Trong quá trình thiết kế nhiệm vụ cho học viên, yêu cầu giảng viên phải dự kiến được những khó khăn mà học viên có thể gặp phải, dự đoán được trình độ hiện có của học viên để [r]
Trang 11 ĐẶT VẤN ĐỀ
Vấn đề đổi mới giáo dục đã được đưa vào nghị
quyết của các Đại hội Đảng IX, X, XI và được thể
chế hoá bằng Luật Giáo dục Đặc biệt, Nghị quyết
14/2005/NQ-CP về đổi mới giáo dục đại học Việt
Nam giai đoạn 2006-2020, đã nêu rõ: “Phải triển
khai đổi mới mục tiêu giáo dục đào tạo theo ba tiêu
chí: trang bị cách học, phát huy tính chủ động, sáng
tạo và sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông
trong dạy học” Ngày 3-12-2013, Quân ủy Trung
ương đã thông qua Nghị quyết về hội nhập quốc tế
và đối ngoại quốc phòng đến năm 2020 và những
năm tiếp theo Một trong những yếu tố không thể
thiếu được trong hoạt động đối ngoại đó là ngoại
ngữ, muốn cho các hoạt động hội nhập quốc tế và
HUỲNH THỊ VŨ HẠNH * ; VŨ TIẾN TÙNG **
* Học viện Khoa học Quân sự, ✉ huynhhanh8485@yahoo.com
** Học viện Khoa học Quân sự, ✉ tungstenvu@gmail.com
Ngày nhận bài: 18/8/2017; ngày hoàn thiện: 18/10/2017; ngày duyệt đăng: 15/11/2017
HÌNH THỨC HỌC HỢP TÁC VÀ MỘT SỐ LƯU Ý KHI ÁP DỤNG HÌNH THỨC NÀY
TRONG GIẢNG DẠY TIẾNG ANH
TẠI HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ
TÓM TẮT
Học tập hợp tác là một hình thức đem lại nhiều hiệu quả trong quá trình giảng dạy, bởi nó vừa giúp cho người học chủ động lĩnh hội kiến thức vừa giúp họ hoàn thiện các kỹ năng giao tiếp xã hội Tuy nhiên, để áp dụng thành công hình thức học tập này vào giảng dạy tiếng Anh đòi hỏi người dạy phải tuân thủ và đáp ứng một số yêu cầu và nguyên tắc nhất định Bài viết này nhằm giới thiệu khái quát một số nét chính về hình thức học tập hợp tác và các lưu ý khi áp dụng hình thức này vào giảng dạy tiếng Anh tại Học viện Khoa học Quân sự
Từ khóa: giảng dạy tiếng Anh, giao tiếp, học hợp tác
đối ngoại đem lại hiệu quả thiết thực trong bảo vệ
và xây dựng tổ quốc thì vấn đề đầu tiên phải có đội ngũ cán bộ có trình độ ngoại ngữ tốt Trước những yêu cầu khách quan của xã hội và của Quân đội, cùng với sự phát triển không ngừng về nhiệm
vụ đào tạo ngoại ngữ cho Quân đội của Học viện Khoa học Quân sự, việc nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Anh là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong tình hình hiện nay Mục tiêu đào tạo của Học viện Koa học Quân sự không chỉ mang lại cho học viên kiến thức khoa học và kỹ năng nghề nghiệp, mà còn trang bị cho họ phương pháp học tập, hình thành khả năng thích ứng xã hội, trở thành người có năng lực lao động sáng tạo và biết cách học tập thường xuyên, học tập suốt đời
Trang 2Các hình thức học tập luôn đóng vai trò quan
trọng trong quá trình giáo dục và đào tạo tại các
nhà trường, học viện Hiện nay, có rất nhiều hình
thức học tập, một trong những hình thức mang lại
hiệu quả cao là hình thức học hợp tác Đây là một
trong những hình thức học tập cơ bản và thiết thực
đối với cả người dạy và người học.Trong giai đoạn
hiện nay, hình thức học tập này càng trở nên quan
trọng hơn, đáp ứng mục tiêu của giáo dục (học để
cùng chung sống), giúp mỗi người có thể hòa nhập
cộng đồng xã hội, có cơ hội để phát triển và thành
công trong mọi lĩnh vực của cuộc sống
Theo Slavin (1983), hình thức học hợp tác
là một chiến lược giảng dạy (Teaching strategy),
trong đó, người dạy sẽ tổ chức người học thành
những nhóm nhỏ để thực hiện các hoạt động như
thảo luận, đóng vai, giải quyết vấn đề Mỗi thành
viên trong nhóm không chỉ có trách nhiệm thực
hiện các nhiệm vụ của nhóm mà còn phải có bổn
phận hợp tác, giúp đỡ các thành viên khác trong
nhóm hoàn thành các nhiệm vụ được giao
Có thể thấy, điểm quan trọng nhất của học hợp
tác chính là rèn luyện cho học viên khả năng làm
việc theo nhóm và tăng cường khả năng sử dụng
tiếng Anh, giúp người học tìm thấy hứng thú và
động lực trong học tập Đồng tình với quan điểm
này, hai nhà giáo dục người Trung Quốc Sheng
Qun Li và Zheng Shu Zhen (2000) nhận định:
“Mục tiêu của dạy học theo hướng phát triển kỹ
năng học tập hợp tác là một cải tiến mang tính đột
phá, nó phá vỡ các định hướng truyền thống trước
đây, thể hiện tính toàn diện hơn, cân bằng hơn
trong dạy học Đó là không chỉ thiên về phát triển
tính học thuật mà còn chú ý tới chất lượng cuộc
sống của người học (nhu cầu về tinh thần, nhu cầu
với môi trường hợp tác, thân thiện) và phát triển kỹ
năng sống trong tương lai”
2 PHÂN LOẠI VÀ LỢI ÍCH CỦA HÌNH
THỨC HỌC HỢP TÁC
2.1 Phân loại hình thức học hợp tác
Theo Johnson, Johnson & Smith (2013), học hợp tác bao gồm ba loại hình như sau:
Thứ nhất là học hợp tác không chính thức
(Informal Cooperative Learning) Đây làcácnhóm được lập ra trong thời gian ngắn và không ổn định, trong đó, nhóm học viên làm việc cùng nhau để đạt được mục tiêu học tập chung nhưng chỉ mang tính chất tạm thời, thời gian làm việc có thể kéo dài từ vài phút hoặc đến một giai đoạn học tập nào đó Mỗi nhóm học tập này chỉ bao gồm từ hai đến ba học viên hoạt động chung với nhau để thảo luận vấn đề trong khoảng thời gian nhất định Trong quá trình giảng dạy, hình thức này thường được sử dụng để thu hút sự chú ý của học viên và mang lại hiệu quả nhất trong các hoạt động như: checking knowledge, brainstorming, summarizing; giúp học viên chủ động, tích cực tham gia vào các hoạt động trong giờ học Đồng thời, khi giảng viên áp dụng hình thức này vào trong giảng dạy cũng tạo
cơ hội cho họ di chuyển quanh lớp để lắng nghe, quan sát quá trình học viên trao đổi, làm việc với nhau Chính trong quá trình này, giảng viên có thể phát hiện ra những khó khăn của học viên để giúp học viên xử lý kịp thời đảm bảo tiến độ của nhiệm
vụ học tập
Thứ hai là học hợp tác chính thức (Formal Cooperative Learning) Với hình thức này, giảng
viên lập ra nhóm học tập để hoàn thành một nhiệm
vụ (task) hoặc dự án (project) Quy mô của nhóm thường bao gồm từ ba đến bốn học viên làm việc chung với nhau và nhóm sẽ được duy trì cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ được giao Loại hình này phù hợp với thực hiện dự án (project), viết báo cáo thuyết trình (presentation), thảo luận (discussion) Một lưu ý nhỏ khi sử dụng loại nhóm học tập này là giảng viên không nên bố trí trong một nhóm quá năm học viên vì sẽ làm giảm hiệu quả làm việc của nhóm
Trang 3Cuối cùng là nhóm hợp tác cơ sở (Cooperative
Base Groups) Đâylà các nhóm học hợp tác mang
tính chất lâu dài và ổn định Điểm khác biệt lớn
nhất của loại hình này với hai loại trên là nhóm học
hợp tác trong khoảng thời gian dài Thông thường,
các nhóm này được duy trì kéo dài từ một học kỳ
hoặc có thể vài năm tùy theo nhiệm vụ được giao
Điểm nổi bật của loại nhóm này là không chỉ củng
cố kiến thức cho học viên mà còn phát triển cho
học viên các kỹ năng mềm như: kỹ năng giao tiếp,
kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, kỹ năng hợp tác
nhằm xây dựng các mối quan hệ và sự tin tưởng lẫn
nhau giữa các thành viên trong quá trình học tập
Như vậy, hình thức học hợp tác không những
đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp học tập mà
còn giúp học viên phát triển được những kỹ năng
mềm cần thiết cho công việc và cuộc sống
2.2 Lợi ích của hình thức học tập hợp tác
Hầu hết các nhà giáo dục học đều cho rằng,
học tập hợp tác sẽ đem lại nhiều lợi ích khi được
áp dụng thành công Cụ thể:
Học tập hợp tác góp phần củng cố và phát triển
khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh của học viên
thông qua sự trao đổi, tương tác giữa các thành
viên trong nhóm với nhau Qua quá trình học hợp
tác, học viên có cơ hội luyện tập tiếng Anh thường
xuyên với nhau và đó là cơ hội để học viên học hỏi
lẫn nhau về tự vựng, cách phát âm
Hình thức này có ưu điểm nổi trội hơn các
phương pháp dạy học truyền thống khác là tạo ra
môi trường lý tưởng cho học viên có thể phát triển
các kỹ năng giao tiếp và khả năng hợp tác trong
quá trình làm việc nhóm Trong quá trình học hợp
tác, học viên buộc phải sử dụng nhiều kỹ năng giao
tiếp xã hội để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
vì vậy các kỹ năng này sẽ được rèn luyện, củng cố
và phát triển
Hơn nữa, hình thức này còn tạo ra môi trường
và mục đích thực sự để học viên tiến hành giao
tiếp và sử dụng tiếng Anh Tất cả học viên khi
tham gia học hợp tác có thể học và gia tăng ngôn ngữ khi sử dụng, nói và nghe các thành viên khác nói, có người cùng học để trao đổi, đàm thoại và bàn bạc thông tin
Một lợi ích khác nữa của hình thức này là góp phần xây dựng tinh thần hợp tác, mối quan hệ hỗ trợ giữa các thành viên trong nhóm đồng thời tạo nên sự đoàn kết chặt chẽ nhằm hướng tới hoàn thành mục tiêu học tập chung Trong quá trình làm việc, các học viên sẽ nảy sinh nhu cầu bàn bạc, tranh luận nên đòi hỏi sự nỗ lực của mỗi cá nhân cũng như sự thống nhất của tập thể để hoàn thành mục tiêu chung
Học hợp tác còn tạo cơ hội cho tất cả học viên rèn luyện các kỹ năng như: kỹ năng làm việc tập thể, kỹ năng giải quyết các mâu thuẫn, kỹ năng lắng nghe Đây là những kỹ năng quan trọng
để học viên biết cách làm việc trong môi trường tập thể
Một lợi ích nữa là, hình thức này khuyến khích học viên phát huy hết năng lực của mỗi cá nhân Thông thường, học viên sẽ cảm thấy e ngại khi phải trình bày hay bảo vệ ý kiến của mình trước tập thể lớp học, tuy nhiên, họ sẽ cảm thấy thoải mái và tự tin hơn khi bày tỏ quan điểm của mình trong một nhóm nhỏ
Như vậy, trong quá trình học hợp tác học viên
có cơ hội được trao đổi, thảo luận thông tin và giúp
đỡ nhau để tiến bộ hơn Hình thức này không chỉ giúp học viên trở thành người giao tiếp thành công
mà còn phát triển những kỹ năng mềm cần thiết vì
họ có yêu cầu và mục đích giao tiếp thực sự
3 YÊU CẦU ĐỐI VỚI GIẢNG VIÊN KHI
ÁP DỤNG HÌNH THỨC HỌC HỢP TÁC TRONG GIẢNG DẠY
Mặc dù hình thức học hợp tác có nhiều lợi ích như đã nêu trên nhưng để các nhóm học hợp tác trong lớp của mình hoạt động hiệu quả, thì giảng viên cần phải thực hiện các yêu cầu sau:
Trang 43.1 Thiết kế các nhiệm vụ, tình huống học
tập hợp tác cho học viên
Nội dung dạy học phải được giảng viên thiết
kế thành các nhiện vụ học tập hợp tác, đây là công
việc quan trọng ảnh hưởng đến sự thành công của
quá trình dạy học Như chúng ta đã biết học tập
hợp tác chỉ nảy sinh khi học viên gặp khó khăn
trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ học tập;
do đó họ có nhu cầu hợp tác để hỗ trợ, giúp đỡ
nhau cùng hoàn thành nhiệm vụ Chính những đặc
điểm trên yêu cầu giảng viên phải có nền tảng kiến
thức, kỹ năng thiết kế nhiệm vụ và tạo ra được
ham muốn giải quyết vấn đề cho học viên
Trong quá trình thiết kế nhiệm vụ cho học
viên, yêu cầu giảng viên phải dự kiến được những
khó khăn mà học viên có thể gặp phải, dự đoán
được trình độ hiện có của học viên để giao nhiệm
vụ phù hợp, dự kiến thời gian hoàn thành nhiệm
vụ và hình thức hoạt động của học viên để có thể
hoàn thành nhiệm vụ theo đúng tiến độ yêu cầu đặt
ra Điểm chú ý cho giảng viên khi thiết kế nhiệm
vụ, tình huống cho học viên thì phải đảm bảo các
nguyên tắc sau: Một là, các nhiệm vụ phải được
thiết kế phù hợp với năng lực của mỗi cá nhân và
phát huy tốt được tính tương trợ, phụ thuộc lẫn
nhau giữa các thành viên trong nhóm Hai là, các
nhiệm vụ phải tăng dần về độ khó trong quá trình
học tập nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác, giúp đỡ,
tương trợ giữa các học viên
3.2 Nghiên cứu cách thức chia nhóm học
tập hợp tác
Điểm đặc trưng nhất của kỹ năng học tập hợp
tác là nó được tổ chức theo hình thức nhóm Do
đó, giảng viên phải phân chia nhóm học tập hợp
tác cho khoa học và phù hợp: xác định số lượng
thành viên, thời gian tồn tại của nhóm, kế hoạch
làm việc, thời gian hoàn thành nhiệm vụ của cả
nhóm
Hầu hết các chuyên gia đều cho rằng, quy mô
của nhóm học hợp tác càng nhỏ thì mức độ tương
tác giữa các học viên càng cao Do đó, nhóm nên tổ chức tối đa từ bốn đến sáu thành viên là phù hợp Các thành viên trong nhóm học hợp tác nên đa dạng về giới tính, trình độ và năng lực Sự đa dạng trong nhóm tạo ra sự bình đẳng, hỗ trợ nhau trong quá trình làm việc, đồng thời cũng tạo cơ hội cho mỗi thành viên trong nhóm thể hiện được ưu điểm
cá nhân Việc phân chia các nhóm học tập phải đảm bảo đồng đều nhau về trình độ, năng lực để tạo ra sự công bằng giữa các nhóm Điều này nhằm phát huy ưu thế và tạo động lực thúc đẩy nhóm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
3.3 Phân công nhiệm vụ cho các thành viên
Sau khi các nhóm học hợp tác được hình thành, giảng viên phải phân công nhiệm vụ rõ ràng cho các nhóm và hướng dẫn học viên phân chia vai trò của các thành viên trong nhóm sao cho phù hợp với năng lực, sở trường của mỗi thành viên Tiếp
đó, các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau thực hiện nhiệm vụ và tăng cường hiệu quả của học tập hợp tác
Như vậy, mỗi một học viên đều phải đảm nhiệm một vai trò nhất định trong hoạt động chung của nhóm và giúp đỡ nhau để hoàn thành nhiệm
vụ Sự phân công rõ ràng trách nhiệm của từng thành viên là yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công của cả nhóm học tập
3.4 Bố trí không gian lớp học
Bố trí không gian lớp học cũng có sức ảnh hưởng lớn đến quá trình dạy học Nếu như ở các lớp học truyền thống việc bố trí không gian phải đảm bảo thuận lợi cho học viên hướng vào “bảng” thì bước đột phá trong học hợp tác là giảng viên sắp xếp lại không gian học, các học viên có sự tương tác tích cực và thường xuyên hơn với nhau trong quá trình hoàn thành nhiệm vụ được giao Vì vậy, tuỳ điều kiện hoàn cảnh cụ thể của lớp học, giảng viên phải khéo léo sắp xếp các nhóm đảm bảo quá trình làm việc của các nhóm không ảnh
Trang 5hưởng tới nhau đồng thời tạo điều kiện thuận lợi
cho giảng viên kiểm tra, giám sát quá trình làm
việc của từng nhóm, từng học viên
3.5 Tổ chức, cố vấn, giúp đỡ học viên trong
quá trình học hợp tác
Trong quá trình tổ chức học tập hợp tác, giảng
viên phải luôn thay đổi vai trò của mình: khi là
người điều khiển, người cố vấn, người cổ vũ,
người quan sát Đồng thời giảng viên luôn phải
giữ thái độ công minh, không can thiệp quá sâu
vào quá trình làm việc của các nhóm, nhưng cũng
không được bàng quang trước những khó khăn của
học viên
Với vai trò của mình, giảng viên nên xây dựng
bầu không khí hài hòa, thoải mái, nhưng đồng thời
cũng phải giám sát quá trình làm việc của học viên
để kịp thời phát hiện những vấn đề còn tồn tại và
đưa ra những hướng khắc phục kịp thời đảm bảo
hiệu quả Ngoài ra, giảng viên cũng phải dự kiến
và khống chế thời gian của nhóm học hợp tác một
cách hợp lý để đảm bảo quá trình học tập diễn ra
đúng tiến độ
Như chúng tôi đã phân tích ở trên, việc dạy
học theo hướng phát triển kỹ năng học tập hợp tác
trong quá trình dạy học tiếng Anh ngoài việc nâng
cao khả năng sử dụng tiếng Anh của học viên còn
rèn luyện rất nhiều kỹ năng khác và giúp cho học
viên có tinh thần đoàn kết, tự tin, có trách nhiệm
hơn Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy, quá trình dạy
học theo hình thức học hợp tác trong giờ học tiếng
Anh mang lại hiệu quả chưa cao Điều này một
phần xuất phát từ phía học viên nhưng một phần
cũng do giảng viên chưa phát huy triệt để vai trò
của mình trong giảng dạy
4 MỘT SỐ NGUYÊN TẮC KHI ÁP
DỤNG HÌNH THỨC HỌC HỢP TÁC TRONG
GIẢNG DẠY TIẾNG ANH
Với mong muốn khắc phục tình trạng nêu trên,
chúng tôi xin đưa ra một số nguyên tắc cơ bản để
áp dụng hình thức học hợp tác để có hiệu quả cao nhất trong giảng dạy tiếng Anh
4.1 Dạy học phải tạo được sự phối hợp tích cực giữa các thành viên
Giảng viên phải tạo được sự liên kết giữa các thành viên trong nhóm theo tiêu chí chỉ có sự cố gắng, nỗ lực làm việc cùng nhau thì học viên mới
có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Khi làm việc hợp tác, học viên phải nhận thức được trách nhiệm của bản thân đối với nhiệm vụ chung của nhóm Các thành viên trong nhóm phải gắn kết với nhau và phải xác định được nhóm chỉ thành công khi các thành viên cố gắng, nỗ lực hết khả năng Vì vậy, giảng viên phải xác định rõ cho học viên trách nhiệm khi học tập nhóm đó là: thực hiện nhiệm vụ được giao của cả nhóm và đảm bảo các thành viên trong nhóm mình cũng hoàn thành nhiệm vụ được giao (học viên nào xong trước thì
hỗ trợ cho bạn mình để nhiệm vụ của nhóm được hoàn thành đúng thời hạn quy định) Giảng viên cần phải đảm bảo rằng, tất cả học viên của mình hiểu rõ các nguyên tắc thì mới bắt đầu việc phát triển hình thành nhóm học tập
4.2 Dạy học phải tạo môi trường hợp tác trong nhóm
Giảng viên phải đảm bảo sự tương tác, hỗ trợ giữa các cá nhân trong nhóm học tập hợp tác Mỗi thành viên là một mắt xích quan trọng trong hoạt động của nhóm; họ phải hợp tác với nhau, giúp đỡ nhau, trao đổi thông tin, bàn bạc dưới sự giám sát, hướng dẫn của giảng viên
Chỉ khi có sự trao đổi tích cực giữa các học viên trong nhóm thì quá trình học hợp tác mới diễn
ra thành công và điều này chỉ được thực hiện khi các thành viên trong nhóm tương tác trực tiếp với nhau (không qua các phương tiện truyền thông) Điều này làm tăng hứng thú học tập, kích thích sự chia sẻ về ý tưởng, phát triển mối quan hệ gắn bó giữa các học viên Vì vậy, giảng viên cần hướng
Trang 6dẫn cho học viên khi làm việc theo nhóm có cách
góp ý hợp lý với các thành viên khác tránh gay gắt,
nóng nảy đồng thời có thể động viên, khích lệ nhau
để cùng tiến bộ, khi cần thiết có thể giúp đỡ nhau
4.3 Dạy học phải đảm bảo học viên có trách
nhiệm cá nhân cao
Nhóm học tập được tổ chức sao cho từng
thành viên trong nhóm không thể trốn tránh công
việc, hoặc trách nhiệm học tập Vì vậy, giảng viên
cần phải đảm bảo rằng mọi học viên trong nhóm
đều có ý thức hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình
Giảng viên không những phải nêu rõ trách nhiệm
của từng cá nhân trong nhóm mà còn phải quan sát
hoạt động của họ Giảng viên cần phải đảm bảo
rằng không có hiện tượng ỷ lại, trốn tránh nhiệm
vụ trong khi làm việc nhóm; họ phải có đóng góp
nhất định vào hoạt động chung của cả nhóm Mỗi
cá nhân có tiến độ thực hiện công việc khác nhau,
nếu học viên gặp khó khăn, giảng viên phải khuyến
khích học viên có lực học tốt hơn giúp đỡ bạn mình
Ở nguyên tắc này giảng viên cần đảm bảo tính vừa
sức khi giao nhiệm vụ học tập cho học viên để
học viên có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình
4.4 Dạy học phải đảm bảo phát triển các kỹ
năng giao tiếp và kỹ năng xã hội
Việc phát triển các kỹ năng mềm cũng rất quan
trọng trong quá trình học tập Vì vậy, giảng viên cần
chú ý rèn luyện cho học viên các kỹ năng làm việc
hợp tác: kỹ năng hình thành nhóm, kỹ năng giao
tiếp, kỹ năng xây dựng niềm tin, kỹ năng giải quyết
các mối bất đồng Có những kỹ năng có thể rèn
được ngay, nhưng cũng có những kỹ năng với một
số học viên thì phải cần cả một quá trình để rèn luyện
và phát triển
4.5 Rút kinh nghiệm tương tác nhóm
Sau mỗi hoạt động hợp tác, giảng viên hướng
dẫn học viên đánh giá quá trình hoạt động của mỗi
thành viên nhóm như những mặt tốt trong hoạt
động chung và những đóng góp cá nhân nổi bật
cần được phát huy, những mặt cần thay đổi, cải thiện để hoạt động của nhóm có hiệu quả hơn Việc kiểm tra, đánh giá không chỉ dựa vào nội dung kết quả học tập mà cả thái độ, kỹ năng hợp tác Điều này, giúp học viên đạt được kỹ năng hợp tác với người khác một cách hiệu quả nhất
5 KẾT LUẬN
Tóm lại, học hợp tác là một trong những phương pháp học tập tích cực, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học Vì vậy, hình thức học tập này rất phù hợp để áp dụng vào trong giảng dạy tiếng Anh tại Học viện Khoa học Quân
sự Tuy nhiên, khi áp dụng phương pháp này vào giảng dạy, giảng viên phải chú ý các yêu cầu và một số nguyên tắc cơ bản như đã trình bày Phương pháp này nếu được sử dụng thành công, học viên không những hoàn thiện được các kiến thức và kỹ năng mà còn hình thành được phương pháp học tập hiệu quả cho bản thân Chúng tôi hy vọng đây
sẽ là những gợi ý cho giảng viên trong việc giảng dạy và rèn luyện kỹ năng cho học viên./
Tài liệu tham khảo:
1 Trịnh Văn Biểu (2011), “Dạy học hợp tác, một xu hướng mới của giáo dục thế kỷ XXI”, Tạp
chí Khoa học, Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh,
số 25, tr.83-95
2 Gille, R.M., Ashman, A.F, & J Terwel
(2007), The Teacher’s Role in Implementing Cooperative learning in the Classroom, Swiss
Federal Institute of Technology, Lausanne,
CH-1015, Swetzerland
3 David W Johnson, Roger T Johnson, and Karl A Smith (2013), “Cooperative Learning: Improving University Instruction By Basing Practice
On Validated Theory” Retrieved from May 26,
2017, <http://personal.cege.umn.edu/~smith/docs/
n-Johnson-Smith-Cooperative_Learning-JECT-Small_Group_Learning-draft.pdf>
Trang 7COOPERATIVE LEARNING AND SOME NOTES WHEN APPLYING IT
TO ENGLISH TEACHING AT MILITARY SCIENCE ACADEMY
HUYNH THI VU HANH, VU TIEN TUNG
Cooperative learning is a productive teaching approach as it not only helps learners grasp the desired knowledge in a proactive way but also enables them to perfect their social skills However,
to successfully apply it to teaching English, there are some certain requirements and principles that teachers have to meet and follow The article aims to briefly introduce some main features of cooperative learning as well as some notes when applying it to English teaching
Keywords: English teaching, communication, cooperative learning/Group-based learning
Received: 18/8/2017; Revised: 18/10/2017; Accepted for publication: 15/11/2017
4 Li, M P & Lam, B H (2013),
Cooperative Learning Available online:
<http://www.ied.edu.hk/aclass/Theories/
cooperativelearningcoursewriting_LBH%20
24June.pdf>
5 Macpherson, A (2009), Cooperative
learning group activities for college courses: a
guide for instructors Retrieved from May 26, 2017,
<http://www.kpu.ca/academicgrowth/resources/ CoopLearningActivities.doc>
6 Sheng Qun Li, Zheng Shu Zhen (2000),
Coopertive learning design, China Press.
7 Slavin, R.E (1983), Cooperative Learning Theory, Research and Practice, Englewood Cliffs,
NJ: Prentice- Hall