1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng giảng dạy tiếng Trung cho học sinh trung học phổ thông ở khu vực phía Nam đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân

7 42 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 487,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu thực trạng giảng dạy tiếng Trung cho học sinh (HS) trung học phổ thông (THPT) đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân ở khu vực [r]

Trang 1

ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY

Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website: https://tapchikhoahoc.sgu.edu.vn

THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY TIẾNG TRUNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở KHU VỰC PHÍA NAM ĐÁP ỨNG

YÊU CẦU ĐỔI MỚI DẠY VÀ HỌC NGOẠI NGỮ TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN

The situation of teaching Chinese for high school students in the Southern Vietnam to meet the requirements of foreign language teaching and learning

innovation in the national education system

TS Nguyễn Thị Minh Hồng(1), TS Nguyễn Phước Lộc(2), PGS.TS Huỳnh Văn Sơn(3) (1),(2),(3) Trường Đại học Sư phạm TP.HCM

Tóm tắt

Kết quả nghiên cứu thực trạng giảng dạy tiếng Trung cho học sinh (HS) trung học phổ thông (THPT) đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân ở khu vực phía Nam cho phép nhận định, việc thực hiện các yêu cầu về nội dung, phương pháp giảng dạy và công tác đánh giá của đội ngũ giáo viên tiếng Trung thời gian qua đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ Kết quả này có được từ việc so sánh mức độ đánh giá của giáo viên và học sinh về các tiêu chí: kiến thức cơ bản, kỹ năng, thực hiện các yêu cầu về nội dung, phương pháp giảng dạy Tuy nhiên để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao

về đổi mới dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, cần quan tâm hơn nữa đến việc giúp

HS phát triển các kỹ năng mềm khi học tiếng Trung, cải tiến cách đánh giá HS theo các loại điểm số quy định và đánh giá để xây dựng kế hoạch giảng dạy phù hợp

Từ khóa: giảng dạy, đội ngũ giáo viên tiếng Trung, học sinh trung học phổ thông, khu vực phía Nam

Abstract

Research results showed the situation on teaching Chinese for high school students to meet the requirements of foreign language teaching and learning innovation in the national education system in the southern Vietnam The implementation of the requirements on content, teaching methods and assessment

of Chinese teachers has achieved encouraging results This result is derived from the comparison of teachers’ and students' assessment of such criteria as basic knowledge, skills, implementation of content and teaching method requirements However, to meet the increasing demand for foreign language teaching and learning innovation in the national education system, more attention should be paid to helping students develop soft skills when learning Chinese and to improving the way of assessing students according to the types of prescribed scores to build appropriate teaching plans

Keywords: teaching, staff of Chinese teachers, high school students, the southern region

Email: sonhuynhts@gmail.com

Trang 2

1 Đặt vấn đề

Ngày 30/9/2008 Thủ tướng Chính phủ

đã ký quyết định số 1400/QĐ-TTg, phê

duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ

thống giáo dục quốc dân” (gọi tắt là đề án

ngoại ngữ 2020) [2], với mục tiêu chung là

thực hiện đổi mới toàn diện việc dạy và học

ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục, nhằm

đảm bảo đến năm 2015 đạt được bước tiến

rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại

ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối với một

số lĩnh vực ưu tiên Thể hiện quyết tâm thực

thi Đề án Ngoại ngữ 2020, ngày 8/4/2011

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục

ký Quyết định số 1400/QĐ-BGDĐT thành

lập Ban Quản lý Đề án “Dạy và học ngoại

ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai

đoạn 2008-2020” [1] Trên tinh thần của Đề

án, có thể nhận thấy, ngoài tiếng Anh là

ngoại ngữ chính thức và bên cạnh tiếng Hàn,

Pháp, Nga, tiếng Trung cũng được khuyến

khích đưa vào giảng dạy và học tập như là

ngoại ngữ thứ hai tại các trường phổ thông,

cao đẳng và đại học

Trước yêu cầu đổi mới toàn diện và

trong bối cảnh hiện nay của đất nước, ngoại

ngữ trong đó có tiếng Trung là công cụ,

phương tiện đắc lực và hữu hiệu cho tiến

trình hội nhập cũng như phát triển Thực tế

cho thấy, việc dạy học tiếng Trung hiện nay

ở nước ta đang ngày càng phát triển [10] Tuy nhiên, còn tồn tại một số khó khăn, bất cập gây ảnh hưởng không tốt tới chất lượng giảng dạy tiếng Trung Việc nghiên cứu thực trạng giảng dạy tiếng Trung cho học sinh THPT, do vậy nhằm xác định căn cứ để

có cái nhìn thực tế hơn, từ đó tìm ra các biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Trung ở một số tỉnh, thành khu vực phía Nam, góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy

và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân

2 Nội dung

2.1 Khách thể nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

2.1.1 Khách thể nghiên cứu

Khảo sát thực trạng giảng dạy tiếng Trung cho học sinh THPT ở một số tỉnh thành khu vực phía Nam được thực hiện trên tổng số 286 khách thể, với việc lựa chọn theo các tiêu chí về tỉnh/thành phố, giới tính,

vị trí đảm nhận, thâm niên công tác, trình độ

và khối học Cụ thể, mẫu khảo sát gồm 86 cán bộ - giáo viên (CB-GV) và 200 học sinh (HS) tại các trường THPT ở khu vực phía Nam (những người có kinh nghiệm nhất định về vấn đề này) Có thể khái quát mẫu nghiên cứu thông qua bảng dữ liệu 1

Bảng 1: Vài nét về khách thể nghiên cứu của đề tài

Nhóm khách

trăm (%)

Cán bộ -

Giáo viên

Tỉnh/thành phố

Trang 3

Nhóm khách

trăm (%)

Vị trí đảm nhận

Thâm niên công tác

Học sinh

Tỉnh/Thành phố

Khối học

- Nhóm khách thể là CB-GV:

+ Tiêu chí về tỉnh/thành phố: Tp Hồ

Chí Minh có 33 CB-GV (chiếm 38,37%),

Tiền Giang có 22 CB-GV (chiếm 25,58%),

Bình Dương có 17 CB-GV (chiếm 19,77%)

và Đồng Nai có 14 CB-GV (chiếm 16,28%)

+ Tiêu chí về giới tính: 49 CB-GV nam

(chiếm 56,98%); CB-GV nữ (chiếm 43,02%)

+ Tiêu chí về vị trí đảm nhận: hiệu

trưởng có 28 (chiếm 32,56%); phó hiệu

trưởng có 16 (chiếm 18,6%); giáo viên có

42 (chiếm 48,84%)

+ Tiêu chí về trình độ: cử nhân có 64

(chiếm 74,42%); thạc sĩ có 22 (chiếm

25,58%)

+ Tiêu chí về thâm niên công tác: công tác dưới 10 năm có 46 (chiếm 53,49%); từ 11

- 15 năm có 29 (chiếm 33,72%); trên 15 năm

có 11 (chiếm 12,79%)

- Nhóm khách thể là HS:

+ Tiêu chí về tỉnh/thành phố: Tp Hồ Chí Minh có 88 HS (chiếm 44%); Tiền Giang có 47 HS (chiếm 23,5%); Bình Dương có 34 HS (chiếm 17%); Đồng Nai có

31 HS (chiếm 15,5%)

+ Tiêu chí về giới tính: HS nam có 84 (chiếm 42%); HS nữ có 116 (chiếm 58%) + Tiêu chí về khối học: khối 10 có 80 HS (chiếm 40%); khối 11 có 53 HS (chiếm 26,5%); khối 12 có 67 HS (chiếm 33,5%)

Trang 4

Những thông tin trên cho thấy tính đa

dạng và sự phân tán cao của cả hai nhóm

khách thể nghiên cứu, đảm bảo cho số

liệu nghiên cứu có tính đại diện và tính

khách quan

2.1.2 Phương pháp nghiên cứu

Tiến hành phối hợp đồng bộ các

phương pháp nghiên cứu lý luận và

phương pháp nghiên cứu thực tiễn (điều tra

bằng bảng hỏi, phỏng vấn và thống kê,

trong đó điều tra bằng bảng hỏi là phương

pháp chính)

Công cụ nghiên cứu là một phiếu khảo

sát được thực hiện qua ba giai đoạn: điều tra

thử bằng bảng thăm dò mở; thiết kế bảng

hỏi; khảo sát chính thức Công cụ nghiên

cứu này được thiết kế dựa trên ba nguyên

tắc: đảm bảo giá trị về mặt nội dung; đáng

tin cậy về mặt thống kê; sử dụng các hình

thức câu hỏi phù hợp với nội dung nghiên

cứu và đặc điểm của khách thể nghiên cứu

Bảng hỏi chính thức có cấu trúc: phần

1, thông tin cá nhân của người trả lời; phần

2, nội dung các câu hỏi nhằm tìm hiểu những kiến thức cơ bản và một số kỹ năng của giáo viên, mức độ thực hiện các yêu cầu

về nội dung giảng dạy, mức độ thực hiện các yêu cầu về phương pháp giảng dạy, mức độ thực hiện các yêu cầu liên quan đến công tác đánh giá học sinh

Người được khảo sát trả lời các câu hỏi bằng cách cho điểm từ việc lựa chọn 1 trong

5 mức: điểm 5 cho mức Tốt; điểm 4 cho mức Khá; điểm 3 cho mức Trung bình; điểm

2 cho mức Yếu; điểm 1 cho mức Kém Điểm trung bình (ĐTB) của câu = Tổng điểm của các lựa chọn trả lời của câu hỏi chia cho số trả lời của câu hỏi Tiến hành đánh giá các mức độ cho thang đo: 1 ≤ ĐTB ≤ 1,8 ứng với mức kém, rất thấp; 1,8 < ĐTB ≤ 2,6 ứng với mức yếu, thấp; 2,6 < ĐTB ≤ 3,4 ứng với mức trung bình; 3,4 < ĐTB ≤ 4,2 ứng với mức khá, cao; 4,2 < ĐTB ≤ 5 ứng với mức tốt, rất cao

2.2 Kết quả nghiên cứu

2.2.1 Các kiến thức cơ bản của đội ngũ giảng viên tiếng Trung ở khu vực phía Nam

Bảng 2: Thực trạng về những kiến thức cơ bản của ĐNGV tiếng Trung

(CB-GV)

ĐTB (HS)

Tốt Khá Trung

bình Yếu Kém

1 Những tri thức tâm sinh lý HS 2,3 4,7 90,7 2,3 0,0 3,1 3,8

2 Kiến thức về phương pháp dạy

3 Hiểu biết mục tiêu, nội dung dạy

4 Có kiến thức đánh giá hoạt động

học tiếng Trung của HS 0,0 2,3 37,2 55,8 4,7 2,4 3,8

5 Có hiểu biết tổ chức hoạt động

học tiếng Trung qua trò chơi 0,0 2,3 30,2 67,4 0,0 2,4 3,5

Trang 5

TT NỘI DUNG

(CB-GV)

ĐTB (HS)

Tốt Khá Trung

bình Yếu Kém

6 Có kiến thức sử dụng phương tiện

7 Các kỹ năng làm bài thi tiếng

8 Các kỹ thuật dạy học tiếng Trung

ĐTB chung về đánh giá của CB-GV và

HS lần lượt là 3,05 ở mức “trung bình” và

3,45 ở mức “khá” theo thang đo đã xác lập

(độ chênh giữa hai nhóm là 0.40) Như vậy,

có sự khác biệt về mức độ đánh giá giữa hai

nhóm khách thể

Phân tích đánh giá của nhóm khách thể

CB-GV cho thấy, nổi bật lên và đứng đầu là

“Có kiến thức sử dụng phương tiện dạy

tiếng Trung cho HS” với ĐTB = 4,0, kế đến

là “Kiến thức về phương pháp dạy tiếng

Trung cho HS” với ĐTB = 3,7, cả hai đều ở

mức “khá” Các nội dung kiến thức tiếp theo

là “Hiểu biết mục tiêu, nội dung dạy tiếng

Trung cho HS”, “Các kỹ năng làm bài thi

tiếng Trung cho HS” và “Những tri thức tâm

sinh lý HS” có ĐTB lần lượt là 3,3; 3,2; 3,1,

đều ứng với mức “trung bình” Ba yếu tố

vừa nêu được xem là “thành phần” quan

trọng không thể thiếu đối với năng lực của

người giáo viên trong việc góp phần tạo nên

thành công của một tiết dạy

Ba nội dung kiến thức còn lại có ĐTB

rơi vào mức “yếu” và đây là một thực trạng

rất đáng quan tâm; thiết nghĩ các nhà quản

lý cần có những biện pháp thích hợp để tác động nâng cao những kiến thức về cách tổ chức hoạt động học tiếng Trung qua trò chơi, đánh giá hoạt động học cũng như các

kỹ thuật dạy tiếng Trung cho HS

Phân tích đánh giá của nhóm khách thể

HS cho thấy, có 3/8 nội dung đưa ra khảo sát được HS đánh giá ở mức “khá” gồm:

“Những tri thức tâm sinh lý HS”, “Có kiến thức đánh giá hoạt động học tiếng Trung của HS” và “Có hiểu biết tổ chức hoạt động học tiếng Trung qua trò chơi” với ĐTB lần lượt

là 3,8; 3,8; 3,5 Sự khác biệt trong đánh giá giữa hai nhóm khách thể cũng chủ yếu là ở

ba nội dung này Các nội dung còn lại đều rơi vào mức “trung bình” với ĐTB dao động

từ 3,2 đến 3,4 Liệu rằng, vốn kiến thức cơ bản hạn chế thế này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả quá trình dạy và học ngoại ngữ? Kết quả này cũng cho phép đòi hỏi người lãnh đạo cần quan tâm hơn nữa đến công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ giáo viên tham gia giảng dạy tiếng Trung ở đơn vị mình một cách sâu sắc và liên tục

Trang 6

2.2.2 Kỹ năng của đội ngũ giảng viên tiếng Trung ở khu vực phía Nam

Bảng 3: Thực trạng về một số kỹ năng cơ bản của ĐNGV tiếng Trung

(CB-GV)

ĐTB (HS)

Tốt Khá Trung

bình Yếu Kém

4 Giao tiếp, ứng xử với HS, đồng

5 Giải quyết vấn đề trong dạy học 27,9 53,5 18,6 0,0 0,0 4,1 3,1

6 Quản lý cảm xúc trong dạy học 4,7 25,6 65,1 4,7 0,0 3,3 2,8

8 Nắm bắt tâm lý HS THPT 2,3 11,6 60,5 25,6 0,0 2,9 2,8

9 Tư duy sáng tạo trong dạy học 2,3 32,6 51,2 14,0 0,0 3,2 2,9

ĐTB chung về đánh giá của CB-GV và

HS lần lượt là 3,77 và 3,39, ứng với mức

“khá” và mức “trung bình” theo thang đo đã

xác lập Như vậy, sự đánh giá của hai nhóm

khách thể có sự khác biệt rất rõ nét

Phân tích sự đánh giá của nhóm khách

thể CB-GV cho thấy, kỹ năng “Soạn giáo

án” được đánh giá là tốt nhất với ĐTB = 4,7

và kỹ năng kế đến “Lập kế hoạch dạy học”

có ĐTB = 4,6; cả hai đều ở mức “tốt” Tính

chung từ 97,7% - 100% GV ở khu vực phía

Nam có kỹ năng soạn giáo án và lập kế

hoạch dạy học ở mức khá, tốt và đây là một

tín hiệu đáng khích lệ Các kỹ năng tiếp theo

“Giao tiếp, ứng xử với HS, đồng nghiệp,

phụ huynh,…”, “Giải quyết vấn đề trong

dạy học”, “Quản lý công việc” có ĐTB lần

lượt là 4,2; 4,1 và 3,5 đều ứng với mức

“khá” Kết quả này cần được ghi nhận và

phát huy hơn nữa Các kỹ năng còn lại ở

mức “trung bình”; trong đó, kỹ năng “Nắm

bắt tâm lý HS THPT” ở mức thấp nhất với

ĐTB = 2,9 Đây là hạn chế cần được các nhà quản lý cũng như cán bộ giảng dạy trường đại học đào tạo đội ngũ này quan tâm và khắc phục

Phân tích sự đánh giá của nhóm khách thể HS cho thấy, chỉ có kỹ năng “Quản lý lớp học” ở mức “tốt” với ĐTB = 4,4 và đối chiếu với đánh giá của nhóm khách thể

CB-GV thì ở đây có sự khác biệt rất rõ nét Sự khác biệt này đòi hỏi người lãnh đạo cần lưu tâm đến kỹ năng quản lý lớp học của

GV tiếng Trung Các kỹ năng “Soạn giáo án”, “Lập kế hoạch dạy học” và “Giao tiếp, ứng xử với HS, đồng nghiệp, phụ huynh,…” có ĐTB tìm được lần lượt là 4,2; 4,0; 3,6, đều ứng với mức “khá” Với kết quả này có thể nhận định nhận định rằng,

GV tiếng Trung ở khu vực phía Nam cơ bản đã có kỹ năng soạn giáo án, lập kế hoạch bài dạy và giao tiếp ứng xử khá tốt Các kỹ năng còn lại được đánh giá ở mức

“trung bình” với ĐTB dao động từ 2,8 đến

Trang 7

3,1 Trong đó, các kỹ năng “Quản lý cảm

xúc trong dạy học”, “Nắm bắt tâm lý HS

THPT” và “Tư duy sáng tạo trong dạy học”

có số liệu đánh giá tương đồng với nhóm

khách thể CB-GV Đây là những kỹ năng còn hạn chế trong năng lực của đội ngũ giáo viên tiếng Trung, đòi hỏi phải có biện pháp tác động để cải thiện

2.2.3 Việc thực hiện các yêu cầu về nội dung giảng dạy tiếng Trung cho học sinh trung học phổ thông

Bảng 4: Thực trạng thực hiện các yêu cầu về nội dung giảng dạy Tiếng Trung

Tỷ lệ HS (%)

ĐTB (HS)

ĐTB (CB-GV)

Cao Khá cao

Trung bình Thấp

Rất thấp

1

Các nội dung chuyên biệt về

ngôn ngữ: ngữ âm, từ vựng, ngữ

pháp, chức năng, diễn ngôn

trong tiếng Trung

2 Các kỹ năng của ngôn ngữ Trung: nghe, nói, đọc, viết 28,0 71,5 0,5 0 0 4,3 3,8

3 Cách học ngoại ngữ hiệu quả,

4 Các kỹ thuật cần thiết cho các kỳ

5

Giúp HS phát triển các kỹ năng

làm việc nhóm và hiểu về những

người khác khi học tiếng Trung

ĐTB chung về đánh giá của CB-GV và

HS lần lượt là 4,36 đạt mức “cao” và 4,16 ở

mức “khá cao” theo thang đo đã xác lập

Nhưng một lần nữa cho thấy có sự khác

nhau về điểm số đánh giá giữa hai nhóm

khách thể Điều này có thể lý giải là do sự

tiếp cận và nhìn nhận dưới góc độ khác nhau

nên đã không có tương đồng trong đánh giá

Phân tích sự đánh giá của nhóm khách

thể HS cho thấy, có 3/5 nội dung đưa ra

khảo sát có ĐTB = 4,4 và 2/5 nội dung có

ĐTB = 4,3 đều đạt mức “cao” Cách biệt về

điểm số giữa các nội dung đưa ra khảo sát

không đáng kể (0,1 điểm) Như vậy, nhóm

khách thể HS có sự tương đồng khá cao về mức độ đánh giá tất cả các yêu cầu về thực hiện nội dung giảng dạy của đội ngũ giáo viên tiếng Trung

Phân tích sự đánh giá của nhóm khách thể CB-GV cho thấy, có sự phân tán lớn về mức độ đánh giá ở các nội dung:

- Mức “cao” có hai yêu cầu gồm “Các

hệ thống ngôn ngữ: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, chức năng, diễn ngôn trong tiếng Trung” và “Các kỹ thuật cho các kỳ thi tiếng Trung” với ĐTB tìm được lần lượt là 4,8 và 4,6, xếp vị trí thứ 1, 2

- Mức “khá cao” cũng có hai yêu cầu

Ngày đăng: 11/03/2021, 07:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm