1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng dạy và học môn tiếng Anh chuyên ngành Kinh tế tại trường Đại học Sài Gòn

5 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 2,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đánh giá thực trạng dạy và học tiếng Anh chuyên ngành Kinh tế tại Trường Đại học Sài Gòn, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp định lượng, phân tích dựa trên phương pháp thống kê suy [r]

Trang 1

THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

Trần Ngọc Mai - Nguyễn Hoàng Mỹ Thanh - Huỳnh Ngọc Trang

Trường Đại học Sài Gòn

Ngày nhận bài: 10/03/2019; ngày sửa chữa: 02/04/2019; ngày duyệt đăng: 10/04/2019

Abstract: The purpose of this article is to analyze the status of teaching and learning of English

for specific purposes at Saigon University The research sample is a group of 14 lecturers who have been teaching this subject and 180 students participating in this program The non-parametric statistics methods is employed as a data analysis tool Results of study indicate some limitations of the program, including the content of the syllabus, curriculum, professional qualifications of teachers, teaching methods, qualifications of students and number of students in class

Keywords: Specialized English, status of teaching and learning, non-parametric statistical methods

1 Mở đầu

Hiện nay, dân số thế giới xấp xỉ 7,5 tỉ người, trong đó

có khoảng 1,5 tỉ người nói tiếng Anh (chiếm khoảng 20%

tổng dân số toàn cầu) [1] và hầu hết những người này

không nói tiếng Anh như tiếng bản ngữ Ngoài việc được

sử dụng rộng rãi, tiếng Anh là ngôn ngữ nước ngoài được

nghiên cứu nhiều nhất trên thế giới

Xét trên phương diện chính sách ngôn ngữ, không có

quốc gia nào trên thế giới đặt nặng vai trò của năng lực

ngoại ngữ (tiếng Anh) trong đào tạo và sử dụng nhân lực

như ở Việt Nam [2] Trong chương trình đào tạo đại học,

cao đẳng, tiếng Anh là một môn học bắt buộc cho hầu

hết các ngành đào tạo và là một trong những điều kiện

không thể thiếu để được công nhận tốt nghiệp

Kể từ năm học 2012-2013, quy định của Bộ GD-ĐT

yêu cầu áp dụng chuẩn đầu ra về tiếng Anh cho sinh viên

(SV) đại học các khối không chuyên ngữ [3] Điều này

đang góp phần thúc đẩy việc dạy và học ngoại ngữ ở các

trường đại học, cao đẳng trở nên đáng quan tâm và cấp

thiết hơn Phần lớn SV nhận thức được tầm quan trọng

đó và đã có những thay đổi thích ứng trong việc học

ngoại ngữ với kì vọng sau khi ra trường nắm bắt được

nhiều cơ hội Tuy vậy, nhìn chung kết quả học tiếng Anh

của SV khối không chuyên ngữ chưa đạt kết quả như

mong muốn, thực trạng SV học tiếng Anh nhưng không

sử dụng được, đặc biệt là tiếng Anh chuyên ngành chưa

đáp ứng kì vọng nhà tuyển dụng Nguyên nhân vì sao

như vậy là câu hỏi được những nhà giáo dục quan tâm

nghiên cứu và luận giải

Bài viết xem xét thực trạng dạy và học tiếng Anh

chuyên ngành của khối ngành Kinh tế tại Trường Đại học

Sài Gòn (khối không chuyên ngữ) bằng phương pháp

định lượng Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để đề xuất một

số biện pháp cải thiện tình trạng này trong thời gian tới

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Khái quát chung về vấn đề dạy và học tiếng Anh chuyên ngành

Theo Hutchinson, T and A Water, tiếng Anh chuyên

ngành (English for specific purposes - ESP) là thuật ngữ

dùng để chỉ tiếng Anh được dùng trong chuyên môn làm việc hoặc để phục vụ công việc ở từng chuyên ngành khác nhau [4] Robinson cho rằng tiếng Anh chuyên ngành là các khoá học tiếng Anh thường hướng tới mục tiêu cuối cùng và dựa trên cơ sở khảo sát, phân tích nhu cầu nhằm xác định cụ thể học viên phải làm gì và làm được gì thông qua phương tiện tiếng Anh [5] Trong khi

đó, Richards và Schmidt cho rằng tiếng Anh chuyên ngành là tiếng Anh được sử dụng để làm phương tiện truyền đạt thông tin và được giới hạn trong mỗi lĩnh vực nhất định, tiếng Anh chuyên ngành chứa đựng những từ vựng, ngữ pháp và đặc trưng ngôn ngữ khác với tiếng Anh thông thường [6] Hiện nay, căn cứ trên mục đích của khóa học thì tiếng Anh chuyên ngành được phân loại

một cách tương đối như hình 1:

Theo Basturkmen, tiếng Anh cho mục đích học thuật là được sử dụng trong các ấn phẩm học thuật như các tạp chí y học, pháp lí, khoa học công nghệ, kinh tế tài chính Tiếng Anh cho mục đích nghề nghiệp được sử dụng bởi những người có chuyên môn cao như bác sĩ, luật sư và những người có chuyên môn nhưng ít chuyên nghiệp hơn như khối công nhân kĩ thuật, kĩ thuật viên, [8]

Trang 2

Cho đến nay, tiếng Anh chuyên ngành đã được triển

khai tại Việt Nam khá lâu, tuy nhiên thực tế vẫn còn tồn

tại những vấn đề hạn chế nhất định đến từ cả hai phía

người học lẫn người dạy dẫn đến kết quả đào tạo tiếng Anh

chuyên ngành vẫn chưa đạt được kì vọng Theo Lâm

Quang Đông thì hầu hết những đề cương chương trình và

giáo trình tiếng Anh chuyên ngành được xây dựng dựa

trên kinh nghiệm mà không được tiến hành phân tích nhu

cầu thật thấu đáo, cẩn thận, kể cả nhu cầu của học viên lẫn

đòi hỏi trong thực tế công việc của chuyên ngành định

giảng dạy Nguyên nhân của thực trạng này được cho là

do kinh phí biên soạn đề cương giáo trình còn hạn hẹp

chưa phân bổ hợp lí hoặc chưa có những chính sách

khuyến khích phù hợp trong quá trình biên soạn Một số

chuyên ngành có nhiều khái niệm, thuật ngữ đặc thù, mà

muốn giảng dạy được tiếng Anh chuyên ngành, giáo viên

tiếng Anh cũng phải có kiến thức nhất định về những khái

niệm, thuật ngữ đó Tuy nhiên, giảng viên (GV) tiếng Anh

chuyên ngành hiện nay phần lớn không có chuyên môn

sâu về ngành đang dạy, họ chưa được đào tạo bài bản về

kiến thức chuyên ngành mà chủ yếu là tự học dẫn đến rất

nhiều những khái niệm, định nghĩa chuyên ngành không

được phân tích, giải thích đầy đủ, thấu đáo [9]

Mặt khác, phương pháp giảng được áp dụng chủ yếu

là đọc và dịch nhằm giải thích cấu trúc ngữ pháp và tăng

vốn từ vựng, các phương pháp khác nhằm tăng kĩ năng

giao tiếp hầu hết chưa được áp dụng phổ biến [10]; trình

độ học viên học tiếng Anh chuyên ngành không đồng đều

cũng là vấn đề cản trở rất lớn đến cả người học và người

dạy Bên cạnh đó, sĩ số lớp bố trí chưa hợp lí, phương pháp

thi cử, đánh giá cũng là một trong những thực trạng đang

tồn tại làm cho việc đào tạo tiếng Anh chuyên ngành còn

nhiều bất cập, chưa đáp ứng mục tiêu đào tạo

2.2 Phân tích thực trạng dạy và học tiếng Anh chuyên

ngành Kinh tế tại Trường Đại học Sài Gòn

2.2.1 Phương pháp phân tích

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập dựa vào bảng câu

hỏi được thiết kế sẵn Bảng câu hỏi được chia làm 2 phần:

phần thứ nhất với mục đích thu thập những thông tin về

nhân khẩu học của người tham gia trả lời phỏng vấn,

phần thứ hai xây dựng các biến đo lường thực trạng dạy

và học tiếng Anh chuyên ngành Kinh tế tại Trường Đại

học Sài Gòn Để đánh giá thực trạng dạy và học tiếng Anh chuyên ngành Kinh tế tại Trường Đại học Sài Gòn, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp định lượng, phân tích dựa trên phương pháp thống kê suy diễn; các kết luận được rút ra dựa trên kết quả kiểm định theo các phương pháp thống kê phi tham số

2.2.2 Kết quả phân tích

- Nội dung chương trình đào tạo (bảng 1):

Chương trình tiếng Anh chuyên ngành được thiết kế với thời lượng 3 tín chỉ (45 tiết), nội dung chương trình chủ yếu dựa vào những giáo trình sẵn có mà chưa thực hiện biên soạn dựa trên kết quả khảo sát nhu cầu của người học hoặc đánh giá của các chuyên gia trong ngành, nhu cầu của người sử dụng lao động của ngành đó Vì vậy, nội dung của chương trình còn nhiều bất cập so với mục tiêu đề ra Để đánh giá sự phù hợp của nội dung chương trình tiếng Anh chuyên ngành Kinh tế so với mục tiêu đào tạo, nghiên cứu sử dụng thang đo thứ bậc gồm 4 mức độ (1: Không phù hợp, 2: Tương đối phù hợp, 3: Phù hợp, 4: Rất phù hợp)

Kết quả bảng 1 cho thấy, giá trị trung vị (median) bằng

2, trong số 14 ý kiến được khảo sát thì nội dung chương

trình so với mục tiêu được đánh giá tương đối phù hợp

chiếm tỉ lệ cao (78,6%), kế tiếp là phù hợp chiếm 21,4%

và các mức độ khác không được lựa chọn Mặt khác, kiểm định Wilconxon có ý nghĩa thống kê mức 5% (Sig.=0,033) điều đó khẳng định rằng nội dung chương trình so với mục

tiêu có giá trị nhỏ hơn trung vị, nghĩa là nội dung chương

trình đào tạo chưa thật sự phù hợp với mục tiêu đào tạo

- Nội dung giáo trình (xem bảng 2 trang bên):

Hiện nay, giáo trình phục vụ giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành Kinh tế được sử dụng nguyên bản từ nhà xuất bản nước ngoài, dẫn đến có những nội dung bài học chưa thật sự phù hợp với bối cảnh đào tạo tại Việt Nam làm cho người học khó tiếp thu và người dạy khó tiếp cận Để đánh giá nội dung giáo trình giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành Kinh tế có thật sự phù hợp với mục tiêu đào tạo hay không, nghiên cứu sử dụng thang đo thứ bậc gồm 4 mức độ (1: Không phù hợp, 2: Tương đối phù hợp, 3: Phù hợp, 4: Rất phù hợp)

Bảng 1 Kiểm định sự phù hợp của nội dung chương trình so với mục tiêu

Mức độ Tần số % Phần trăm tích lũy (%) Trung vị: 2

2 Tương đối phù hợp 11 78,6 78,6

Wilcoxon Signed Ranks Test: Z=-2,138; Asymp Sig.=.033

Nguồn: Kết quả xử lí dữ liệu từ SPSS 25

Trang 3

Kết quả bảng 2 cho thấy, giá trị trung vị (median) bằng

2, trong số 14 ý kiến được khảo sát thì nội dung giáo trình

so với mục tiêu được đánh giá tương đối phù hợp chiếm tỉ

lệ cao (71,4%), kế tiếp là phù hợp chiếm 21,5%, không

phù hợp là 7,1% và các mức độ khác không được lựa chọn

Mặt khác, kiểm định Wilconxon có ý nghĩa thống kê mức

5% (Sig.=0,008) điều đó khẳng định rằng nội dung giáo

trình so với mục tiêu có giá trị nhỏ hơn trung vị, nghĩa là

nội dung giáo trình đào tạo tiếng Anh chuyên ngành Kinh

tế chưa thật sự đáp ứng với mục tiêu

- Phương pháp giảng dạy (bảng 3):

Mặc dù nội dung của đề cương thiết kế với kì vọng

đảm bảo hoàn thiện bốn kĩ năng cho người học gồm nghe,

nói, đọc và viết, nhưng trong thực tế phương pháp giảng

dạy chưa đáp ứng mục tiêu này Phần lớn GV dạy tiếng

Anh chuyên ngành Kinh tế thường sử dụng phương pháp

đọc và dịch (Grammar Translation Method) mà chưa phối

kết hợp hiệu quả những phương pháp khác, dẫn đến kết

quả giảng dạy chưa đáp ứng kì vọng của người học Nhằm

đánh giá sự tin cậy của phương pháp giảng dạy, nghiên

cứu này sử dụng thang đo định danh gồm 1: Phương pháp

ngữ pháp, 2: Phương pháp nghe nói, 3: Phương pháp giao

tiếp, 4: Phương pháp tổng hợp [11]

Kết quả thống kê trong bảng 3 cho thấy phương pháp

ngữ pháp thường xuyên được sử dụng trong giảng dạy

tiếng Anh chuyên ngành Kinh tế (chiếm 57,1%), phương

pháp nghe nói chiếm 35,7% và chỉ có 7,2% GV sử dụng

phương pháp giao tiếp, đặc biệt là phương pháp tổng hợp

không được sử dụng trong giảng dạy Mặt khác kiểm

định phi tham số Wilcoxon có ý nghĩa thống kê mức 5%

(Sig.=.002), một lần nữa khẳng định rằng phương pháp

giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành Kinh tế hiện nay chủ yếu bằng phương pháp ngữ pháp

- Kiến thức chuyên ngành của GV (xem bảng 4 trang bên):

Phần lớn GV giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành Kinh tế được đào tạo bài bản và có chuyên môn sâu về ngôn ngữ học nhưng với những kiến thức về chuyên ngành Kinh tế thì họ vẫn còn có những hạn chế nhất định, dẫn đến việc diễn giải các khái niệm, định nghĩa, các thuật ngữ chưa thật sự thấu đáo, mang tính đa chiều Kết quả khảo sát cho thấy lượng kiến thức đáp ứng một phần cho giảng dạy chuyên ngành chiếm tỉ lệ cao (85,7%) và chỉ 2 ý kiến cho rằng hoàn toàn đáp ứng (14,5%) Kết quả kiểm định Wilcoxon có ý nghĩa thống kê mức 10% (Sig.=.084) và trung vị mẫu nhỏ hơn trung vị tổng thể, chứng tỏ rằng kiến thức chuyên ngành của GV chỉ đáp ứng một phần khi giảng tiếng Anh chuyên ngành Kinh tế

- Trình độ SV (xem bảng 5 trang bên):

Mặc dù trước khi tham gia lớp tiếng Anh chuyên ngành Kinh tế, SV đã được thi xếp lớp theo trình độ, nhưng vẫn còn tồn tại thực trạng trình độ SV mỗi lớp không đồng đều, dẫn đến khó khăn cho GV khi thiết kế bài giảng Trình độ SV hạn chế dẫn đến rất khó để tiếp thu các từ vựng cũng như các thuật ngữ chuyên ngành kinh tế

Kết quả khảo sát 180 SV (bảng 5) cho thấy SV xếp

loại khá chiếm tỉ lệ cao (71,11%), loại trung bình chiếm 19,44%, loại trung bình yếu 5%, loại giỏi chiếm 3,89%, đặc biệt xếp loại kém là 1%

Mặt khác, kết quả phân tích phương sai một yếu tố

(bảng 6) cho thấy thống kê F có ý nghĩa thống kê mức

5% (Sig.=0,000) Điều đó khẳng định rằng trình độ của

SV có sự khác biệt (có ý nghĩa)

Bảng 2 Kiểm định sự phù hợp của nội dung giáo trình so với mục tiêu

Mức độ Tần số % Phần trăm tích lũy (%)

Trung vị: 2

2 Tương đối phù hợp 10 71,4 78,5

Wilcoxon Signed Ranks Test: Z=-2,668; Asymp Sig.=.008

Nguồn: Kết quả xử lí dữ liệu từ SPSS 25

Bảng 3 Kiểm định các phương pháp giảng dạy so với mục tiêu

Mức độ Tần số % Phần trăm tích lũy (%)

Trung vị: 1

1 Phương pháp ngữ pháp 8 57,1 57,1

2 Phương pháp nghe nói 5 35,7 92,8

3 Phương pháp giao tiếp 1 7,2 100,0

Wilcoxon Signed Ranks Test: Z=-3,090; Asymp Sig.=.002

Nguồn: Kết quả xử lí dữ liệu từ SPSS 25

Trang 4

- Số lượng SV trong mỗi lớp học (bảng 7):

Hiện nay, thực trạng sĩ số trong các lớp tiếng Anh

chuyên ngành Kinh tế tương đối đông là một thách thức

lớn trong việc dạy và học, điều này gây cản trở đáng kể

cho GV, họ không thể chủ động để ứng dụng các phương

pháp nhằm đáp ứng mục tiêu đề ra của môn học Để đánh

giá sự phù hợp của sĩ số lớp, nghiên cứu sử dụng thang

đo thứ bậc gồm 4 mức độ (1: Không phù hợp, 2: Tương

đối phù hợp, 3: Phù hợp, 4: Rất phù hợp)

Kết quả bảng 7 cho thấy, trong số 14 ý kiến được khảo

sát có 9 ý kiến cho rằng sĩ số lớp bố trí không phù hợp

chiếm tỉ lệ cao (64,3%), thấp nhất có 1 ý kiến cho rằng bố

trí sĩ số lớp là rất phù hợp chiếm 7,1% Mặt khác, kiểm

định Wilconxon có ý nghĩa thống kê mức 5% (Sig.=0.013)

điều đó khẳng định rằng sự phù hợp của việc bố trí sĩ số

lớp có giá trị đánh giá nhỏ hơn trung vị, nghĩa là sĩ số lớp hiện nay chưa thật sự phù hợp với mục tiêu đào tạo

3 Kết luận

Kết quả nghiên cứu bằng phương pháp thống kê suy diễn đã cho thấy thực trạng dạy và học tiếng Anh chuyên ngành Kinh tế tại Trường Đại học Sài Gòn vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định, làm ảnh hưởng đến mục tiêu đào tạo Nhằm nâng cao hiệu quả việc dạy và học môn tiếng Anh chuyên ngành, nghiên cứu đề xuất một số biện pháp nhằm cải thiện các thực trạng hiện nay như sau:

- Đối với công tác dạy học: nội dung chương trình

đào tạo cần được thiết kế dựa trên kết quả khảo sát các chuyên gia và người học trong từng ngành Nội dung giáo trình cần được biên soạn phù hợp với bối cảnh giảng dạy, phù hợp với mục tiêu chung Mặt khác, bằng các chính sách hỗ trợ cụ thể, nhà trường cần tạo điều kiện tốt

Bảng 4 Kiểm định mức độ đáp ứng kiến thức chuyên ngành của GV

Mức độ Tần số % Phần trăm tích lũy (%) Trung vị: 2

2 Đáp ứng một phần 12 85,7 85,7

4 Hoàn toàn đáp ứng 2 14,3 100,0

Wilcoxon Signed Ranks Test: Z=-1.728; Asymp Sig.=.084

Nguồn: Kết quả xử lí dữ liệu từ SPSS 25 Bảng 5 Phân loại điểm trung bình

Nguồn: Kết quả xử lí dữ liệu từ SPSS 25, xếp loại theo quy chế đào tạo của Trường Đại học Sài Gòn

Bảng 6 Kết quả phân tích phương sai (ANOVA)

Biến động Tổng bình phương Bậc tự do Bình phương TB F Sig

Nguồn: Kết quả xử lí dữ liệu từ SPSS 25

Bảng 7 Kiểm định sự phù hợp của việc bố trí sĩ số lớp học

Mức độ Tần số % Phần trăm tích lũy (%)

Trung vị: 1

2 Tương đối phù hợp 2 14,3 78,6

Wilcoxon Signed Ranks Test: Z=-2,495; Asymp Sig.=.013

Nguồn: Kết quả xử lí dữ liệu từ SPSS 25

Trang 5

nhất cho GV nâng cao trình độ và kiến thức chuyên

ngành để đáp ứng nhu cầu giảng dạy một cách hiệu quả

- Đối với việc học: nhà trường cần phải thực hiện điều

kiện tiên quyết một cách nghiêm ngặt để sàng lọc trình

độ SV trước khi tham gia lớp học tiếng Anh chuyên

ngành Nghĩa là SV bắt buộc phải hoàn thành các học

phần tiếng Anh tổng quát khi đó mới có đủ nền tảng kiến

thức để tham gia vào lớp tiếng Anh chuyên ngành Bên

cạnh đó, nhà trường cần sắp xếp sĩ số lớp một cách hợp

lí, khoa học và trang bị tốt các phương tiện hỗ trợ giúp

GV phát huy tối đa hiệu quả phương pháp giảng dạy,

giúp người học tiếp thu tốt nhất nội dung bài giảng

Tài liệu tham khảo

[1] M.Samanth Reddy (2016) Importance of English

language in today’s world International Journal of

Academic Research, Vol 3, Issue-4(2), pp 179-184

[2] Vũ Thị Phương Anh - Nguyễn Bích Hạnh (2005)

Năng lực tiếng anh của sinh viên các trường đại học

trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trước yêu cầu

của một nền kinh tế tri thức: thực trạng và những

giải pháp Báo cáo hội thảo khoa học, Đại học Quốc

gia TP Hồ Chí Minh

[3] Bộ GD-ĐT (2012) Công văn số 7274

/BGDĐT-GDĐH về việc Hướng dẫn thực hiện kế hoạch triển

khai Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020 trong các cơ

sở giáo dục đại học

[4] Hutchinson, T - Waters, A (1987) English for

specific purposes, A learningcentred approach

Cambridge: Cambridge Universiti Press

[5] Robinson, P (1991) ESP today: A practitioner’s

guide Hemel Hemstead: Prentice Hall

[6] Richards, Jack C - Richard W Schmidt (2010)

Longman Dictionary of Language Teaching and

Applied Linguistics, fourth edition London:

Longman (Pearson Education)

[7] Huhta M (2010) Language and communication for

professional purposes Needs analysis methods in

industry and business and their yield to stakeholders

Yliopistopaino, Espoo

[8] Basturkmen, Helen (2010) Developing Courses for

English for Specifc Purposes New York:

Pelgrave-Macmillan

[9] Lâm Quang Đông (2011) Tiếng Anh chuyên ngành

- Một số vấn đề về nội dung giảng dạy Tạp chí Ngôn

ngữ và đời sống, số 11(193), tr 27-32

[10] Nguyễn Hoàng Tuấn (2007) Một vài suy nghĩ về việc

dạy tiếng Anh chuyên ngành ở bậc đại học Giảng dạy

tiếng Anh bậc đại học ở Việt Nam: vấn đề và giải pháp

NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, tr 19-31

[11] Harmer, J (2015) The Practice of English Language Teaching Fifth Edition Pearson

Education Limited

[12] Nguyễn Quyết (2018) Ứng dụng mô hình hồi quy logit thứ bậc phân tích kết quả học môn Tiếng Anh của sinh viên trường đại học ngoài công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh Tạp chí Giáo dục, số 444,

tr 48-54

[13] Julie Pallant (2007) SPSS-Survival Manual Open

University Press

NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH HIỆN HÀNH

(Tiếp theo trang 180)

Trong khuôn khổ một bài viết, chúng tôi mới chỉ trình bày tóm lượt về quan niệm chương trình, phân tích nội

dung chương trình môn Toán, nội dung CTGD môn Toán theo chương trình mới ở Việt Nam và nội dung chương trình môn Toán ở một số nước trên thế giới Hi

vọng từ đó có thể giúp cho các nhà quản lí, nghiên cứu giáo dục có những định hướng trong các nghiên cứu tiếp theo khi xây dựng nội dung chương trình sách giáo khoa mới nhằm phát triển năng lực cho người học, phát huy được khả năng, sở trường của từng em trong quá trình

dạy học môn Toán ở trung học phổ thông

Tài liệu tham khảo

[1] Bộ GD-ĐT (2018) Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thế

[2] Nguyễn Thị Lan Phương (chủ biên, 2016) Chương trình tiếp cận năng lực và đánh giá năng lực người học NXB Giáo dục Việt Nam

[3] Nguyễn Hữu Châu (2005) Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học NXB Giáo dục [4] Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt (1987) Giáo dục học

(tập 1) NXB Giáo dục [5] Trần Công Phong - Nguyễn Thị Hồng Vân (2016)

Xu thế phát triển Chương trình giáo dục phổ thông trên thế giới NXB Giáo dục Việt Nam

[6] Ministry of Education (2008) The Alberta Curriculum Grades 10-12

[7] Ministry of Education Singapore (2013) O - & N(A) - Level Mathematics Teaching and Learning Syllabus [8] Bộ GD-ĐT (2018) Chương trình giáo dục phổ thông môn Toán

[9] Bộ GD-ĐT (2006) Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Toán lớp 10, 11, 12

Ngày đăng: 11/03/2021, 11:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w