Để làm tốt công tác này, cơ sở CTSGD trẻ RLPTK cần phải chú ý đến những vấn đề sau: 1) Giáo viên phải có kĩ năng giao tiếp và chuyên môn tốt khi tiếp xúc với GĐ trẻ cũng như cán bộ của c[r]
Trang 1JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE DOI: 10.18173/2354-1075.2016-0018 Educational Sci., 2016, Vol 61, No 1, pp 155-165
This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn
HỢP TÁC GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH TRONG CAN THIỆP SỚM
GIÁO DỤC TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ
Đỗ Thị Thảo
Khoa Giáo dục Đặc biệt, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tóm tắt Can thiệp sớm giáo dục trẻ rối loạn phổ tự kỉ sẽ khó thành công nếu như thiếu đi
sự tham gia tích cực của với gia đình trẻ Trong phạm vi của bài viết, chúng tôi đánh giá thực trạng nhận thức của 301 khách thể là cán bộ quản lí, giáo viên và cha mẹ trẻ về thực trạng hợp tác giữa nhà trường và gia đình về nội dung, cách thức và hiệu quả của sự hợp tác trong can thiệp sớm giáo dục trẻ rối loạn phổ tự kỉ hiện nay tại các cơ sở Từ đó, chỉ ra các biện pháp giúp cho sự hợp tác có hiệu quả hơn, giúp nhà trường thực hiện tốt hơn vai trò của mình trong quá trình hợp tác với gia đình trẻ như: Xây dựng mối quan hệ với gia đình trẻ; Phát hiện và khuyến khích những điểm mạnh của các thành viên trong gia đình; Tính chuyên nghiệp của đội ngũ chuyên môn trước gia đình trẻ; Tư vấn kiến thức và hướng dẫn
kĩ năng can thiệp trẻ cho gia đình; Tăng cường giao tiếp trao đổi thông tin giữa gia đình và nhà trường; Khuyến khích và thu hút gia đình trẻ tham gia các hoạt động cùng nhà trường.
Từ khóa: Can thiệp sớm giáo dục, hợp tác với gia đình, rối loạn phổ tự kỉ, nội dung, biện
pháp.
1 Mở đầu
Làm việc và hỗ trợ trẻ rối loạn phổ tự kỉ (RLPTK) trong quá trình can thiệp sớm giáo dục (CTSGD) đòi hỏi giáo viên (GV) và nhà trường không chỉ tiếp xúc, hợp tác và làm việc trực tiếp với trẻ và CM trẻ mà còn cộng tác với cả một hệ thống các thành viên khác trong gia đình (GĐ) của trẻ Sự ra đời của trẻ em là một sự kiện đặc biệt trong mỗi GĐ, trẻ ra đời có ảnh hưởng tới mọi thành viên trong GĐ Đồng thời các trẻ em đó, kể cả trẻ RLPTK cũng đều bị ảnh hưởng bởi
GĐ Chính vì lẽ đó, đề án phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2006 - 2015 xác định: “Việc chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non phải được thực hiện với sự hợp tác, gắn kết chặt chẽ giữa GĐ, nhà trường và xã hội” [2] Nhiệm vụ hợp tác với GĐ trong chăm sóc, giáo dục trẻ cũng đã được quy định tại Điều lệ Trường mầm non [1]
Gia đình là một nhân tố rất quan trọng trong môi trường gần nhất của trẻ, mọi thành viên trong GĐ đều tiếp xúc với trẻ hàng ngày, kích thích sự phát triển về mọi mặt ở trẻ, đặc biệt là ngôn ngữ và kĩ năng nhận biết về môi trường xung quanh GĐ là nơi hiểu về trẻ và nhu cầu riêng biệt của trẻ Các thành viên trong GĐ chính là người đầu tiên có thể tạo cơ hội giúp trẻ hình thành các mối quan hệ xã hội, là hình mẫu về cách ứng xử và cách tổ chức cuộc sống trong GĐ Điều này sẽ khuyến khích, nuôi dưỡng, phát triển tính cách tích cực ở trẻ Do vậy, CTSGD sẽ không thực sự thành công nếu như không có sự tham gia tích cực của GĐ trẻ
Ngày nhận bài: 12/9/2016 Ngày nhận đăng: 12/2/2016.
Liên hệ: Đỗ Thị Thảo, e-mail: thao2006trang@yahoo.com
Trang 2Đối với trẻ bình thường việc hợp tác giữa nhà trường và GĐ trong quá trình chăm sóc - giáo dục cho trẻ là vô cùng quan trọng Đối với trẻ RLPTK, sự tham gia của GĐ vào quá trình CTSGD càng cần thiết hơn và ngày càng được đề cao hơn GĐ có vài trò quan trọng trong việc cung cấp, chia sẻ thông tin về quá trình phát triển của trẻ, cùng thực hiện nội dung CTSGD, tham gia xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ như khâu phát hiện điểm mạnh và nhu cầu của trẻ, đặt mục tiêu, lên kế hoạch, thực hiện kế hoạch
Trên thế giới và Việt Nam, có một số nghiên cứu về sự hợp tác giữa nhà trường và GĐ trong giáo dục trẻ khuyết tật nói chung, trẻ RLPTK nói riêng, điển hình như: Karen Kearns [12], Gabovitch E M., Curtin C A [9], Dillenburger K., Keenan M., Doherty A [8], Đỗ Thị Thảo [3], Trần Thị Lệ Thu [4], Nguyễn Thị Hoàng Yến [5],[6] Đặc biệt, trong đó có bài viết của Wood L., Olivier T [14] về “Xây dựng video để nâng cao nhận thức về quan hệ hợp tác giữa GV và CM trẻ” Một số bài viết khác tập trung trình bày về sự hợp tác giữa Nhà trường và GĐ nhằm hỗ trợ hành
vi tích cực cho trẻ RLPTK của Blair W C., Lee I., Cho S [7]; Sự hợp tác giữa GĐ, nhà trường và cộng đồng chuẩn bị giáo dục và cải thiện khi trẻ đến trường học của Epstein J [10]; GĐ tham gia vào xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân của Jivanjee P, Kruzich J M., Friesen B J [11]; Mở rộng
hỗ trợ để cải thiện sự sống của các GĐ trẻ RLPTK của Mary Bower Russa, Amy L Matthews, and Jamie S Owen-DeSchryver [13]
Hợp tác giữa nhà trường và GĐ trong CTSGD trẻ RLPTK là một trong những nội dung quan trọng Tuy nhiên, vẫn còn vắng bóng các nghiên cứu về thực trạng và kết quả của sự hợp tác giữa nhà trường và GĐ trong CTSGD trẻ RLPTK tại Việt Nam, để từ đó chỉ ra các biện pháp giúp cho sự hợp tác có hiệu quả hơn, giúp GV thực hiện tốt hơn vai trò của mình trong quá trình hợp tác với CM trẻ Trong phạm vi của bài viết, chúng tôi đánh giá thực trạng nhận thức của 301 khách thể (trong đó: 23 CBQL, 128 GV và 150 CM trẻ) về sự hợp tác giữa nhà trường và GĐ, nội dung, cách thức và hiệu quả của sự hợp tác trong CTSGD trẻ RLPTK Từ đó, đề xuất một số biện pháp hợp tác có hiệu quả trong CTSGD trẻ RLPTK
2 Nội dung nghiên cứu
2.1 Một số vấn đề lí luận về sự hợp tác giữa nhà trường và GĐ trong CTSGD trẻ RKPTK
Khái niệm sự hợp tác giữa Nhà trường và GĐ trong CTSGD trẻ RLPTK
Hợp tác là cùng nhau thực hiện một kế hoạch và cùng đi đến một mục đích Hợp tác giữa nhà trường và GĐ trong CTSGD trẻ RLPTK là quá trình nhà trường và GĐ cùng chung sức, hỗ trợ lẫn nhau trong suốt thời gian trẻ CTSGD tại trường để chia sẻ thông tin, tạo nên môi trường, điều kiện CTSGD thích hợp nhất tại trường, tại GĐ và tại cộng đồng cho sự phát triển của trẻ
CTSGD trẻ RLPTK là một việc làm còn nhiều khó khăn ở Việt Nam Đặc biệt, RLPTK là một dạng khuyết tật, có sự thoái lui trong quá trình phát triển.Trẻ RLPTK gặp nhiều khó khăn về nhận thức, ngôn ngữ, giao tiếp, khả năng hiểu và kết nối thông tin, tương tác xã hội, tưởng tượng, hành vi Do vậy, để trẻ RLPTK có thể được tham gia CTSGD, giúp trẻ nhanh chóng hoà nhập cộng đồng thì trẻ và GĐ trẻ cần nhận được nhiều sự quan tâm, hỗ trợ, giúp đỡ các lực lượng trong
xã hội, đặc biệt là của nhà trường và GV Mỗi trẻ RLPTK có những khó khăn riêng, có nhu cầu và khả năng khác nhau nên cần phải có sự điều chỉnh về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục cho phù hợp và đồng thời GV cũng cần nhiều phương tiện hỗ trợ dạy học có hiệu kết quả Điều này cho thấy, cần phải có nhiều sự hỗ trợ về cơ sở vật chất, niềm đam mê, sự nhiệt tình, yêu nghề, yêu trẻ của GV GV cũng cần nhận thức rõ vai trò của GĐ đối với quá trình CTSGD trẻ RLPTK,
từ đó cộng tác cởi mở, tương trợ với GĐ để góp phần nâng cao chất lượng CTSGD trẻ RLPTK
Trang 3Nguyên tắc của sự hợp tác giữa nhà trường và GĐ trong CTSGD trẻ RLPTK
- Đảm bảo thống nhất giữa nhà trường và GĐ về mục tiêu, nội dung, yêu cầu, phương pháp
và cách thức hỗ trợ trẻ RLPTK
- Đảm bảo tính đồng bộ giữa nhà trường và GĐ trong việc thực hiện CTSGD trẻ RLPTK tại các cơ sở, tại nhà cũng như tại cộng đồng
- Đảm bảo tính hiệu quả của từng nội dung hợp tác: hợp tác để tìm hiểu thông tin và chia sẻ thông tin, hợp tác để lên kế hoạch và cùng nhau thực hiện kế hoạch
Nội dung hợp tác giữa nhà trường và GĐ trong CTSGD trẻ RLPTK
Để nhà trường và GĐ tham gia CTSGD trẻ RLPTK hợp tác với nhau có hiệu quả, cần thực hiện những nội dung hợp tác cụ thể sau đây:
Thứ nhất, hợp tác trong việc thực hiện mục tiêu CTSGD trẻ RLPTK: Muốn trẻ phát triển tốt và sớm hoà nhập cộng đồng, chúng ta cần phải đặt ra những mục tiêu gì cho trẻ, trẻ phải làm gì? và chúng ta giúp đỡ trẻ bằng cách nào? Những ai là người cần phải hỗ trợ trẻ? Hỗ trợ ở đâu vào thời gian nào? Công việc cụ thể ở đây là gì? Mục tiêu cho trẻ phải được thống nhất giữa GĐ, nhà trường Có sự thống nhất về mục tiêu CTSGD trẻ RLPTK, Nhà trường và GĐ sẽ duy trì được những kì vọng giống nhau Hơn nữa, sự hợp tác giữa nhà trường và GĐ là điều hết sức cần thiết
để đạt được các mục tiêu đã đề ra trong KHGDCN, nhất là đối với các mục tiêu về kĩ năng sống trong môi trường GĐ và cộng đồng
Thứ hai, hợp tác trong việc thực hiện nội dung CTSGD trẻ RLPTK: Khi có sự thống nhất
về mục tiêu giáo dục thì phải nghiên cứu nội dung CTSGD phù hợp với trẻ, nội dung này cũng cần thống nhất giữa nhà trường và GĐ mà cụ thể là GV và CM Do những khó khăn khác nhau ở mỗi trẻ RLPTK, CM trẻ và GV cần cùng nhau trao đổi, tìm hiểu nội dung nào cần dạy cho trẻ và
sử dụng phương pháp nào để đem lại kết quả Những gì trẻ học được phải gắn với những gì mà trẻ nhìn thấy, nghe thấy và trẻ đã có chút kinh nghiệm về nó, điều này sẽ giúp trẻ dễ nắm bắt và tiếp nhận thông tin Đồng thời, kĩ năng trẻ tiếp thu tại trường và tại nhà phải ứng dụng được vào môi trường sống và môi trường cộng đồng
Thứ ba, hợp tác trong việc đưa ra yêu cầu trong CTSGD trẻ RLPTK: Nhà trường và GĐ phải duy trì những kì vọng giống nhau trong quá trình CTSGD trẻ RLPTK Yêu cầu trong CTSGD được coi là đơn vị chất lượng khi đánh giá kết quả của quá trình giáo dục Yêu cầu có thể coi là một giới hạn cần phải đạt được mục đích của các mục tiêu CTSGD nào đó cho trẻ Do đó, nhà trường
và GĐ cần phải thường xuyên có sự trao đổi về yêu cầu CTSGD Chẳng hạn một số kĩ năng trẻ phải thực hiện trong 5 bước mà GĐ trẻ chỉ thực hiện trong 3 bước thì chưa có sự nhất quán trong thực hiện yêu cầu CTSGD trẻ RLPTK
Thứ tư, hợp tác trong việc áp dụng phương pháp CTSGD trẻ RLPTK: Phương pháp CTSGD trẻ RLPTK cũng cần phải được thống nhất giữa các nhà trường và GĐ trong CTSGD Thống nhất phương pháp can thiệp không phải là giữa GV, CM và các thành viên tham gia hỗ trợ sử dụng rập khuôn các phương pháp hoàn toàn giống nhau Cách thức dạy một kĩ năng, một nét chữ phải theo các bước qui định Phương pháp CTSGD có thể tuỳ trẻ, tuỳ ngữ cảnh mà từng thành viên tham gia dạy trẻ đưa ra cho phù hợp: có thể cho trẻ bắt chước và tự làm; cùng làm với trẻ; hướng dẫn bằng lời và đồ dùng trực quan tỉ mỉ cho trẻ Hay một số trẻ thích hợp với các phương pháp chuyên biệt như: Dạy học thông qua thử nghiệm riêng biệt (Discrete trial training – DTT) theo Phân tích hành vi ứng dụng (Applied Behavior Analysis – ABA); Dạy học có cấu trúc (Teaching Structured) theo Trị liệu và giáo dục cho trẻ tự kỉ và trẻ có khó khăn về giao tiếp (Treatment and education of autistic and related communication handicapped children - TEACCH), Thời gian tại sàn theo Dựa trên sự phát triển, sự khác biệt cá nhân và các mối quan hệ (Developmental, Individual – difference, Relationship – Based – DIR), Trị liệu hoạt động (Occupational Therapy - OT), Hệ thống giao tiếp
Trang 4bằng trao đổi tranh (Picture Exchange Communication System - PECS) Tuy nhiên, tùy mỗi trẻ
mà GV và GĐ có thể lựa chọn một phương pháp chuyên biệt hay phối kết hợp các phương pháp cho phù hợp với đặc điểm phát triển ở từng thời kì của trẻ Phương pháp CTSGD phải dựa trên
cơ sở am hiểu đặc điểm tâm sinh lí của trẻ RLPTK Những thành viên tham gia CTSGD trẻ cần phải hợp tác với các chuyên gia tâm lí và giáo dục đặc biệt để nhận ra cá tính đặc biệt ở trẻ, sở thích, nguyện vọng của trẻ, không nên quá áp đặt trẻ, nóng vội và đốt cháy giai đoạn, không làm trẻ hoảng sợ và luôn cảm thấy tự ti, không làm hộ trẻ mà hãy bắt đầu từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phúc tạp, luôn khuyến khích và tạo động cơ cho trẻ, cần kiên trì hướng dẫn tỉ mỉ, từng bước nhỏ đến lớn, từ thao tác đơn giản đến phức tạp
Thứ năm, hợp tác trong chi phí, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho trẻ RLPTK ở cơ sở can thiệpcũng như ở GĐ và cộng đồng
CTSGD trẻ RLPTK vô cùng khó khăn và tốn kém Một số trẻ RLPTK thường khó thích ứng với sự thay đổi của môi trường, cơ thể hay ốm yếu; một số trẻ khác có nhiều hành vi cần sự giám sát thường xuyên của người lớn; một số trẻ đi kèm với các khuyết tật khác như khiếm thính, khiếm thị Đa số trẻ cần sự tiếp cận 1 giáo viên/ 1 trẻ nên cần nhiều nhân lực và kinh phí chi trả cho nhân lực CTSGD Làm thế nào để trẻ đủ điều kiện đến trường cũng như sinh hoạt tại nhà là điều mà nhà trường và GĐ luôn trăn trở và suy nghĩ Chính vì vậy, để trẻ RLPTK có điều kiện học tập tốt, cần có sự hỗ trợ về vật chất và kinh phí của các nhà hảo tâm, lúc này các lực lượng tham gia CTSGD trẻ RLPTK tại cộng đồng có thể là những đại diện để đi vận động, quyên góp hỗ trợ cho trẻ và GĐ Đồng thời, GĐ cũng cần có trách nhiệm trong việc đóng góp học phí, các cơ sở CTSGD cần có chính sách miễn hoặc giảm học phí cho trẻ
Điều kiện để sự hợp tác có kết quả
Để làm tốt công tác này, cơ sở CTSGD trẻ RLPTK cần phải chú ý đến những vấn đề sau: 1) Giáo viên phải có kĩ năng giao tiếp và chuyên môn tốt khi tiếp xúc với GĐ trẻ cũng như cán bộ của các tổ chức Đoàn thể, nhóm hỗ trợ cộng đồng, với các chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục trẻ
tự kỉ, các chuyên gia y tế và đồng nghiệp; 2) Tổ chức tốt các buổi trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp, chia sẻ về hoạt động CTSGD trẻ RLPTK trẻ tại trường và tại GĐ; 3) Sự nhất trí chung là một điều rất quan trọng mà cả nhà trường và GĐ phải thực hiện được Nếu mục tiêu, nội dung, phương pháp can thiệp trẻ không có sự thống nhất thì họ sẽ làm việc một cách miễn cưỡng và có thể không quan tâm xem liệu trẻ có thể đạt được các mục tiêu đó hay không
2.2 Thực trạng hợp tác giữa nhà trường và GĐ trong CTSGD trẻ RLPTK
Nhận thức về mức độ cần thiết của sự hợp tác giữa nhà trường và GĐ
Khảo sát CBQL, GV và CM trẻ về mức độ cần thiết của sự hợp tác giữa nhà trường và GĐ trong CTSGD trẻ RLPTK Kết quả thu được ở biểu đồ sau đây
Biểu đồ 1.Đánh giá về mức độ cần thiết của sự
Phần lớn các khách thể đều đánh giá cao vai trò của việc hợp tác giữa nhà trường và GĐ trong CTSGD trẻ RLPTK, có 89,7% Có 1% khẳng định mức độ cần thiết phải có sự hợp tác giữa các lực lượng Có 9% đánh giá ở mức độ bình thường và có 1,3% cho rằng không cần thiết, đây là nhận định của các CM trẻ có ít sự kì vọng về tiến
bộ của trẻ RLPTK trong CTSGD
Nhìn chung, GV, CBQL và phần đông CM trẻ đã có những nhận thức đúng
Trang 5đắn về tầm quan trọng cũng như mức độ cần thiết của sự hợp tác giữa nhà trường và GĐ trong CTSGD trẻ RLPTK Rõ ràng, CM trẻ và các thành viên trong GĐ là những người gần gũi, hiểu trẻ
và thương yêu trẻ nhiều nhất Do đó, nếu GV và CM trẻ thường xuyên trao đổi thông tin cho nhau, đồng thời hợp tác tốt với nhau trong quá trình CTSGD cho trẻ, chắc chắn hiệu quả CTSGD sẽ đạt kết quả tốt hơn
Nội dung hợp tác giữa nhà trường và GĐ
Bảng 1 Đánh giá của CBQL, GV và CM trẻ về mức độ thực hiện các nội dung hợp tác giữa nhà trường và GĐ 1 ≤ M ≤ 3
TT Các nội dung
M SD Thứ
bậc M SD
Thứ bậc M SD
Thứ bậc M SD
Thứ bậc
3 Lựaphương phápchọn 2,51 0,67 2 2,21 0,78 3 1,87 0,34 3 2,33 0,73 2
4 Tìm kiếm kiếnthức mới 2,40 0,71 3 2,03 0,82 5 1,70 0,47 4 2,19 0,78 4
5 Tìm kiếm kinhphí 2,11 0,77 5 2,21 0,80 3 1,57 0,51 5 2,11 0,78 5
Bảng 1 cho thấy: Tất cả các nội dung hợp tác giữa nhà trường và GĐ đều được thực hiện khá thường xuyên (M > 2) Những nội dung có tần suất hợp tác cao là những nội dung liên quan
đến các yếu tố tác động trực tiếp tới kết quả học tập của trẻ (Lựa chọn nội dung với M = 2,40, SD
= 0,71; Lựa chọn phương pháp với M = 2,33 SD = 0,73; Đặt mục tiêu với M = 2,20, SD = 0,79).
Thực tế cho thấy, nhà trường và GĐ là hai môi trường gần gũi nhất với trẻ, để giúp trẻ ghi nhớ, củng cố và vận dụng kiến thức thì ngoài thời gian học trên lớp, trẻ cần được luyện tập tại GĐ
Mẹ bé H.N.A cho biết: “Trước khi xây dựng KHGDCN cho con chúng tôi được gặp gỡ và trao đổi với GV về mong muốn của GĐ, cùng GV thiết lập mục tiêu sau đó được nhận bản KHGDCN mang về nhà Việc làm này giúp chúng tôi nắm bắt được nội dung, phương pháp và mục tiêu mà trẻ cần được dạy trong thời gian tới nên rất yên tâm.”
Biểu đồ 2 So sánh mức độ thực hiện các nội dung hợp tác giữa nhà trường và GĐ
Trang 6Nhìn chung, nội dung có mức độ sử dụng cao là nội dung liên quan đến các yếu tố tác động trực tiếp tới kết quả học tập của trẻ Nhà trường và GĐ là 2 môi trường gần gũi nhất với trẻ, kiến thức học được ở trẻ cần thường xuyên củng cố cả hai môi trường nhà trường và GĐ
Hình thức hợp tác giữa nhà trường và GĐ trong CTSGD trẻ RLPTK
Bảng 2 cho thấy: 6 hình thức hợp tác được thực hiện thường xuyên là: “Dùng sổ liên lạc” (M= 2,94, SD = 0,23); “Gửi thư - thông báo” (M= 2,72, SD = 0,45); Gọi điện thoại (M = 2,60, SD
= 0,57);“Họp CM trẻ” (M = 2,57, SD = 0,60)
Các cơ sở GD đã có những hình thức tổ chức nhằm gắn kết giữa GV với CM trẻ, tăng cường
sự hợp tác giữa nhà trường và GĐ Mặc dù, đây mới chỉ là những hình thức mang tính vi mô, không mất nhiều thời gian thực hiện, không tốn kém về kinh phí, không cần sự đầu tư lớn ở khâu chuẩn
bị nhưng lại được duy trì thường xuyên, liên tục và cũng mang lại những lợi ích nhất định trong quá trình CTSGD trẻ RLPTK
Cô T.T.H cho biết “Tất cả các trẻ tại trường đều có sổ liên lạc để GV trao đổi với CM trẻ hàng ngày Việc tổ chức hội thảo, tìm kiếm và biên soạn tài liệu cần có kinh phí để mời các chuyên gia hợp tác, bên cạnh đó cần có sự đầu tư về thời gian để đảm bảo kiến thức mang lại chính xác và thực sự bổ ích Hiện tại thì cơ sở của chúng tôi chưa có điều kiện để thực hiện thường xuyên”
Bảng 2 Cách thức hợp tác giữa nhà trường và GĐ trong CTSGD trẻ RLPTK 1 ≦ M ≤ 3
TT Các cách thức
M SD Thứ
bậc M SD
Thứ bậc M SD
Thứ bậc M SD
Thứ bậc
1 Tổ chức hội thảo 1 0,25 10,5 1,02 0,13 11 1,00 0,00 11 1,04 0,20 11
2 Tìm kiếm, biênsoạn tài liệu 1,07 0,25 10,5 1,09 0,28 10 1,13 0,34 10 1,08 0,27 10
3 Mở các khóa tậphuấn 2,29 0,51 5 2,34 0,54 6 2,00 0,00 4 2,29 0,51 6
5 Dùng sổ liên lạc 2,93 0,25 1 2,95 0,23 1 3.00 0,00 1 2,94 0,23 1
9 Trao đổi thôngqua giờ trả trẻ 2,09 0,84 8 2,73 0,53 2 2,83 0,39 2 2,42 0,76 5
11
Tổ chức các hoạt động ngoại
Tổng chung 2,18 0,56 2,20 0,53 1,81 0,29 2,16 0,56
Trang 7Tóm lại, các cơ sở GD chuyên biệt đã có những hình thức tổ chức nhằm gắn kết giữa GV với CM trẻ, tăng cường sự hợp tác Nhà trường và GĐ Mặc dù, đây mới chỉ là những hình thức mang tính vi mô, chủ yếu là những hình thức không mất nhiều thời gian thực hiện, không tốn kém
về kinh phí, không cần sự đầu tư lớn ở khâu chuẩn bị nhưng lại được duy trì thường xuyên, liên tục
và cũng mang lại những lợi ích nhất định trong quá trình CTSGD trẻ RLPTK
Hiệu quả của các của sự hợp tác giữa nhà trường và GĐ
Bảng 3 Đánh giá của CBQL, GV và CM trẻ về hiệu quả của sự hợp tác
Kết quả khảo sát cho thấy: Hiệu quả của sự hợp tác chủ yếu mới dừng lại ở mức độ trung bình (52,5% tổng số khách thể đánh giá mức trung bình; có 35,2% đánh giá tốt và 12,3% đánh giá
ở mức độ yếu - tập trung vào CM trẻ) Mẹ bé N.H.K chia sẻ “Ở nhà con không làm theo yêu cầu
mà mẹ đưa ra nên thời gian con ở nhà chúng tôi để con được chơi, còn việc học đã nhờ các cô ở lớp” Nhận thức này ảnh hưởng không nhỏ đến sự tiến bộ của trẻ Cần tìm ra các biện pháp phù hợp để tăng cường sự hợp tác tốt hơn nữa giữa Nhà trường và GĐ trong CTSGD trẻ RLPTK Tóm lại: Phần lớn GV và CM trẻ đều đã nhận thức được tầm quan trọng của việc hợp tác giữa nhà trường và GĐ trong CTSGD trẻ RLPTK nhưng mức độ thực hiện và hiệu quả lại chưa tương đồng Nhiều CM chưa có kĩ năng làm việc với trẻ Các cơ sở GD đã có những hình thức tổ chức nhằm tăng cường sự hợp tác Nhà trường và GĐ, mặc dù đây mới chỉ là những hình thức mang tính vi mô
2.3 Biện pháp hợp tác giữa nhà trường và gia đình trong CTSGD trẻ RLPTK
Xây dựng mối quan hệ với gia đình trẻ
CTSGD chỉ có thể thực hiện tốt khi có sự hợp tác chặt chẽ giữa các thành viên trong GĐ
và giữa GĐ với nhà trường và các nhà chuyên môn khác Để sự hợp tác được diễn ra thuận lợi, cần thiết phải xây dựng mối quan hệ tích cực với GĐ trẻ Chúng ta nên tôn trọng cách sống và khả năng của GĐ trẻ Cố gắng xây dựng tốt mối quan hệ tích cực với mọi thành viên khác trong
GĐ, đặc biệt những thành viên có trách nhiệm CS&GD trẻ Nhà chuyên môn và các cơ sở CTSGD nên để các thành viên trong GĐ trẻ tham gia vào quá trình CTSGD, ngay cả giai đoạn chẩn đoán, đánh giá, lên kế hoạch giáo dục cá nhân và thực hiện các hoạt động cụ thể Hơn ai hết, họ là những người gần gũi hàng ngày với trẻ, đặc biệt là CM trẻ Họ luôn hiểu trẻ nên có thể cung cấp nhiều thông tin cần thiết về trẻ và GĐ Chỉ khi có sự tham gia của GĐ, chúng ta mới có được chương trình can thiệp phù hợp với khả năng, nhu cầu của trẻ và GĐ, điều này sẽ góp phần tăng thêm cơ hội thành công của CTSGD
Phát hiện và khuyến khích những điểm mạnh của các thành viên trong gia đình
Trong vài năm trở lại đây, kiến thức cơ bản về trẻ RLPTK được GĐ trẻ tìm hiểu trên các trang web và phương tiện thông tin đại chúng, giúp cho họ sớm chấp nhận đứa con khuyết tật của mình, họ can đảm hơn để bắt đầu một hành trình dài và gian khó trong cuộc đời cùng với đứa con RLPTK của mình