

Bề mặt lưu vực có hướng dốc thay đổi, đầu nguồn là hệ thống sông hướng Bắc – Nam, trung và hạ nguồn hướng Tây Bắc – Đông Nam Thượng lưu hệ thống sông uốn khúc, quanh co, hẹp và dốc, nhiều thác ghềnh, nước chảy xiết, là nguy cơ tạo nên các hiện tượng xói lở và lũ quét… Trung lưu và hạ lưu lòng sông được mở rộng, dòng sông chảy chậm, khả năng thoát nước kém dẫn đến tình trạng ngập lụt mỗi khi xuất hiện mưa lớn

Hình 1: Bản đồ lưu vực hệ thống sông Nhuệ

Trang 13

1.1.3 Đặc điểm thủy văn

a Đặc điểm khí tượng - thủy văn

Chế độ thủy văn của lưu vực sông Nhuệ không những chịu ảnh hưởng của các yếu tố mặt đệm trên bề mặt lưu vực, các yếu tố khí hậu mà còn phụ thuộc chế độ dòng chảy của nước sông Hồng và các sông khác Vì thế chế độ thủy văn

ở sông Nhuệ rất phức tạp mà còn còn có sự khác nhau nhất định giữa các đoạn sông Dòng chảy trên lưu vực sông phân bố không đồng đều theo không gian và thời gian

ngạn lữu vực có dòng chảy lớn hơn phần tả ngạn

Theo thời gian: thể hiện không rõ nét thông qua phân phối dòng chảy trong

năm Phân phối dòng chảy trong năm phụ thuộc vào phân phối theo mùa của lượng mưa năm nên dòng chày trong năm phân phối không đều và thể hiện hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô

b Đặc điểm khí hậu

Khí hậu của lưu vực sông Nhuệ, mang đặc điểm cơ bản của khí hậu nhiệt đới gió mùa của khí hậu miền bắc Việt Nam Nhiệt đới được coi là đặc tính chủ đạo quy định về cơ bản hướng phát triển của hệ sinh thái lưu vực Mặt khác, mùa đông lạnh

là một dị thường đã phá vỡ tính điển hình của khí hậu nhiệt đới đưa đến những hạn

chế trong phát triển của hệ sinh thái nhiệt đới thuần chủng Tuy nhiên ở mặt khác nó

lại góp phần tạo ra tính đa dạng của khí hậu là tiền đề cho sự phát triển một hệ sinh thái phong phú mà những vùng nhiệt đới hay ôn đới điển hình thường không có được

Cũng như các nơi khác ở Bắc Bộ, mùa mưa ở lưu vực sông Nhuệ thường bắt đầu từ tháng V và kết thúc vào tháng IX ở thượng lưu hay tháng X ở trung lưu và hạ lưu Lượng mưa trong mùa trăng các tháng mùa mưa chiếm khoảng 65 - 85% tổng lượng mưa năm

Dòng chảy sông suối cũng phân phối không đều trong năm và biến đổi theo mùa rõ rệt: mùa lũ và mùa cạn Mùa lũ thườg bắt đầu từ tháng V, VI đến tháng X Lượng dòng chảy mùa lũ chiến khoảng 80 - 85% tổng lượng dòng chảy toàn năm tháng VII là tháng có lượng dòng chảy trung bình tháng lớn nhất Mùa cạn kéo dài

từ tháng X đến tháng IV, V năm sau Lượng dòng chảy trong mùa này chỉ chiếm khoảng 15 - 20% tổng lượng dòng chảy năm, tháng II là tháng có lượng dòng chảy trung bình tháng nhỏ nhất

Trang 14

1.2 T ổng quan nguồn nước sông Nhuệ

LVS Nhuệ - Đáy thuộc LVS Hồng – Thái Bình, trải trên địa phận 6 tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Hồng Trong giai đoạn2014 - 2018, các đoạn sông chảy qua các đô thị và khu vực tập trung sản xuất vẫn tiếp tục bị ô nhiễm chất hữu

cơ, chất dinh dưỡng và vi sinh Chất lượng nước năm 2016 bị suy giảm so với các năm trước đó Tuy nhiên, đến năm 2017 - 2018, chất lượng nước tại một ố khu vực

có sự cải thiện hơn

Chất lượng nước sông Nhuệ luôn ở mức thấp, đoạn sông qua nội thành Hà Nội, nước bị ô nhiễm nặng với giá trị WQI rất thấp Ô nhiễm nước sông Nhuệ cũng

đã và đang có những tác động đáng kể đến chất lượng nước khu vực hạ lưu, đặc biệt vào mùa khô Sông Đáy có chất lượng nước tốt hơn sông Nhuệ, chất lượng nước có

xu hướng tăng dần theo dòng chảy từ Hà Nội đến Ninh Bình, một số điểm trên địa phận Ninh Bình, nước có thể sử dụng cho sinh hoạt nhưng cần có biện pháp xử lý phù hợp Hầu hết các sông chảy trong khu vực nội thành thành phố Hà Nội đều đã

và đang tiếp tục bị ô nhiễm khá nặng Sông Tô Lịch, đoạn chảy qua khu vực nội thành từ Nghĩa Đô đến Cầu Sét, chỉ số WQI luôn có giá trị thấp (nhỏ hơn 25), nước thường xuyên bị ô nhiễm nặng và hầu như chưa có sự cải thiện qua các năm Các sông nhỏ khác như sông Lừ, sông Sét, Kim Ngưu cũng trong tình trạng tương tự

Nguyên nhân chính là do từ trước đến nay, các sông này đều là nơi tiếp nhận

và chứa phần lớn nước thải sinh hoạt của các khu dân cư của thành phố, hàm lượng các chất hữu cơ trong nước luôn vượt nhiều lần ngưỡng QCVN 08-MT:2015/BTNMT (B2) Theo thống kê trong giai đoạn 2014 - 2018, trên LVS Nhuệ - Đáy, hầu hết các thông số đều có tỷ lệ % giá trị vượt QCVN 08-MT: 2015/BTNMT (A2) từ 35,7% đến trên 90% Trong đó, một số thông số có tỷ lệ vượt cao là Amoni, Nitrit và BOD5 Năm 2016 - 2017, tỷ lệ số giá trị vượt QCVN của các thông số có giảm nhẹ so với những năm trước nhưng không đáng kể [3]

1.2.1 Ngu ồn gây ô nhiễm

Lưu vực sông Nhuệ có phạm vi không gian rộng, quá trình phát triển kinh tế với nhiều ngành nghề đa dạng thuộc hầu hết các lĩnh vực sản xuất Chính các điều kiện kinh tế xã hội đang ngày càng trở thành tác nhân chủ yếu tác động mạnh mẽ gây ra các vấn đề môi trường

Nước thải sinh hoạt của nhân dân ở các quận nội thành Hà Nội đổ vào sông

Tô Lịch và từ đó chảy vào sông Nhuệ Ngoài ra, sông Nhuệ còn là nơi tiếp nhận nước thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề chưa qua xử lý; tình trạng

đổ phế thải, rác thải xuống các sông chưa được kiểm soát chặt chẽ

Trang 15

Hệ thống thủy lợi sông Nhuệ bị ô nhiễm chủ yếu bởi các nguồn thải từ: sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp và y tế với tổng lượng nước thải khoảng 800.000

m3/ngày đêm (trong đó nước thải sinh hoạt 550.000 m3/ngày đêm, nước thải công nghiệp tại Hà Nội khoảng 56.100 m3/ngày, nước thải từ các làng nghề (ước tính khoảng 450 làng nghề và hàng nghìn cơ sở sản xuất) thải ra khoảng 55.000 m3 ÷ 65.000 m3/ngày đêm) Chưa có số liệu về nước thải từ bệnh viện, các cơ sở y tế

Theo các số liệu thống kê của Sở Tài nguyên Môi trường Hà Nội, có hơn 1.300 điểm xả thải các loại ảnh hưởng đến chất lượng nước Hệ thống thủy lợi sông Nhuệ Các điểm gây ra ô nhiễm chính trên sông Nhuệ hiện nay gồm có: sông Đăm, sông Cầu Ngà, kênh Xuân La, kênh Phú Đô, kênh Trung Văn tại huyện Từ Liêm, đập Thanh Liệt tại huyện Thanh Trì, kênh La Khê tại quận Hà Đông

1.2.2 Di ễn biến ô nhiễm chất lượng nước trên Hệ thống thủy lợi sông Nhuệ

Việc không đảm bảo nguồn nước bổ sung vào hệ thống, đóng cống trong nhiều ngày cũng như có nhiều nguồn thải vào hệ thống đã góp phần gây nên ô nhiễm nghiêm trọng trong hệ thống, gây ảnh hưởng tới sức khoẻ con người và sản xuất

Chất lượng nước của sông Nhuệ biến đổi theo từng năm, có xu hướng ngày kém hơn do có nhiều nguồn nước thải lớn đổ vào hệ thống Khu vực ô nhiễm nặng nhất trên dòng chính sông Nhuệ là từ sau cống Hà Đông về hạ du, cũng như tại các kênh nhánh La Khê, Vân Đình, Ngoại Độ, Duy Tiên

Kết quả giám sát từ năm 2005 đến 2016 do Viện Quy hoạch Thủy lợi thực hiện cho thấy, đoạn từ Cầu Diễn đến đập Đồng Quan: hàm lượng COD (nhu cầu hóa học), BOD5 (nhu cầu oxy sinh học) đều vượt quá giới hạn B2 của QCVN 08-MT: 2015/BTNMT (Dùng cho mục đích tưới tiêu, thủy lợi hoặc các mục đích sử dụng khác có yêu cầu chất lượng nước tương tự) từ 2,2 đến 9 lần Đặc biệt, chỉ số

DO (ôxy hòa tan trong nước) thấp, giảm mạnh trong những năm gần đây Qua các đợt giám sát đều cho thấy chỉ số DO có giá trị < 1 mg/l; hàm lượng NH4+vượt quá giới hạn B2 từ 0,4 đến 11 lần; hàm lượng vi khuẩn Coliform vượt quá giới hạn B2

Trang 16

28,9%) Tại Hà Nam có 12,167/24.733 mẫu phân tích As vượt quy chuẩn (chiếm 49,2%)

Do nguồn nước sông Nhuệ bị ô nhiễm nghiêm trọng, vì vậy trên hệ thống sông Nhuệ hàng năm thường xuyên xảy ra các sự cố về môi trường điển hình như:

- Hiện tượng cá dọn bể chết hàng loạt từ ngày 1 đến ngày 15 tháng 3 năm

2009 tại khu vực cầu Hà Đông là khu vực ô nhiễm nhất trên sông Nhuệ;

- Hiện tượng cá chết hàng loạt trên sông Châu Giang (từ ngày 4 – 8/6/2010, 16/10/2013) do nguồn nước ô nhiễm từ sông Nhuệ lan sang sông Châu Giang; tại khu vực cầu Hồng Phú, eo Tân Lang huyện Kim Bảng (từ 15-19/4/2016)

- Trong nhiều thời điểm nguồn nước ô nhiễm sông Nhuệ lan sang sông Đáy gây ô nhiễm nguồn nước không thể xử lý cấp cho sinh hoạt, ảnh hưởng tới đời sống của người dân khu vực Phủ Lý Trên lưu vực sông Nhuệ đã xuất hiện nhiều làng ung thư như báo chí đã nêu trong thời gian gần đây

Thông qua các số liệu điều tra, khảo sát và thực tiễn có thể nhận định rằng sông Nhuệ hiện nay là con sông ô nhiễm nhất tại ViệtNam và nguồn nước ô nhiễm này vẫn được sử dụng để cấp cho sản xuất và sinh hoạt trong khu vực

1.3 T ổng quan về hóa chất bảo vệ thực vật

1.3.1 Khái ni ệm hóa chất bảo vệ thực vật

Hóa chất BVTV hay còn gọi là thuốc BVTV là những loại hóa chất bảo vệ cây trồng hoặc những sản phẩm bảo vệ mùa màng, là những chất được tạo ra để

chống lại và tiêu diệt loài gây hại hoặc các vật mang mầm bệnh Chúng cũng gồm các chất để đấu tranh với các loại sống cạnh tranh với cây trồng cũng như nấm bệnh cây Ngoài ra, các loại thuốc kích thích sinh trưởng, giúp cây trồng đạt năng suất cao cũng là một dạng của hóa chất BVTV Hóa chất BVTV là những hóa chất độc,

có khả năng phá hủy tế bào, tác động đến cơ chế sinh trưởng, phát triển của sâu

bệnh, cỏ dại và cả cây trồng, vì thế khi các hợp chất này đi vào môi trường, chúng cũng có những tác động nguy hiểm đến môi trường, đến những đối tượng tiếp xúc

trực tiếp hay gián tiếp Và đây cũng là lý do mà thuốc BVTV nằm trong số những hóa chất đầu tiên được kiểm tra triệt để về bản chất, về tác dụng cũng như tác hại

Về cơ bản thuốc BVTV được sản xuất dưới các dạng sau:

- Thuốc sữa: viết tắt là EC hay ND: gồm các hoạt chất, dung môi, chất hóa

sữa và một số chất phù trị khác Thuốcở thể lỏng, trong suốt, tan trong nước thành dung dịch nhũ tương tương đối đồng đều, không lắng cặn hay phân lớp

Trang 17

- Thuốc bột thấm nước: còn gọi là bột hòa nước, viết tắt là WP, BTN: gồm

hoạt chất, chất độn, chất thấm ướt và một số chất phù trợ khác Thuốc ở dạng bột

mịn, phân tán trong nước thành dung dịch huyền phù, pha với nước để sử dụng

- Thuốc phun bột: viết tắt là DP, chứa các thành phần hoạt chất thấp (dưới 10%), nhưng chứa tỉ lệ chất độn cao, thường là đất sét hoặc bột cao lanh Ngoài ra, thuốc còn chứa các chất chống ẩm, chống dính Ở dạng bột mịn, thuốc không tan trong nước

- Thuốc dạng hạt: viết tắt là G hoặc H, gồm hoạt chất, chất độn, chất bao viên, và một số chất phù trợ khác

1.3.2 Phân lo ại hóa chất BVTV

Có hơn 1000 loại thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng trên toàn thế giới để đảm bảo thực phẩm không bị hư hỏng hay phá hoại bởi các loài động vật gây hại Mỗi loại thuốc bảo vệ thực đều có tính chất và độctính khác nhau.Hóa chất bảo vệ thực vật được phân loại thành 4 nhóm chính:

+ Nhóm Clo hữu cơ: là các dẫn xuất clo của một số hợp chất hữu cơ như

diphenyletan, cyclodien, benzen, hexan Nhóm này bao gồm những hợp chất hữu cơ rất bền vững trong môi trường tự nhiên và thời gian bán phân hủy dài Đại diện của nhóm này là Aldrin, Dieldrin, DDT, Heptachlo, Lindan, Methoxychlor

+ Nhóm lân hữu cơ (organophosphorus): đều là các este, là các dẫn xuất hữu

cơ của acid photphoric Nhóm này có thời gian bán phân hủy ngắn hơn so với nhóm clo hữu cơ và được sử dụng rộng rãi hơn Nhóm này tác động vào thần kinh của côn trùng bằng cách ngăn cản sự tạo thành men Cholinestaza làm cho thần kinh hoạt động kém, làm yếu cơ, gây choáng váng và chết Nhóm này bao gồm một số hợp chất như parathion, malathion, diclovos, clopyrifos…

hóa chất ít bền vững hơn trong môi trường tự nhiên, song cũng có độc tính cao đối với người và động vật Khi sử dụng, chúng tác động trực tiếp vào men Cholinestraza của hệ thần kinh và có cơ chế gây độc giống như nhóm lân hữu cơ Đại diện cho nhóm này như carbofuran, carbaryl, carbosulfan, isoprocarb, methomyl…

hợp của các este khác nhau với cấu trúc phức tạp được tách ra từ hoa của những giống cúc nào đó Đại diện của nhóm này gồm cypermethrin, permethrin, fenvalarate, deltamethrin…

Trang 18

Ngoài ra, còn có một số nhóm khác như: các chất trừ sâu vô cơ (nhóm asen), nhóm thuốc trừ sâu sinh học có nguồn gốc từ vi khuẩn, nấm, virus (thuốc trừ nấm, trừ vi khuẩn…), nhóm các hợp chất vô cơ (hợp chất của đồng, thủy ngân, …)

Hiện nay, Nhóm Clo hữu cơ đã bị cấm sử dụng, nhóm Pyrethroid vẫn đang được sử dụng nhưng độc tính thấp, ít có khả năng gây nhiễm độc cho người sử dụng Còn lại 2 nhóm: lân hữu cơ và Carbamat đang được sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp, độc tính cao và là nguyên nhân chính của phần lớn các vụ ngộ độc do

ăn rau quả nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật ở nước ta

1.3.3 Hi ện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hiện nay

Trên thế giới, thuốc BVTV ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phòng trừ sâu bệnh bảo vệ sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm Theo tính toán của các chuyên gia, trong những thập kỷ 70, 80, 90 của thế kỷ 20, thuốc BVTV góp phần bảo vệ và tăng năng suất khoảng 20 - 30% đối với các loại cây trồng chủ yếu như lương thực, rau, hoa quả

Những năm gần đây theo ý kiến và nghiên cứu của nhiều tổ chức khoa học, chuyên gia về nông nghiệp, bảo vệ thực vật, sinh thái quá trình sử dụng thuốc BVTV ở thế giới trải qua 3 giai đoạn là: 1 - Cân bằng sử dụng (Balance use): yêu cầu cao, sử dụng có hiệu quả 2 - Dư thừa sử dụng (Excessise use): bắt đầu sử dụng quá mức, lạm dụng thuốc BVTV, ảnh hưởng đến môi trường, giảm hiệu quả 3 - Khủng hoảng sử dụng (Pesticide Crisis): quá lạm dụng thuốc BVTV, tạo nguy cơ tác hại đến cây trồng, môi trường, sức khỏe cộng đồng, giảm hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp Giai đoạn dư thừa sử dụng từ những năm 80 - 90 và giai đoạn khủng hoảng từ những năm đầu thế kỷ 21 Với những nước đang phát triển, sử dụng thuốc BVTV chậm hơn (trong đó có Việt Nam) thì các giai đoạn trên lùi lại khoảng

10 - 15 năm

Việc sử dụng thuốc BVTV ở thế giới hơn nửa thế kỷ luôn luôn tăng, đặc biệt

ở những thập kỷ 70 - 80 - 90 Theo Gifap, giá trị tiêu thụ thuốc BVTV trên thế giới năm 1992 là 22,4 tỷ USD, năm 2000 là 29,2 tỷ USD và năm 2010 khoảng 30 tỷ USD, trong 10 năm gần đây ở 6 nước châu Á trồng lúa, nông dân sử dụng thuốc BVTV tăng 200 - 300% mà năng suất không tăng

Hiện danh mục các hoạt chất BVTV trên thế giới đã là hàng ngàn loại, ở các nước thường từ 400 - 700 loại Tăng trưởng thuốc BVTV những năm gần đây từ 2 - 3% Trung Quốc tiêu thụ hằng năm 1,5 - 1,7 triệu tấn thuốc BVTV

Trang 19

b Tình hình sử dụng HCBVTV tại Việt Nam

Hoá chất BVTV đóng vai trò quan trọng trong nông nghiệp của tất cả các quốc gia trên thế giới Các loại hóa chất BVTV được sử dụng ở các nước là rất lớn Trong đó, nước Mỹ có nền nông nghiệp phát triển, hàng năm lượng hóa chất BVTV được sử dụng lớn nhất, lên tới 1/3 tổng số hoá chất BVTV trên toàn thế giới, chủ yếu là hóa chất diệt cỏ Châu Âu cũng sử dụng nhiều hóa chất BVTV (30%), trong khi đó con số này ở các nước còn lai là 20% [24] Tại Việt Nam, hóa chất BVTV được sử dụng từ những năm 40 của thế kỷ XX nhằm bảo vệ cây trồng Theo thống

kê vào năm 1957 tại miền Bắc nước ta sử dụng khoảng 100 tấn Đến trước năm

1985 khối lượng hóa chất BVTV dùng hàng năm khoảng 6.500 - 9.000 tấn thì trong

03 năm gần đây, hàng năm Việ Nam nhập và sử dụng từ 70.000 - 100.000 tấn, tăng gấp hơn 10 lần Các loại thuốc BVTV mà Việt Nam đang sử dụng có độ độc còn cao, nhiều loại thuốc đã lạc hậu Tuy nhiên, nhiều loại hóa chất trừ sâu cũng được

sử dụng trong các lĩnh vực khác, ví dụ sử dụng DDT để phòng trừ muỗi truyền bệnh sốt rét (từ 1957 -1994: 24.042 tấn Hiện nay, tỉ lệ thành phần của các loại hoá chất BVTV đã thay đổi (hóa chất trừ sâu: 33%; hóa chất trừ nấm: 29%; hóa chất trừ cỏ: 50%, 1998) Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở nước ta đến năm 2013 đã lên tới 1.643 hoạt chất, trong khi, các nước trong khu vực chỉ có khoảng từ400 đến

600 loại hoạt chất, như Trung Quốc 630 loại, Thái Lan, Malaysia 400-600 loại [4] Phần lớn các loại hóa chất BVTV được sử dụng ở nước ta hiện nay có nguồn gốc từ nhập khẩu Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2014 về thực trạng và giải pháp quản lý thuốc BVTV nhập lậu cho thấy hàng năm Việt Nam nhập khẩu từ 70.000 đến 100.000 tấn thuốc BVTV, trong đó thuốc trừ sâu chiếm 20,4%, thuốc trừ bệnh chiếm 23,2%, thuốc trừ cỏ chiếm 44,4%, các loại thuốc BVTV khác như thuốc xông hơi, khử trùng, bảo quản lâm sản, điều hòa sinh trưởng

cây trồng chiếm 12% [6]

1.3.4 Ảnh hưởng của hóa chất BVTV tồn lưu đến môi trường

Hóa chất BVTV khi được phun hay rải trên đối tượng một phần sẽ được đưa vào cơ thể động, thực vật Qua quá trình hấp thu, sinh trưởng, phát triển hay qua chuỗi thức ăn, hóa chất BVTV sẽ được tích tụ trong nông phẩm hay tích lũy, khuếch đại sinh học Một phần khác sẽ rơi vãi ngoài đốitượng, sẽ bay hơi vào môi trường hay bị cuốn trôi theo nước mưa, đi vào môi trường đất, nước, không khí gây ô nhiễm môi trường

Môi trường thành phần như đất, nước, không khí là một hệ thống hoàn chỉnh

có sự tương tác và tương hỗ lẫn nhau Sự ô nhiễm của môi trường này sẽ tác động đến môi trường xung quanh và ngược lại [16]

Trang 20

a Ô nhiễm môi trường đất

Đất canh tác là nơi tập trung nhiều hàm lượng hóa chất BVTV Hóa chất BVTV đi vào trong đất do các nguồn: phun xử lý đất, các hạt thuốc BVTV rơi vào đất, theo mưa lũ, theo xác sinh vật vào đất Theo kếtquả nghiên cứu thì phun thuốc cho cây trồng có tới 50% số thuốc rơi xuống đất, ngoài ra còn có một số thuốc rải trực tiếp vào đất Khi vào trong đất một phần thuốc trong đất được cây hấp thụ, phần còn lại thuốc được keo đất giữ lại Thuốc tồn tại trong đất dần dần được phân giải qua hoạt động sinh học của đất và qua các tác động của các yếu tố lý, hóa Tuy nhiên tốc độ phân giải chậm nếu thuốc tồn tại trong môi trường đất với lượng lớn, nhất là trong đất có hoạt tính sinh học kém Những khu vực chôn lấp hóa chất BVTV thì tốc độ phân giải còn chậm hơn nhiều

Thời gian tồn tại của thuốc trong đất dài hay ngắn tùy thuộc vào nhiều yếu tố môi trường Tuy nhiên, một chỉ tiêu thường dùng để đánh giá khả năng tồn tại trong đất của thuốc là “thời gian bán phân hủy”, tính từ khi thuốc được đưa vào đất cho tới khi một nửa lượng thuốc bị phân và được biều thị bằng DT50, người ta còn dùng các trị số DT75, DT90 là thời gian để 75% và 90% lượng thuốc bị phân hủy trong đất

Lượng thuốc BVTV, đặc biệt là nhóm Clo tồn tại quá lớn trong đất mà lại khó phân hủy nên chúng có thể tồn tại trong đất gây hại cho thực vật trong nhiều năm Sau một khoảng thời gian nó sinh ra một hợp chất mới, thường có tính độc cao hơn bản thân nó Ví dụ: sản phẩm tồn lưu của DDT trong đất là DDE cũng có tác dụng như thuốc trừ sâu nhưng tác hại đối với sự phát triển của phôi bào trứng chim độc hơn DDT từ 2-3 lần Loại thuốc Aldrin cũng đồng thời với DDT, có khả năng tồn lưu trong môi trường sinh thái đất và cũng tạo thành sản phẩm “Dieldrin” mà độc tính của nó cao hơn Aldrin nhiều lần Thuốc diệt cỏ 2.4-D tồn lưu trong môi trường sinh thái đất và cũng có khả năng tích lũy trong quả hạt cây trồng Các thuốc trừ sâu dẫn xuất từ EDBC (acid etylen bis dithoacarbamic) như maned, propioned không có tính độc cao đối với động vật máu nóng và không tồn tại lâu trong môi trường nhưng hàm lượng của chúng trên nông sản như khoai tây, cà rốt,…dưới tác dụng của nhiệt độ có thể tạo thành ETV (etylenthioure), mà ETV, qua ngiên cứu cho chuột ăn gây ung thư và đẻ ra chuột con quái thai

Đánh giá khả năng tồn động hóa chất BVTV trong đất hay trong nước Giá trị KOC càng nhỏ thì nồng độ của hóa chất BVTV trong dung dịch đất càng lớn và hóa chất BVTV càng dễ di chuyển trong đất vào nguồn nước, ngược lại hóa chất BVTV có khuynh hướng hấp phụ mạnh và tồn đọng trong đất Những chất có giá trị

Trang 21

KOC > 1000 ml/g: thường có khả năng hấp thụ vào đất, ngược lại những chất có giá trị KOC< 500 ml/g: thường có khả năng hấp thụ vào nước [16]

b Ô nhiễm môi trường nước

Theo chu trình tuần hoàn, hóa chất BVTV tồn tại trong môi trường đất sẽ rò

rỉ ra sông ngồi theo các mạch nước ngầm hay do quá trình rửa trôi, xói mòn khiến hóa chất BVTV phát tán ra các thành phần môi trường nước Mặt khác, khi sử dụng thuốc BVTV, nước có thể bị nhiễm thuốc trừ sâu nặng nề do người sử dụng đổ hóa chất dư thừa, chai lọ chứa hóa chất, nước súc rửa xuống thủy vực, điều này có ý nghĩa đặc biệt nghiêm trọng khi các nông trường vườn tược lớn nằm kề sông bị xịt thuốc xuống ao hồ Hóa chất BVTV vào trong nước bằng nhiều cách: cuốn trôi từ những cánh đồng có phun thuốc xuống ao, hồ, sông, hoặc do đổ hóa chất BVTV thừa sau khi đã sử dụng, phun thuốc trực tiếp xuống những ruộng lúa nước để trừ

cỏ, trừ sâu, trừ bệnh Ô nhiễm nguồn nước do hóa chất BVTV cũng có nhiều hình thức khác nhau, từ rửa trôi thuốc từ các cánh đồng có chứa hóa chất BVTV, người

sử dụng đổ hóa chất BVTV thừa, rửa dụng cụ ở các kênh mương hoặc do nuớc mưa chảy tràn từ các kho hóa chất BVTV tồn lưu

Thuốc trừ sâu trong đất, dưới tác dụng của mưa và rửa trôi sẽ tích lũy và lắng đọng trong lớp bùn đáy ở sông, ao, hồ,…sẽ làm ô nhiễm nguồn nước Thuốc trừ sâu

có thể phát hiện trong các giếng, ao, hồ, sông, suối cách nơi sử dụng thuốc trừ sâu vài km Mặc dù độ hoà tan của hoá chất BVTV tương đối thấp, song chúng cũng bị rửa trôi vào nước tưới tiêu, gây ô nhiễm nước bề mặt, nước ngầm và nước vùng cửa sông ven biển nơi nước tưới tiêu đổ vào

c Ô nhiễm môi trường không khí

Khi phun thuốc BVTV, không khí bị ô nhiễm dưới dạng bụi, hơi Dưới tác động của ánh sáng, nhiệt, gió… và tính chất hóa học, thuốc BVTV có thể lan truyền trong không khí Lượng tồn trong không khí sẽ khuếch tán, có thể di chuyển xa và lắng đọng vào nguồn nước mặt ở nơi khác gây ô nhiễm môi trường

Rất nhiều loại hoá chất BVTV có khả năng bay hơi và thăng hoa, ngay cả hóa chất có khả năng bay hơi ít như DDT cũng có thể bay hơi vào không khí, đặc biệt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm nó có thể vận chuyểnđến những khoảng cách

xa, đóng góp vào việc ô nhiễm môi trường không khí

1.4 Ảnh hưởng của HCBVTV lên con người và động vật

Ngoài tác dụng diệt dịch bệnh, các loại cỏ và sâu bệnh phá hoại mùa màng, hàm lượng hóa chất BVTV cũng đã gây nên các vụ ngộ độc cấp tính và mãn tính

Trang 22

cho người tiếp xúc và sử dụng chúng, và cũng là nguyên nhân sâu xa dấn đến những căn bệnh hiểm nghèo

Các độc tố trong hóa chất BVTV xâm nhập vào rau quả, cây lương thực, thức

ăn gia súc và động vật sống trong nước rồi xâm nhập vào các loại thực phẩm, thức uống như: thịt cá, sữa, trứng…Một số loại hóa chất BVTV và hợp chất của chúng qua xét nghiệm cho thấy có thể gây quái thai và bệnh ung thư cho con người và gia súc Con đường lây nhiễm độc chủ yếu là qua ăn, uống (tiêu hóa) 97,3%, qua da và

hô hấp chỉ chiếm 1,9% và 1,8% Thuốc gây độc chủ yếu là Wolfatox (77,3%), sau

đó là 666 (14,7%) và DDT (8%)

Thông thường, các loại hóa chất BVTV xâm nhập vào cơ thể con người và động vật chủ yếu từ 3 con đường sau:

- Hấp thụ xuyên qua các lỗ chân lông ngoài da;

- Đi vào thực quản theo thức ăn hoặc nước uống;

- Đi vào khí quản qua đường hô hấp

Hóa chất BVTV thường là các chất hóa học có độc tính cao, nên mặt trái của hóa chất BVTV là rất độc hại đối với sức khỏe của con người, sức khỏe cộng đồng

và là đối tượng có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nếu không được quản lý chặt chẽ Hàm lượng HCBVTV quá giới hạn cho phép trong nông sản, thực phẩm là mối đe dọa đối với sức khỏe con người Đây là vấn đề nhức nhối hiện nay của xã hội về an toàn vệ sinh thực phẩm, đặc biệt là trong quản lý sử dụng hóa chất BVTV đối với rau, củ quả

Hóa chất BVTV cơ clo hữu cơ thường có khả năng chống lại sự thoái hoá, do

đó chúng có thể tồn tại lâu dài trong môi trường Chúng có thể tích tụ trong mô mỡ của động vật và tích tụ dần qua chuỗi thức ăn Vì thế, có thể thấy những tác động nguy hại của chúng ở những mắt xích cao nhất của chuỗi thức ăn, như các loài chim săn mồi hay con người Đây là lý do chủ yếu tại sao việc sử dụng loại hóa chất BVTV này càng ngày càng bị ngăn cấm, đặc biệt là ở các nước công nghiệp hoá Hầu hết các quốc gia đều cấm việc sản xuất và sử dụng các loại hóa chất này, tuy nhiên một số quốc gia khác vẫn tiếp tục sản xuất ở mức độ hạn chế với mục đích y

tế, tuy nhiên việc kiểm soát chặt chẽ được hay không vẫn là dấu hỏi lớn

* Nguy cơ liên quan đến chế độ ăn uống

Khi hóa chất BVTV được sử dụng với nồng độ lớn và với mức độ thường xuyên hay vào thời điểm gần thu hoạch, lượng hóa chất tồn dư rất cao trong các sản phẩm thu được Người tiêu dùng do đó cũng có nguy cơ bị nhiễm độc cao Nước uống cũng có thể bị ô nhiễm, dù đó là ô nhiễm trực tiếp từ hệ thống đường cấp nước

Trang 23

hay do sử dụng chung thùng chứa và vận chuyển nước uống với HCBVTV Một nguy cơ lớn, đặc biệt ở các nước đang phát triển, là các bữa ăn kiêng với lượng protein thấp có thể làm tăng độ mẫn cảm của con người với những tác động của một loại HCBVTV nào đó

đó có thể xảy ra).Thay vào đó, bệnh nhân sẽ mệt mỏi từ từ một thời gian trong nhiều tháng hay nhiều năm Điều này xảy ra khi độc tố tích tụ trong tế bào cơ thể và gây ra những tổn hại nhỏ vĩnh viễn qua mỗi lần nhiễm Sau một thời gian dài, một lượng chất độc lớn tích tụ trong cơ thể (hoặc các tổn hại trở nên đáng kể) sẽ gây ra các triệu chứng lâm sàng Các triệu chứng nhiễm độc cấp tính phụ thuộc vào cả độc tính của sản phẩm và lượng độc hấp thụ Ví dụ, ảnh hưởng của hóa chất BVTV bị cấm cholinesterase nhiễm qua đường hô hấp gồm: tê liệt, ngứa, thiếu khả năng điều phối các cơ quan trong cơ thể, đau đầu, chóng mặt, rùng mình, buồn nôn, chuột rút

ở vùng bụng, đổ mồ hôi, giảm khả năng thị lực, khó thở hay suy hô hấp và tim đập chậm Lượng hóa chất cao có thể gây ra bất tỉnh, co giật và chết Nhiễm độc cấp tính có thể kéo dài trong vòng 4 tuần và gồm các triệu chứng chuột rút ở 2 chi dưới, dẫn đến thiếu khả năng điều phối và chứng liệt Tình trạng sức khoẻ có thể được cải thiện sau vài tháng hay vài năm nhưng một số di chứng có thể kéo dài

cơ chết do ung thư phổi cao gấp 5 lần so với người không nhiễm Tuy nhiên, người mắc cả hai loại khói thuốc lá và amiăng sẽ có rủi ro gấp 80 lần so với người không

Trang 24

nhiễm, chứ không phải là 15 lần Kiểu tác động này có thể xảy ra trong trường hợp một hoá chất làm giảm sức đề kháng của cơ thể con người đối với một loại hoá chất khác, chẳng hạn như cho phép các chất này xâm nhập vào máu não, hoặc ngăn cản các cơ chế giải độc của cơ thể Những nghiên cứu trên động vật đã chỉ ra rằng khi 2 hay nhiều loại hóa chất BVTV nhóm lân hữu cơ được hấp thụ đồng thời, các enzyme thúc đẩy quá trình phân rã một loại hóa chất BVTV này có thể bị ngăn cản hoạt động bởi loại hóa chất BVTV khác Chẳng hạn, hóa chất BVTV malathion ít độc hại bởi chúng nhanh chóng bị phân rã bởi emzyme carboxylesterase Tuy nhiên, EPN (ethyl p-nitrophenol benzene thiophosphonate), một hợp chất lân hữu cơ khác,

có thể làm tăng độc tính của malathion do ngăn cản loại enzyme này hoạt động

* Nguy cơ đối với trẻ em

Trong giai đoạn phát triển, cơ thể nhạy cảm hơn đối với các phản ứng do hoá chất phá vỡ tuyến nội tiết bởi vì một loạt các mô tách biệt dễ tổn thương trước sự thay đổi mức độ hoóc môn Do đó, trẻ em có nguy cơ mắc bệnh do nhiễm độc cao hơn so với người lớn Trẻ em cũng có những nguy cơ bị nhiễm hóa chất BVTV Chẳng hạn, trứng hoặc tinh trùng của thế hệ bố, mẹ bị nhiễm hóa chất BVTV có thể truyền sang con Cũng như vậy, những bào thai đang phát triển có thể bị nhiễm hóa chất BVTV từ máu mẹ do truyền qua nhau thai và trẻ em có thể bị nhiễm qua sữa

mẹ khi sữa mẹ chứa lượng hóa chất BVTV vượt mức cho phép Mặc dù nhiễm độc qua sữa mẹ nhiều hơn so với thời kỳ phát triển trong tử cung song nhiễm độc trước khi sinh gây ra tổn hại cao hơn đến não và hệ thần kinh trung ương của bào thai vào giai đoạn đầu phát triển Trẻ em có tỉ lệ bề mặt tiếp xúc với môi trường cao hơn ở người lớn Tính trung bình trên mỗi kg cơ thể, trẻ em uống nhiều nước hơn, ăn nhiều hơn và thở nhiều hơn Khi trẻ chơi gần mặt đất, chúng có thể bị nhiễm độc hóa chất BVTV từ đất Đồng thời, một số hóa chất BVTV dạng hơi tạo thành một lớp khí tồn tại gần mặt đất Trẻ em thích tò mò khám phá và thường cho tay vào miệng nên duờng như dễ tiếp xúc trực tiếp và hấp thụ hàm lượng hóa chất BVTV vào cơ thể và đối tượng này cũng dễ bị tổn thương trước các tai nạn do hóa chất BVTV không được cất giữ cẩn thận (chẳng hạn để vương vãi ở nơi chứa đồ ăn)

1.5 Nguy cơ rủi ro cho HST của HCBVTV trong nước và trầm tích

1.5.1 M ột số khái niệm về nguy cơ và rủi ro đối với HST

Rủi ro (risk) là xác suất sảy ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến một cá thể hoặc một quần thể/tiểu quần thể/bộ phận dân cư nào đó do tiếp xúc với chất ô

Trang 25

nhiễm Trong đó, căn cứ vào con đường và cơ chế tác động đối tượng tiếp nhận, rủi

ro được chia thành 3 loại:

Rủi ro trực tiếp: Con người tiếp xúc trực tiếp thông qua lưới thức ăn và cáchoạt động sinh hoạt hàng ngày và bị ảnh hưởng đến sức khỏe Môi trường hệ sinh thái tiếp xúc trực tiếp đến nguồn ô nhiễm và chịu ảnh hưởng tiêu cực trực tiếp HCBVTV lan truyền gây ra những ảnh hưởng xấu đến môi trường xung quanh

Rủi ro tiềm năng: Rủi ro tiềm năngcó xác xuất sảy ra từ thấp đến trung bình nhưng có thể gây ra những tác động lớn nếu phơi nhiễm hoặc sự lan truyền xảy ra Rủi ro tiềm năng sảy ra từ trung bình đến cao nhưng chỉ có tác động nhỏ đến trung bình nếu sảy ra phơi nhiễm hoặc lan truyền

Rủi ro tiềm ẩn: Con người có thể tiếp xúc gián tiếp với chất ô nghiễm trong môi trường xung quanh và chịu ảnh hưởng nhẹ Chất ô nhiễm chưa tiếp xúc trực tiếp với hệ sinh thái nhưng nếu không được duy trì những sẽ có sự thay đổi gây ra ảnh hưởng nhẹ đến môi trường xung quanh

Phân tích rủi ro (risk analysis): là sử dụng có hệ thống những thông tin có sẵn để xác định các mối nguy hại và ước lượng rủi ro đối với cá nhân, quần thể, tài sản hoặc môi trường Phân tích rủi ro bao gồm việc: xác định các sự cố không mong muốn và xác định hậu quả của các sự cố đó dựa trên đánh giá công nghệ và kỹ thuật

để ước lượng sảy ra tai họa và các hậu quả

Đánh giá rủi ro (risk assessment): là sự tính toán hoặc ước lượng những xác suất mà một cá thể hoặc quần thể/ tiểu quần thể/ bộ phận dân cư do tiếp xúc với chất ô nhiễm và đối tượng tiếp nhận do có sự tiếp xúc hoặc nhiều đường lan truyền

cụ thể nào đó của khu vực ô nhiễm Quá trình đánh giá rủi ro trả lời 3 câu hỏi: 1) cái

gì có thể gây ra sai sót? 2) tần suất sảy ra như thế nào? 3) hậu quả là gì?

Đánh giá rủi ro sức khỏe (Health risk Essessment-HRA): là đánh giá mối nguy hại tiềm năng ảnh hưởng đến sức khỏe khi con người phơi nhiễm với các hóa chất độc hại và được mô tả qua 3 bước:

+ Bước 1: Đánh giá độc tính: nhằm xác định khả năng gây ra những tác động bất lợi đến sức khỏe con người hay không

+ Bước 2: Đánh giá phơi nhiễm: con đường phơi nhiễm của con người với HCBVTV Mô tả rủi ro: mối quan hệ độc tính và phơi nhiễm

+ Bước 3: Đánh giá rủi ro môi trường (environmental risk essessment): là một điểm quan trọng nằm song song với đánh giá rủi ro sức khỏe, liên quan tới việc đánh giá định tính và định lượng của rủi ro đến với sức khỏe con người và môi

Trang 26

trường do hiện diện hoặc sử dụng các chất ô nhiễm, đồng thời cũng là một công cụ được sự dụng để dự đoán các mối nguy hại đến sức khỏe con người và môi trường

Hai đối tượng được quan tâm trong khoa học đánh giá rủi ro môi trường được chia thành:

- Đánh giá rủi ro sức khỏe (Health Risk Assessment)

- Đánh giá rủi ro sinh thái (Ecological Risk Assessment)

Như vậy, đánh giá rủi ro khác với đánh giá tác động Nếu như đánh giá tác động được tiến hành nếu như có sự hiện diện các nhân tố gây ô nhiễm và tập chung vào liệu lượng các mức độ của các chất gây ô nhiễm thì đánh giá rủi ro của môi trường tiến hành ngay cả khi chưa có dấu hiệu ô nhiễm nhằm xác định có hay không sự rủi ro và định lượng sự rủi ro, nó là một kỹ thuật nhằm đánh giá có hệ thống các tác động có hại thực tế hay tiềm tàng của các chất ô nhiễm lên sức khỏe của động vật, thực vật hay toàn bộ hệ sinh thái bởi đối tượng của đánh giá rủi ro hệ sinh thái gồm con người, sinh thái, môi trường vô sinh Các công cụ hiện nay chỉ có thể xác định tác động gây ra tại thời điểm trong quá khứ hoặc hiện tại Trong khi đó, đánh giá rủi ro thực hiện trong môi trường quá khứ và hiện tại có thể dự đoán được ảnh hưởng, hậu quả tương lại [7]

Đánh giá rủi ro môi trường được thể hiện ở 3 cấp độ:

1.5.2 Quy trình đánh giá rủi ro HST

Đánh giá rủi ro sinh thái được dùng để hỗ trợ cho các hoạt động quản lý như qui định vị trí đổ chất thải nguy hại, hóa chất công nghiệp hay thuốc trừ sâu hoặc dùng để quản lý lưu vực hoặccác hệ sinh thái khác bị tác động bởi các tác nhân hóa chất hoặc phi hóa chất

Trang 27

Theo các hướng dẫn, các nước thường dùng các chỉ số định lượng, bán định lượng để đánh giá rủi ro sinh thái Hiện nay, phương pháp hệ số rủi ro là phương pháp phổ biến để mô tả đặc tính rủi ro bán định lượng trong đánh giá rủi ro sinh thái

Đánh giá rủi ro môi trường, đánh giá rủi ro sức khỏe nói riêng và đánh giá rủi

ro HST nói chung hiện nay là công cụ hữu hiệu trong công tác quản lý môi trường, quản lý y tế, quản lý hóa chất… của nhiều ngước trên thế giới, tuy nhiên tại mỗi nước việc đánh giá rủi ro cũng có nhiều điểm khác biệt Thứ nhất: khác nhau về quy trình đánh giá, thứ hai: khác nhau về phương pháp thực hiện trong mỗi bước của quy trình đánh giá

Việc phân tích hàm lượng HCBVTV sẽ cho ta thấy được các tác động tổng quát của HCBVTV lên con người và môi trường canh tác, làm cơ sở để từ đó đưa ra các khuyến cáo phù hợp cho người dân trong việc lựa chọn thuốc sao cho đến con người là nhỏ nhất Đưa ra các giải pháp quản lý phù hợp đối với từng vùng canh tác khác nhau để đạt được hiệu quả tối ưu trong quản chất lượng nông sản và chất lượng môi trường trong định hướng phát triển bền vững

Để giảm thiểu những tác động gây ra bơi HCBVTV, việc quan trọng nhất là phải tiếp tục tăng cường công tác hướng dẫn cho người dân biết cách sử dụng thuốc, giáo dục nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường Khi người dân có nhận thức đúng đắn, biết được những tác động tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng của ô nhiễm môi trường, thì lúc đó người nông dân mớithực sự quan tâm đến việc bảo vệ môi trường

và sử dụng thuốc đúng kỹ thuật

Trang 28

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tập trung môi trường nước và trầm tích lưu vực sông Nhuệ đoạn từ Cống Liên Mạc (Hà Nội) đến Đồng Quan - Cống Thần (Phú Xuyên, Hà Nội), trong đó tập trung vào thành phần hàm lượng các hóa chất bảo vệ thực vật trong trầm tích và nước

Ngoài ra, để đánh giá được mức độ ảnh hưởng của hóa chất bảo vệ thực vật đến môi trường, đối tượng nghiên cứu của luận văn còn được thực hiện đối với hệ sinh thái khu vực (đoạn thuộc địa phận thành phố Hà Nội)

2.2 Ph ạm vi nghiên cứu

- Theo không gian: Nghiên cứu được thực hiện trên đoạn sông Nhuệ đoạn từ Cống Liên Mạc (Hà Nội) đến Đồng Quan - Cống Thần (Phú Xuyên, Hà Nội) với tổng chiều dài dòng chảy sông là khoảng 55 km

- Theo thời gian: thời gian nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01/2018 đến tháng 12/2018

2.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp luận:

Phương pháp tiếp cận hệ thống: Luận văn sử dụng phương pháp tiếp cận phân tích và tiếp cận tổng hợp

Tiếp cận phân tích giản hóa hệ thống thành các thành tố cơ bản của hệ thống

đó nhằm nghiên cứu các chi tiết và tìm hiểu các loại quan hệ tồn tại giữa chúng Thông qua việc biến đổi từng yếu tố, tiếp cận phân tích tìm ra quy luật chung cho phép người phân tích dự đoán các tính chất của hệ thống trong các điều kiện khác nhau Tiếp cận phân tích cô lập và tập trung vào từng thành tố, nghiên cứu bản chất của tương tác, nhấn mạnh vào tính chính xác của các chi tiết, thay đổi từng yếu tố Trong khi đó tiếp cận tổng hợp lại hợp nhất và tập trung vào tương tác giữa các thành tố, nghiên cứu các tác động của tương tác, nhấn mạnh vào nhận thức chung

và thay đổi đồng thời một nhóm các yếu tố

Trang 29

2.3.2 Các phương pháp nghiên cứu:

a Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu:

Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở kế thừa, phân tích và tổng hợp các nguồn tài liệu, tư liệu, số liệu thông tin có liên quan một cách có chọn lọc, từ đó đánh giá chúng theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu

Trong đề tài này, phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu được sử dụng để thu thập, tổng hợp các tài liệu về điều kiện tự nhiên, xã hội, hiện trạng sử dụng nước, các nguồn gây ô nhiễm, hệ thống quan trắc môi trường trên lưu vựcsông Nhuệ… Nghiên cứu các văn bản pháp luật về lĩnh vực quản lý Tài nguyên nước và các cơ chế chính sách liên quan của Đảng, Nhà nước

+ Phương pháp thống kê: Trên cơ sở thống kê các số liệu đã có sẵn có thể chọn lọc được các thông tin về nguồn ô nhiễm từ các Bộ/ngành, địa phương, các Viện/Trường, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đang hoạt động trên lưu vực sông

b Phương pháp phân tích, xử lý số liệu:

Toàn bộ các số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu được xử lý trên các bảng biểu và đồ thị bằng Microsoft Excel và phần soạn thảo văn bản sử dụng phần mềm Microsoft Word

c Phương pháp khảo sát thực địa:

Phương pháp khảo sát thực địa nhằm so sánh, đối chiếu các khu vực khác nhau; kiểm định và khẳng định những kết quả đạt được từ quá trình phân tích hay tính toán;

d Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu

Phương pháp lấy mẫu, bảo quản mẫu tuân thủ đúng theo các phương pháp quy định hiện hành và còn hiệu lực, cụ thể ở bảng sau:

Trang 30

Bảng 1: Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu tại hiện trường

Hướng dẫn lấy mẫu ở sông và suối

TCVN 66633:2008 (ISO 5667 3:2003) Chất lượng nước Lấy mẫu-Phần 3: Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu

-2 Trầm

tích

TCVN 6663-13:2000 (ISO 5667-13:1993) Chất lượng nước Lấy mẫu - Phần 13:

Hướng dẫn lấy mẫu bùn nước, bùn nước thải và bùn liên quan

TCVN 6663-15:2004 (ISO 5667

-15:1999) Chất lượng nước Lấy mẫu- Phần 15: Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu bùn và trầm tích

Trong nghiên cứu này, các vị trí quan trắc lấy mẫu được chọn nằm trên thủy trực giữa dòng chủ lưu của mặt cắt ngang dòng chảy Chi tiết các vị trí lấy mẫu được mô tả như trong Bảng 2

Bảng 2: Danh mục vị trí lấy mẫu

3 Cầu Tó 105048.7' 20057.0'

Đánh giá chất lượng nước và trầm tích sông Nhuệ khi tiếp nhận các nguồn thải của thành phố Hà Nội và làng nghề rèn dao kéo Đa Sỹ

4 Cự Đà 48.3' 1050 200 56.1' Đánh giá chất lượng nước và trầm tích

sông Nhuệ khi tiếp nhận nước thải sinh

Trang 31

Các mẫu nước và trầm tích sau khi được lấy mẫu tại hiện trường sẽ được bảo quản và vận chuyển về và phân tích tại phòng Phân tích môi trường, Dioxin và Độc chất thuộc Trung tâm Quan trắc Môi trường miền Bắc – Tổng Cục Môi trường Quá trình lấy mẫu và bảo quản mẫu tuân thủ theo các TCVN

Thiết bị phân tích chính được sử dụng: Hệ thống máy phân tích sắc ký khí

khối phổ GC-MS Model: Agilent 5975C GC/MSD System

Phương pháp phân tích các thông số được mô tả trong bảng 3

Trang 32

Bảng 3: Phương pháp phân tích phân tích các thông số HCBVTV

TT Tên thông số Phương pháp

Ghi chú:

- SMEWW: Standard Methods for Examination of Water and Wastewater, Published by American Public Health Association, 1998; EPA: United States Environmental Protection Agency; ISO: International Organization for Standardization;

- TCVN: Tiêu chu ẩn Quốc Gia

Quá trình phân tích đề tài đã thực hiện việc đánh giá và kiểm soát chất lượng QA/QC trong phòng thí nghiệm theo các bước sau:

- Đường chuẩn bao gồm một dãy các dung dịch chuẩn Mẫu trắng của đường chuẩn được đo đầu tiên và sau đó đến các dung dịch chuẩn theo thứ tự đo mẫu có nồng độ từ thấp đến cao Nồng độ chất chuẩn thấp nhất của dãy đường chuẩn chính

là giới hạn báo cáo Đường chuẩn chỉ được chấp nhận khi hệ số tương quan lớn hơn 0,998

- Mẫu trắng phòng thí nghiệm (LB) được đo ngay sau khi dựng xong đường chuẩn và cứ sau một mẻ mẫu đo lại 1 lần Khoảng giá trị LB có thể chấp nhận được trong khoảng nhỏ hơn: 0 + MDL

- Chất chuẩn kiểm soát chất lượng phân tích (QCS), được đo ngay sau khi đo xong mẫu QCS và cứ sau một mẻ mẫu đo lại một lần Khoảng giá trị độ thu hồi của QCS được chấp nhận trong khoảng từ 80-120% giá trị thực Nếu độ thu hồi của QCS ngoài khoảng 80-120% thì cần phải đo lại mẫu chuẩn kiểm soát, nếu kết quả

đo lại vẫn không đạt thì cần phải đưa ra hành động hiệu chỉnh và đo lại các dung dịch đường chuẩn và các mẫu kiểm soát cho đến khi nào được chấp nhận, đo lại các

Trang 33

mẫu từ lần đo QCS trước đó Nếu độ thu hồi của QCS ngoài khoảng giá trị chấp nhận, những mẫu có nồng độ nhỏ hơn giới hạn báo cáo vẫn được chấp nhận

- Nếu độ thu hồi của mẫu thêm chuẩn trong khoảng 80-120%, kết quả phân tích được chấp nhận Nếu độ thu hồi ngoài khoảng kiểm soát và kết quả phân tích mẫu nhỏ hơn giới hạn báo cáo, kết quả phân tích được chấp nhận Nếu độ thu hồi nằm ngoài khoảng kiểm soát, các mẫu có nồng độ lớn hơn giới hạn báo cáo (LOQ) tính từ lần đo mẫu kiểm soát trước đó phải được chuẩn bị và phân tích lại

- Mẫu lặp được chuẩn bị giống như với mẫu phân tích % sai khác giữa hai lần lặp đối với các mẫu có nồng độ lớn hơn giới hạn báo cáo được chấp nhận là < 20% Nếu kết quả phân tích mẫu lặp đều nhỏ hơn giới hạn báo cáo, kết quả phân tích được chấp nhận Nếu % sai khác giữa hai lần lặp nằm ngoài khoảng kiểm soát, kết quả phân tích mẫu lặp lớn hơn giới hạn báo cáo, các mẫu phân tích trong cùng một mẻ mẫu đó cần phải được chuẩn bị và phân tích lại

2.3.3 Phương pháp đánh giá các rủi ro của thuốc BVTV đến hệ sinh thái:

Đánh giá rủi ro môi trường, đánh giá rủi ro sức khỏe nói riêng và đánh giá rủi

ro HST nói chung hiện nay là công cụ hữu hiệu trong công tác quản lý môi trường, quản lý y tế, quản lý hóa chất… của nhiều ngước trên thế giới, tuy nhiên tại mỗi nước việc đánh giá rủi ro cũng có nhiều điểm khác biệt Thứ nhất: khác nhau về quy trình đánh giá, thứ hai: khác nhau về phương pháp thực hiện trong mỗi bước của quy trình đánh giá Theo US.EPA quy trình cơ bản đánh giá rủi ro hệ sinh thái (hoặc rủi ro môi trường, rủi ro sức khỏe) gồm các bước sau:

Hình 2: Quy trình cơ bản đánh giá rủi ro hệ sinh thái

Trang 34

Phương pháp bán định lượng đánh giá rủi ro môi trường đối với hệ sinh thái

Đối với đánh giá rủi ro môi trường đối với hệ sinh thái:

𝑹𝑸 = 𝑴𝑬𝑪(𝑷𝑬𝑪)𝑷𝑵𝑬𝑪 (1)

RQ (Risk Quotient): Hệ số rủi ro

MEC (Measured Environmental Concentration) : Nồng độ đo được trong môi trường (quan trắc)

PEC (Predicted Effect Concentration) : Nồng độ dự báo gây tác động

PNEC (Predicted No Effect Concentration): Nồng độ dự báo ngưỡng là nồng

độ không gây tác động lên đối tượng được xác định từ các tiêu chuẩn, quy định

Khi: RQ < 1: Rủi ro thấp; RQ ≥ 1: Rủi ro cao

Trong đánh giá rủi ro môi trường, đặc biệt là rủi ro sinh thái thường sử dụng các cấp độ đánh giá chi tiết hơn:

RQ từ 0,01 đến 0,1: rủi ro thấp;

RQ từ 0,1 đến 1: rủi ro trung bình;

RQ ≥1: rủi ro cao

Tính toán rủi ro đối với mức phơi nhiễm yếu, trung bình, cao

Phương pháp hệ số rủi ro là phương pháp phổ biến để mô tả đặc tính rủi ro bán định lượng trong đánh giá rủi ro sinh thái

Ngày đăng: 11/03/2021, 16:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lê Huy Bá (2000), Sinh thái môi trường ứng dụng – NXB Khoa học kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái môi trường ứng dụng
Tác giả: Lê Huy Bá
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 2000
[5]. Hoàng Hưng (2005), Quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên nước – NXB Đại Học Quố c Gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên nước
Tác giả: Hoàng Hưng
Nhà XB: NXB Đại Học Quốc Gia TP.HCM
Năm: 2005
[7]. Nguyễn Thanh Sơn (2005), Đánh giá tài nguyên nước Việt Nam, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tài nguyên nước Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Sơn
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2005
[21]. US EPA Method 8081B, Organochlorine pesticides by gas chromatography (gc/fid). (Phương pháp phân thích hóa chất bảo vệ thực vật Clo hữu cơ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Organochlorine pesticides by gas chromatography (gc/fid)
[22]. US EPA Method 8270D, Semivolatile organic compounds by gas chromatography/mass spectrometry (gc/ms). (Phương pháp về phân tích hóa chất bảo vệ thực vật Clo hữu cơ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Semivolatile organic compounds by gas chromatography/mass spectrometry (gc/ms)
[23]. US EPA Method 8141B, Organophosphorus compounds by gas chromatography . (Phương pháp phân thích hóa chất bảo vệ thực vật photpho hữu cơ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Organophosphorus compounds by gas chromatography
[6]. OECD (2015), Các chính sách nông nghiệp của Việt Nam 2015, Nhà xuất bản PECD, Paris http://dx.doi.org/10.1787/9789264235151-en Link
[2]. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Dự án đánh giá ngành nước Khác
[3]. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2019). Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia năm 2018, Chuyên đề: Môi trương nước các lưu vực sông, 158 tr Khác
[4]. Hội Nông dân Việt Nam (2015), Tình tr ạ ng l ạ m d ụ ng thu ố c b ả o v ệ th ự c v ậ t còn ph ổ bi ế n, Bài báo Tiếng nói nhà nông Khác
[8]. Nguyễn Thanh Sơn (2011). Khảo sát hiện trạng tài nguyên nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ 27, Số 1S (2011) 227-234 Khác
[9]. QCVN 43:2012/BTNMT. Quy chuẩn quốc gia về chất lượng trầm tích Khác
[10]. QCVN 08 - MT:2008/BTNMT (2015), Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt Khác
[11] Nguyễn Xuân Quýnh, Báo cáo điều tra đánh giá đa dạng sinh học và đề xuất các giải pháp bảo vệ đa dạng sinh học sông Nhuệ, sông Đáy, 2004 Khác
[12]. TCVN 6663-6:2008 (ISO 5667 - 6:2005). Chất lượng nước. Lấy mẫu - Phần 6 : Hướng dẫn lấy mẫu ở sông và suối Khác
[13]. TCVN 6663-3:2008 (ISO 5667 - 3:2003). Chất lượng nước. Lấy mẫu - Phần 3: Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu Khác
[14]. TCVN 6663-13:2000 (ISO 5667- 13:1993). Chất lượng nước. Lấy mẫu - Phần 13: Hướng dẫn lấy mẫu bùn nước, bùn nước thải và bùn liên quan Khác
[15]. TCVN 6663-15:2004 (ISO 5667 - 15:1999). Chất lượng nước. Lấy mẫu - Phần 15: Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu bùn và trầm tíc h Khác
[16]. Tổng cục môi trường (2015). Hiện trạng Ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu thuộc nhóm chất hữu cơ khó phân hủy tại Việt Nam. 108 tr Khác
[17]. Tổng cục Môi trường (2018), Báo cáo môi trường Quốc gia 2018 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm