1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ ngoại giao của chính quyền Campuchia dân chủ (1975-1979) với một số quốc gia trong khu vực

7 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 413,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, quan hệ ngoại giao của chính quyền Campuchia Dân chủ đối với một số quốc gia trong khu vực như Việt Nam, Thái Lan, Lào cũng theo hướng chủ nghĩa dân tộc cực đ[r]

Trang 1

ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY

Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website: http://sj.sgu.edu.vn/

QUAN HỆ NGOẠI GIAO CỦA CHÍNH QUYỀN CAMPUCHIA DÂN CHỦ

(1975-1979) VỚI MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG KHU VỰC

Diplomatic relations of democratic Kampuchea (1975-1979) with regional

neighbors

ThS.NCS Phạm Thị Huệ(1), ThS.NCS Trần Hùng Minh Phương(2)

TÓM TẮT

Chính quyền Campuchia Dân chủ được thành lập và tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn (1975-1979) Tuy nhiên, chính quyền này đã thi hành những chính sách đối nội, đối ngoại theo hướng diệt chủng Trong đó, quan hệ ngoại giao của chính quyền Campuchia Dân chủ đối với một số quốc gia trong khu vực như Việt Nam, Thái Lan, Lào cũng theo hướng chủ nghĩa dân tộc cực đoan Tập đoàn Khmer Đỏ đã có những hành động kỳ thị, khiêu khích, xâm lược biên giới Từ đó, gây ra những hệ lụy đau thương cho người dân vô tội ở biên giới các quốc gia này Đồng thời, chính sách đối ngoại thù địch với các nước láng giềng càng đẩy Campuchia dân chủ vào thế cô lập, dẫn đến phong trào đấu tranh tất yếu nổ ra, nhằm lật đổ nhà nước phản động này

Từ khóa: Campuchia Dân chủ, Khmer Đỏ, quan hệ ngoại giao

ABSTRACT

Democratic Kampuchea was established and existed for a short time (1975-1979) However, this government implemented domestic and foreign policies towards genocide In particular, the diplomatic relations of Democratic Kampuchea with its regional neighbors such as Vietnam, Thailand and Laos followed ultranationalism Khmer Rouge Group committed acts of discrimination, provocation and border aggression, thereby causing painful consequences for innocent people on the borders of these countries Simultaneously, the hostile foreign policy towards its neighbors pushed Democratic Kampuchea in isolation, leading to the inevitable movement to overthrow this reactionary state

Keywords: Democratic Kampuchea, Khmer Rouge, diplomatic relations

1 Đặt vấn đề

Ngày 17/4/1975, Khmer Đỏ giành

được chính quyền, xây dựng quốc gia

Campuchia Dân chủ (CPCDC) Tập đoàn

Pol Pot – Ieng Sary đã thể hiện tư tưởng

chủ nghĩa dân tộc cực đoan qua việc nhấn

mạnh đến sự vượt trội của người Khmer so

với các tộc người khác Từ rất sớm,

CPCDC đã nuôi tham vọng khôi phục lại

đế chế Khmer khi xưa Vì thế, chính quyền CPCDC đã thực hiện chính sách đối ngoại

đi ngược lại với nguyện vọng của nhân dân

xứ Chùa Tháp Đặc biệt, với sự ủng hộ của Trung Quốc, đường lối và các hoạt động đối ngoại của Khmer Đỏ hết sức phản động, làm tổn hại đến mối quan hệ giao hảo giữa CPC và các nước láng giềng như Việt Nam, Thái Lan, Lào

Trang 2

2 Sự ra đời của chính quyền Campuchia

Dân chủ

Theo ông Sihanouk, chế độ

Campuchia Dân chủ được hình thành như

sau: “Sơn Ngọc Thành đang có ảnh hưởng

đặc biệt đến các tầng lớp giáo viên, học

sinh Campuchia Thời kỳ đó, Pol Pot, Ieng

Sary, Son Sen, Khieu Samphan, Hou

Youn, Hu Nim, Koy Thuon, Nuon Chea

và các “tiểu thư học trò” Khieu Ponnary

(sau này là vợ Pol Pot), Khieu Thirith (sau

này là vợ Ieng Sary) đều là những học sinh

non trẻ đã nhanh chóng trở thành những

phần tử theo Sơn Ngọc Thành một cách

cuồng nhiệt và là những kẻ chống đến cùng

chế độ quân chủ Chủ nghĩa Sơn Ngọc

Thành khuynh hữu của những lãnh tụ

Khmer Đỏ sau này dần chuyển thành hồng

rồi thành đỏ khi tiếp xúc với cảnh tả…”

(Sihanouk, 1988, tr.77-78) Hầu hết những

người lãnh đạo sau này của CPCDC đều

từng là sinh viên học ở Paris

Nhóm sinh viên Paris đó gồm có: Pol

Pot, Ieng Sary, Khieu Samphan, Hou

Yuon, Son Sen, Hu Nim.v.v Họ là những

người được chính quyền thực dân Pháp lựa

chọn và đưa sang Pháp đào tạo, lứa đầu

tiên sang Pháp vào năm 1947 (Phạm Việt

Trung và nhóm tác giả, 1982, tr.312) Đây

chính là lực lượng lãnh đạo chính quyền

CPCDC sau năm 1975 Những nhân vật

này từng sinh hoạt ở Hiệp hội Sinh viên

Khmer (KSA) vào thập niên 50 của thế kỉ

XX Đây là một tổ chức gồm khoảng 200

sinh viên Khmer ở Paris chịu ảnh hưởng

của chủ nghĩa quốc gia và những ý tưởng

cánh tả, bên trong nó là một tổ chức mật

được gọi là Cercle Marxiste Nhóm sinh

viên Paris này ít nhiều có liên hệ với phong

trào cách mạng ở quê nhà đang bị đàn áp

nặng nề Đến những thập niên 60 của thế kỉ

XX, một số người trong số họ đã quay trở

về Campuchia và nắm quyền lãnh đạo

Đảng Cộng sản Campuchia (hay Đảng Cộng sản Khmer) Sau đó, họ đã tổ chức nổi dậy chống Lon Nol và lập ra chế độ

Campuchia Dân chủ vào năm 1975

Trong giai đoạn cầm quyền (1975 - 1979), Ban thường vụ Ủy ban Trung ương Đảng Campuchia Dân chủ gồm các thành viên:

Pol Pot (Saloth Sar) là “Anh cả”, Tổng

Bí thư Nuon Chea (Long Bunruot) là “Anh hai”, Thủ tướng, cánh tay phải của Pol Pot Ieng Sary (anh em đồng hao của Pol Pot) là “Anh ba”, Phó thủ tướng

Khieu Samphan là “Anh tư”, Chủ tịch Campuchia Dân chủ

Ta Mok (Chhit Chhoeun) là “Anh năm”, Thư ký vùng Tây Nam

Son Sen (học về giáo dục và văn học)

là Bộ trưởng Quốc phòng Son Sen cũng là lãnh đạo của Kaing Guek Eay (hay Hang Pin, còn gọi là “đồng chí Duch”)

- cựu Giám đốc nhà tù Tuol Sleng (nhà tù S-21), một trong các nhân vật chủ chốt của Khmer Đỏ Ngoài ra, còn một số nhân vật khác như Yun Yat, Ke Pauk (“Anh mười ba”, cựu Bí thư vùng phía Bắc), Ieng Thinith (em vợ Pol Pot), (HKHLSTP.HCM, 2018, tr.73-74)

Như vậy, nhóm sinh viên Paris đứng đầu là Pol Pot, ban đầu là những thanh niên yêu nước, muốn giải phóng đồng bào Trong thời gian ở Pháp, họ tiếp thu tư tưởng cách mạng “tả khuynh”, xây dựng nên lý thuyết cho con đường giải phóng Campuchia bằng thủ đoạn bạo lực, phá hoại tất cả những gì bị coi là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản, của chế độ phong kiến,

đế quốc Đồng thời, cuộc cách mạng văn hóa của Trung Quốc đã tác động mạnh mẽ đối với nhóm Paris “Thấy được sự tương đồng trong quan điểm chính trị với Chủ nghĩa Mao và những chính sách trong Cách

Trang 3

mạng văn hóa, khiến nhóm này muốn vận

dụng vào thực tế Campuchia ở một mức độ

triệt để và vượt xa Trung Quốc, chính là

nguyên nhân chính đưa đến sự ra đời chế

độ mới ở Campuchia” (Phan Thị Mỹ Nhân,

2012, tr.32) Chính ảnh hưởng của tư tưởng

Mao trong “cách mạng văn hóa Trung

Hoa” đã làm cơ sở cho hành động của tập

đoàn Pol Pot - Ieng Sary (Phạm Việt Trung

và nhóm tác giả, 1982, tr.313) Sau những

cuộc thanh trừng và khi nắm quyền, các

nhân vật chủ chốt của nhóm “sinh viên

Paris” cũng chính là các nhà lãnh đạo thực

sự của Campuchia Trong hàng ngũ lãnh

đạo này hoàn toàn vắng bóng những người

cộng sản từng có mối quan hệ mật thiết với

Đảng Cộng sản Việt Nam (Phan Thị Mỹ

Nhân, 2012, tr.54) Tất cả thành viên nằm

trong Ban Thường vụ Trung ương đều là

những cộng sự trung thành với cá nhân Pol

Pot Tất cả những ai không tán thành Pol

Pot, không những bị khai trừ khỏi Đảng mà

còn bị giết hại Với sự tác động của các thế

lực phản động, với tư tưởng dân tộc vị kỷ,

những nhà lãnh đạo CPCDC đã có những

chính sách đối nội, đối ngoại cực đoan

với các nước trong khu vực, gây chia rẽ

tình đoàn kết giữa các quốc gia và dân tộc

với nhau

3 Quan hệ đối ngoại của chính

quyền Campuchia Dân chủ (1975-1979)

Đối với chính quyền CPCDC thì đối

tượng kẻ thù số một chính là Mỹ, số hai là

bọn tàn quân của chế độ Lon Nol, đối

tượng thứ ba là những người chịu ảnh

hưởng từ Hoàng thân Sihanouk Ngày 05/

01/1976, Hiến pháp CPCDC được ban

hành, gồm 16 chương và 21 điều đã xác

định đặc tính của nhà nước, mục tiêu của

chính sách kinh tế, xã hội và văn hóa,

nguyên lý cơ bản của chính sách đối ngoại

Tuy nhiên, tại Điều 21 của Hiến pháp

CPCDC quy định: “Campuchia Dân chủ

nhiệt thành và tha thiết mong muốn duy trì mối quan hệ gần gũi và thân thiện với tất

cả các nước có chung đường biên giới và với tất cả các nước gần xa trên khắp thế giới phù hợp với các nguyên tắc tôn trọng tuyệt đối về chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của nhau” (Raoul M Jennar, 1995) CPCDC xa lánh phương Tây, chỉ giữ quan hệ ngoại giao với tổ chức Liên Hợp Quốc và Phong trào không liên kết Chính quyền CPCDC xóa bỏ hầu hết mối quan hệ với các tổ chức quốc tế khác Những nhà lãnh đạo Khmer Đỏ không tham dự bất cứ phiên họp nào của Ủy ban sông Mê Kong

Họ khước từ việc thành lập quỹ ủng hộ Việt Nam, Lào và Campuchia của các nước không liên kết Ngoài ra, lãnh đạo Khmer

Đỏ còn cắt quan hệ với tổ chức nhân đạo như Hội Chữ thập Đỏ quốc tế, đại diện của

tổ chức này đều bị trục xuất ra khỏi Campuchia Chính phủ Pol Pot đã đóng cửa các sứ quán nước ngoài tại thủ đô Phnom Penh Khmer Đỏ cũng trục xuất đại

sứ Liên Xô về nước, vì Liên Xô trước đó

đã không hỗ trợ nhiều cho họ

Đối với Trung Quốc, CPCDC có những chính sách ngoại giao rất thân thiết

do Trung Quốc đã hỗ trợ đắc lực về nhiều mặt cho Khmer Đỏ Cuối năm 1965, Pol Pot đến thăm Trung Quốc và được Mao Trạch Đông tiếp đón nồng hậu Mao Trạch Đông đã nói với Pol Pot “Các đồng chí có tinh thần dân tộc nồng nhiệt… Cách mạng Campuchia là trung tâm của cách mạng Đông Nam Á” (Bộ Ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Campuchia, 1984, tr.25) Bên cạnh đó, lợi dụng việc nắm chức vụ cao nhất trong Đảng, tập đoàn Pol Pot - Iêng Sary đã tự soạn thảo 14 “văn kiện” trình bày tại hội nghị Trung ương do Khmer Đỏ

tổ chức vào tháng 10 năm 1966 và tháng 3 năm 1967 Những văn kiện này đánh dấu việc Khmer Đỏ thực hiện nguyên mẫu

Trang 4

đường lối phản động của Bắc Kinh, họ đề

cao tư tưởng Mao Trạch Đông, đánh giá

cao cuộc “cách mạng văn hóa” của Trung

Quốc, chọn lựa tư tưởng độc lập, tự chủ và

thực chất là họ đã chống lại thiện chí và

những ý kiến đóng góp đúng đắn từ phía

cách mạng Việt Nam đối với đường lối đấu

tranh giải phóng dân tộc của Khmer Đỏ

(UBKHXHVN, 1983, tr.122)

Quan hệ giữa CPCDC và Trung Quốc

ngày càng được củng cố Những chuyến

viếng thăm của các nhà lãnh đạo hai nước

liên tục được tiến hành, song hành là các

hiệp ước được ký kết nhằm viện trợ quân

sự và kinh tế cho Khmer Đỏ Ngày

26/5/1975, Pol Pot đã đến Bắc Kinh nhằm

tăng cường mối quan hệ chính trị giữa

CPCDC và Trung Quốc Trong năm 1976,

quan hệ giữa hai nước được đẩy mạnh hơn

với nhiều chuyến thăm cấp cao, đặc biệt là

chuyến thăm CPCDC của Tổng bí thư

Đảng cộng sản Trung Quốc Hoa Quốc

Phong Cũng trong năm 1976, Vương

Thịnh Vinh (Phó Tổng tham mưu trưởng

Quân giải phóng Trung Quốc) đến thăm

Campuchia, hai bên đã ký hiệp định hợp

tác, trong đó có việc Trung Quốc tăng

cường viện trợ quân sự cho Khmer Đỏ

Theo tác giả Vũ Văn Toàn,“Ngày

13/9/1975, Trung Quốc đã dành cho

Campuchia 1 tỷ USD viện trợ kinh tế và

quân sự không lấy lãi, kể cả một số khoản

tặng ngay lập tức 20 triệu USD Tháng

3 năm 1976, Trung Quốc ký Hiệp định

viện trợ không hoàn lại cho Campuchia

trị giá 140 triệu nhân dân tệ và 20 triệu

USD Toàn bộ khoản này được tuyên bố

công khai là viện trợ lớn nhất chưa từng có

của Trung Quốc cho bất kỳ một nước nào

Đồng thời, Trung Quốc cũng giảm một

cách đột ngột viện trợ cho Việt Nam, cùng

với đó, gây ra 814 vụ vi phạm ở 102 điểm

trên biên giới giữa hai nước” (Vũ Văn

Toàn, 2016, tr.22)

Theo Ben Kiernan, vào năm 1976,

Trung Quốc đã cung cấp “vũ khí và thiết bị

cần thiết cho việc huấn luyện tại chỗ cho các sĩ quan nòng cốt” tại một sân bay quân

sự mới và các bộ phận của máy bay phản lực và radar, cùng với bốn tàu hộ tống của hải quân và bốn tàu ngư lôi, các bộ phận của xe tăng quân đội và các trung đoàn tín hiệu và của ba trung đoàn pháo binh, và một trung đoàn pháo được trang bị đầy đủ

500 nhân viên quân sự Trung Quốc sẽ đến Campuchia vào năm 1976 để thực hiện khóa huấn luyện này” (Ben Kiernan, 2008, tr.133) Trung Quốc mạnh tay viện trợ cho Khmer Đỏ, vì giới cầm quyền Bắc Kinh tìm thấy được ở Khmer Đỏ những nét tương đồng với mình như thủ đoạn giả hiệu cách mạng để chống cách mạng, tính cực đoan, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, mang đậm màu sắc diệt chủng Cho nên, Trung Quốc

ra sức ủng hộ tập đoàn Pol Pot về nhiều mặt để biến họ thành “tên lính tiên phong” cho chính sách bành trướng xuống Đông Nam Á Còn phía Pol Pot coi đây là sự

“giúp đỡ” to lớn của Trung Quốc đối với Campuchia Với sự hậu thuẫn đó, cùng tinh thần dân tộc vị kỉ, Khmer Đỏ thẳng tay thực hiện chính sách ngoại giao thù địch với các nước láng giềng như Việt Nam, Thái Lan, Lào (Phạm Việt Trung và nhóm tác giả, 1982, tr.341-343; Phạm Đức Thành, 1995, tr.338)

Đối với Việt Nam, từ năm 1973, sự

nghiệp cách mạng của ba nước Đông Dương đã có những bước ngoặt mới: Ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris được ký kết đánh dấu một thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam; Ngày 21/2/1973, Hiệp định về lập lại hòa bình và thực hiện hòa hợp dân tộc được ký tại Viêng Chăn, lập lại hòa bình ở Lào; Cuối năm 1973, nhân dân Campuchia bước vào giai đoạn cuối

Trang 5

của cuộc kháng chiến chống Mỹ - bao vây,

tấn công vào Phmom Penh Chính lúc này

Khmer Đỏ đã dần lộ nguyên hình là kẻ

chống Việt Nam (Phạm Việt Trung và

nhóm tác giả, 1982, tr.349; Nguyễn Anh

Thái, 1998, tr.92-94)

Tháng 4 năm 1975, ngay sau khi nắm

quyền lãnh đạo, chính quyền CPCDC đã

chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lược

Việt Nam Sau chiến thắng ngày

17/4/1975, trên lĩnh vực ngoại giao, Trung

Quốc được đưa lên vị trí số một trong mối

quan hệ hữu nghị với CPCDC, còn Việt

Nam tụt xuống vị trí thứ bảy, kẻ thù số một

của Khmer Đỏ vẫn là Mỹ - CIA (Wilfred

Burchett, 1986, tr.180) Việc phát động

cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam được

Khmer Đỏ thực hiện từng bước Từ năm

1975 lực lượng Pol Pot thực hiện nhiều đợt

tấn công xâm lược ở tuyến biên giới Tây

Nam (Việt Nam) như Đồng Tháp, An

Giang, Kiên Giang, Tây Ninh, khu vực Tây

Nguyên và gây ra nhiều vụ thảm sát đối

với nhiều dân thường Việt Nam Ngày

03/5/1975, Khmer Đỏ đã cho quân đánh

chiếm đảo Phú Quốc của Việt Nam; ngày

10/5/1975 quân Pol Pot đánh chiếm đảo

Thổ Chu, bắt và giết hơn 500 người dân

Việt Nam Đến năm 1977, Khmer Đỏ đã

tăng cường các cuộc tiến công vào biên

giới Tây Nam Việt Nam từng là người bạn

số một trước đây, nay trở thành “kẻ thù số

một”, “kẻ thù truyền kiếp” của chính quyền

CPCDC (VLSQSVN, 2019, tr.103) Chính

CPCDC đã có những chỉ đạo và hành động

khích động tạo sự thù hằn cho hai dân tộc

Việt Nam và Campuchia Lãnh đạo Khmer

Đỏ, Khiêu Xamphon đã từng tuyên bố:

“Muốn cắt cái ung nhọt Việt Nam phải tiến

hành một lúc ba cuộc mổ xẻ: một là, cấm

người Việt Nam sinh sống trên đất

Campuchia (Xuất phát từ chính sách này

người ta đã thủ tiêu một số lớn người Việt

và trục xuất nhiều người khác về nước);

hai là, buộc dân Khmer phải “lao động

nghĩa vụ hết mức” để biến Campuchia thành một “pháo đài bất khả xâm phạm”;

ba là, loại trừ nguy cơ của “chủ nghĩa bành

trướng Xô – Việt” (Sihanouk, 1988, tr.137)

Tháng 3 năm 1976, Nuôn Chia, Phó Bí thư Đảng Cộng sản Campuchia, gửi thư cho Phó thủ tướng nước Việt Nam Phạm Hùng đề nghị có cuộc gặp cấp cao hai đảng

về vấn đề biên giới Ngày 06/4/1976, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam gửi điện cho Trung ương Đảng Cộng sản Campuchia tán thành đề nghị đó và thoả thuận cuộc gặp sẽ tiến hành vào tháng 6 năm 1976 Từ ngày 4 đến 18/5/1976, Thứ trưởng Bộ ngoại giao Việt Nam dẫn đầu đoàn sang Campuchia họp trù bị cho hội nghị cấp cao

Tại cuộc họp trù bị này, “phía Pol Pot

đã đồng ý lấy đường biên giới trên đất liền theo bản đồ Pháp tỷ lệ 1/100.000 thông dụng trước năm 1954 nhưng lại đòi Việt Nam phải chấp nhận bộ bản đồ do Campuchia đưa ra có chín chỗ bị cạo sửa

và đòi lấy đường Brévíe làm đường biên giới trên biển” (Nguyễn Đình Bin, 2006, tr.302) Chính vì vậy, cuộc đàm phán giữa hai bên thất bại và không tiến hành được cuộc gặp cấp cao hai đảng Hai bên chỉ thỏa thuận được ba biện pháp tạm thời do đoàn Việt Nam đề nghị: “Hai bên giáo dục cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nước mình ở biên giới tăng cường đoàn kết, hữu nghị và tránh va chạm Mọi va chạm phải được giải quyết trên tinh thần đoàn kết, hữu nghị, tôn trọng lẫn nhau Ban liên lạc hai bên tiến hành điều tra các vụ va chạm và gặp nhau

để giải quyết” (Nguyễn Quang Thuần,

2007, tr.16)

Việt Nam đã luôn bình tĩnh giải quyết các tranh chấp bằng chính sách ngoại giao

Trang 6

hòa bình, hữu nghị với chính quyền

CPCDC Các phái đoàn đại biểu cấp cao

của hai nước đã tiến hành gặp nhau, bàn

bạc, thoả thuận các nguyên tắc giải quyết

xung đột Ngược lại, CPCDC vẫn tăng

cường tiến hành các hành động tấn công,

xâm lấn lãnh thổ và giết hại dân thường

Việt Nam ở dọc biên giới hai bên (Trần

Hùng Minh Phương, 2019, tr.27-28)

Đến năm 1977, chính quyền CPCDC

tuyên bố cắt đứt mọi quan hệ với Việt

Nam, rút phái đoàn ngoại giao về nước

đồng thời cũng yêu cầu các nhân viên

ngoại giao Việt Nam phải rút khỏi

Campuchia Trong Chiến lược quốc phòng

của chính quyền CPCDC ký ngày

10/5/1978 đã có đoạn khẳng định: “… Một

người trong chúng ta phải giết 30 người

Việt Nam Nếu chúng ta có thể thực hiện

khẩu hiệu này, chúng ta chắc chắn sẽ

thắng Chúng ta sẽ đánh bại Việt Nam, bất

kể quy mô của nó Bất kỳ quốc gia nào

dám gây hấn với Campuchia sẽ bị đánh bại

nếu chúng ta tuân thủ khẩu hiệu này”

(Cambodia's Strategy of Defence against

Vietnam, http://d.dccam.org/) Với chiến

lược này, các nước láng giềng của CPCDC

như Thái Lan, Lào cũng cùng chung số

phận như Việt Nam

Đối với Thái Lan, chính quyền

CPCDC đã tổ chức các cuộc tấn công qua

biên giới Thái Lan Quân đội CPCDC đã

tấn công ngôi làng ở khu vực biên giới của

Thái Lan và gây ra các cuộc tàn sát đẫm

máu Ngày 28/01/1977, binh lính Khmer

Đỏ va chạm với quân Thái Lan tại Ban Noi

Parai, phía bắc đô thị biên giới

Araniapratet Trong cuộc đụng độ này, 30

người Thái và một số không rõ lính Khmer

Đỏ bị chết (Vũ Văn Toàn, 2016, tr.43)

Chính phủ Bangkok tìm cách tốt nhất để

công bố sự kiện đó, tố cáo Campuchia đã

xâm chiếm lãnh thổ Thái Lan Một số nhà

báo Thái Lan và quốc tế đã được chính quyền đưa đến để quan sát nhà cửa của người dân đã bị Khmer Đỏ đốt phá, bỏ trống và những xác chết bỏ lại nham nhở

và họ đã chấp nhận lời tường thuật của chính phủ Thái Lan là chính xác, không thể chối cãi

Sau đó, Thái Lan cũng đã công bố một cuốn Sách trắng về những sự kiện này, đồng thời gửi công hàm phản đối chính thức tới chính phủ CPCDC về vụ tàn sát tại đất Thái Trong tài liệu do phái đoàn Thường trực của Thái Lan tại Liên Hợp Quốc công bố ngày 03/02/1977 có đoạn

viết: “Riêng trong năm 1977, Khmer Đỏ đã

gây ra hơn 400 vụ xung đột trên biên giới Thái Lan và Campuchia, có nhiều vụ Khmer Đỏ huy động 600 đến 800 quân tham gia” (Vũ Văn Toàn, 2016, tr.43) Điển hình là vụ… “28/01/1977, vào khoảng 2 giờ sáng, chừng 300 lính Campuchia có vũ trang đã thâm nhập lãnh thổ Thái Lan và tấn công các làng Ban Noon Đô, Ban Klôông Kô và Ban Noi-pa-rai nằm bên trong lãnh thổ Thái Lan Khmer Đỏ sử dụng những loại vũ khí tàn sát, càn quét 3 làng này vào giữa đêm khuya Tại Ban Noon Đô, 21 người Thái bị giết, trong đó

có cả phụ nữ có thai và trẻ sơ sinh, tất cả nhà cửa đều bị đốt trụi Tại Ban Klôông

Kô, 9 người Thái bị giết, tất cả nhà cửa bị đốt trụi Tại khu vực này, toàn bộ 200 dân làng bị buộc phải bỏ nhà và rất nhiều người

bị thương Trước khi bị đánh đuổi trở lại bên kia biên giới, binh lính Khmer Đỏ còn

cố gắng đốt trụi hoa màu và giết sạch súc vật” (Wilfred Burchett, 1986, tr.187) Đây

là những hành vi rất tàn bạo đối với người dân vô tội Tuy nhiên, theo Wilfred Burchett thì: “… những điều xảy ra với các làng xóm biên giới của Thái Lan lại chỉ là rất nhỏ nếu đem so sánh với những tội ác đối với các làng quê biên giới của Việt

Trang 7

Nam” (Wilfred Burchett, 1986, tr.188)

Không những vậy, đến năm 1979, CPCDC

vẫn còn mưu toan xâm lược Thái Lan Ta

Meng đã từng phát biểu: “Chúng tôi sẽ phải

chiến đấu với Thái Lan vào năm 1979, và

chúng tôi chắc chắn sẽ chiến thắng Người

Thái không biết chiến đấu vì họ chưa bao

giờ chiến đấu trước đây Ví dụ, chúng tôi

đã đi vào làng của họ và giết họ và đốt nhà

của họ và họ không thể làm gì” (Ben

Kiernan, 2008, tr.368) Lời tuyên bố của Ta

Meng khẳng định Khmer Đỏ sẽ lấy lại các

tỉnh Surin và Sisaket từ Thái Lan

Đối với Lào, chính phủ CPCDC đã

đối xử hà khắc với tộc người Lào sống dọc

biên giới giữa hai nước Tình hình dọc biên

giới Lào-Campuchia xấu đi vào cuối năm

1976 CPCDC không được can thiệp vào

nội trị của Lào, nhưng thực tế quân đội

Khmer Đỏ đóng quân dọc biên giới thường

xuyên bắn bừa bãi vào thường dân Lào

Sau chuyến thăm tháng 12 năm 1978 tới

miền Nam Lào, Nayan Chanda đã viết

trong Tạp chí Kinh tế Viễn Đông

(12/12/1978): “Bây giờ rõ ràng là tình hình

ở biên giới [Lào-Campuchia] đã xấu đi kể

từ cuối năm 1976” Điều này hiện đã được

xác nhận bởi một cựu quan chức bộ ngoại

giao Lào có nhiều năm sống ở khu vực

biên giới, (muốn giấu tên) nói rằng quân

Khmer Đỏ đóng tại biên giới thường “bắn

một cách tàn nhẫn” vào công dân Lào và

“không ngần ngại bắn vào những người

Lào đang tắm hoặc bất cứ thứ gì sống gần

sông Mê Kông” (Ben Kiernan, 2008,

tr.368) Đáng chú ý, CPCDC còn đặt ra yêu

sách đối với các vùng đất phía Nam Lào:

“…CPCDC đã đòi lấy lại lãnh thổ trên đất

Lào - những nơi có dòng chữ bằng đá với

chữ viết “Khom” [tiếng Khmer cũ] Điều

này tất nhiên kéo dài đến tận phía bắc của

Viêng Chăn!” (Ben Kiernan, 2008, tr.368)

Với chính sách đối ngoại trên, chính

quyền CPCDC đã đánh lạc hướng dư luận của các tầng lớp nhân dân trong nước và quốc tế trước những hành động đầy tội ác của họ Chính sách đó đã phá hoại truyền thống đoàn kết tốt đẹp giữa các dân tộc ở khu vực Đông Nam Á và phản bội lại người bạn chiến đấu thân thiết của nhân dân họ là Việt Nam; đồng thời đi ngược lại tình cảm thiêng liêng và lợi ích dân tộc của chính nhân dân Campuchia

4 Kết luận

Trong giai đoạn 1975-1979, quan hệ ngoại giao thù địch với các nước láng giềng trong khu vực đã đẩy chính quyền CPCDC vào thế tự cô lập Tập đoàn Khmer

Đỏ chỉ còn lại mối quan hệ liên minh, đồng minh thân cận với Trung Quốc Bên cạnh

đó, Trung Quốc là quốc gia duy nhất được hưởng quyền ngoại giao ở Campuchia Trung Quốc đã xem CPCDC là đầu cầu quan trọng trong việc gây ảnh hưởng đến các nước Đông Dương và khu vực Đông Nam châu Á trong việc thực thi chủ nghĩa

bá quyền nước lớn

Dưới chiêu bài “độc lập, tự chủ”, chính quyền CPCDC phủ nhận tất cả các mối quan hệ quốc tế của cách mạng Campuchia,

tự tách ra khỏi phong trào cách mạng vô sản thế giới Chính sách đối ngoại phản động, thù địch, khiêu khích của Khmer Đỏ

đã gây chia rẽ giữa các dân tộc trong khu vực, phá vỡ khối đại đoàn kết nhân dân ba nước Đông Dương, đồng thời ảnh hưởng lớn đến quan hệ láng giềng hữu hảo giữa Campuchia với ba nước Lào, Thái Lan và nhất là đối với Việt Nam Nhà nước CPCDC đã thất bại về chủ trương xây dựng một đất nước Campuchia hoàn toàn mới, đoạn tuyệt hẳn với các di sản của quá khứ, cùng với chính sách cầm quyền đầy những tham vọng, hằn thù dân tộc cực đoan của tập đoàn Pol Pot - Ieng Sary làm cho giấc

mơ này vĩnh viễn trở thành ảo tưởng

Ngày đăng: 11/03/2021, 11:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w