1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường THPT các tỉnh Đông nam bộ trong bối cảnh đổi mới giáo dục - thực trạng và giải pháp

7 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 307,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Coi trọng việc trao đổi, học tập kinh nghiệm phát triển GD của các nước tiên tiến, trước hết là các nước trong khu vực; đổi mới toàn diện từ mục tiêu, nội dung, phương pháp của quá t[r]

Trang 1

VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CBQL TRƯỜNG THPT CÁC TỈNH ĐÔNG NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Phan Minh Tiến *

Phạm Ngọc Hải **

TÓM TẮT

Sự đổi mới giáo dục nói chung và giáo dục Trung học phổ thông nói riêng trong những năm qua đã có sự thay đổi lớn từ mục tiêu, nội dung đến phương pháp giáo dục Trước những yêu cầu mới của giáo dục đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học phổ thông có đủ năng lực, tầm nhìn để quản lý sự thay đổi đó, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Từ khóa: Phát triển, trường THPT, cán bộ quản lý, đổi mới giáo dục

SOME THOUGHTS ABOUT HIGH SCHOOL MANAGEMENT STAFF OF THE PROVINCES IN THE EAST OF THE SOUTH IN THE BACKGROUND OF EDUCATION

INNOVATION - REALITY AND SOLUTIONS

SUMMARY

The innovation in education in general and in Upper Secondary School education in particular has had great changes from targets, contents to educational methods for the past years With the new requirements of education, Upper Secondary School management staffs are required

to be well-qualified with foresight to manage those changes, meeting the requirements of training human resources in the condition of local, socio - economic development.

Key words: Development, secondary school, management staffs, education innovation.

* PGS.TS Khoa Tâm Lý – Giáo dục trường Đại học Sư phạm ĐH Huế Email: tienpm58@gmail.com.

** ThS Phòng Giáo dục và Đào tạo, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, Email: phamngochai1967@gmail.com.

1 Xu thế đổi mới giáo dục hiện nay

1.1 Xu thế đổi mới nền giáo dục

Đổi mới giáo dục (GD) đang diễn ra trên

quy mô toàn cầu Bối cảnh đổi mới đó đã tạo

nên những thay đổi sâu sắc trong GD, từ quan

niệm về chất lượng GD, xây dựng nhân cách

người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống GD Nhà trường từ chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội và gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học, công nghệ và ứng dụng, nhà giáo thay vì chỉ truyền đạt tri thức, chuyển sang cung cấp cho người

Trang 2

học phương pháp thu nhận thông tin một cách

hệ thống, có tư duy phân tích và tổng hợp Đầu

tư cho GD từ chỗ được xem là phúc lợi xã hội

chuyển sang đầu tư cho phát triển Vì vậy, các

quốc gia, từ những nước đang phát triển đến

những nước phát triển đều nhận thức được vai

trò và vị trí hàng đầu của GD, đều phải đổi mới

GD để có thể đáp ứng một cách năng động hơn,

hiệu quả hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu của

sự phát triển đất nước

Sự đổi mới và phát triển GD đang diễn

ra ở quy mô toàn cầu, tạo cơ hội tốt để GD

Việt Nam nhanh chóng tiếp cận với các xu

thế mới, tri thức mới, những cơ sở lý luận,

phương thức tổ chức, nội dung giảng dạy hiện

đại và tận dụng các kinh nghiệm quốc tế để

đổi mới và phát triển Coi trọng việc trao đổi,

học tập kinh nghiệm phát triển GD của các

nước tiên tiến, trước hết là các nước trong khu

vực; đổi mới toàn diện từ mục tiêu, nội dung,

phương pháp của quá trình GD; tăng cường

đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học;

xây dựng bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán

bộ quản lý giáo dục (CBQLGD); tăng cường

công tác quản lý, xã hội hóa GD, đa dạng hóa

các loại hình GD

Đổi mới GD nhằm đáp ứng yêu cầu về

con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết

định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công

nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH), cần

tạo sự chuyển biến cơ bản và toàn diện về

GD Vì vậy, cần phải: tạo bước chuyển biến

cơ bản về chất lượng GD theo hướng tiếp cận

với trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với

thực tiễn GD Việt Nam; ưu tiên nâng cao chất

lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng

nhân lực, khoa học công nghệ trình độ cao,

CBQL, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật

lành nghề Trong đó, đổi mới QLGD tạo cơ sở

pháp lý và phát huy nội lực để phát triển GD

Tóm lại, đổi mới GD để phát huy những lợi thế, vượt qua thách thức, tranh thủ thời

cơ xây dựng một nền GD tiên tiến, hiện đại, hướng tới một xã hội học tập, nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao phẩm chất toàn cầu của con người Việt Nam trong thời đại mới Đứng trước yêu cầu đổi mới nêu trên, xã hội đặt ra yêu cầu cao đối với năng lực và phẩm chất của người CBQLGD, trong đó đổi mới công tác QLGD là quan trọng nhất Ngành GD – ĐT phải không ngừng xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD để đáp ứng với những đặc điểm của thời đại ngày nay

1.2 Xu thế đổi mới GDTHPT

Đổi mới mục tiêu GD phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN Đổi mới nội dung GD: xây dựng nội dung dạy học theo hai xu hướng: xây dựng chương trình cốt lõi với các yêu cầu tối thiểu về tri thức và kỹ năng; tích hợp các môn học cổ truyền, hình thành các môn học mới như: khoa học tự nhiên, khoa học nhân văn, khoa học phục vụ đời sống và gia đình Đổi mới phương pháp GD THPT: xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay

là cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống theo hướng tác động vào thái độ học; tăng cường khả năng làm việc độc lập; chủ động và khả năng tự học của HS; thử nghiệm các phương pháp dạy học hiện đại để xác định mức độ phù hợp với đối tượng và điều kiện, hoàn cảnh cụ thể nhằm xác định và điều chỉnh cách sử dụng cho có hiệu quả

Từ những yêu cầu đổi mới trên, người Hiệu trưởng nhà trường THPT phải có đủ năng lực, tầm nhìn để quản lý sự thay đổi

đó

Trang 3

2 Thực trạng đội ngũ CBQL trường

THPT các tỉnh Đông Nam Bộ

2.1 Thực trạng về số lượng, trình độ đào

tạo đội ngũ CBQL trường THPT các tỉnh

Đông Nam Bộ

Với hệ thống 90 trường THPT công lập

phân bổ trong 3 tỉnh Đông Nam Bộ, được

phân bổ từ đồng bằng, thành thị đến miền

núi, các Sở GD – ĐT đã tham mưu cho Ủy

ban nhân dân tỉnh bố trí khá đầy đủ đội ngũ

GV và CBQL cho các đơn vị Đồng thời, để

phát triển sự nghiệp GD, các tỉnh đã triển

khai nhiều giải pháp phát triển đội ngũ nhà

giáo và CBQLGD nói chung, đội ngũ CBQL

trường THPT nói riêng Do đó, đội ngũ CBQL

trường THPT đã được tăng cường về số lượng

lẫn chất lượng, có những bước phát triển về

trình độ chuyên môn và năng lực quản lý nhà

trường, cơ bản đáp ứng được các tiêu chí của

chuẩn Tuy nhiên, đứng trước tình hình phát

triển rất nhanh về kinh tế - xã hội (KT - XH),

sự đô thị hóa của các tỉnh Đông Nam Bộ nên

đội ngũ CBQL trường THPT vẫn còn nhiều

bất cập

Hiện nay, CBQL các trường THPT công

lập cần có là 329 người Như vậy, số lượng

CBQL trường THPT còn thiếu, cần được bổ

sung 50 người Nguyên nhân: một số nghỉ hưu

trước tuổi do năng lực hạn chế, do sức khỏe

yếu; một số chuyển công tác khác theo yêu

cầu của địa phương và do công tác quy hoạch,

tạo nguồn từ cơ sở còn chậm so với yêu cầu

y Về trình độ đào tạo: CBQL trường

THPT đạt chuẩn 100%, trong đó trên chuẩn

22,6%, cho thấy đội ngũ CBQL luôn phấn đấu

học tập nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu

phát triển của thời kỳ hội nhập nhằm nâng cao

chất lượng GD – ĐT trong khu vực của vùng

kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước, tạo

điều kiện liên kết mở rộng đào tạo quốc tế,

xứng tầm cùng với thành phố Hồ Chí Minh

và Đồng Nai, tạo thành trung tâm GD – ĐT và nghiên cứu khoa học lớn của khu vực Đông Nam Bộ và của Việt Nam vào năm 2020 Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế, theo dõi trong công tác quản lý chỉ đạo và kết quả từng mặt khi đánh giá CBQL theo chuẩn vẫn còn một

số CBQL tuy đã có trình độ đào tạo đạt chuẩn nhưng vẫn còn bất cập ở khả năng xây dựng các kế hoạch dài hạn, khả năng xây dựng kế hoạch chiến lược, xây dựng chương trình, đề

án để triển khai các mục tiêu lớn của ngành

yVề lý luận chính trị, nghiệp vụ quản lý, tin học, ngoại ngữ

Qua khảo sát thực trạng, tỉ lệ CBQL đa số

có trình độ trung cấp chính trị trở lên (89,2%),

số còn lại cần được tiếp tục bồi dưỡng (chiếm 10,8%) Về nghiệp vụ quản lý: số CBQLGD chưa qua bồi dưỡng nghiệp vụ QLGD và quản lý nhà nước còn khá cao (QLGD chiếm 16,1%; quản lý nhà nước chiếm 29,7%), chứng tỏ khâu quy hoạch, dự nguồn, đào tạo, bồi dưỡng trước khi đề bạt, bổ nhiệm còn bất cập Hầu hết CBQL đều có trình độ A tin học, trình độ B còn ít, bên cạnh đó còn một số ít chưa đạt chuẩn về tin học Về ngoại ngữ từ trình độ A trở lên chiếm tỉ lệ 59,5% (trong đó, trình độ B, C và Cử nhân rất ít), còn lại 40,5% chưa đạt yêu cầu chuẩn

Đây là nguyên nhân dẫn đến một số CBQl chưa xử lý tốt tình huống QLGD trong thực tiễn quản lý ở các nhà trường Một số CQBL chưa quan tâm công tác GD chính trị cho đội ngũ cán bộ giáo viên (GV), chưa triển khai tốt ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, khai thác, thu thập thông tin, dữ liệu phục vụ công tác chỉ đạo, vì vậy các Sở GD – ĐT và cá nhân CBQL phải quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nhằm đảm bảo các tiêu chuẩn chức danh CQBL (trước, trong và sau khi bổ nhiệm)

Trang 4

2.2 Thực trạng về cơ cấu đội ngũ CBQL

trường THPT các tỉnh Đông Nam Bộ

y Về cơ cấu độ tuổi: độ tuổi của CBQL

trường THPT có sự phân bố không hợp lý,

đối tượng cao tuổi và trẻ tuổi có tỉ lệ chênh

lệch nhau: trên 50 tuổi chiếm 30,1%; dưới 30

tuổi chiếm 3,6%; độ tuổi từ 31 đến 40 chiếm

38,7%; từ 41 đến 50 tuổi chiếm 27,6% Sự

phân hóa không hợp lý các thế hệ CBQL

trường THPT không bảo đảm tính kế thừa

giữa các thế hệ, không bảo đảm cho sự ổn

định Cần phải tăng cường trẻ hóa đội ngũ để

thích ứng với điều kiện phát triển KT – XH

hiện nay

y Về cơ cấu giới tính: đội ngũ CBQL

trường THPT chưa đảm bảo cân đối về giới

tính, tỉ lệ nữ chỉ chiếm 13,3%, trong khi đó tỉ

lệ nam chiếm 86,7% Đặc biệt những trường

ở vùng biên giới giáp ranh Campuchia (Tây

Ninh, Bình Phước), vùng miền núi (Bình

Phước) tỉ lệ nữ lại càng thấp hơn, trong khi tỉ

lệ GV nữ các trường THPT lại cao (68%) Để

giải quyết thực trạng này các Sở GD – ĐT cần

chú trọng và làm tốt hơn công tác quy hoạch,

đào tạo, bồi dưỡng đối với GV nữ

y Về cơ cấu dân tộc: Về cơ cấu dân tộc,

tỉ lệ CBQL là người dân tộc thiểu số còn rất ít

so với tỉ lệ GV dân tộc thiểu số của các trường

THPT Đây là vấn đề đặt ra trong công tác đào

tạo tuyển dụng, sử dụng GV là người dân tộc

thiểu số trong những năm qua Cần bổ sung

CBQL là người dân tộc để có điều kiện phát

triển GD ở vùng núi, vùng biên giới, vùng đặc

biệt khó khăn để tiến tới thực hiện phổ cập

GD trung học trong khu vực theo đề án phát

triển GD của các tỉnh đến năm 2015 và 2020

y Về cơ cấu bộ môn: bộ môn của CBQL

được đào tạo trước khi bổ nhiệm có sự phân

bố không đồng đều giữa bộ môn tự nhiên và

bộ môn xã hội, CBQL ở bộ môn tự nhiên chỉ

chiếm 23,7% trong khi đó ở bộ môn xã hội chiếm 76,3% Do đó trong công tác bổ nhiệm CBQL yêu cầu chú trọng đến sự cân đối giữa

bộ môn tự nhiên và xã hội nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong công tác chỉ đạo chuyên môn của các nhà trường

yVề thời gian giảng dạy trước khi bổ nhiệm: đội ngũ CBQL trường THPT đều

được phát triển từ GV giảng dạy, số CBQL trước khi bổ nhiệm dạy 3 đến 5 năm chiếm

tỉ lệ 0%; 5 đến 10 năm chiếm 19,4%; trên 10 năm chiếm 80,6% Qua khảo sát thực trạng cho thấy CBQL có thâm niên giảng dạy chiếm

tỉ lệ rất lớn trước khi được bổ nhiệm, điều này cũng giải thích vì sao có nhiều CBQL ở độ tuổi từ 41 đến 50 chiếm đa số nhưng thời gian tham gia làm CBQL thì lại ngắn

2.3 Thực trạng về phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ CBQL trường THPT các tỉnh Đông Nam Bộ

Đội ngũ CBQL trường THPT các tỉnh Đông Nam Bộ có lập trường, tư tưởng vững vàng, chấp hành tốt chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng, Nhà nước, các quy định của ngành và của địa phương, có khả năng phân tích đúng, sai và thể hiện rõ quan điểm trước sự thay đổi Có đạo đức, lối sống tốt, trung thực, thẳng thắn, có trách nhiệm cao trong công tác, vượt qua khó khăn để vươn lên hoàn thành nhiệm vụ được giao Gương mẫu trong lối sống và hành động, sống giản

dị, quan hệ gần gũi, chân tình, cởi mở, tôn trọng đồng nghiệp, yêu thương HS, giữ gìn uy tín nhà giáo Tuy nhiên, bên cạnh đó còn một

bộ phận CBQL hạn chế về tác phong làm việc

và giao tiếp, ứng xử, chưa đáp ứng được yêu

cầu đổi mới QLGD

2.4 Thực trạng về năng lực chuyên môn

và nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ CBQL trường THPT các tỉnh Đông Nam Bộ

Trang 5

Đội ngũ CBQL trường THPT nắm được

chương trình, phương pháp đặc trưng của các

môn học, đã chỉ đạo đổi mới nội dung, phương

pháp giảng dạy phù hợp với HS các vùng miền

trong khu vực Đông Nam Bộ, từng bước nâng

cao chất lượng dạy và học Tuy nhiên, ý thức

học tập nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học còn

hạn chế, một bộ phận CBQL kiến thức, năng lực

chuyên môn, năng lực tự học, sáng tạo, đổi mới

còn ở mức thấp, chưa đáp ứng được đổi mới căn

bản, toàn diện của GD hiện nay

2.5 Thực trạng về năng lực quản lý nhà

trường của đội ngũ CBQL trường THPT các

tỉnh Đông Nam Bộ

Hầu hết CBQL trường THPT đã nắm được

nguyên tắc quản lý, có khả năng giải quyết

các tình huống trong thực tiễn, xây dựng được

môi trường học tập thân thiện, có khả năng

quản lý hành chính văn phòng, quản lý tốt

hoạt động của tổ chuyên môn và giảng dạy

của giáo viên, tập hợp được cán bộ, GV để

xây dựng tập thể đoàn kết nhất trí cao, thực

hiện tốt nhiệm vụ chính trị Bên cạnh những

kết quả đạt được, đội ngũ CBQL trường

THPT vẫn còn một số hạn chế: khả năng phân

tích, dự báo chưa tốt, chưa xây dựng được kế

hoạch chiến lược, tình trạng mất mát tài sản,

lãng phí của công, lãng phí tài chính còn xảy

ra ở một số đơn vị trường học

3 Thực trạng công tác phát triển đội

ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ

thông các tỉnh Đông Nam Bộ

Thực hiện đề án nâng cao chất lượng nhà

giáo và CBQL, các Sở GD – ĐT các tỉnh

Đông Nam Bộ đã triển khai nhiều giải pháp

phát triển đội ngũ CBQL trường THPT, do đó

đội ngũ CBQL ngày càng được tăng cường số

lượng và chất lượng Tuy nhiên, hiệu quả của

các giải pháp đang thực hiện được đánh giá

chưa cao

Phát triển đội ngũ CBQL trường THPT bao gồm các nội dung: quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển, đánh giá, tạo điều kiện…, nhằm tạo ra những thay đổi về số lượng và chất lượng của đội ngũ Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng các trường THPT đáp ứng những yêu cầu đặt ra trong bối cảnh đổi mới GD hiện nay

3.1 Công tác xây dựng kế hoạch, quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trường trung học phổ thông

“Công tác xây dựng kế hoạch, quy

hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT”: trong những năm qua, công tác

xây dựng kế hoạch, quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL nói chung của các tỉnh Đông Nam Bộ và quy hoạch CBQL của ngành GD – ĐT nói riêng được các cấp quan tâm Tuy nhiên, một số ít đơn vị trường học, quy trình quy hoạch cán bộ chưa thống nhất, số lượng cán bộ được quy hoạch vào các chức danh chưa cụ thể, công tác quy hoạch chưa tuân thủ quy trình chung theo văn bản hướng dẫn của Đảng

Công tác quy hoạch CBQL cấp THPT tuy được Sở GD – ĐT chỉ đạo khá cụ thể, nhưng nhiều đơn vị vẫn thực hiện chưa đạt yêu cầu,

do đó nguồn CBQL chưa được bổ sung đầy đủ theo quy định, số CBQL là phó Hiệu trưởng các trường THPT còn thiếu nhiều, CBQL người dân tộc chưa được quan tâm, nguồn bổ sung phó Hiệu trưởng cho các trường THPT

bị hẫng hụt, lúng túng khi cần bổ sung CBQL cho các trường

3.2 Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học phổ thông các tỉnh Đông Nam Bộ

Kết quả đạt được ở mức độ tốt, tuy nhiên

ở một số trường còn có các hạn chế ở việc chỉ đạo, quản lý việc đào tạo nâng chuẩn về

Trang 6

lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin học, khuyến

khích tự học, tự bồi dưỡng

Trong những năm qua, công tác đào tạo,

bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và lý luận

chính trị cho đội ngũ CBQL của các Sở GD

– ĐT các tỉnh Đông Nam Bộ tuy có thực hiện

nhưng thiếu đồng bộ, số lượng CBQL được

cử đi học các lớp bồi dưỡng chuyên môn,

chính trị trong và ngoài tỉnh còn hạn chế Một

số CBQL có nguyện vọng đi học để nâng cao

trình độ nhưng không sắp xếp được do chưa

có người thay thế, một số do hoàn cảnh khó

khăn nên chưa thực hiện được quyết định của

lãnh đạo các Sở GD – ĐT

3.3 Công tác đánh giá, xếp loại đội ngũ

cán bộ quản lý các trường trung học phổ

thông các tỉnh Đông Nam Bộ

Việc đánh giá chất lượng đội ngũ CBQL

các trường THPT được các Sở GD – ĐT hướng

dẫn các đơn vị thực hiện vào cuối năm học

Kết quả đánh giá dựa trên việc từng CBQL tự

đánh giá, tập thể hội đồng thi đua trường đánh

giá, đề nghị và đánh giá xếp loại của ngành

Mặc dù đã có kết quả đánh giá xếp loại nhưng

các Sở GD – ĐT vẫn không có biện pháp tác

động nên đội ngũ CBQL trường THPT ít có

sự chuyển biến tích cực Do đó cần có giải

pháp đối với đội ngũ CBQL sau khi có kết

quả đánh giá xếp loại đội ngũ CBQL trường

THPT vào cuối năm học

Qua trao đổi, phỏng vấn, một số HT đều

cho rằng việc đánh giá CBQL và GV theo

chuẩn là một việc làm rất khoa học, nếu làm

tốt sẽ mang lại kết quả quan trọng trong công

tác xây dựng đội ngũ Thông qua đánh giá

CBQL và GV (dự nguồn) thấy được điểm

mạnh, điểm yếu, nhất là sự thiếu hụt về phẩm

chất và kiến thức, kỹ năng so với chuẩn Từ

đó, có kế hoạch để từng bước hoàn thiện bản

thân Tuy nhiên, việc đánh giá CBQL và GV

theo chuẩn hiện nay còn gặp nhiều khó khăn

do thu thập không đầy đủ minh chứng trong đánh giá

3.4 Công tác tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, sử dụng và luân chuyển đội ngũ cán

bộ quản lý trường trung học phổ thông

Trong những năm qua công tác bổ nhiệm,

bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, luân chuyển CBQL được Sở GD – ĐT quan tâm, hàng năm số CBQL các đơn vị được xem xét thực hiện quy trình bổ nhiệm lại theo quy định tại Quyết định số 27/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Việc luân chuyển CBQL theo tinh thần Nghị quyết 11/NQ của Trung ương đã được các Sở GD – ĐT thực hiện có hiệu quả, được

dư luận trong đội ngũ giáo viên đồng tình ủng

hộ

3.5 Thực hiện chế độ chính sách, tạo động lực cho hoạt động của đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông các tỉnh Đông Nam Bộ

Thực trạng về việc thực hiện các chế độ, chính sách đối với đội ngũ CBQL trường THPT các tỉnh Đông Nam Bộ bước đầu đã có tác dụng thiết thực trong việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, động viên khuyến khích đội ngũ CBQL nỗ lực lao động sáng tạo, cống hiến cho ngành, cho địa phương Tuy nhiên, hệ thống chế độ, chính sách còn nhiều bất cập, bị động, thiếu đồng bộ, chưa tạo được động lực để tập hợp, thu hút nhân tài, chưa khuyến khích những người đang công tác ở vùng sâu, vùng xa có điều kiện

KT – XH đặc biệt khó khăn yên tâm công tác Một số chế độ, chính sách chưa phù hợp yêu cầu thực tế, không đảm bảo nhu cầu tối thiểu của đời sống Cơ chế quản lý, việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách còn chồng chéo, thiếu nhất quán Vì vậy cần được điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện

Trang 7

nhằm tác động thiết thực vào đội ngũ CBQL

trường THPT để đem lại hiệu quả quản lý

cao hơn

3.6 Sự lãnh đạo của Đảng và chính

quyền địa phương đối với việc phát triển đội

ngũ cán bộ quản lý các trường trung học

phổ thông

Những năm qua, Đảng bộ các tỉnh Đông

Nam Bộ đã triển khai thực hiện tốt các Nghị

quyết Đại hội VIII, IX, X và XI của Trung

ương và nghị quyết Đại hội tỉnh đảng bộ Tây

Ninh, Bình Dương, Bình Phước Trong đó,

việc lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ chính

trị của địa phương, Ban thường vụ Tỉnh ủy

luôn quan tâm chỉ đạo các hoạt động trên lĩnh

vực GD và đào tạo, triển khai quán triệt và

thực hiện nghiêm túc đường lối, chủ trương,

giải pháp chiến lược của Đảng về GD – ĐT

như nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc qua

các khóa và các chỉ thị của Bộ Chính trị về

lĩnh vực GD – ĐT, Chỉ thị 40/CT-TW ngày

15/6/2004 của Ban bí thư Trung ương về việc

xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà

giáo và CBQLGD; Quyết định số 09/2005/

QĐ-TTg ngày 11/01/2005 của Thủ tướng

Chính phủ về việc phê duyệt đề án “Xây

dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo

và CBQLGD giai đoạn 2005-2010”; Chiến

lược phát triển GD giai đoạn 2011 – 2020 của

Bộ GD – ĐT, Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng

bộ của các tỉnh về GD – ĐT và phương hướng

phát triển GD từ nay đến năm 2020

Nhìn chung, việc tăng cường sự lãnh đạo

của Đảng đối với nhiệm vụ phát triển đội ngũ

CBQL trường THPT các tỉnh Đông Nam Bộ

đã được thực hiện sâu sát, kịp thời, đúng trọng

tâm, thể hiện sự quyết tâm của Đảng bộ, chính

quyền, nhân dân và ngành GD – ĐT các tỉnh

Đông Nam Bộ trong việc thực hiện đường lối

chiến lược của Đảng, thực hiện chiến lược

phát triển giáo dục và chấn hưng đất nước

Vì vậy cần thực hiện đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ CBQL trường THPT các tỉnh Đông Nam Bộ

4 Các giải pháp đề xuất

4.1 Giải pháp “Nâng cao nhận thức và

sự phối hợp giữa Sở GD – ĐT với cấp ủy địa phương về công tác phát triển CBQL trường THPT”

Làm cho cấp ủy, chính quyền, các cấp quản lý ngành GD và đội ngũ nhận thấy rõ tầm quan trọng của CBQL; từ đó xây dựng

cơ chế phối hợp giữa Sở GD – ĐT với cấp ủy địa phương trong công tác xây dựng đội ngũ CBQL trường THPT Có thể nói rằng, việc chuyển biến nhận thức của đội ngũ CBQL,

GV các trường THPT là điều kiện cần, nhưng chưa đủ Để đổi mới nhằm nâng cao tính bền vững chất lượng GD, sẽ không thể thiếu sự quan tâm, hỗ trợ, tạo điều kiện, thúc đẩy mà thực ra đó cũng chính là nhiệm vụ, trách nhiệm của lãnh đạo các cấp Vấn đề đặt ra, muốn có

sự nhận thức đúng về nhà trường thì ngoài sự

nỗ lực của đội ngũ, rất cần sự cộng đồng trách nhiệm của lãnh đạo các cấp quản lý và sự phối hợp chặt chẽ với các ngành hữu quan

Như trên đã nêu, trường THPT là đơn vị trực thuộc Sở GD – ĐT, CBQL các trường THPT do Giám đốc Sở GD – ĐT bổ nhiệm CBQL các trường THPT vừa chịu sự lãnh đạo của Sở vừa chịu sự lãnh đạo của huyện

ủy, UBND huyện Theo qui định, công tác xây dựng đội ngũ CBQL trường THPT do Sở GD – ĐT có trách nhiệm chính, đồng thời phối hợp với cấp ủy địa phương để đảm bảo nguyên tắc Đảng lãnh đạo công tác cán bộ Do đó, để công tác xây dựng đội ngũ CBQL các trường THPT được chặt chẽ, khả thi, giữa Sở GD – ĐT và cấp ủy địa phương cần xây dựng qui chế phối hợp

Ngày đăng: 11/03/2021, 07:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w