Tuy nhiên, cũng như các phương pháp giải tích gần đúng khác, phương pháp tuyến tính hóa tương đương với trung bình cổ điển thường có những nhược điểm đó là khi tính phi tuyến của bài toá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học và Công nghệ - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS Ninh Quang Hải
Người hướng dẫn khoa học 2: TS Dương Thế Hùng
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Học viện Khoa học và Công nghệ
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Dao động là một hiện tượng hay gặp trong tự nhiên và kỹ thuật Thực tế, hầu hết tất cả các dao động của các hệ kỹ thuật đều là phi tuyến, dao động tuyến tính chỉ là sự lý tưởng hóa một hiện tượng dao động mà
ta gặp Chỉ một lớp rất nhỏ của bài toán dao động phi tuyến là có lời giải chính xác Các phương pháp giải tích gần đúng là một công cụ hiệu quả để tìm nghiệm của bài toán dao động phi tuyến
Trong số các phương pháp giải tích gần đúng, phương pháp
tuyến tính hóa tương đương (the Equivalent Linearization method) [1],
là một phương pháp đơn giản nhưng hiệu quả để phân tích các bài toán dao động phi tuyến Tuy nhiên, cũng như các phương pháp giải tích gần đúng khác, phương pháp tuyến tính hóa tương đương với trung bình cổ điển thường có những nhược điểm đó là khi tính phi tuyến của bài toán tăng sẽ dẫn đến kết quả của phương pháp này thường không chính xác, đôi khi không thể chấp nhận được Nhiều tác giả đã cố gắng cải thiện nhược điểm này của phương pháp tuyến tính hóa tương đương, trong
đó năm 2015, GS Nguyễn Đông Anh [2] đã đề xuất một phương pháp lấy trung bình mới của một hàm tiền định thay vì sử dụng giá trị trung bình cổ điển, phương pháp trung bình này được gọi là trung bình có trọng số Giá trị trung bình có trọng số đã khắc phục được phần nào nhược điểm của phương pháp tuyến tính hóa tương đương với trung bình cổ điển
Với những phân tích ở trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Phân tích
dao động phi tuyến bằng cách tiếp cận trung bình có trọng số” để làm
đề tài nghiên cứu
Trang 42 Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Luận án phát triển một kỹ thuật kết hợp phương pháp tuyến tính hóa tương đương và trung bình có trọng số để phân tích đáp ứng của một số hệ dao động phi tuyến tự do không cản
3 Các nội dung nghiên cứu chính của luận án
Nội dung nghiên cứu chính của Luận án được trình bày trong bốn Chương Cụ thể, Chương 1 trình bày tổng quan về dao động phi tuyến và một số phương pháp giải tích gần đúng giải bài toán dao động phi tuyến Chương 2 trình bày những ý tương cơ bản của phương pháp tuyến tính hóa tương đương cho hệ dao động tiền định, giá trị trung bình
có trọng số và một số tính chất của trung bình có trọng số Chương 3, Luận án áp dụng phương pháp đề xuất để phân tích đáp ứng của một số
hệ dao động phi tuyến tự do không cản một bậc tự do Chương 4 trình bày hai bài toán dao động phi tuyến của hệ liên tục đó là dao động phi tuyến của dầm micro tựa trên nền đàn hồi và dao động phi tuyến của dầm nano chịu tác dụng của lực tĩnh điện
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
Chương này trình bày tổng quan về dao động phi tuyến và một
số phương pháp giải tích gần đúng giải bài toán dao động phi tuyến; tình hình nghiên cứu dao động phi tuyến trên thế giới và trong nước Các phân tích cho thấy phương pháp tuyến tính hóa tương đương là một công cụ hiệu quả để phân tích các bài toán dao động phi tuyến Được
đề xuất với mục đích phân tích đáp ứng của bài toán dao động phi tuyến chịu kích động ngẫu nhiên, phương pháp tuyến tính hóa tương đương
Trang 5dễ dàng áp dụng được cho các hệ dao động phi tuyến tiền định Tuy nhiên, sai số của phương pháp tuyến tính hóa tương đương nhiều khi khá lớn đặc biệt đối với các hệ dao động phi tuyến mạnh Trung bình
có trọng số đã khắc phục được những nhược điểm của trung bình cổ điển trong việc cải thiện độ chính xác của phương pháp tuyến tính hóa tương đương Trên cơ sở đó, Luận án đã lựa chọn được đề tài nghiên cứu và đề ra những nội dung nghiên cứu cụ thể
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP TUYẾN TÍNH HÓA TƯƠNG ĐƯƠNG CHO
HỆ DAO ĐỘNG PHI TUYẾN TIỀN ĐỊNH VÀ GIÁ TRỊ TRUNG
BÌNH CÓ TRỌNG SỐ
Trong chương này, Luận án trình bày những ý tưởng cơ bản của phương pháp tuyến tính hóa tương đương cho hệ dao động phi tuyến tiền định và giá trị trung bình có trọng số cùng một số tính chất của trung bình có trọng số
1.1 Phương pháp tuyến tính hóa tương đương cho hệ dao động phi tuyến tiền định
Xét dao động phi tuyến tiền định của hệ một bậc tự do được mô
tả bởi phương trình vi phân phi tuyến sau đây:
X g X X F t (2.1) với X X và X lần lượt là dịch chuyển, vận tốc và gia tốc; , g X X ( , )
là một hàm phi tuyến phụ thuộc vào dịch chuyển và vận tốc; còn F t ( )
là lực kích động ngoài Dạng tuyến tính của phương trình (2.1) được giới thiệu như sau:
Trang 6( )
X X X F t (2.2) Các hệ số và được xác định từ tiêu chuẩn độ lệch trung bình bình phương:
Định nghĩa : Trung bình có trọng số của một hàm phụ thuộc
thời gian x(t) được xác định bởi [2]:
với h(t) là hàm phụ thuộc vào thời gian, được gọi là hàm hệ số trọng số,
hàm này thỏa mãn điều kiện:
Trang 72 2
h t ste s (2.15)
trong đó, tham số s được gọi là tham số điều chỉnh
Giá trị trung bình có trọng số có một số tính chất; cụ thể, khi
0
s , giá trị trung bình có trọng số sẽ trở thành giá trị trung bình cổ điển; giá trị trung bình có trọng số của hàm tuần hoàn được tính thông qua phép biến đổi Laplace; trung bình có trọng số bảo toàn đặc tính tuyến tính của trung bình cổ điển; và giá trị trung bình có trọng số chứa nhiều thông tin về hàm tuần hoàn hơn giá trị trung bình cổ điển
Kết luận Chương 2
Chương 2 trình bày những ý tưởng cơ bản của phương pháp tuyến tính hóa tương đương cho hệ dao động phi tuyến tiền định và khái niệm về giá trị trung bình có trọng số Các phân tích cho thấy giá trị trung bình có trọng số có những ưu điểm so với giá trị trung bình cổ điển, điều này sẽ tạo nên những tín hiệu tích cực khi sử dụng giá trị trung bình có trọng số để phân tích các bài toán dao động phi tuyến Một số kết quả của Chương 2 đã được công bố trong bài báo [T1] trong mục “Danh mục công trình liên quan tới Luận án” trong việc làm rõ một số tính chất của trung bình có trọng số và ưu điểm của nó so với trung bình cổ điển
CHƯƠNG 3 DAO ĐỘNG PHI TUYẾN CỦA HỆ MỘT BẬC TỰ
DO
Trong Chương 3, phương pháp tuyến tính hóa tương đương với trung bình có trọng số sẽ được áp dụng để phân tích một số hệ dao động
Trang 8phi tuyến một bậc tự do không cản Kết quả thu được đối với các hệ dao động đều được kiểm chứng với các kết quả đã công bố hoặc kết quả số
3.1 Dao động phi tuyến Duffing
Xét dao động phi tuyến Duffing dạng tổng quát được mô tả bởi:
Trang 9Hình 3.1 Sự thay đổi của sai số tương đối của các tần số xấp xỉ theo biên độ
ban đầu của dao động Duffing bậc 3 với α 1 =10 và α 3=10
Hình 3.3 Sự thay đổi của tần số dao động theo tham số điều chỉnh s của dao
động Duffing bậc 3 với α 1 =10, α 3 =10 và A=1
Hình 3.1 và 3.2 khảo sát sự thay đổi của sai số tương đối của tần
số xấp xỉ thu được trong Luận án (Luânán) và tần số xấp xỉ thu được nhờ phương pháp cân bằng năng lượng (EBM) [35] theo biên độ ban
đầu của dao động A Một số giá trị của tham số điều chỉnh s đã được lựa chọn (s = 1, 2 và 3) Từ các hình vẽ này, ta thấy rằng với các giá trị
Trang 10s = 1 và s = 2, tần số xấp xỉ thu được trong Luận án tốt hơn nhiều so với
tần số xấp xỉ thu được nhờ phương pháp cân bằng năng lượng Cụ thể, khi biên độ ban đầu tăng lên, sai số của phương pháp cân bằng năng lượng lên tới 2.2%, trong khi sai số của phương pháp sử dụng trong
Luận án chỉ là 1.18% với s = 1 và 0.15% với s = 2 Tuy nhiên, khi s tăng lên chẳng hạn s = 3, sai số xấp xỉ của phương pháp sử dụng trong
Luận án lại lên tới 4.4%
Với α1 = 10, α3 = 10 và A = 1, Hình 3.3 thể hiện sự thay đổi của tần số xấp xỉ của dao động theo tham số điều chỉnh s Từ hình vẽ này ta
thấy rằng tần số xấp xỉ thu được từ Luận án sẽ bằng với tần số chính xác (Chính xác4.1672) [43] ứng với các giá trị của tham số điều chỉnh
s = 0.5 và s = 2.5 Qua khảo sát thấy rằng giá trị tối ưu của tham số điều
chỉnh s thay đổi theo từng hệ, với mong muốn lựa chọn s là một số tự nhiên, trong Luận án này đã sử dụng giá trị s = 2 với mục đích so sánh Hơn nữa, cũng từ hình vẽ này ta thấy rằng khi tham số s tăng, tần số
xấp xỉ của dao động sẽ tăng và dẫn tới sự chính xác của nghiệm thu được sẽ giảm
Với s = 2, tần số xấp xỉ của dao động phi tuyến Duffing bậc 5
được cho bởi:
Trang 11của dao động phi tuyến Duffing bậc 5 được thể hiện trong Hình 3.5 Ta thấy rằng khi biên độ ban đầu A tăng, sai số của phương pháp cân bằng
năng lượng [35] lên tới 2.26%, trong khi sai số của phương pháp sử dụng trong Luận án chỉ là 1.52% với bộ thông số của hệ được lựa chọn
như trong Hình 3.5
Hình 3.5 Sự thay đổi của sai số tương đối của các tần số xấp xỉ theo biên độ
ban đầu của dao động Duffing bậc 5 với α 1 =1, α 3 =10 và α 5=100
Hình 3.6 Sự thay đổi của tần số dao động theo tham số điều chỉnh s của dao
động Duffing bậc 5 với α 1 =10, α 3 =100, α 5 =100 và A=10
Trang 12Với α1 = 1, α3 = 100, α5 = 100 và A = 10,sự thay đổi của tần số
xấp xỉ của dao động theo tham số điều chỉnh s được thể hiện trong Hình
3.6 Từ hình vẽ này, ta thấy rằng tần số xấp xỉ thu được từ Luận án bằng
với tần số chính xác (Chính xác751.6951) ứng với các giá trị của tham
số điều chỉnh s1 và s2 Sai số của nghiệm xấp xỉ thu được sẽ
tăng với những giá trị lớn hơn của tham số điều chỉnh s
3.2 Dao động phi tuyến mở rộng
Trong phần này, Luận án tập trung phân tích dao động phi tuyến
mở rộng được mô tả bởi phương trình sau đây:
0
n m
Trang 133.2.1 Dao động Duffing – điều hòa
So sánh nghiệm xấp xỉ (3.39) với nghiệm số sử dụng phương
pháp Runge – Kutta bậc 4 được thể hiện trong Hình 3.12 Sự chính xác
của nghiệm xấp xỉ thu được so với nghiệm số của dao động phi tuyến Duffing – điều hòa có thể được quan sát từ hình vẽ này
Hình 3.12 So sánh nghiệm giải tích với nghiệm số của dao động Duffing –
điều hòa
3.2.2 Dao động Duffing với thế năng dạng giếng đôi
Với 1, 1, 0 và m3, ta có dao động Duffing với thế năng dạng giếng đôi:
Trang 14u u u 30 (3.40) Nghiệm của phương trình (3.40) phụ thuộc vào điều kiện đầu
Với mục đích so sánh, chu kỳ TLuân án thu được bởi Luận án, chu
kỳ xấp xỉ thu được bởi Momeni và cộng sự [36] sử dụng phương pháp cân bằng năng lượng TEBM và chu kỳ chính xác của dao động TChính xác [26] được liệt kê trong Bảng 3.3 và 3.4 với một vài giá trị khác nhau của biên độ ban đầu A
Bảng 3.3 So sánh các tần số xấp xỉ với tần số chính xác của dao động Duffing
với thế năng dạng giếng đôi (A 2)
A T Chính xác [26] T EBM[36] Sai số (%) T Luân án Sai số (%)
Bảng 3.4 So sánh các chu kỳ xấp xỉ với chu kỳ chính xác của dao động
Duffing với thế năng dạng giếng đôi (1 A 2 )
A T Chính xác[26] T EBM[36] Sai số (%) T Luân án Sai số (%)
Trang 153.3 Dao động phi tuyến với sự không liên tục
Trong phần này, một số hệ dao động phi tuyến với sự không liên
tục (nonlinear oscillator with discontinuity) được xem xét:
+ Trường hợp 1:
0,
uuu u (3.63) + Trường hợp 2:
3
0,
u u u u (3.70) Nghiệm xấp xỉ thu được bởi Luận án và nghiệm xấp xỉ thu được bởi phương pháp nhiễu đồng luân [11] được so sánh với nghiệm số sử
dụng phương pháp Runge-Kutta bậc 4 và thể hiện trong các Hình 3.20 (Trường hợp 1) và Hình 3.23 (Trường hợp 2)
Hình 3.20 So sánh các nghiệm giải tích với nghiệm số của dao động phi tuyến
với sự không liên tục với 10, 100 và A = 1
Trang 16Hình 3.23 So sánh các nghiệm giải tích với nghiệm số của dao động phi tuyến
với sự không liên tục với 10, 10 và A10
Kết luận Chương 3
Trong Chương 3, Luận án đã áp dụng phương pháp tuyến tính hóa tương đương và trung bình có trọng số để phân tích đáp ứng của một số hệ dao động phi tuyến không cản một bậc tự do Sự chính xác của nghiệm giải tích xấp xỉ thu được bởi Luận án đã được kiểm chứng bởi so sánh kết quả thu được với kết quả chính xác, các kết quả đã công
bố sử dụng các phương pháp gần đúng khác và các kết quả số sử dụng giải thuật Runge-Kutta bậc 4 Kết quả thu được khẳng định rằng trung bình có trọng số đã khắc phục được những nhược điểm của phương pháp tuyến tính hóa tương đương với trung bình cổ điển Phương pháp
sử dụng trong Luận án không chỉ có hiệu lực đối với các hệ phi tuyến yếu, mà còn có hiệu lực đối với các hệ phi tuyến trung bình và mạnh Các kết quả của Chương 3 đã được công bố trong bài báo [T1], [T2],
[T3], [T4], [T5] trong mục “Danh mục công trình liên quan tới Luận
án”
Trang 17CHƯƠNG 4 DAO ĐỘNG PHI TUYẾN CỦA DẦM MICRO VÀ NANO
Trong Chương này, Dao động phi tuyến của dầm micro tựa trên nền đàn hồi theo lý thuyết ứng suất cặp sửa đổi và dao động phi tuyến của dầm nano chịu tác dụng của lực tĩnh điện (dao động phát sinh trong các hệ vi cơ điện tử) sử dụng lý thuyết độ dốc biến dạng phi cục bộ sẽ được khảo sát
4.1 Dao động phi tuyến của dầm micro tựa trên nền đàn hồi
Xét một dầm micro đẳng hướng với chiều dài L và kích thước mặt cắt ngang b h như trong Hình 4.1 Dầm micro tựa trên nền đàn hồi phi
tuyến với các tham số nền kL, kP và kNL tương ứng với lớp tuyến tính
Winkler, lớp cắt Pasternak và lớp phi tuyến
Hình 4.1 Mô hình dầm micro tựa trên nền đàn hồi
Dựa trên lý thuyết ứng suất cặp sửa đổi và lý thuyết dầm Bernoulli, phương trình chuyển động của dầm micro theo dịch chuyển
Euler-ngang w được cho bởi:
Trang 18Sử dụng phương pháp tuyến tính hóa tương đương và trung bình
có trọng số, tần số phi tuyến xấp xỉ của dầm micro được cho bởi:
- Với dầm micro hai đầu tựa bản lề:
Trang 19So sánh tỉ số tần số NL/L (tỉ số giữa tần số phi tuyến NL
và tần số tuyến tính L ) của dầm vĩ mô (macrobeams) sử dụng các phương pháp khác nhau được thể hiện trong Bảng 4.1 Có thể thấy kết
quả thu được bởi Luận án tốt hơn kết quả của Şimşek (đặc biệt là đối với dầm hai đầu ngàm)
(sai số %)
Luận án (sai số
%)
Azrar vcs [49]
Simsek [65]
(sai số %)
Luận án (sai số
%)
(0.06)
1.0863 (0.26)
1.0221 1.0231
(0.09)
1.0222 (0.01)
(0.39)
1.3114 (0.48)
1.0856 1.0897
(0.37)
1.0862 (0.06)
(0.84)
1.6186 (0.43)
1.1831 1.1924
(0.79)
1.1853 (0.19)
(-)
1.9697 (-)
1.3064 1.3228
(1.26)
1.3115 (0.39)
Hình 4.5 Sự thay đổi của tỉ số tần số và tần số phi tuyến của dầm micro hai đầu
tựa bản lề theo tham số chiều dài vật liệu với K L = 50, K P = 30 và K NL=50 Ảnh hưởng của tham số tỉ lệ chiều dài vật liệu đến đáp ứng dao
động phi tuyến của dầm micro được thể hiện trong các Hình 4.5 và 4.6
Trang 20Ta có thể thấy rằng tham số tỉ lệ chiều dài vật liệu làm giảm tỉ số tần số của dầm micro mặc dù cả tần số tuyến tính và tần số phi tuyến của dầm micro đều tăng khi tham số tỉ lệ chiều dài vật liệu tăng
Hình 4.6 Sự thay đổi của tỉ số tần số và tần số phi tuyến của dầm micro hai đầu
ngàm theo tham số chiều dài vật liệu với K L = 50, K P = 30 và K NL=50 Ảnh hưởng của tỉ số độ cứng chống uốn ( 2
Al EI
số tần số của dầm micro được thể hiện trong Hình 4.10 Có thể thấy
rằng tỉ số độ cứng chống uốn làm giảm tỉ số tần số của dầm micro, ảnh hưởng này tương tự như ảnh hưởng của tham số tỉ lệ chiều dài vật liệu
Hình 4.10 Sự thay đổi của tỉ số tần số của dầm micro theo tỉ số độ cứng chống
uốn với K L = 10, K P = 10, K NL = 10 và S=20;
(a) - hai đầu bản lề, (b) - hai đầu ngàm