Với những thay đổi của xã hội và sự phát triển của các ngành khoa học, công nghệ, theo chúng tôi một mô hình blended learning phải là một mô hình cho phép kết hợp một cách hiệu quả nhiều[r]
Trang 1JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE DOI: 10.18173/2354-1075.2016-0060 Educational Sci., 2016, Vol 61, No 6, pp 147-157
This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn
BLENDED LEARNING TRONG GIẢNG DẠY NGOẠI NGỮ VÀ ỨNG DỤNG TRONG XÂY DỰNG HỆ CƠ SỞ DỮ LIỆU PHỤC VỤ DẠY VÀ HỌC VĂN HÓA PHÁP CHO SINH VIÊN CHUYÊN TIẾNG PHÁP
Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Thị Anh Đào
Khoa Tiếng Pháp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tóm tắt Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự chủ của người học
ở bậc đại học đang là vấn đề đặt ra bức thiết hiện nay Đào tạo theo hệ thống tín chỉ đòi hỏi người học phải dành nhiều thời gian tự học Tuy nhiên, việc hướng dẫn tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu các sách tham khảo hay các nguồn tư liệu trên internet, mà chưa có được sự hỗ trợ, trao đổi, hướng dẫn từ phía người dạy Do vậy, toàn bộ quá trình tự học của sinh viên hầu như còn mang tính tự phát, thiếu tính tương tác, theo dõi, hỗ trợ.
Từ thực tế nêu trên, chúng tôi nhận thấy cần thiết phải nghiên cứu một giải pháp đồng bộ và hiệu quả nhằm phát huy tính tự chủ trong học tập, giúp sinh viên có thể tự học, tự nghiên cứu Chúng tôi đề xuất xây dựng một công cụ dạy và học dựa trên sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và theo hướng dạy học tích hợp Để xây dựng một công cụ đáp ứng yêu cầu trên, trước hết chúng tôi sẽ làm rõ, về mặt lí luận, phương pháp sư phạm và phát triển mô hình blended learning trong giảng dạy ngoại ngữ Sau đó sẽ minh họa cụ thể bằng việc xây dựng
và tích hợp nội dung môn văn hóa Pháp cho sinh viên chuyên tiếng Pháp Những luận điểm
và mô hình blended learning mà chúng tôi đề xuất trong khuôn khổ bài báo này không chỉ
áp dụng riêng cho môn học này.
Từ khóa: Tự học, dạy học ngoại ngữ tích hợp, văn hóa-văn minh, moodle, cơ sở dữ liệu,
e-learning.
1 Mở đầu
Đào tạo đại học những năm gần đây đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ về phương pháp dạy học, nhằm phát huy tính tích cực, tự chủ của người học, nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu, góp phần biến quá trinh đào tạo thành tự đào tạo ở đại học và dần hình thành thói quen học tập suốt đời
Tại các khoa trong trường ĐHSP Hà Nội, mô hình đào tạo theo học chế tín chỉ đòi hỏi sinh viên phải có rất nhiều giờ tự học Tuy nhiên, phần lớn sinh viên vẫn chỉ học giờ trên lớp, những giờ tự học rất ít Có thể thấy, vẫn chưa có được giải pháp hiệu quả và đồng bộ cho vấn đề này Quá trình hướng dẫn tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu các đầu sách tham khảo hay các nguồn tư liệu trên các website, mà chưa có được sự hỗ trợ, trao đổi, hướng dẫn Ngày nhận bài: 10/2/2016 Ngày nhận đăng: 10/6/2016.
Liên hệ: Nguyễn Văn Toàn, e-mail: toannv@hnue.edu.vn
Trang 2từ phía người dạy và giữa người học với nhau Do vậy, toàn bộ quá trình tự học của sinh viên hầu như còn bỏ ngỏ, thiếu tính tương tác, theo dõi, hỗ trợ
Với sinh viên khoa tiếng Pháp nói riêng, phần lớn sinh viên đầu vào là học tiếng Anh Và với chuẩn đầu ra là trình độ C1 theo khung tham chiếu 6 bậc [1], nếu không có tự học, sinh viên không thể đáp ứng chuẩn đầu ra này Sau 2 năm học thực hành ngôn ngữ, sinh viên phải chuyển sang học các môn chuyên ngành được giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Pháp Và với thời lượng hữu hạn trên giảng đường, sinh viên phải tìm tòi, tự đọc và nghiên cứu tìm hiểu rất nhiều mới có thể theo được môn học
Từ thực tế nêu trên, chúng tôi nhận thấy cần thiết phải nghiên cứu tìm kiếm một giải pháp đồng bộ và hiệu quả nhằm phát huy tính tự chủ trong học tập, giúp sinh viên có thể tự học, tự nghiên cứu một cách hiệu quả Giải pháp ấy chính là xây dựng được một công cụ giảng dạy và học tập dựa trên sự hỗ trợ của công nghệ và tích hợp được đầy đủ các yếu tố: vừa là giáo trình, vừa là tài liệu tự học, vừa dùng để học tập chính khóa vừa là để tự học ngoài giờ, có tính tương tác cao,
có sự theo dõi quá trình tự học và đặc biệt các tài liệu phải được chọn lọc kĩ, đủ độ tin cậy và kèm theo các hoạt động hướng dẫn chi tiết
Để xây dựng một công cụ đáp ứng yêu cầu trên, trước hết chúng tôi sẽ làm rõ, về mặt lí luận, phương pháp sư phạm và phát triển mô hình blended learning (phương pháp dạy học kết hợp) trong giảng dạy ngoại ngữ Sau đó sẽ minh họa cụ thể bằng việc xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) cho việc giảng dạy và tự học môn văn hóa Pháp cho sinh viên chuyên tiếng Pháp Những luận điểm và mô hình blended learning mà chúng tôi đề xuất trong khuôn khổ bài báo này không chỉ
áp dụng riêng cho môn học này
2 Nội dung nghiên cứu
2.1 Blended learning và bối cảnh dạy học ngày nay
Trong lĩnh vực giảng dạy ngoại ngữ, Blended learning không phải là một thuật ngữ mới, nhưng được nhắc đến nhiều từ khi bùng nổ các ứng dụng CNTT trong dạy và học Có nhiều công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo về đề tài này [2] Tuy nhiên, khái niệm và nội hàm của thuật ngữ thay đổi liên tục trong 20 năm qua
Theo International Association for K-12 Online Learning (iNACOL), “phương pháp tiếp cận tích hợp này kết hợp những yếu tố tốt nhất của học online và học trên lớp Blended learning đang nổi lên như một phương pháp chiếm ưu thế trong tương lai – và trở nên phổ biến hơn từng phương pháp riêng lẻ.”
Tuy nhiên, khi xem xét cụ thể và tổng hợp các công trình nghiên cứu về Blended learning, chúng tôi thấy các nhà nghiên cứu và các nhà sư phạm chưa đạt được đồng thuận về một định nghĩa tổng quát, chính xác và được chấp nhận rộng rãi Các tác giả thường đưa ra định nghĩa riêng
và mô tả các đặc điểm của blended learning gắn với một tình huống sư phạm cụ thể
Trong một nghiên cứu tổng quan, Oliver & Trigwell [3] đã chỉ ra 3 cách hiểu khác nhau của thuật ngữ Blended learning Cụ thể là :
1 Phương pháp sư phạm kết hợp giữa mô hình dạy học truyền thống (được tổ chức theo trường, lớp và dạy học giáp mặt) với các hoạt động học tập dựa trên nền tảng công nghệ web và internet;
2 Phương pháp sư phạm kết hợp các phương tiện truyền thông và các công cụ công nghệ được ứng dụng trong một môi trường e-learning;
Trang 33 Cách thức dạy học có sự kết hợp của nhiều phương pháp sư phạm tùy thuộc theo nội dung, đối tượng và tình huống dạy học và không quan trọng là công nghệ được sử dụng là gì Bên cạnh đó, McShane [4] bổ sung thêm yếu tố về mặt thời gian khi các công nghệ dạy học ngày nay cho phép giáo viên và sinh viên giao tiếp ở thời gian thực hoặc ở những thời gian khác nhau, vượt ra khỏi khuôn khổ của lớp học
Với những thay đổi của xã hội và sự phát triển của các ngành khoa học, công nghệ, theo chúng tôi một mô hình blended learning phải là một mô hình cho phép kết hợp một cách hiệu quả nhiều phương thức đào tạo (modalities), nhiều phương pháp sư phạm (pedagogies), khai thác và
sử dụng nhiều phương tiện kĩ thuật và công nghệ thông tin (tools) phù hợp với từng nội dung và tình huống sư phạm để cho phép người học có thể học tập dưới nhiều dạng thức (học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên và tự học, cùng nhau tương tác và học tập online), ở mọi lúc, mọi nơi (any where, any time) và phát triển năng lực phù hợp với đặc điểm cá nhân của mỗi học sinh [5] Bởi bối cảnh tổ chức dạy và học ngày nay đã có những thay đổi sâu sắc, cụ thể như sau:
Một là, người học tiếp nhận và phát triển tri thức, kĩ năng trong nhiều bối cảnh (học ở trường, học ở ngoài xã hội, học ở nhà), bằng nhiều cách khác nhau (theo một khóa học, tự học, học tập ở trên mạng ) nhờ có sự hỗ trợ của nhiều người và các công cụ kĩ thuật khác nhau Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và sự thay đổi nhanh chóng của các hoạt động kinh tế xã hội, việc học tập không chỉ và không thể dừng lại ở các khóa học chính khóa, mà nó vượt ra khỏi khuôn khổ của quá trình tổ chức dạy học truyền thống Để đáp ứng các yêu cầu của xã hội và sự phát triển của bản thân, mỗi cá nhân phải nỗ lực học tập không ngừng, học tập suốt đời Phương pháp sư phạm và cách thức tổ chức dạy học truyền thống không đáp ứng được điều này Hệ thống giáo dục quốc dân, đặc biệt ở là bậc đại học cần phải có một cách tiếp cận đầy đủ hơn, toàn diện hơn trong cách thức tổ chức quá trình giáo dục và đào tạo của mình Mô hình blended learning, như cách hiểu của chúng tôi, sẽ cho phép và hỗ trợ mạnh mẽ quá trình tự học, tự nghiên cứu, dần dần hình thành ở người học khả năng và thói quen học tập suốt đời
Hai là, trong quá trình thực hành nghề nghiệp, giáo viên không bao giờ chỉ sử dụng một phương pháp duy nhất để truyền đạt những nội dung của môn học, họ thường lựa chọn, kết hợp rất linh hoạt các phương pháp sư phạm, tùy theo đối tượng, bối cảnh dạy học và các điều kiện kĩ thuật khác để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho quá trình hình thành và phát triển tri thức, năng lực của học sinh Mô hình blended learning cho phép và khuyến khích kết hợp đa dạng các phương pháp
sư phạm, các cách tiếp cận để đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình dạy học
Ba là, các nguồn thông tin có thể sử dụng cho học tập và phát triển năng lực thì rất dồi dào,
đa dạng và dễ dàng tiếp cận Trong một môi trường học tập truyền thống (dạy học giáp mặt và học tập với sách, giáo trình), cả người dạy và người học chưa ý thức và tận dụng được những cơ hội
mà xã hội thông tin đem lại Blended learning tạo ra những cơ hội học tập để người học không chỉ tiếp cận và học tập với sách vở, giáo trình chính thức, mà còn thúc đẩy việc khai thác các nguồn thông tin và tài liệu thực phục vụ phát triển tri thức và năng lực
Bốn là, với sự phát triển của các phương tiện kĩ thuật, mà chủ yếu là các phương tiện trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông, quá trình dạy học đang ngày càng chịu sự chi phối và
hỗ trợ của các công cụ tin học (máy tính, điện thoại thông minh, máy tính bảng, ti vi, internet ) Mối quan hệ sư phạm giữa thầy và trò ngày càng thông qua các phương tiện truyền thông Quá trình giao tiếp này càng ngày càng hiệu quả hơn thông qua nhiều kênh, nhiều phương thức và dưới nhiều dạng (điện thoại, email, trò truyện trực tuyến, forum) và cho phép cả giáo viên và học sinh tương tác với các đối tác bên ngoài môi trường trường lớp (gia đình và xã hội)
Với cách hiểu tổng quát trên, để xây dựng mô hình blended learning ứng dụng trong giảng
Trang 4dạy ngoại ngữ, chúng tôi sẽ phân tích một số nguyên tắc và chỉ ra một số tham số trọng yếu chi phối quá trình thiết kế mô hình học tập này
2.2 Một số nguyên tắc và tham số xây dựng mô hình dạy học kết hợp trong giảng dạy ngoại ngữ
Những nguyên tắc và tham số mà chúng tôi phân tích sau đây là những nguyên tắc và tham
số chính cần phải tính đến trong quá trình xây dựng mô hình blended learning trong dạy học ngoại ngữ Đây là kết quả được rút ra từ quá trình nghiên cứu và triển khai xây dựng mô hình blended learning tại khoa Tiếng Pháp - Đại học Sư phạm Hà Nội
2.2.1 Mô hình tích hợp
Trong bối cảnh của quá trình đào tạo chính quy, có 5 mô hình triển khai blended learning, dịch chuyển giữa hai cực: dạy học giáp mặt và đào tạo từ xa
Hình 1: Mô hình kết hợp Blended learning
Ở mô hình (1), blended learning là MỘT cấu phần nhỏ triển khai trong quá trình dạy học giám mặt, chính quy và chỉ diễn ra trong khuôn khổ của lớp học được biểu đạt bằng đường viền khung chữ nhật Giáo viên có thể sử dụng một phương pháp sư phạm khác, hay một công cụ công nghệ thông tin để truyền tải nội dung giảng dạy (ứng dụng bài giảng powerpoint, tổ chức hoạt động nhóm thay vì thuyết trình, giảng giải)
Ở mô hình (2), blended learning tập trung vào những hoạt động học tập diễn ra TRƯỚC và SAU giờ học, ngoài khuôn khổ của lớp học Ví dụ giáo viên có thể yêu cần sinh viên tự tìm hiểu nội dung học trước giờ lên lớp và viết một bài luận sau giờ học Ở giai đoạn trước và sau giờ học, nội dung, phương pháp và thời gian thực hiện các hoạt động học tập là hoàn toàn do người học quyết định, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, được thể hiện bằng sự kết nối của các hoạt động này với giờ dạy học giáp mặt của giáo viên
Ở mô hình (3), blended learning gồm NHIỀU cấu phần và được tích hợp trực tiếp vào quá trình giảng dạy giáp mặt Ở góc độ của giáo viên, đó có thể là các phương pháp sư phạm khác nhau được dùng để truyền đạt những nội dung cụ thể Ở góc độ của người học, đó có thể là nhiều hoạt động học tập khác nhau (nghe giảng, làm việc cá nhân, làm việc nhóm, trình bày trước lớp ) Về mặt nội dung học, đó có thể là sự kết hợp giữa những nội dung đã được giáo viên biên soạn (theo đúng nội dung, trình độ) và những tài liệu lấy từ thực tế Quá trình học tập từ xa (không trực tiếp đến lớp) diễn ra ở nhiều giai đoạn, cho nhiều nội dung khác nhau
Ở mô hình (4), blended learning được triển khai mạnh mẽ và kết hợp một cấu phần ĐÀO
Trang 5TẠO TỪ XA, TỰ HỌC Hoạt động học tập được triển khai TRƯỚC, TRONG, SAU giờ học, có
sự hướng dẫn của giáo viên Tuy nhiên, hình thức dạy học giáp mặt vẫn là chủ yếu, chiếm nhiều thời lượng nhưng có cách thức tổ chức linh hoạt hơn, đan xen giữa những giai đoạn giảng dạy tập trung, học tập bên ngoài lớp học, học tập trực tuyến
Ở mô hình (5), cách tiếp cận blended learning được triển khai mạnh mẽ nhất Phần lớn quá trình đào tạo được tổ chức và triển khai dưới dạng tự học, từ xa, trực tuyến, chỉ một số ít thời lượng dành cho các hoạt động dạy học giáp mặt, tập trung chủ yếu vào giai đoạn đầu (tổ chức các hoạt động học tập), một số buổi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập (để trao đổi, tháo
gỡ những khó khăn, định hướng, trợ giúp) và cuối quá trình đào tạo (để báo cáo, trình bày kết quả học tập và tổng kết) Mô hình này đang thay đổi mạnh mẽ và căn bản quá trình tổ chức dạy học truyền thống Hiện nay một số tổ chức giáo dục hàng đầu, có nguồn lực mạnh mẽ về CNTT đang triển khai thí điểm mô hình này Đó là những khóa học mở, trực tuyến, miễn phí (MOOC -Massive open online course) của các trường đại học hàng đầu trên thế giới (Viện công nghệ MIT, đại học Stanford, Havard, đại học quốc gia Australia ) được triển khai trên các nền tảng và hệ thống công nghệ thông tin quản lí các hoạt động học tập như Edx (https://www.edx.org), Coursera (https://www.coursera.org), Udacity (https://www.udacity.com) Ở Việt Nam, công ti công nghệ
và giáo dục FPT cũng đã triển khai mô hình blended learning này thông qua hệ thống FUNiX (“Đại học trực tuyến” https://www.funix.edu.vn), ở đó sinh viên học tập hoàn toàn trên mạng, bằng nguồn học liệu mở, với sự tư vấn và trợ giúp của các chuyên gia (mentor) được giới thiệu là
“các chuyên gia công nghệ hàng đầu Việt Nam, người trực tiếp “chỉ đường” cho sinh viên trong quá trình học, đồng thời là nhà tuyển dụng sinh viên trong tương lai”
Blended learning theo mô hình (5) sẽ phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới và có thể trở thành mô hình học tập phổ biến nhất của thế kỉ 21 - thế kỉ của xã hội thông tin và truyền thông
2.2.2 Các tham số xây dựng mô hình tích hợp
Phương thức đào tạo
Trong mô hình blended learning, nhiều phương thức đào tạo sẽ được tích hợp Cụ thể có 3 phương thức chủ yếu là dạy học giáp mặt, dạy học từ xa và học tập trực tuyến, trong đó phải xác định một phương thức chủ đạo, có tính hệ thống, liền mạch và đảm bảo mức độ tiến bộ tăng dần cho người học, những phương thức còn lại sẽ bổ sung, hỗ trợ cho phương thức chính trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo Việc lựa chọn phương thức nào là chính phụ thuộc vào mục tiêu giáo dục, điều kiện tổ chức và các nguồn lực mà giáo viên có Theo Kerres [6], cách xác định phương thức đào tạo chính dựa trên 3 tiêu chí sau :
- Các hoạt động học tập chủ yếu được thực hiện thông qua phương thức đào tạo này;
- Việc phân chia nội dung, tiến trình dạy học và mức độ tiến bộ;
- Người học thường dành nhiều thời gian nhất cho phương thức đào tạo này
Từ những yếu tố trên, các mô hình blended learning có thể khác nhau và tập trung vào một phương thức đào tạo cụ thể, nhưng không loại trừ các phương thức khác
Trong quá trình xây dựng hệ thống blended learning của chúng tôi, phương thức đào tạo chủ yếu vẫn là dạy học chính khóa, giáp mặt Nhưng các nội dung và cách thức triển khai cũng được xây dựng theo hướng hỗ trợ tự học, tự nghiên cứu thông qua các nhiệm vụ học tập mà sinh viên phải thực hiện ngoài giờ học, có sự hỗ trợ, tổ chức của hệ thống e-learning
Phương pháp sư phạm
Mô hình blended learning trong dạy học chính quy mà chúng tôi phát triển cho phép kết
Trang 6hợp nhiều phương pháp sư phạm để truyền tải nội dung, tổ chức và hướng dẫn các hoạt động học tập Tùy từng nội dung, mục đích và đối tượng, giáo viên có thể sử dụng phương pháp truyền thụ đối với những giờ dạy học giáp mặt và triển khai phương pháp dạy học kiến tạo, phương pháp dạy học tích cực đối với những nhiệm vụ học tập mà người học thực hiện ngoài giờ học, ngoài lớp học dưới dạng các nhiệm vụ, dự án cần hoàn thành Điều này cho phép tăng tính tích cực, chủ động của sinh viên, phát triển khả năng tìm kiếm, xử lí thông tin, khả năng phân tích, tư duy phê phán, khả năng tổ chức và làm việc nhóm với các công cụ CNTT
Có thể nêu ra nhiều kịch bản tổ chức dạy học theo đường hướng này, thường thì người học
sẽ trải qua 3 giai đoạn chính Giai đoạn 1 (dạy học giáp mặt), giáo viên và sinh viên sẽ xác định nội dung môn học cần nắm vững, kĩ năng, thái độ cần đạt được, sau đó giáo viên gợi mở, định hướng, hướng dẫn và tổ chức các hoạt động học tập để sinh viên có thể triển khai Giai đoạn 2 (học tập bên ngoài lớp học), sinh viên sẽ triển khai các nhiệm vụ được giao, tìm kiếm và xử lí thông tin, giao tiếp và làm việc nhóm thông qua hệ thống e-learning đã tích hợp các công cụ cần thiết để tạo
ra một môi trường học tập và làm việc đồng nhất, hiệu quả Giai đoạn 3 (dạy học giáp mặt) là giai đoạn chia sẻ, trao đổi, trình bày, đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ học tập của các nhóm
và cá nhân Ở giai đoạn này, sinh viên được rèn luyện và phát triển khả năng thuyết trình, tư duy phản biện, thuyết phục, giáo viên đóng vai trò như là người trọng tài, điều hành và kết luận những vấn đề sinh viên trình bày, thảo luận
Việc kết hợp các phương pháp sư phạm khác nhau trong một mô hình dạy học cũng làm thay đổi vai trò của người dạy và người học Nếu như ở mô hình truyền thống, việc tổ chức dạy học chủ yếu thông qua phương pháp truyền thụ (thầy giảng, trò nghe-ghi chép), thì ở mô hình blended learning, người thầy không chỉ là người truyền giảng kiến thức (đối với một số nội dung) mà còn là người tổ chức, hướng dẫn, đồng hành, trợ giúp, trọng tài trong quá trình học tập của sinh viên Sinh viên chuyển từ trạng thái bị động tiếp nhận tri thức (nghe-ghi chép) sang tìm kiếm, xây dựng năng lực, từ đó dần hình thành nên thói quen và khả năng tự học và học tập suốt đời
Học liệu và môi trường học tập
Học liệu là một trong ba yếu tố cấu thành chính của quá trình dạy-học, gồm Người dạy, Người học và Tri thức (nội dung) được biểu đạt cụ thể trong mô hình của Houssaye [7]
Hình 2: Tam giác sư phạm
Ở mô hình dạy học truyền thống, Tri thức thường được gói gọn ở nội dung các cuốn sách giáo khoa, giáo trình, có tính hệ thống, chắt lọc và liền mạch Tuy nhiên những kiến thức này không đầy đủ, không được thường xuyên cập nhật, khó thay đổi (do là tồn tại ở dạng bản in giấy, chỉ có thể cập nhật và sửa đổi trong các lần tái bản) Trong khi đó, tri thức của nhân loại thường tăng lên gấp đôi trong vòng 12 tháng, và trong kỉ nguyên CNTT tri thức có thể tăng gấp đôi chỉ trong vòng 12 giờ [8] Do vậy, quá trình đổi mới giáo dục – đào tạo ở nước ta đã và đang đặt ra những yêu cầu mới về nội dung và chương trình đào tạo ở các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trang 7Mô hình blended learning cho phép tích hợp những tài liệu in và tài liệu số, cung cấp cho người học một nguồn học liệu dồi dào, đa dạng về hình thức, thể loại và có tính thực tế Với sự phát triển của Internet, những dữ liệu này có thể dễ dàng tiếp cận, chia sẻ, lưu trữ và cập nhật Điều này có ý nghĩa đặc biệt trong dạy và học ngoại ngữ bởi người học, thông qua hệ thống CNTT, được tiếp xúc trực tiếp, thường xuyên hơn với cộng đồng mà ngôn ngữ đó được sử dụng Blended learning còn cho phép tạo ra một môi trường học tập và thực hành ngôn ngữ bên ngoài lớp học, một cách hiệu quả, có tính thực tế cao và ít áp lực hơn
Tuy nhiên, với sự bùng nổ của các nguồn thông tin như hiện nay, việc lựa chọn và định hướng lựa chọn nguồn tư liệu học tập là yếu tố then chốt quyết định chất lượng giảng dạy và học tập Giáo viên có vai trò quan trọng trong việc đánh giá, lựa chọn và gợi ý những nguồn tư liệu phù hợp về nội dung, trình độ và đặc điểm của từng người học Trong giảng dạy ngoại ngữ, giáo viên cần lựa chọn nguồn tư liệu đa dạng, có tính tương tác, đa kênh (văn bản, âm thanh, hình ảnh, video ) để đáp ứng yêu cầu phát triển những năng lực cụ thể của người học (nghe, nói, đọc, viết, tìm hiểu về văn hóa, văn minh )
Phương tiện kĩ thuật sử dụng
Nếu như trong mô hình dạy học truyền thống, các phương tiện kĩ thuật và CNTT được sử dụng trong dạy học rất hạn chế, thường chỉ tập trung vào một số trang thiết bị thí nghiệm, mô phỏng, máy tính và máy chiếu thì mô hình blended learning tạo cơ hội cho người dạy và người học
sử dụng nhiều phương tiện kĩ thuật không chỉ dành cho lĩnh vực giáo dục Trong lĩnh vực giảng dạy ngoại ngữ, các công cụ đó có thể là điện thoại thông minh, máy tính bảng, máy ảnh, máy ghi
âm, các phần mềm máy tính và các ứng dụng web (wiki, forum, quiz, database, videoconferencing, audio recorder) Các công cụ này được kết nối, tích hợp trong một hệ thống (hệ thống CNTT hỗ trợ dạy và học) nhằm tạo ra một môi trường học tập thống nhất, đồng bộ cho phép giao tiếp, cộng tác, cá nhân hóa, số hóa quá trình học tập
Việc ứng dụng rộng rãi các phương tiện kĩ thuật mà đặc biệt là các công cụ CNTT sẽ cho phép người học phát triển các kĩ năng để có thể trở thành một công dân có khả năng sống và làm việc một cách hiệu quả và có văn hóa với các công cụ CNTT
Học tập mọi lúc, mọi nơi và học tập suốt đời
Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định: “Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời” Ở thời đại ngày nay, quá trình học tập và rèn luyện phải vượt ra khuôn khổ của bốn bức tường lớp học và các chương trình đào tạo chính quy, tập trung Để đáp ứng các yêu cầu của nghề nghiệp và thích ứng với những thay đổi nhanh chóng về mặt kinh tế xã hội, người học cần phải được trang bị những kĩ năng, hình thành thói quen học tập mọi lúc, mọi nơi và học tập suốt đời
Mô hình Blended learning tạo ra môi trường, cung cấp công cụ và cách thức để người học
có thể tự học, cùng học, học có hướng dẫn và định hướng của giáo viên
2.2.3 Giới thiệu về mô hình hệ CSDL đã xây dựng theo đường hướng tích hợp: Hệ thống
blended learning tích hợp nội dung môn văn hóa-văn minh Pháp [9]
Những ưu điểm nổi bật của Blended learning cho thấy đây là một mô hình dạy/học vượt trội, có thể áp dụng cho nhiều môn học, và ở nhiều cấp học Sau đây, chúng tôi giới thiệu mô hình blended learning được tích hợp một cơ sở dữ liệu (CSDL) phục vụ cho việc dạy và học bộ môn văn hóa-văn minh Pháp
Hệ CSDL được xây dựng trên nguyên tắc đáp ứng đầy đủ các đặc trưng của Blended learning, cho phép kết hợp nhiều tham số: hình thức học tập, phương thức đào tạo, phương pháp
sư phạm, phương tiện kĩ thuật sử dụng và có tính đến đặc điểm cá nhân người học