1. Trang chủ
  2. » Vật lí lớp 11

Triết lý đào tạo đại học trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam hiện nay

7 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 192,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những triết lý đào tạo theo hướng “tư tưởng” như: “nhân bản - sáng tạo - hội nhập” hay theo hướng “hành động” như: “thái độ - kiến thức - kỹ năng”, “thay đổi tư duy - khơi nguồn sáng t[r]

Trang 1

V A

TRIẾT LÝ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC TRONG CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

DƯƠNG VĂN SÁU Tóm tắt

Trong nền kinh tế tri thức, giáo dục - đào tạo có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của đất nước Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay đang đặt ra cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo cần có những thay đổi to lớn, toàn diện, triệt để trên mọi phương diện Trong khuôn khổ bài viết này, trên tinh thần khai phóng, chúng tôi tập trung trao đổi về việc xây dựng các phương châm, triết

lý đào tạo ở cấp độ đại học - cấp đào tạo tiệm cận nhất với quá trình sử dụng nhân lực trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước Những triết lý đào tạo theo hướng “tư tưởng” như: “nhân bản - sáng tạo

- hội nhập” hay theo hướng “hành động” như: “thái độ - kiến thức - kỹ năng”, “thay đổi tư duy - khơi nguồn sáng tạo”… sẽ được trình bày khái quát trong bài viết này để góp phần làm rõ nội hàm của nền giáo dục khai phóng; đáp ứng những yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam hiện nay.

Từ khóa: Cách mạng công nghiệp 4.0, triết lý đào tạo, đào tạo đại học, giáo dục khai phóng Abstract

In the knowledge economy, education - training plays an extremely important role for the development of the country The fourth industrial revolution is currently set for the cause of education and training needs of enormous, comprehensive and thorough changes in all aspects In this article, based on the spirit of liberation, we focus on discussing the development of the educating motto and philosophy at the university level - which is closest to the process of using human resources in the socioeconomic life of the nation The educating philosophies that is in the direction of “thought” such as “humanity - creativity - integration” or philosophies that follow “action” such as: “attitude - knowledge - skill”, “change of thinking way - leading creativity will be presented briefly in this article to contribute to clarifying the content of liberal education; meet the requirements of the fourth Industrial Revolution in Vietnam today.

Keywords: Industrial Revolution 4.0, philosophy of educating, higher education, liberal education

1 Đặt vấn đề

Cho đến nay, loài người đã trải qua

3 cuộc cách mạng công nghiệp và đang bước vào cuộc Cách mạng

công nghiệp lần thứ tư (The Fourth Industrial

Revolution) (CMCN 4.0) Đây sẽ là kỷ nguyên

công nghiệp mới, được mô tả như là sự ra đời

của một loạt các công nghệ mới trong tất cả

các lĩnh vực của nền kinh tế Đây cũng là quá

trong các lĩnh vực sinh học, vật lý học, kỹ thuật

số hóa; từ đó tạo ra những đột phá về công nghệ trong các lĩnh vực hiện đại của xã hội loài người, như robot, trí tuệ nhân tạo, xe tự lái, internet, công nghệ nano v.v

Là người sáng lập và là Chủ tịch điều hành

Diễn đàn Kinh tế thế giới (World Economic

Forum), giáo sư Klaus Schwab trong cuốn

sách Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Trang 2

4.0 với ba lần trước Sự khác biệt lớn nhất là

những tiến bộ trong công nghệ có khả năng

mở rộng sự kết nối hàng tỷ người trên trái

đất thông qua Internet Thông qua đó giúp

thay đổi, cải thiện đáng kể công tác tổ chức

sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh

doanh một cách tối ưu Từ đó cũng giúp cho

việc tăng cường bảo vệ và tái tạo môi trường

tự nhiên và môi trường xã hội thông qua cách

thức quản lý tốt hơn các tài sản của mình, tạo

ra các chuỗi giá trị sử dụng hữu ích nhất cho

con người Do các điều kiện đặc thù, mỗi quốc

gia đều có cách tiếp cận riêng của mình đối

với cuộc CMCN 4.0, nhưng dù sao, tất cả đều

phải dựa vào nhân tố khoa học, công nghệ và

đổi mới sáng tạo làm yếu tố cốt lõi Tuy nhiên,

mỗi quốc gia lại có mục tiêu và bước đi riêng:

Nếu CMCN 4.0 của nước Đức lấy mục tiêu phát

triển công nghiệp làm trọng tâm (Industry 4.0)

thì các quốc gia châu Á cũng có những quan

điểm tiếp cận mới theo các hướng khác nhau:

Nhật Bản hướng tới Xã hội 5.0 (Society 5.0) Xã

hội 5.0 là xã hội siêu thông minh (Super Smart

Society) trong đó lấy con người làm trung tâm

Trong khi Hàn Quốc hướng tới Kinh tế sáng tạo

(Creative Economy), Trung Quốc đặt mục tiêu

chiến lược sản xuất sản phẩm, hàng hóa mang

thương hiệu quốc gia (Made in China: MIC

2025) thì Singapore hướng tới xây dựng Quốc

gia thông minh (Smart Nation) v.v.

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập

sâu rộng với thế giới, chúng ta cũng không thể

đứng ngoài cuộc CMCN 4.0 Tham gia tiến trình

hội nhập cùng CMCN 4.0, Diễn đàn Kinh tế thế

giới xếp Việt Nam vào Nhóm quốc gia sơ khởi

nhưng tiệm cận rất gần với Nhóm có triển vọng

cao với xếp hạng 48/100 về cấu trúc của nền

sản xuất và 53/100 về các yếu tố dẫn dắt sản

xuất (1) Cũng theo Diễn đàn Kinh tế thế giới

năm 2015, Việt Nam đứng thứ 85/143 quốc gia

được xếp hạng về chỉ số sẵn sàng về hạ tầng

mạng (Network Readiness Index) (5) Đây là một

thách thức vô cùng lớn đối với một đất nước

đang trong quá trình phát triển như chúng ta

Vì vậy, để phát triển đất nước trong bối cảnh

CMCN 4.0, Việt Nam cần tìm được hướng đi, giải pháp riêng phù hợp với điều kiện và nhu cầu thực tiễn của mình để chủ động nắm bắt thời cơ và vượt qua thách thức

Để làm được điều đó cần có tầm nhìn chiến lược và hành động quyết liệt Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc khi tham dự Diễn đàn cấp cao và Triển lãm quốc tế về CMCN 4.0 diễn

ra tại Hà Nội ngày 13/7/2018 vừa qua, đã nhấn

mạnh: “Việt Nam cần chuyển mạnh từ nhận diện

sâu sắc sang tầm nhìn chiến lược và hành động quyết liệt, khẩn trương” (1) để không bỏ lỡ cơ

hội hội nhập trong thời kỳ hiện đại và đủ sức lực “lên kịp chuyến tàu” CMCN 4.0 với các nước trong khu vực và thế giới Điều đó đặt ra nhiệm

vụ vô cùng to lớn, đặc biệt quan trọng trong giáo dục - đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực cho đất nước trong tiến trình hội nhập, công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 4/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ

4, đã đưa ra các giải pháp trong đó có các giải

pháp về giáo dục, đào tạo: “Thay đổi mạnh mẽ

các chính sách, nội dung, phương pháp giáo dục

và dạy nghề nhằm tạo ra nguồn nhân lực có khả năng tiếp nhận các xu thế công nghệ sản xuất mới, trong đó cần tập trung vào thúc đẩy đào tạo về khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM), ngoại ngữ, tin học trong chương trình giáo dục phổ thông; đẩy mạnh tự chủ đại học, dạy nghề; thí điểm quy định về đào tạo nghề, đào tạo đại học đối với một số ngành đặc thù Biến thách thức dân số cùng giá trị dân số vàng thành lợi thế trong hội nhập và phân công lao động quốc tế” (8, tr.3).

Sở dĩ Thủ tướng Chính phủ chỉ thị như vậy

vì những năm gần đây, giáo dục STEM (Science

- Technology - Engineering - Maths: khoa học - công nghệ - kỹ thuật - toán học) đã và đang phát

triển mạnh mẽ ở rất nhiều nơi trên đất nước

ta, từ thành thị tới nông thôn Giáo dục STEM

về bản chất được hiểu là trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng cần thiết liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ

Trang 3

V A

thuật và toán học theo cách tiếp cận liên môn

(interdisciplinary) Hình thức giáo dục này giúp

cho giới trẻ Việt Nam tiếp cận gần hơn, nhanh

hơn với những thay đổi của cuộc CMCN 4.0 Chỉ

thị của Thủ tướng Chính phủ cũng giao nhiệm

vụ cụ thể cho Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Thúc

đẩy triển khai giáo dục về khoa học, công nghệ,

kỹ thuật và toán học (STEM) trong chương trình

giáo dục phổ thông; tổ chức thí điểm tại một số

trường phổ thông ngay từ năm học 2017 - 2018

Nâng cao năng lực nghiên cứu, giảng dạy trong

các cơ sở giáo dục đại học; tăng cường giáo dục

những kỹ năng, kiến thức cơ bản, tư duy sáng

tạo, khả năng thích nghi với những yêu cầu của

cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4” (8, tr.4).

Để ngành giáo dục đào tạo có thể hoàn

thành xuất sắc nhiệm vụ của mình trong cuộc

cách mạng này, có rất nhiều việc phải làm,

trong đó trước hết phải thay đổi tư duy, phải

khơi nguồn sáng tạo cho cả người dạy, người

học và người đảm bảo, phục vụ Công việc đó

bắt đầu từ sự thay đổi nhận thức, xây dựng và

củng cố triết lý đào tạo tương thích với yêu cầu

và nhiệm vụ đặt ra

2 Triết lý đào tạo là gì?

CMCN 4.0 là cuộc cách mạng của khoa học

và công nghệ Trong cuộc cách mạng này,

nguồn lực con người sẽ quyết định sự thành

bại của quốc gia trong cuộc đua phát triển

để mang lại sự thịnh vượng cho đất nước Do

vậy, giáo dục đào tạo nguồn nhân lực (đặc biệt

là giáo dục đại học) giữ vai trò quyết định sự

thành công của cuộc CMCN 4.0 hiện nay Bên

cạnh những thành tích to lớn không thể phủ

nhận, đào tạo đại học ở Việt Nam hiện nay

cũng đang bộc lộ khá nhiều hạn chế, trong đó

trước hết là thiếu triết lý đào tạo Triết lý đào tạo

chính là những giá trị cốt lõi được xâu chuỗi,

kết nối và đúc rút từ thực tế đào tạo, tương ứng

với các thể chế kinh tế, chính trị, xã hội trong

những không gian và thời gian nhất định Triết

lý đào tạo là những luận điểm căn cốt về đào

tạo, là sự cụ thể hóa phương châm đào tạo, là

trình đào tạo Triết lý đào tạo thường thể hiện các quan điểm hành động, liên quan đến các

cơ quan chức năng làm nhiệm vụ quản lý, các

cơ sở giáo dục đào tạo trong cả nước rồi từ đó chi phối hoạt động giảng dạy, đào tạo ở các cơ

sở đào tạo Tóm lại, triết lý đào tạo là sự định hướng căn bản nhất mang tính hệ thống, xâu chuỗi và kết nối tiến trình đào tạo để đạt được mục đích đào tạo, tạo ra những giá trị cốt lõi của cơ sở đào tạo

Từ thực tiễn cuộc sống, bằng nhận thức của mình, chúng tôi đưa ra khái niệm triết lý đào

tạo như sau: “Triết lý đào tạo là tư tưởng mang

tính triết học về đào tạo, phản ánh thực tiễn và định hướng phát triển sự nghiệp đào tạo của đất nước Nó được hình thành thông qua sự trải nghiệm, suy ngẫm, đúc rút, khái quát hóa những nội dung có liên quan trong quá trình điều tiết sự vận hành bộ máy đào tạo của các chủ thể quản

lý trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các nhà khoa học cũng như dư luận xã hội; để rồi trở lại định hướng, điều tiết hoạt động giáo dục đào tạo trong những không gian và thời gian nhất định”

(7, tr.15) Triết lý đào tạo bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống, từ yêu cầu của cuộc sống Nó cũng bắt nguồn từ quá trình đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học - chuyển giao công nghệ và sản xuất - kinh doanh… Triết lý đào tạo được coi

là tư tưởng chủ đạo của những nguyên tắc

về đạo lý và phương pháp quản lý để dẫn dắt hành vi của các cá nhân và tổ chức trong quá trình đào tạo Triết lý đào tạo thường thể hiện qua lý do tồn tại của hoạt động đào tạo và các quan điểm hành động, liên quan đến các cơ quan chức năng làm nhiệm vụ quản lý các cơ

sở đào tạo trong cả nước

3 Tại sao phải thay đổi triết lý đào tạo trong lĩnh vực đào tạo đại học?

Việt Nam là một quốc gia văn hiến, có lịch

sử phát triển rực rỡ mấy nghìn năm Ngay từ thế kỷ XV, sau khi đánh đuổi quân Minh, giành lại độc lập cho đất nước, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi đã khẳng định trong tác

Trang 4

國,實為文献之邦… Duy, ngã Đại Việt chi quốc,

thực vi văn hiến chi bang (Như nước Đại Việt

ta, thực là một nước văn hiến ) Một trong

những nhân tố đặc biệt quan trọng góp phần

làm nên văn hiến Việt Nam chính là những

thành quả rực rỡ của nền giáo dục - đào tạo

trong tiến trình lịch sử Với truyền thống “tôn

sư trọng đạo”, trọng người hiền tài, hơn 500

năm về trước, vâng mệnh vua Lê Thánh Tông

- vị minh quân “võ công văn trị” nổi tiếng trong

lịch sử dân tộc, Thân Nhân Trung (Hàn lâm viện

Thừa chỉ, Đông các Đại học sĩ, Quốc tử giám Tế

tửu, Lễ bộ Thượng thư, Lại bộ Thượng thư) đã

viết trên tấm bia tiến sĩ đầu tiên tại Văn Miếu

- Quốc Tử Giám như sau: “Hiền tài là nguyên

khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước

mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu,

rồi xuống thấp Vì vậy các đấng thánh đế, minh

vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân

tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc

đầu tiên Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như

thế, cho nên quý trọng kẻ sĩ không biết thế nào là

cùng ” (9) Như vậy, ngay từ thời phong kiến,

việc trọng người hiền tài (trọng người tài - đức)

đã trở thành nền móng để xây dựng quốc gia

phát triển hùng cường Cơ sở giáo dục đào tạo

cao nhất, quy mô nhất dưới thời phong kiến là

Văn miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) còn tồn tại

từ khi ra đời đến nay Tại Văn miếu - Quốc Tử

Giám, nơi tôn vinh và thờ phụng của đạo học

Việt Nam cùng với thành tựu của các phương

cách dạy - học qua các thời kỳ lịch sử đã trở

thành hình ảnh cũng như nội hàm của nền văn

hiến Thăng Long, văn hiến Việt Nam Đây được

coi là trường đại học đầu tiên của đất nước

để rồi sau đó, theo dòng lịch sử, hệ thống các

trường đại học ở Việt Nam đã phát triển với

quy mô ngày càng to lớn như ngày nay Thực

tế cho thấy, bất cứ một quốc gia, dân tộc nào,

muốn phát triển, đều phải chú trọng đến việc

đào tạo, bồi dưỡng nhân tài Trong quá trình

đẩy nhanh CNH-HĐH ở nước ta, sự nghiệp giáo

dục - đào tạo, đặc biệt là đào tạo đại học càng

có vai trò to lớn hơn bao giờ hết Những năm

qua, cũng như nhiều quốc gia Á Đông khác,

đào tạo đại học Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội Đây là bậc đào tạo có mối liên quan, xâu chuỗi và kết nối, gắn chặt mối quan hệ giữa người được đào tạo

và người lao động, giữa “thầy và thợ” Chính vì nhận thức được như vậy, nhiều năm trở lại đây, đào tạo đại học Việt Nam đã được quan tâm đầu tư và phát triển mạnh mẽ trên tất cả các ngành nghề, cả về số lượng và chất lượng Dù

đã đạt được nhiều thành tích to lớn nhưng đào

tạo đại học Việt Nam vẫn còn bộc lộ khá nhiều

hạn chế, chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ cũng như kỳ vọng phát triển đối với tương lai của đất nước.

Đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ trong tiến trình CNH-HĐH, đang biến đổi và phát triển không ngừng trong quá trình hội nhập, đòi hỏi rất lớn nguồn nhân lực chất lượng cao Do vậy, đào tạo đại học ở Việt Nam hiện nay đang đứng trước những thay đổi to lớn và mạnh mẽ trên nhiều bình diện của đất nước Điều đó cũng có nghĩa là đào tạo đại học Việt Nam đang đứng trước những thời cơ thuận lợi và cả những thách thức to lớn Mặc dù triết

lý đào tạo đại học đã được bàn đến rất nhiều trên các phương tiện truyền thông trong thời gian vừa qua, nhưng vẫn là một vấn đề thời sự hiện nay Việc thiếu triết lý đào tạo là một hạn chế lớn, gây khó khăn cho toàn bộ nền giáo dục - đào tạo Việt Nam chứ không chỉ cho đào tạo đại học Với đào tạo đại học, do ảnh hưởng của truyền thống, những năm sau khi đất nước thống nhất, chúng ta vẫn duy trì những hình thức tuyển sinh để chọn lọc người tài thông qua các kỳ thi Những người được tuyển chọn vào học ở bậc đại học về cơ bản có chất lượng cao hơn so với mặt bằng chung trong xã hội Tuy nhiên, những năm gần đây, do áp lực của yêu cầu phát triển (đất nước cần rất nhiều nhân lực cho các vị trí khác nhau trong xã hội); bên cạnh đó là trình độ quản lý chưa cao, bộ máy quản lý chưa mạnh, điều kiện và phương tiện đào tạo thiếu thốn… Cùng với nhiều nguyên nhân sâu xa nữa đã tạo ra sự mất cân đối về

Trang 5

V A

chất lượng cung - cầu trong đào tạo, khiến cho

đào tạo đại học ở Việt Nam có sự dịch chuyển

ở mức độ nhất định từ đào tạo tinh hoa, đỉnh

cao xuống đào tạo phổ cập, đại trà Nhận thức

của nhiều người đối với đào tạo đại học cũng

đã có sự chuyển đổi theo hướng như vậy Đây

chính là nguyên nhân khiến cho quá trình đào

tạo đại học không có định hướng đúng, không

bảo đảm được tính chuyên sâu và nâng cao;

không có bước đi thích hợp Chất lượng đào

tạo đại học ở mặt bằng chung toàn xã hội

cũng vì thế mà có phần xuống cấp

Nền giáo dục cách mạng Việt Nam vốn chịu

ảnh hưởng lớn của hệ thống giáo dục - đào tạo

Khổng giáo phương Đông Đó là nền giáo dục

thiên về tập hợp kiến thức “tầm chương trích

cú”, tìm lại quá khứ, học từ quá khứ là chính

Thầy để dạy, trò để học Trong quá trình dạy

thì thầy chuyển giao tri thức, hiểu biết của mình

cho trò, còn đối với học trò thì thu nhận là chính;

phải “sôi kinh, nấu sử”, thuộc lòng những kiến

thức mà thầy truyền cho Đương nhiên, qua

sự trao truyền này, tất yếu, tri thức sẽ rơi rụng,

không thể nguyên vẹn Khi thầy truyền đạt hết

kiến thức thì cũng có nghĩa là một quá trình

giáo dục bị gián đoạn, phải chuyển sang quá

trình khác, ở nơi khác Trật tự Nho giáo trong

nhiều trường hợp đã được thể hiện qua quan

niệm cổ hủ: Trò không được phép hơn thầy!

Điều đó đã chi phối, ảnh hưởng đến sự phát

triển của xã hội Kết quả là, sự phát triển nhận

thức của xã hội cầm chừng, thậm chí có lúc còn

có xu hướng thụt lùi, người dạy không phát

huy được sự năng động sáng tạo của người

học Trong khung cảnh ấy, muốn kết quả đào

tạo được tốt, người thầy luôn áp dụng phương

cách: “Thứ nhất hay chữ, thứ nhì dữ đòn”; “Tiên

học lễ, hậu học văn” v.v Nền giáo dục như vậy

sẽ liên quan tới việc có thầy giỏi thì mới có trò

giỏi; thầy thế nào thì trò thế ấy; người học luôn

bị áp chế bởi “cái trần” bằng xương bằng thịt

của người thầy, khó có thể “vượt trần”, khó có

thể sáng tạo Mặc dù gặp phải tình trạng như

sự phát triển để có một Việt Nam văn hiến hôm nay Công bằng mà nói, sự nghiệp giáo dục - đào tạo truyền thống đã góp một phần rất lớn vào quá trình kiến tạo xã hội trong tiến trình lịch sử, vào việc tài bồi nền văn hiến nước nhà

Để có được một Việt Nam như hôm nay, công lao của các nhà giáo dục trước đây là rất lớn Thực tế lịch sử cho chúng ta thấy: những thành tựu to lớn của nền giáo dục phong kiến Việt Nam chủ yếu nằm trong lĩnh vực khoa học

xã hội, nhân văn, chưa có thành tựu về khoa học tự nhiên hay kỹ thuật, công nghệ Do vậy, việc chỉ có chuyển giao tri thức, khi đó, có thể đáp ứng được yêu cầu xã hội; nhưng với quá trình phát triển hiện nay, yêu cầu của giáo dục - đào tạo đã khác trước Truyền thống cũ hoàn toàn không thể đáp ứng được những đòi hỏi mới của đất nước Cần phải có sự thay đổi đồng bộ, toàn diện, triệt để! Cần có cuộc cách mạng trong tư duy - ý thức hệ của những người, những tổ chức làm giáo dục - đào tạo trong CMCN 4.0 hiện nay!

4 Những phương châm, triết lý đào tạo đại học ở Việt Nam hiện nay

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tích to lớn không thể phủ nhận nhưng đối chiếu với yêu cầu, nhiệm vụ của tiến trình hội nhập, thực trạng đào tạo đại học Việt Nam đang đứng trước những khó khăn, thử thách to lớn Bản tin ngày 19/1/2016 của Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã chỉ ra một số hạn chế đó như sau:

- Chưa gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học, với sản xuất kinh doanh

và nhu cầu của thị trường, dẫn đến tình trạng thừa thầy, thiếu thợ

- Chưa chú trọng đúng mức đến giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống và kỹ năng, phương pháp làm việc

- Phương pháp đào tạo còn lạc hậu, chủ yếu truyền thụ kiến thức một chiều; tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá kết quả còn thiếu thực

Trang 6

- Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo

dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu

- Cơ chế, chính sách, đầu tư cho giáo dục,

đào tạo chưa phù hợp; cơ sở vật chất - kỹ thuật

thiếu đồng bộ, còn lạc hậu… (3)

Tóm lại, chất lượng, hiệu quả đào tạo đại học

ở nước ta còn thấp so với yêu cầu của công cuộc

đổi mới Những nhận xét thẳng thắn trên đây

nhằm hướng tới một sự thôi thúc rằng: Đào

tạo đại học Việt Nam nhất thiết phải có những

chuyển biến, thay đổi căn bản, nhanh chóng

để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, trước hết

là cần thay đổi triết lý đào tạo đại học Trong

thời gian qua, nền giáo dục - đào tạo Việt Nam

cũng tồn tại những xu hướng, phương châm

đào tạo mang tính triết lý đào tạo sau đây:

4.1 Những triết lý đào tạo mang tính định

hướng, phương châm

Trong nền giáo dục cách mạng Việt Nam,

chúng ta luôn nhắc rất nhiều đến câu nói bất

hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì hạnh phúc

mười năm thì phải trồng cây; Vì hạnh phúc trăm

năm thì phải trồng người” Nội dung câu nói của

Bác như một chiến lược giáo dục và đào tạo

Có thể coi đây chính là triết lý đào tạo xuyên

suốt của nền giáo dục cách mạng Việt Nam

Tuy nhiên, triết lý đào tạo này cần phải được cụ

thể hóa để biến thành hành động/hoạt động

trên các lĩnh vực đào tạo Triết lý đào tạo luôn

phải là sợi dây gắn kết đường lối chính sách

phát triển giáo dục, các cơ chế, biện pháp của

các cơ sở đào tạo với thị trường, nơi mà các

doanh nghiệp sử dụng nguồn nhân lực được

đào tạo ra

Quá trình hội nhập, tiến hành CNH-HĐH

đất nước đã và đang đặt ra cho sự nghiệp giáo

dục - đào tạo nhiệm vụ hết sức nặng nề Đảng

và Nhà nước ta cũng đã có nhiều chủ trương,

đường lối, chính sách để phát triển sự nghiệp

giáo dục - đào tạo nhằm cung cấp nguồn nhân

lực chất lượng cao, phục vụ công cuộc xây

dựng và bảo vệ Tổ quốc Những Nghị quyết

của Đảng luôn xác định giáo dục - đào tạo là

nhiệm vụ hàng đầu, khoa học công nghệ là then chốt Phương châm, mục tiêu của giáo dục - đào tạo Việt Nam trong thời gian qua là: “Nâng cao dân trí - đào tạo nhân lực - bồi dưỡng nhân tài”

Năm 2016, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, trong vai trò phụ trách khối văn hóa xã hội, khoa học, giáo dục và đào tạo, đã phát biểu trước Quốc hội để chia sẻ ý kiến của ông về vấn

đề giáo dục: “Triết lý giáo dục của Việt Nam trước

hết là triết lý xây dựng đất nước dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Đó là xây dựng con người Việt Nam toàn diện, đức trí, thể

mỹ, có tinh thần dân tộc, có lòng yêu nước và có trách nhiệm quốc tế” Phó Thủ tướng cũng cho

biết Việt Nam thực hiện đầy đủ 5 trụ cột giáo dục của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa

của Liên hợp quốc (UNESCO) bao gồm: học để

biết, học để làm việc, học để chung sống, học để khẳng định mình, học để thay đổi bản thân và thay đổi thế giới tốt đẹp hơn (6) Bao trùm lên

trên hết là mục tiêu cần đạt được của nền giáo

dục Việt Nam là “phấn đấu cho một nền giáo

dục trí tuệ và nhân văn của đất nước” Từ mục

tiêu, định hướng lớn này, các cơ sở giáo dục - đào tạo khác nhau trên cả nước có những định hướng cụ thể cho quá trình đào tạo của mình Những triết lý mang tính phương châm, định hướng đó đã chi phối, điều khiển sự vận hành của bộ máy quản lý đào tạo, nền giáo dục của đất nước trong đó có đào tạo đại học trong suốt thời gian qua

4.2 Những triết lý đào tạo theo hướng

“triết lý tư tưởng”

Thời gian vừa qua, trong nền giáo dục của đất nước đã xuất hiện nhiều phương châm, triết lý đào tạo đại học Những phương châm, triết lý đó đã từng bước đi vào thực tế đào tạo và đạt được những thành tích nhất định Những triết lý đào tạo của nhiều cơ sở giáo dục - đào tạo theo hướng “triết lý tư tưởng”

như: xây dựng “Một nền giáo dục khai phóng

(liberal education)” hay triết lý đào tạo nhấn

mạnh yếu tố “nhân bản, sáng tạo, hội nhập”

Trang 7

V A

của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành

phố Hồ Chí Minh chứa đựng những tư tưởng

mới về một nền giáo dục mở, tạo điều kiện tự

do sáng tạo cho người dạy và người học Bên

cạnh đó, những triết lý giáo dục theo hướng

tư tưởng đem đến những giá trị nhân văn

trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực, đáp

ứng các yêu cầu của quá trình hội nhập Linh

hồn của các triết lý tư tưởng này luôn lấy con

người làm trung tâm; việc đào tạo hướng tới

tạo ra những con người mới đáp ứng các yêu

cầu của quá trình hội nhập sâu rộng của thế

giới, những “chiến binh” của cuộc CMCN 4.0

hiện nay GS.TSKH Nguyễn Đình Đức - Trưởng

ban Đào tạo của Đại học Quốc gia Hà Nội cho

biết: Triết lý đào tạo của Đại học Quốc gia Hà

Nội là “đào tạo nhân tài, đào tạo tinh hoa” Việc

đào tạo chất lượng cao như vậy đã và đang

góp phần đáp ứng yêu cầu cao trước những

thay đổi của thế giới trong cuộc CMCN 4.0,

gắn với tình hình và điều kiện cụ thể của Việt

Nam Nghị quyết số 04-NQ/ĐU của Đảng ủy

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn -

Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh ngày

04/12/2015 đã xác định triết lý giáo dục của

trường là: “Giáo dục toàn diện - Khai phóng - Đa

văn hóa” (Whole Person - Liberal - Multi Cultural

Education) Các hoạt động đào tạo của nhà

trường đều hướng tới mục tiêu như vậy Trong

khi đó, Trường Đại học FPT lại đưa ra triết lý

giáo dục: “Giáo dục đào tạo là tổ chức và quản trị

việc tự học của người học” Từ triết lý này, trường

đã tổ chức để sinh viên phát huy vai trò tự chủ,

sáng tạo trong việc tự học đồng thời gắn chặt

việc đào tạo với các doanh nghiệp, liên kết với

các doanh nghiệp trong việc nghiên cứu, triển

khai các tiến bộ của khoa học và công nghệ

hiện đại vào quá trình đào tạo nhân lực…

4.3 Những triết lý đào tạo theo hướng

“triết lý hành động”

Đào tạo đại học là cấp đào tạo tiệm cận

với đời sống kinh tế - xã hội; đào tạo ra những

người trực tiếp làm ra các của cải vật chất cho xã

mà còn đào tạo ra cả những người “thầy” có khả năng sáng tạo, lãnh đạo, điều phối những nhóm, cộng đồng nhất định trong những không gian và thời gian nhất định Muốn vậy phải có thái độ đúng đắn; kiến thức cơ bản, đầy đủ, sâu rộng; kỹ năng thành thục, thành thạo… đáp ứng các yêu cầu đặt ra từ cuộc sống Bên cạnh những phương châm, triết lý đào tạo theo xu hướng “triết lý tư tưởng” như

đã trình bày ở trên là những phương châm, triết lý đào tạo của nhiều cơ sở giáo dục - đào tạo theo xu hướng “triết lý hành động” Đó là

các triết lý đào tạo để người học đạt được “thái

độ - kiến thức - kỹ năng: attitude - knowledge - skill” đúng mức trong các cơ sở đào tạo kinh

doanh hiện nay

Là một trong những cơ sở giáo dục - đào tạo trình độ cao, đa ngành, đa lĩnh vực, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã đưa ra những giá trị cốt lõi mang tư cách là triết lý đào tạo

của nhà trường, bao gồm 5 khía cạnh: 1 Chất

lượng - hiệu quả 2 Tận tụy - cống hiến 3 Chính trực - tôn trọng 4 Tài năng cá nhân - trí tuệ tập thể 5 Kế thừa - sáng tạo Năm giá trị cốt lõi

này chính là những triết lý đào tạo nhằm định hướng cho những hành động cụ thể mà nhà trường hướng tới trong quá trình đào tạo của mình Trong khi đó, Đại học Ngoại thương Hà Nội cũng đưa ra 5 giá trị cốt lõi của mình là:

“Chất lượng - Hiệu quả - Uy tín - Chuyên nghiệp

- Hiện đại” Cả năm giá trị cốt lõi của hai trường

đại học nổi tiếng của nước ta đều đã trở thành những triết lý đào tạo; góp phần tạo nên chất lượng và hiệu quả đào tạo Thực hiện tốt những triết lý hành động như vậy tức là đã tạo

ra những giá trị cốt lõi và góp phần tích cực, chủ động trong tiến trình hội nhập, trong cuộc CMCN 4.0 của đất nước

Nhìn từ góc độ đổi mới, đáp ứng yêu cầu của quá trình đào tạo đại học trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, theo chúng tôi, hiện nay cần phải triển khai các triết lý đào tạo mang

tính hành động Triết lý đó là “Thay đổi tư duy -

Ngày đăng: 11/03/2021, 08:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w