1. Trang chủ
  2. » Lịch sử

Đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy tiếng Trung Quốc tại Viện Ngoại ngữ Đại học Bách khoa Hà Nội

7 95 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 492,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có cơ sở thực tế phục vụ cho nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành khảo sát bằng phiếu điều tra, nhằm thu thập ý kiến phản hồi của 100 sinh viên tham gia học tập tiếng Trung[r]

Trang 1

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ khi thực hiện chính sách cải cách mở cửa,

cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ

thuật và giao lưu quốc tế, công tác dạy học ngoại ngữ

nói chung và tiếng Trung Quốc nói riêng ở nước ta

ngày càng được coi trọng Để nâng cao hiệu quả dạy

học, các cơ sở đào tạo đều đặt vấn đề đổi mới phương

pháp giảng dạy lên tầm nhiệm vụ chiến lược Một

trong những phương tiện thúc đẩy công cuộc đổi mới

phương pháp dạy học chính là ứng dụng công nghệ

thông tin (CNTT) Ứng dụng CNTT vào quá trình

giảng dạy đã và đang được khẳng định giá trị và tầm

PHẠM THỊ THANH VÂN

Đại học Bách khoa Hà Nội, ✉ phamthanhvan1310@gmail.com

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG

CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO GIẢNG DẠY TIẾNG TRUNG QUỐC TẠI VIỆN NGOẠI NGỮ

TÓM TẮT

Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và giao lưu quốc tế, dạy học ngoại ngữ nói chung và tiếng Trung Quốc nói riêng ở nước ta ngày càng được coi trọng Ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình giảng dạy đã và đang được khẳng định giá trị và tầm quan trọng của nó Tuy nhiên, do tác động của những điều kiện chủ quan và khách quan, hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin ở các cơ sở đào tạo chưa đều và chưa đạt được hiệu quả như mong muốn Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi thông qua phân tích, đánh giá kết quả khảo sát thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học tiếng Trung Quốc ở Viện Ngoại ngữ, Đại học Bách khoa Hà Nội, từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học

Từ khóa: công nghệ thông tin, dạy học tiếng Trung Quốc, Đại học Bách khoa, kiến nghị, thực trạng.

quan trọng của nó Tuy nhiên, do tác động của những điều kiện chủ quan và khách quan, hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin ở các cơ sở đào tạo nước ta hiện nay chưa đều và chưa đạt được hiệu quả như mong muốn

Qua thực tiễn dạy học nhiều năm, chúng tôi nhận thấy, đối với dạy học thực hành tiếng Trung Quốc như một ngoại ngữ, nhất là giai đoạn sơ cấp, cần đặc biệt chú trọng nội dung phát âm và viết chữ Hán Ứng dụng CNTT với tư cách là phương tiện hỗ trợ dạy học nhằm giải quyết khó khăn về đọc phiên âm la-tinh cũng như nắm bắt chữ Hán – loại văn tự biểu ý khác biệt hoàn toàn so với tiếng Việt là phương pháp tích cực và hiệu quả Do đó, việc tìm kiếm phương pháp tận dụng triệt để và nâng cao hiệu quả tác động của

* Nghiên cứu này được thực hiện với sự tham gia tài trợ của Trường

Đại học Bách khoa Hà Nội trong đề tài mã số T2016-PC-193.

Trang 2

CNTT vào giảng dạy, nhằm nâng cao chất lượng dạy

và học tiếng Trung Quốc là vô cùng quan trọng và cần

thiết, phù hợp với xu thế của thời đại

Xuất phát từ thực tế đó, bài viết lựa chọn nghiên

cứu trường hợp, thông qua phương pháp khảo sát,

thống kê và phân tích, nhằm đánh giá thực trạng ứng

dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy tiếng Trung

Quốc tại Viện Ngoại ngữ - Đại học Bách khoa Hà

Nội, qua đó đưa ra kiến nghị cần thiết để cải thiện chất

lượng dạy học tiếng Trung Quốc, trước hết là ở Viện

Ngoại ngữ, Đại học Bách khoa Hà Nội

2 KHÁI NIỆM VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG

TIN VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG

TIN TRONG DẠY HỌC

Trên cơ sở tổng kết lại ý kiến của các học giả đi

trước, chúng tôi đưa ra khái niệm CNTT là “tập hợp

công cụ kỹ thuật hiện đại gồm chủ yếu là máy vi tính,

phần mềm máy vi tính được sử dụng để xử lý, lưu giữ,

trình bày, chuyển đổi, bảo vệ, gửi, nhận thông tin số

một cách an toàn và các thiết bị, phương tiện hỗ trợ

trình bày sản phẩm công nghệ”.

CNTT đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc

thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy các môn

khoa học nói chung và ngoại ngữ nói riêng, trong đó

có tiếng Trung Quốc Thực tế đã chứng minh, để đổi

mới phương pháp giảng dạy, việc sử dụng đồ dùng,

phương tiện dạy học là một trong những biện pháp

hiệu quả CNTT là một phương tiện dạy học hiện đại

bởi tính năng ưu việt, sự tiện ích nổi trội của nó so

với các phương tiện dạy học khác Bài giảng điện tử

là bước cải tiến lớn giúp giảng viên mang lại cho sinh

viên nhiều thông tin hơn Đồng thời, các thông tin đó

có thể được chứa đựng trong nhiều kênh khác nhau

như văn bản, hình ảnh, âm thanh và các đoạn phim

video Có thể nói, CNTT đã cung cấp điều kiện và

phương tiện thuận lợi hỗ trợ đắc lực cho công việc

giảng dạy của giảng viên ở nhiều môn học, đặc biệt là

môn tiếng Trung Quốc ở giai đoạn thực hành tiếng sơ

cấp Vì vậy, sử dụng những phương tiện dạy học hiện

đại để thu thập thông tin, thiết kế và trình chiếu trên

các phương tiện hiện đại sẽ đem lại hiệu quả giáo dục

rất tích cực, phát huy đồng thời các giác quan để nghe kết hợp với nhìn, tăng cường khả năng quan sát, phát hiện vấn đề cho sinh viên

3 CÁC HÌNH THỨC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC TIẾNG TRUNG QUỐC TẠI VIỆN NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

Hiện nay, môn tiếng Trung Quốc được giảng dạy tại Viện Ngoại ngữ dưới hình thức thực hành tổng hợp, giai đoạn sơ cấp, sử dụng Giáo trình Hán ngữ đối ngoại của Nhà xuất bản Đại học Ngôn ngữ Bắc Kinh,

do Dương Ký Châu biên soạn

Kết quả khảo sát bước đầu về thực tiễn dạy học trong năm học 2016-2017 cho thấy, các ứng dụng CNTT đã được sử dụng nhằm hỗ trợ giảng dạy tại Viện Ngoại ngữ – Đại học Bách khoa Hà Nội bao gồm: Bài giảng điện tử, ứng dụng phần mềm dạy học trên điện thoại, từ điển online, phần mềm luyện thi HSK, các website hỗ trợ học tiếng Trung Quốc

do Tổ chức Hán ngữ đối ngoại Trung Quốc đánh giá và giới thiệu, trong đó, đặc biệt chú trọng việc

sử dụng bài giảng điện tử trong giảng dạy ngoại ngữ Bài giảng điện tử được biên soạn, thiết kế và sử dụng trong giảng dạy tại Viện Ngoại ngữ nhằm hướng dẫn viết chữ Hán là các phần mềm như Chinese Writing Master 4.0, E-Hanzi Digital Chinese, từ mới MDBG, “Tự điển chữ Hán điện tử” của Nhà xuất bản Đại học Ngôn ngữ Bắc Kinh Trong đó, phần mềm Chinese Writing chạy song song cùng trình chiếu PPT bài giảng, hỗ trợ việc hướng dẫn sinh viên quan sát, viết chữ Hán theo thứ tự nét, thay vì việc nhìn, bắt chước một cách thiếu khoa học, đồng thời tiết kiệm được thời gian trên lớp khi giảng viên hướng dẫn sinh viên triển khai, học viết và luyện viết chữ Hán Phần mềm E-Hanzi Digital Chinese là phần mềm hỗ trợ luyện viết chữ Hán theo thứ tự nét, đồng thời cho phép xuất chữ Hán cần luyện viết trên file PDF File PDF được mặc định trình bày dưới hình thức bài tập, bài kiểm tra, hỗ trợ việc thiết kế bài tập luyện viết chữ Hán Ngoài ra, bộ “Tự điển chữ Hán điện tử” tích hợp các yếu tố của chữ Hán như: quy tắc viết thứ tự nét,

Trang 3

phiên âm, cách đọc, phân tích bộ thủ, tổ hợp từ trong

chữ Hán, được coi là ứng dụng hỗ trợ hiệu quả trong

dạy viết chữ Hán

Ngoài ra, bài giảng tích hợp các hình ảnh, nội

dung kiến thức khác được trình bày dưới sự hỗ trợ

của CNTT

Các từ mới, chữ Hán trong bài học được hình ảnh

hóa, mô tả trực quan, kết hợp với file Audio nghe, bài

tập luyện đi kèm, giúp bài giảng sinh động, hấp dẫn,

lôi cuốn sinh viên tích cực tham gia vào bài học, đảm

bảo nguyên tắc dạy học “lấy người học làm trung tâm”

Trong việc dạy chữ Hán, giảng viên sử dụng

CNTT nhằm biểu diễn nguồn gốc, quá trình diễn biến,

cách tạo chữ Hán, như chữ “nhật” (ngày, mặt trời),

sử dụng hình ảnh để làm cho chữ Hán trở

nên sinh động, giúp sinh viên tiếp cận chữ Hán một

cách trực quan, biểu diễn các nét cơ bản, hướng dẫn

viết chữ Hán, phân biệt các bộ thủ, các chữ Hán gần

giống nhau…

Trong việc dạy học ngữ âm, giảng viên sử dụng

file nghe làm thị phạm, đồng thời so sánh với ngữ âm

tiếng Việt Nội dung ngữ âm được triển khai trong bài

giảng là ngữ âm tiêu chuẩn của người Trung Quốc, hạn chế được sự ảnh hưởng của khẩu âm tiếng Việt, kết hợp với các hình ảnh minh họa giúp sinh viên tiếp cận trực quan, dễ dàng hình dung, cảm nhận về đặc điểm của âm tiết và cách phát âm

Trong việc dạy từ vựng, CNTT hỗ trợ giảng viên trong các hình thức luyện tập mở rộng từ, dùng hình ảnh trực quan triển khai giải thích nghĩa của từ, mở rộng nhóm từ, khai thác các hàm ý văn hóa của từ ngữ… Trong việc giảng dạy ngữ pháp, các điểm ngữ pháp khó được biểu diễn dưới dạng sơ đồ, biểu mẫu,

sử dụng màu sắc, hình ảnh, giúp sinh viên dễ dàng ghi nhớ công thức Ngoài ra, việc dẫn ra điểm ngữ pháp bằng phương thức tự nhiên, giải thích điểm ngữ pháp bằng cách khẩu ngữ hóa và mô hình hóa, dùng hình ảnh tĩnh gợi ý ý nghĩa và cách dùng của điểm ngữ pháp cần dạy, dùng trạng thái động thể hiện tổng hợp cấu trúc câu và ý nghĩa ngữ pháp cũng hỗ trợ tích cực cho việc dạy học ngữ pháp, đặc biệt là giai đoạn

sơ cấp

Hình thức giảng dạy kỹ năng tổng hợp nghe – nói – đọc – viết dưới sự hỗ trợ của CNTT, chủ yếu được triển khai ở việc hỗ trợ nghe và luyện tập bài khóa, dùng tranh ảnh minh họa, thuật lại nội dung bài

Bảng 1 Bảng kết quả khảo sát về hiệu quả của việc áp dụng CNTT trong giảng dạy

Mức 1 Mức 2 Mức 3 Mức 4 Mức 5

1 Hỗ trợ nhận diện, hệ thống hoá và quy tắc ghép từ trong việc học từ mới 4 6 24 27 39

2 Tăng hứng thú của tiết học thông qua các bài giảng có tính tương tác 2 6 17 21 54

3 Kích thích sự sôi nổi xây dựng bài của người học 2 10 21 30 37

4 Giúp người học có thêm kênh trao đổi kiến thức sinh viên – sinh viên, sinh viên – giảng viên 10 10 18 32 30

5 Giúp người học chủ động hơn trong tìm kiếm học liệu và ngân hàng đề ôn thi 6 6 28 24 36

6 Người học có thể rèn luyện thời xuyên qua các phần mềm hoặc website hỗ trợ học tập 4 6 24 27 39

Trang 4

khóa theo tranh Đặc biệt, giảng viên đã bắt đầu chú

ý đến việc thiết kế các trò chơi nhằm lôi cuốn sinh

viên, tăng cường hứng thú của người học, như các

trò chơi đố chữ, sử dụng phần mềm của Trung Quốc,

Flashcards…

Ngoài ra, dưới sự phát triển của CNTT, giảng viên

và sinh viên có thể thường xuyên, kịp thời kết nối và

trao đổi về bài học qua Email, thư điện tử…

4 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG

CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO GIẢNG DẠY

TIẾNG TRUNG QUỐC

4.1 Một số khảo sát về hiệu quả ứng dụng công

nghệ thông tin vào giảng dạy tiếng Trung Quốc

ở Viện Ngoại ngữ - Đại học Bách khoa Hà Nội

Việc sử dụng bài giảng điện tử dưới sự hỗ trợ

của CNTT như trình bày ở trên, thay thế cho phương

pháp dạy học truyền thống được sinh viên đón nhận

rất tích cực

Để có cơ sở thực tế phục vụ cho nghiên cứu,

chúng tôi đã tiến hành khảo sát bằng phiếu điều tra,

nhằm thu thập ý kiến phản hồi của 100 sinh viên tham

gia học tập tiếng Trung Quốc tại Viện Ngoại ngữ, các

giờ học có sử dụng bài giảng điện tử và hỗ trợ của

CNTT qua các giờ học trên lớp, thể hiện mức độ hiệu

quả tác động của việc áp dụng các hình thức ứng dụng

CNTT trong dạy và học môn tiếng Trung Quốc, với

thang điểm từ 1 tới 5 theo mức độ hiệu quả tác động từ

thấp đến cao Kết quả khảo sát được thể hiện ở bảng

thống kê như sau (xem bảng 1):

Từ bảng thống kê, ta thấy, về hiệu quả hỗ trợ nhận diện, hệ thống hóa và quy tắc ghép từ mới trong việc học từ mới, có 4% sinh viên đánh giá hiệu quả ở mức 1; 6% sinh viên đánh giá ở mức 2; 24% sinh viên đánh giá ở mức 3; 27% sinh viên đánh giá ở mức 4; 39% sinh viên đánh giá ở mức 5

Về hiệu quả tăng cường hứng thú của tiết học thông qua các bài giảng có tính tương tác, có 2% sinh viên đánh giá hiệu quả ở mức 1; 6% sinh viên đánh giá ở mức 2; 17% sinh viên đánh giá ở mức 3; 21% sinh viên đánh giá ở mức 4; 54% sinh viên đánh giá

ở mức 5

Về hiệu quả kích thích sự sôi nổi xây dựng bài của người học, có 2% sinh viên đánh giá hiệu quả ở mức 1; 10% sinh viên đánh giá ở mức 2; 21% sinh viên đánh giá ở mức 3; 30% sinh viên đánh giá ở mức 4; 37% sinh viên đánh giá ở mức 5

Về hiệu quả giúp cho người học có thêm kênh trao đổi kiến thức giữa sinh viên – sinh viên, sinh viên – giảng viên, có 10% sinh viên đánh giá hiệu quả ở mức 1; 10% sinh viên đánh giá ở mức 2; 18% sinh viên đánh giá ở mức 3; 32% sinh viên đánh giá ở mức 4; 30% sinh viên đánh giá ở mức 5

Về hiệu quả giúp người học chủ động hơn trong tìm kiếm học liệu và ngân hàng đề phục vụ ôn thi, có 6% sinh viên đánh giá hiệu quả ở mức 1; 6% sinh viên đánh giá ở mức 2; 28% sinh viên đánh giá ở mức 3; 24% sinh viên đánh giá ở mức 4; 36% sinh viên đánh giá ở mức 5

Bảng 2 Kết quả khảo sát mức độ thường xuyên ứng dụng CNTT trong giờ học

T hường xuyên Khá đều đặn Thi thoảng Không áp dụng

Trang 5

Về hiệu quả giúp người học có thể rèn luyện

thường xuyên qua các phần mềm hoặc website hỗ trợ

học tập, có 4% sinh viên đánh giá hiệu quả ở mức 1;

6% sinh viên đánh giá ở mức 2; 24% sinh viên đánh

giá ở mức 3; 27% sinh viên đánh giá ở mức 4; 39%

sinh viên đánh giá ở mức 5 Kết quả khảo sát thể hiện

ở biểu đồ 1

Quan sát biểu đồ trên, có thể thấy, sinh viên đánh

giá hiệu quả tác động của bài giảng điện tử dưới sự hỗ

trợ của CNTT tốt nhất ở việc tăng cường hứng thú cho

tiết học thông qua các bài giảng có tính tương tác, tiếp

đó là hiệu quả nhận diện chữ Hán, hệ thống hóa từ loại

và quy tắc ghép từ trong việc học từ mới, giúp người

học có thể rèn luyện thường xuyên qua các phần mềm

hoặc Webtise hỗ trợ học tập

Tuy nhiên, việc thiết kế biên soạn một bài giảng

lý tưởng với mức độ tích hợp các ứng dụng CNTT cao

và hiệu quả đòi hỏi giảng viên phải đầu tư thời gian,

công sức tìm hiểu, nghiên cứu và ứng dụng, do đó,

mức độ ứng dụng của bài giảng điện tử trong giờ học

còn chưa cao

Qua khảo sát phản hồi của 100 sinh viên về mức

độ ứng dụng CNTT của giảng viên trong giờ học, chúng tôi thu được kết quả như bảng 2

Kết quả khảo sát cho thấy, mức độ thường xuyên ứng dụng CNTT trong giảng dạy của giảng viên chưa đồng đều cho các hình thức ứng dụng

Ở hình thức áp dụng nghe băng thu âm hội thoại,

có 24% sinh viên đánh giá giảng viên thường xuyên cho nghe băng, 30% sinh viên đánh giá giảng viên cho nghe khá đều đặn, 32% sinh viên đánh giá giảng viên thỉnh thoảng cho nghe băng, 14% sinh viên đánh giá giảng viên không áp dụng nghe băng hội thoại

Ở hình thức trình chiếu slide trong bài giảng, 36% sinh viên đánh giá giảng viên thường xuyên sử dụng slide trong bài giảng, 35% sinh viên đánh giá giảng viên sử dụng khá đều đặn, 17% sinh viên đánh giá thỉnh thoảng sử dụng và 12% sinh viên đánh giá giảng viên không áp dụng

Ở hình thức ứng dụng phần mềm dạy học, 13% sinh viên đánh giá giảng viên không sử dụng thường xuyên phần mềm dạy học, 23% sinh viên đánh giá giảng viên sử dụng khá đều đặn, 28% sinh viên đánh

Trang 6

Bảng 3 Kết quả khảo sát về tính cấp thiết của việc ứng dụng CNTT vào giờ học

1 Xây dựng kho học cụ online, mọi người có thể truy

2 Diễn đàn trao đổi kiến thức, kinh nghiệm, phương

3 Ra đề, làm bài và chấm thi trắc nghiệm thông qua phần

4 Tăng cường sử dụng slide hình ảnh trình chiếu minh

5 Tăng cường sử dụng hội thoại có hình (video hội thoại)

6 Tăng cường sử dụng mini game hoặc phần mềm hỗ trợ

giá giảng viên thi thoảng sử dụng, 36% sinh viên đánh

giá giảng viên không áp dụng hình thức này

Có thể thấy, mức độ thường xuyên sử dụng CNTT

trong giảng dạy của giảng viên chủ yếu ở hai hình

thức nghe băng thu âm hội thoại và trình chiếu slide,

việc khai thác ứng dụng phần mềm dạy học vẫn chưa

được khai thác triệt để

Trong khi đó, về tầm quan trọng và tính cấp thiết

của việc ứng dụng CNTT vào giờ học được sinh viên

đánh giá như bảng 3:

Từ bảng thống kê có thể thấy, nhu cầu xây dựng

kho học liệu online, mọi người có thể cùng truy cập

tham khảo, có 11% sinh viên đánh giá ở mức 1; 17%

sinh viên đánh giá ở mức 2; 17% sinh viên đánh giá

ở mức 3; 20% sinh viên đánh giá ở mức 4; 35% sinh

viên đánh giá ở mức 5

Về nhu cầu tổ chức diễn đàn trao đổi kiến thức,

kinh nghiệm, phương pháp học tập, có 8% sinh viên

đánh giá ở mức 1; 22% sinh viên đánh giá ở mức 2;

20% sinh viên đánh giá ở mức 3; 25% sinh viên đánh

giá ở mức 4; 25% sinh viên đánh giá ở mức 5

Về ra đề, làm bài và chấm thi trắc nghiệm thông

qua phần mềm máy tính có 11% sinh viên đánh giá

ở mức 1; 14% sinh viên đánh giá ở mức 2; 26% sinh viên đánh giá ở mức 3; 19% sinh viên đánh giá ở mức 4; 30% sinh viên đánh giá ở mức 5

Về tăng cường sử dụng slide hình ảnh trình chiếu minh hoạ trong tiết học có 19% sinh viên đánh giá ở mức 1; 10% sinh viên đánh giá ở mức 2; 20% sinh viên đánh giá ở mức 3; 21% sinh viên đánh giá ở mức 4; 30% sinh viên đánh giá ở mức 5

Về tăng cường sử dụng hội thoại có hình (video hội thoại) trong tiết học có 9% sinh viên đánh giá ở mức 1; 9% sinh viên đánh giá ở mức 2; 23% sinh viên đánh giá ở mức 3; 32% sinh viên đánh giá ở mức 4; 27% sinh viên đánh giá ở mức 5

Về tăng cường sử dụng mini game hoặc phần mềm hỗ trợ học tập trên lớp có 13% sinh viên đánh giá ở mức 1; 11% sinh viên đánh giá ở mức 2; 23% sinh viên đánh giá ở mức 3; 24% sinh viên đánh giá ở mức 4; 29% sinh viên đánh giá ở mức 5

Kết quả khảo sát được thể hiện ở biểu đồ 2

Nhìn vào biểu đồ có thể thấy, sinh viên đánh giá rất cao tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc ứng

Trang 7

dụng CNTT trong giờ học, với mức độ và hình thức

ứng dụng như hiện nay, việc sử dụng CNTT trong giờ

học chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của sinh viên

4.2 Những khó khăn và hạn chế trong việc

ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy tiếng

Trung Quốc

Bài giảng điện tử được sử dụng trong giờ học hiện

nay đã phần nào giảm tải được công việc của giảng

viên khi lên lớp, tuy nhiên việc xây dựng và thiết kế

một bài giảng hoàn chỉnh và hiệu quả đòi hỏi khá

nhiều thời gian và công sức, trong khi nguồn dữ liệu

số và tài liệu tham khảo của nhà trường còn nghèo

nàn, do đó giảng viên gặp khá nhiều khó khăn trong

việc xây dựng bài giảng

Việc ứng dụng CNTT cho môn tiếng Trung Quốc

hiện nay chủ yếu vẫn đang nằm ở việc giảng viên tự

tìm kiếm, đánh giá và sử dụng phần mềm, chưa có

một khóa đào tạo nào về việc ứng dụng CNTT, nên

khả năng ứng dụng vào bài giảng chưa cao, việc thể

hiện nội dung bài giảng trên lớp còn đơn giản, chưa

linh hoạt, phần nhiều mới chỉ thay thế được việc viết

bảng, nhiều bài giảng mới chỉ trình chiếu slide và hình ảnh, chưa kết hợp hiệu quả với giảng dạy của giảng viên và các clip, audio âm thanh bổ trợ

Các ứng dụng CNTT đổi mới từng ngày, tuy nhiên, giảng viên chưa được tiếp cận đầy đủ và thường xuyên cập nhật các kiến thức CNTT để ứng dụng trong giảng dạy

Cơ sở vật chất của nhà trường hiện nay tương đối phù hợp với việc hỗ trợ giảng viên trong việc áp dụng bài giảng điện tử trong giảng dạy Tuy nhiên, hạn chế cũng không nhỏ, cụ thể là giảng viên chưa được hỗ trợ về máy tính, bảng tương tác điện tử, và các thiết bị văn phòng khác nhằm phục vụ hoạt động giảng dạy

Về phía sinh viên, sinh viên ngày nay đã được đầu

tư các điều kiện cần thiết để khai thác CNTT trong học tập, như máy tính, Smart phone, tuy nhiên, do bản thân sinh viên chưa tích cực, chủ động khai thác công cụ CNTT trong học tập, đồng thời thiếu sự định hướng và chỉ dẫn của giảng viên, nên hiệu quả ứng dụng chưa cao

Ngày đăng: 11/03/2021, 07:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w