Đối với đội ngũ cán bộ giảng viên trực tiếp giảng dạy trong các trường đại học, là người trực tiếp truyền đạt kiến thức, định hướng nhân cách cho sinh viên thì việc học tập và[r]
Trang 1Học tập phong cách diễn đạt của Hồ Chí Minh trong giảng dạy
lý luận chính trị ở Việt Nam
Learning Ho Chi Minh's expresive style in teaching
of political theory in Vietnam
Phạm Xuân Đức
Email: phamxuanducsdu@gmail.com
Trường Đại học Sao Đỏ Ngày nhận bài: 17/1/2020 Ngày nhận bài sửa sau phản biện: 27/6/2020
Ngày chấp nhận đăng: 30/6/2020
Tóm tắt
Phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh rất riêng biệt, độc đáo, được biểu hiện sống động qua ngôn ngữ (nói, viết), qua cử chỉ (hành động) giúp cho những người được lĩnh hội dễ hiểu, dễ nhớ và dễ thực hiện Học tập và làm theo phong cách diễn đạt của Người có giá trị và ý nghĩa thiết thực đối với đội ngũ giảng viên giảng dạy lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng hiện nay Bài viết tập trung bàn về phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh và đưa ra các giải pháp cơ bản giúp giảng viên lý luận chính trị học tập và rèn luyện theo phong cách diễn đạt của Người để hoàn thành tốt công tác giáo dục đối với sinh viên
Từ khóa: Phong cách; phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh; giảng viên lý luận chính trị.
Abstract
Ho Chi Minh's expressive style is very unique, vividly expressed through language (spoken, written) and gestures (actions) to help comprehensible, easy-to-remember and easy-to-understand people show up Studying and following the style of his expression have value and practical significance to the teaching staff of political theory at universities and colleges today The paper focuses on Ho Chi Minh's style
of expression and provides basic solutions to help political theory teachers learn and practice in his expression style in order to complete the educational work well student
Keywords: Style; Ho Chi Minh expression style; political theory lecturer.
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Phong cách Hồ Chí Minh là một bộ phận quan
trọng trong toàn bộ di sản vô giá mà Người để lại
cho dân tộc ta Phong cách của Người không chỉ
là bài học, là chuẩn mực cho việc xây dựng phong
cách người cán bộ cách mạng mà còn bồi dưỡng
nhân cách cho các thế hệ người Việt Nam hôm nay
và mai sau Phong cách Hồ Chí Minh được thể hiện
trong mọi lĩnh vực sống và hoạt động của Người,
tạo thành một chỉnh thể nhất quán, có giá trị khoa
học, đạo đức và thẩm mỹ, bao gồm một số nội dung
chính là: phong cách tư duy, phong cách làm việc,
phong cách lãnh đạo, phong cách diễn đạt, phong
cách ứng xử và phong cách sinh hoạt
Diễn đạt là vấn đề thường xuyên gắn liền với hoạt
động hằng ngày của mỗi người chúng ta Bởi lẽ:
Nói và viết là hai kỹ năng quan trọng của con người, muốn làm chủ quá trình tư duy và nâng cao hiệu quả giao tiếp, mỗi người đều phải trau dồi khả năng nói và viết Đối với cán bộ, giảng viên, kỹ năng nói
và viết càng cần thiết hơn Vì vậy, việc nghiên cứu học tập phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh là rất cần thiết, từ đó vận dụng một cách nhuần nhuyễn vào thực tiễn công tác và cuộc sống sẽ mang lại hiệu quả cao Đối với đội ngũ cán bộ giảng viên trực tiếp giảng dạy trong các trường đại học, là người trực tiếp truyền đạt kiến thức, định hướng nhân cách cho sinh viên thì việc học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh nói chung và phong cách diễn đạt của Người nói riêng là vấn đề thiết thực và mang tính cấp bách hiện nay
2 NỘI DUNG 2.1 Phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh
Phong cách không phải là tính bẩm sinh, mà được hình thành qua sự phấn đấu, tu dưỡng, Người phản biện: 1 PGS.TS Nguyễn Ngọc Hà
2 TS Phạm Thị Hồng Hoa
Trang 2rèn luyện, trau dồi và định hình trong quá trình
sống của con người
Phong cách là cách thức, lề lối, phong thái đã trở
thành nền nếp ổn định, được thể hiện trong tất cả
các mặt của cuộc sống và tạo nên cái riêng, độc
đáo, mang đặc trưng của chủ thể
Phong cách Hồ Chí Minh là một hệ thống chỉnh thể
bao gồm: phong cách tư duy, phong cách làm việc,
phong cách diễn đạt, phong cách ứng xử, phong
cách sinh hoạt, là những đặc trưng giá trị thể hiện
trong toàn bộ cuộc sống và hoạt động của Hồ Chí
Minh, mang đậm tính dân tộc, hiện đại, thiết thực
Phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài
hòa cái dân gian với cái bác học, cái cổ điển truyền
thống với cái hiện đại, giữa phong cách phương
Đông với phong cách phương Tây Đó là phong
cách nói và viết đúng đối tượng, hoàn cảnh, mục
đích, chân thực, ngắn gọn, giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ;
nói đi đôi với làm tạo nên cái riêng, độc đáo mang
đặc trưng Hồ Chí Minh
Diễn đạt làm cho nội dung tư tưởng, tình cảm
được tỏ rõ ra thông qua ngôn ngữ hoặc hình thức
nào đó Hiểu theo cách này, phong cách diễn đạt
Hồ Chí Minh được thể hiện qua ngôn ngữ (nói và
viết), qua hành động “nói đi đôi với làm” và “nêu
gương sáng”
Phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh thông qua
ngôn ngữ (nói và viết) có đặc trưng sau:
-Thứ nhất, nói, viết đúng đối tượng, hoàn cảnh,
mục đích và phương pháp
Người luôn dạy cán bộ phải nắm rõ các nguyên
tắc trong diễn đạt: nói, viết cái gì? (nội dung); nói,
viết cho ai? (đối tượng); nói, viết để làm gì? (mục
đích); nói, viết như thế nào (phương pháp)? Trong
hoạt động chính trị, để diễn đạt tư tưởng qua nói và
viết, Người sử dụng rất nhiều hình thức như: bài
báo, tạp chí, văn chính luận, thư, lời kêu gọi, thơ,
ca dao, truyện Với mỗi cương vị khác nhau và với
mỗi loại đối tượng từ công nhân, nông dân, quần
chúng lao động đến các trí thức, bạn bè quốc tế,
các chính trị gia, người đứng đầu các nhà nước,…
Chủ tịch Hồ Chí Minh đều có cách nói, viết phù hợp
với từng hoàn cảnh, với trình độ nhận thức, sự hiểu
biết và cách suy nghĩ của từng đối tượng người
đọc, người nghe Người hay phê bình những cán
bộ, đảng viên có “bệnh hay nói chữ, ham dùng chữ,
bệnh sính dùng chữ nước ngoài”, cứ hay nói và viết
“tràng giang đại hải”, “dây cà ra dây muống”, “thao
thao bất tuyệt” [7], dùng những ngôn từ không sát
hợp đối tượng, nội dung không phù hợp, nghĩa là
không chú ý tới người nghe và người đọc, không
quan tâm họ có hiểu hay không
Nếu đối tượng là quần chúng nhân dân Việt Nam, phương châm nói và viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: “Phải học cách nói, tiếng nói của quần chúng”,
“mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ
rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng” Người nói và viết bằng lối văn giản dị, mộc mạc,
dễ nhớ, dễ hiểu Với những câu từ đơn giản: “Dân
là ông chủ nắm chính quyền” [7], “Dân là chủ thì
Chính phủ phải là đày tớ” [10]… Những câu từ đó
tạo nên sự gần gũi, thân thiện và có sức truyền bá rộng trong lòng quần chúng nhân dân Người phê phán rất gay gắt những cán bộ đem “giá trị thặng dư” ra nhồi sọ cho bà con nông dân; đem “tân dân chủ nghĩa” ra giáo dục các em nhi đồng; mang “biện chứng pháp” ra nói với anh em công nhân đang học chữ quốc ngữ…(!) Còn nếu đối tượng là bè lũ thực dân, đế quốc, Hồ Chí Minh dùng giọng văn đanh thép, những luận cứ hết sức chắc chắn cùng với lối văn châm biếm, sâu cay Điều này có thể thấy rõ
qua các tác phẩm: Bản án chế độ thực dân Pháp;
Hành hình kiểu Linsơ; Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 17/7/1966…
Khi nói chuyện với cán bộ tuyên giáo miền núi về tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, Người dạy:
“Nói thiết thực, nói đúng lúc, đúng chỗ, mới là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin Nếu nói không đúng
chỗ không phải là chủ nghĩa Mác - Lênin” Ở đây,
nguyên tắc nhất quán trong phong cách nói và viết của Hồ Chí Minh là xác định rõ nội dung, đối tượng,
từ đó tìm ra cách nói, cách viết cho phù hợp nhằm đạt được mục đích đề ra
-Thứ hai, nói và viết ngắn gọn, giản dị, dễ hiểu,
dễ nhớ
Toàn bộ các bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều rất trong sáng về ý tưởng và văn phong, giản dị trong cách trình bày và dễ hiểu với người nghe, người đọc Tư tưởng Hồ Chí Minh đến với mọi người bằng những ngôn từ quen thuộc - dù
đó là những vấn đề của cuộc sống hàng ngày hay những vấn đề lớn của đất nước, của thời đại Trong
tác phẩm Đường Kách mệnh, Hồ Chí Minh đã nêu
ra tuyên ngôn về nói và viết của mình: “Sách này muốn nói cho vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ Chắc có người sẽ chê rằng văn chương cụt quằn Vâng! Đây nói việc gì thì nói rất giản tiện, mau mắn, chắc chắn như 2 lần 2 là 4, không tô vẽ trang hoàng gì cả” [2] Đó cũng là điều mà người ta thường thấy trong các tác phẩm của Người
Trong cách nói, cách viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngôn từ thường được dùng cô đọng, hàm súc, không có chữ thừa Điều này xuất phát từ suy nghĩ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngôn ngữ nói và viết chỉ nhằm mục đích “cách mệnh, cách mệnh,
Trang 3cách mệnh”, bởi vậy, nói và viết phải làm sao để
có thể tuyên truyền sâu và rộng đến quần chúng
nhân dân Muốn được như vậy, nói và viết phải
ngắn gọn, dễ hiểu để phù hợp với trình độ của quần
chúng Nếu quần chúng không hiểu được thì tuyên
truyền không có ích gì Nhưng nếu chỉ ngắn gọn,
dễ hiểu thôi chưa đủ mà còn phải dễ nhớ, dễ thuộc
Người chỉ rõ: “Mình viết ra cốt là để giáo dục, cổ
động; nếu người xem mà không nhớ được, không
hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng
mục đích Mà muốn cho người xem hiểu được, nhớ
được, làm được, thì phải viết cho đúng trình độ của
người xem, viết rõ ràng, gọn gàng, chớ dùng chữ
nhiều” [5] Người luôn chọn lọc từ ngữ trong quá
trình sử dụng để sao cho “lời ít nhưng ý nhiều”, đặc
biệt Người ưu tiên lựa chọn và sử dụng những từ
thuần Việt Khi nói, khi viết Bác Hồ thường kết hợp
với kể chuyện, đan xen những câu thơ, câu ca dao
có vần điệu, gắn với hình ảnh, ví von, so sánh làm
cho bài nói hay bài viết trở nên sinh động, gần gũi
với quần chúng
- Thứ ba, nói và viết chân thực.
Nói và viết chân thực là một trong những đặc trưng
lớn trong phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh Các
bài viết, bài nói của Người đều phản ánh rất chân
thực các sự kiện mà Người nói đến Tính chân thực
làm những bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí
Minh có sức hút lớn Từ những bài viết tố cáo tội
ác của chủ nghĩa thực dân, đế quốc đến những
bài viết cổ động tinh thần chiến đấu, sản xuất của
Người đều có tư liệu cụ thể, đều bắt nguồn từ thực
tế cuộc sống với những con số, những sự kiện đã
được xem xét, kiểm tra, chọn lọc Chính những số
liệu đó làm nên tính chân thực trong các bài viết
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giúp truyền tải được tư
tưởng của Người và chiếm được sự tin tưởng từ
người đọc
Người luôn dạy khi viết cần đảm bảo tính chân thực,
biết cái gì thì viết cái đó “có đúng nói đúng, có sai
nói sai” [7] Người phê bình những cán bộ “chỉ viết
cái tốt mà giấu cái xấu”, không dám phê bình và tự
phê bình, không dám nhìn vào sự thật… Chủ tịch
Hồ Chí Minh chỉ rõ khuyết điểm rất lớn của cán bộ ta
khi nói và viết là “Khuyết điểm về cách nói và cách
viết, tức là ba hoa” Lối “ba hoa” thể hiện qua cách
viết, nói “Thường nói một chiều và đôi khi thổi phồng
các thành tích, mà ít hoặc không nói đúng mức đến
khó khăn và khuyết điểm của ta” Người luôn nhấn
mạnh: “Nêu cái hay, cái tốt, thì phải có chừng mực,
chớ phóng đại Có thế nào nói thế ấy” [9]
Người chỉ rõ, muốn viết chân thực cần có tài liệu,
muốn có tài liệu cần: nghe, hỏi, thấy, xem, ghi
Người viết cần phải “chính”, nghĩa là “Không biết
rõ, hiểu rõ, chớ nói, chớ viết Khi không có gì cần nói, không có gì cần viết, chớ nói, chớ viết càn” [8] Trong lời ăn, tiếng nói phải “chính”, phải theo lẽ phải, phải đúng sự thật, Người dạy: “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết” [9]
Lối diễn đạt chân thực giúp cho những bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh có sức thuyết phục cao với người đọc, đi vào lòng quần chúng nhân dân và bạn bè tiến bộ trên khắp thế giới Điều đó làm nên một nhà chính trị Hồ Chí Minh chính nghĩa, đứng về lẽ phải
Để có được bài nói và viết chân thực, ngắn gọn đúng đối tượng, Hồ Chí Minh luôn có sự chuẩn bị
kỹ lưỡng, lắng nghe góp ý của mọi người.
Trong quá trình chuẩn bị bài nói, bài viết của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh tôn trọng, lắng nghe ý kiến của tập thể nhằm phát huy trí tuệ, sức mạnh của tập thể Người cho rằng, không ai có thể hiểu được mọi thứ, làm được mọi việc Lãnh đạo giỏi không phải tự mình nghĩ ra, tự mình làm lấy mà điều quan trọng là phải biết tạo điều kiện cho mọi người được đóng góp sức lực và trí tuệ của mình vào công việc chung, có như vậy mới phát huy hết sức mạnh và trí tuệ của tập thể Người thường xuyên trao đổi bài viết, bài phát biểu của mình cho nhiều người, lắng nghe ý kiến đóng góp để điều chỉnh bài viết, bài phát biểu sao cho thật phù hợp với đối tượng người đọc, người nghe Khi viết bài nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng, Người nói rõ mục đích, nội dung và nhấn mạnh yêu cầu ngắn, gọn, tập
trung vào chủ đề “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân,
nâng cao đạo đức cách mạng”, Người sửa chữa và
cho đánh máy thành nhiều bản gửi đến từng đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị đề nghị tham gia góp ý, rồi Người bổ sung vào bản thảo những ý kiến góp ý
và thay đổi chủ đề thành “Nâng cao đạo đức cách
mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” Không chỉ
cẩn thận trong bài viết mà ngay trong các bài phát biểu, Người cũng chuẩn bị rất kỹ và thường trao đổi với mọi người về những điều mình sẽ nói Trong lần
về thăm quê sau hơn 50 năm xa cách, sáng hôm sau nói chuyện với nhân dân, tối hôm trước Người
đã thức khuya chuẩn bị bài phát biểu đến 10 giờ tối Người cầm tờ giấy có nội dung ý kiến phát biểu gặp các đồng chí trong Tỉnh ủy Nghệ An trao đổi, Người nói: mai Bác gặp đồng bào, Bác nói mấy vấn đề này, các chú xem có được không? Tất cả điều đó cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người rất cẩn thận trong cách nói và viết Người thường nhắc nhở và khuyên mọi người: Viết và nói cố nhiên phải
Trang 4vắn tắt Song trước hết phải có nội dung Phải chữa
cho hết bệnh nói dài, viết rỗng Viết rồi thì phải đọc
đi, đọc lại Thấy cái gì thừa, câu nào, chữ nào thừa,
thì bỏ bớt đi Đọc đi đọc lại 4, 5 lần đã đủ chưa?
Chưa đủ Đọc đi đọc lại, sửa đi sửa lại Mình đọc
mấy lần rồi cũng chưa đủ Phải nhờ một số đồng
chí công, nông, binh đọc lại Chỗ nào ngúc ngắc,
chữ nào khó hiểu, họ nói ra cho thì phải chữa lại
Ngôn ngữ hành động, hay cử chỉ cũng là một nét
phong cách diễn đạt đặc biệt, rất riêng của Chủ tịch
Hồ Chí Minh
Người quan niệm: Một tấm gương sáng còn có
giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền; và
vì thế, từng cử chỉ, hành động của Người đều thể
hiện phong cách “nói đi đôi với làm”, không khoa
trương, mệnh lệnh, chỉ đạo suông mà rất ân cần,
gần gũi, “xắn tay áo làm” khi đề ra nhiệm vụ công
tác; những việc cấp bách thì phải làm ngay, làm
gấp và Người nêu gương thực hiện trước
Theo Hồ Chí Minh, về bản chất, “nói đi đôi với làm”
không chỉ là nguyên tắc đạo đức, lẽ sống, phương
châm hoạt động mà còn là biểu hiện sinh động cụ
thể của việc quán triệt sâu sắc nguyên tắc thống
nhất giữa lý luận với thực tiễn, giữa suy nghĩ và
hành động, giữa tư tưởng đạo đức và hành vi đạo
đức của mỗi người Trong suốt cuộc đời mình,
Người đã thực hiện một cách nghiêm túc và đầy đủ
“nói đi đôi với làm” và nêu gương sáng về đạo đức
Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, lời nói đi đôi với việc làm
diễn đạt tư tưởng của người nói là để mà làm, làm
phải đúng như điều đã nghĩ, đã nói Người thường
nói ít nhưng làm nhiều, có những vấn đề đạo đức
Người không nói mà chỉ làm Chính điều đó làm
nên một phong cách rất riêng, rất Hồ Chí Minh mà
hiếm có nhà chính trị nào trên thế giới có được
Người dạy: “cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe,
chân đi, miệng nói, tay làm Chứ không phải chỉ
nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh… phải thật thà
nhúng tay vào việc” [5] Theo Hồ Chí Minh, muốn
tiến hành tốt các nội dung nêu gương, thì cán bộ,
đảng viên phải luôn thực hiện “nói đi đôi với làm”
và phải biết lấy người tốt, việc tốt để tuyên truyền
cho sự nêu gương Bởi vì, chỉ có nhất quán giữa
nói và làm thì người cán bộ, đảng viên mới giành
được lòng tin của quần chúng Nếu người cán bộ,
đảng viên nói nhiều làm ít, nói mà không làm, hoặc
“nói một đằng làm một nẻo”, thì nhất định sẽ mất uy
tín trước đơn vị, trước cộng đồng, và vai trò của sự
nêu gương sẽ không thể phát huy được
Người tâm niệm “một tấm gương sống còn có giá
trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” [4] Lấy
bản thân mình để tuyên truyền, giáo dục, làm gương
cho quần chúng noi theo là điểm đặc sắc, thể hiện
sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động, giữa lý luận và thực tiễn, giữa tư tưởng đạo đức và hành
vi đạo đức của Hồ Chí Minh Đó là phong cách diễn đạt thông qua hành động rất hiệu quả của Người,
có sức giáo dục và ảnh hưởng sâu, rộng đến quần chúng nhân dân
Như vậy, Phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh không chỉ ở ngôn ngữ nói và viết mà còn thể hiện thông qua phi ngôn từ hay là “ngôn ngữ hành động” Nói
và viết gắn với hành động, việc làm cụ thể vừa là nét riêng độc đáo, vừa tạo nên giá trị vô giá trong phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh
2.2 Giảng viên lý luận chính trị học tập và rèn luyện theo phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh
Giảng viên là viên chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học hoặc cao đẳng
Giảng viên lý luận chính trị là những giảng viên trực tiếp tham gia vào quá trình đào tạo, cung cấp những tri thức khoa học cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm hình thành cho người học thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng; trên cơ sở đó giúp cho người học có tư duy khoa học, đạo đức cách mạng, năng lực sáng tạo trong hoạt động thực tiễn
Các môn lý luận chính trị là những môn học bắt buộc trong các trường đại học ở nước ta với đặc điểm thường rất trừu tượng, có tư duy khái quát cao Do đó, việc thu nhận kiến thức, sự yêu thích các môn học này của sinh viên phụ thuộc rất nhiều vào trình độ kiến thức, năng lực lý luận và thực tiễn, phẩm chất, nhân cách đạo đức cũng như phương pháp truyền đạt của người thầy - đội ngũ giảng viên
lý luận chính trị - đúng như câu nói của nhà giáo dục lỗi lạc người Mỹ - William A.Warrd rằng: "Người thầy trung bình chỉ biết nói; người thầy giỏi biết giải thích; người thầy xuất chúng biết minh họa; người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng” [11] Chính
vì vậy, để giáo dục đạt kết quả cao các môn học này đòi hỏi người giảng viên cần tích cực học tập
và làm theo phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh
Học tập phong cách diễn đạt của Hồ Chí Minh trong giảng dạy lý luận chính trị cần tập trung một số giải pháp cơ bản sau:
- Thứ nhất, trước khi nói và viết phải xác định và trả
lời được các câu hỏi như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
dạy: Nói và viết cho ai; nói và viết để làm gì; Nói và
viết cái gì; nói và viết như thế nào Đây cũng chính
Trang 5là cách xác định nói và viết đúng đối tượng, hoàn
cảnh, mục đích và phương pháp theo phong cách
diễn đạt của Người mà giảng viên giảng dạy lý luận
chính trị trong trường đại học phải rèn luyện
Người giảng viên giảng dạy lý luận chính trị trong
trường đại học phải xác định được đối tượng nói
và viết chủ yếu của mình là sinh viên Tuy nhiên,
trình độ nhận thức và ý thức ở sinh viên là không
đồng đều Do đó, giảng viên phải biết phân loại
sinh viên và tùy đối tượng sinh viên mà có cách
diễn đạt (nói và viết) cho phù hợp Theo Chủ tịch
Hồ Chí Minh: “Viết và nói phải có mục đích, phải
có nội dung” [1] Giảng dạy lý luận chính trị, ngoài
việc phải xác định nội dung của từng buổi giảng
theo phân bổ chương trình của các môn học lý luận
chính trị, truyền đạt đầy đủ, chính xác các nội dung
kiến thức đó thì giảng viên phải xác định được mục
đích, ý nghĩa của việc truyền đạt kiến thức cho sinh
viên là gì? VD: Khi trình bày tư tưởng Hồ Chí Minh
về đại đoàn kết dân tộc thì mục đích và ý nghĩa
của việc truyền đạt là giúp cho sinh viên thấy rõ
nội dung, vai trò, sức mạnh to lớn của đại đoàn kết
dân tộc; sinh viên có niềm tin vào tiềm năng cách
mạng của quần chúng nhân dân Qua đó, mỗi sinh
viên góp sức mình vào xây dựng, củng cố khối đại
đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế; thật sự đoàn
kết trong tập thể nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau
cùng tiến bộ Đó là trang bị cho sinh viên thế giới
quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng để sinh
viên có nhận thức và hoạt động thực tiễn đúng
đắn, có phẩm chất chính trị, đạo đức trong sáng,
có nhân cách tốt Đây là điểm mẫu chốt là mục đích
tối cao trong giảng dạy các môn lý luận chính trị mà
mỗi giảng viên cần nắm chắc và thực hiện đầy đủ
Tránh tư tưởng truyền đạt cho hết, cho xong nội
dung chương trình làm mất đi giá trị đích thực của
các môn lý luận chính trị trong trường đại học
Sau khi xác định đúng đối tượng, mục đích, nội
dung việc trả lời câu hỏi nói và viết như thế nào và
làm theo là một trong những trọng tâm của việc rèn
luyện theo phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh
- Thứ hai, giảng viên giảng dạy lý luận chính trị phải
rèn luyện cách diễn đạt ngắn gọn, giản dị, dễ hiểu,
dễ nhớ, đi vào lòng người Các môn LLCT vốn là
các môn lý luận, mang tính tổng hợp, khái quát và
trừu tượng cao, nhất là môn triết học, nên khó dạy
và khó học Bởi vậy, để người học dễ hiểu, nắm
được nội dung bài giảng, đòi hỏi người dạy phải
giảng giải thấu đáo vấn đề, biết sử dụng tổng hợp
các phương pháp giảng dạy phù hợp, sử dụng
ngôn từ giản dị, đời thường để diễn tả những khái
niệm, thuật ngữ khó hiểu, kết hợp với sự minh họa
thuyết phục bằng các ví dụ sinh động, cụ thể Làm được như vậy sẽ giúp cho người học không những
dễ hiểu, nắm được kiến thức môn học, mà còn cảm nhận được sự gần gũi của môn học với cuộc sống Thí dụ, khi giảng dạy quy luật từ những sự thay đổi
về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại trong học phần Triết học, giảng viên cần giảng ngắn gọn, dễ hiểu cụ thể như: Đây là quy luật chỉ
ra cách thức của sự vận động và phát triển Trong quy luật có một số khái niệm như “độ”, “điểm nút”,
“bước nhảy” Độ là khoảng giới hạn mà sự thay đổi
về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của
sự vật, điểm nút là thời điểm mà tại đó, sự thay
đổi về lượng đủ để làm thay đổi về chất của sự vật
và bước nhảy là chỉ sự chuyển hóa về chất của sự
vật Giảng viên cần lấy ví dụ làm rõ các khái niệm trên nhưng phải gắn liền với sinh viên như: Sinh viên tích lũy một lượng kiến thức đủ mới trở thành
cử nhân Trong đó: lượng là lượng kiến thức phải đạt được, chất là sinh viên Độ là khoảng thời từ năm thứ nhất đến năm thứ tư, còn điểm nút chính
là năm thứ nhất và năm thứ tư, bước nhảy chính
là từ sinh viên trở thành cử nhân (đã tốt nghiệp đại học) Lúc này, chất là cử nhân
Học tập phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh, giảng viên phải diễn thuyết đi vào lòng người, thông qua ngôn ngữ nói lúc trầm, lúc bổng kết hợp với ngôn ngữ cơ thể (hành động, cử chỉ, ánh mắt, nụ cười,… thân thiện) để cuốn hút người nghe, làm tăng giá trị
nội dung tri thức Giọng nói phải rõ ràng, mạch lạc,
sáng sủa, truyền cảm, thuyết phục, nhấn mạnh vào những nội dung quan trọng, tránh lối nói đều đều
“ru ngủ” Không dài dòng “lời ít, ý nhiều”, đưa số liệu cụ thể, sự kiện sinh động phù hợp để minh hoạ,
sử dụng chính xác, đúng mực thuật ngữ pháp lý, thuật ngữ chuyên ngành và ngôn ngữ bình dân Sử dụng linh hoạt câu trích trong kinh điển, thơ văn, ví von, so sánh, ca dao, tục ngữ, kết hợp các phương tiện dạy học hiện đại, trực quan hình ảnh, clip… làm tăng tính hấp dẫn của bài giảng giúp người học lĩnh hội kiến thức lý luận chính trị một cách nhẹ nhàng nhưng hiệu quả
- Thứ ba, giảng dạy lý luận chính trị giảng viên phải
rèn luyện phong cách diễn đạt chân thực của chủ tịch Hồ Chí Minh Nói và viết phải logic khoa học với lập luận, luận điểm, luận cứ, luận chứng rõ ràng, chính xác, cụ thể, khách quan, lý luận phải gắn liền với những vấn đề thực tế có giá trị thực tiễn, dùng
từ ngữ diễn đạt khoa học trong sáng và chân thực Nói đúng bản chất, tinh thần lý luận chủ nghĩa Mác
- Lênin, nói đúng quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; tìm kiếm thông tin chính thống, không tuyên truyền
Trang 6những thông tin trái chiều, thổi phồng sự thật của
các thế lực thù địch, không nhìn hiện tượng đánh
giá bản chất Trong quá trình giảng dạy cần sử
dụng ngôn ngữ cho phù hợp với đối tượng, không
làm trừu tượng hóa, phức tạp hoá vấn đề Trong
diễn đạt cần giản dị, nhưng không dễ dãi, cẩu thả,
không nói cụt Thí dụ, khi giảng dạy luận điểm vai trò
lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng
lợi trong tiến trình cách mạng Việt Nam, chống lại
các luận điểm xuyên tạc, phá hoại của các thế lực
thù địch, giảng viên cần phân tích làm rõ những
thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam từ khi có Đảng
lãnh đạo, cụ thể: 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của
Đảng, sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Nhân dân
và Dân tộc ta đã giành được những thắng lợi to lớn,
có ý nghĩa lịch sử và thời đại Đó là thắng lợi của
Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thành lập Nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam, xóa
bỏ hoàn toàn chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở
nước ta Cách mạng Tháng Tám 1945 mở ra một
kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH) Dưới sự lãnh
đạo sáng suốt và tài ba của Đảng, nhân dân cả
nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước 1954-1975 với tinh thần chiến đấu vô cùng
anh dũng và quả cảm, thực hiện hai nhiệm vụ chiến
lược: Giải phóng miền Nam, xây dựng CNXH ở
miền Bắc Với đường lối giương cao ngọn cờ độc
lập dân tộc và CNXH, Đảng đã kết hợp sức mạnh
của tiền tuyến lớn với hậu phương lớn, động viên
đến mức cao nhất lực lượng của toàn dân vào cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước, một cuộc kháng
chiến đã kết tinh, tổng hợp và phát triển lên trình
độ cao những truyền thống cách mạng và năng lực
sáng tạo của Đảng ta, dẫn đến đại thắng mùa Xuân
năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất
nước, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do và CNXH
trên đất nước ta Gần 35 năm đổi mới, dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đất nước
ta vượt qua khủng hoảng kinh tế đã trở thành nước
đang phát triển có thu nhập trung bình; diện mạo
đất nước và đời sống của Nhân dân có nhiều thay
đổi Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh
được tăng cường Sức mạnh về mọi mặt của đất
nước được nâng lên Những thắng lợi có ý nghĩa
lịch sử đó “đã tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để
nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ
trong những năm tới; khẳng định đường lối lãnh
đạo của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi
lên CNXH ở nước ta là phù hợp với thực tiễn của
Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử”
Nếu giảng viên giảng sai bản chất quan điểm, tư
tưởng chính trị, đưa thông tin không chính xác, các
sự kiện chính trị không chân thực sẽ làm cho người học hiểu sai, hành động sai sẽ dẫn tới những thiệt hại to lớn về vật chất và tinh thần không chỉ của bản thân sinh viên và cho cả xã hội Trung thực, khách quan, chính xác, chân thực, có trách nhiệm với từng lời giảng, từng dòng chữ là chuẩn mực về chuyên môn, nhưng đồng thời cũng là chuẩn mực đạo đức cách mạng của người giảng viên lý luận chính trị
Thực hiện tốt các nội dung rèn luyện phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh như trên, người giảng viên lý luận chính trị cần phải có:
- Lượng tri thức lý luận chính trị vững vàng bao
gồm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối, quan điểm, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để nói, viết và làm theo nghị quyết của Đảng; sống làm việc theo pháp luật
- Kinh nghiệm và vốn sống thực tiễn phong phú,
thông qua việc thu thập thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng, đi nghiên cứu thực tế, nhất
là học hỏi ở phong trào quần chúng, ở cơ sở nhằm làm cho bài giảng phong phú, tiết học sôi nổi Điều nhất thiết là phải thực hiện nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin gắn lý luận với thực tiễn
- Có kỹ năng, năng khiếu, nghiệp vụ sư phạm được
đào tạo chính quy, vững vàng về chuyên môn, tinh thông về phương pháp, ứng biến linh hoạt trong quá trình lên lớp
- Có lương tâm, tâm quyết với nghề nghiệp, lòng
nhiệt tình, sự say mê với công việc dạy học Đó chính là đạo đức nghề nghiệp, điều làm cho người giảng viên phấn đấu suốt đời cho sự nghiệp trồng người, sự nghiệp đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau
- Người giảng viên phải có phẩm chất đạo đức
trong sáng, nhất là đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị Có uy tín trong quá trình giảng dạy mà đặc biệt là uy tín khoa học được sinh viên và đồng nghiệp đánh giá cao
- Người giảng viên phải có một bản lĩnh chính trị
vững vàng, lập trường, quan điểm, tư tưởng kiên định nhất quán với mục tiêu, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước sinh viên và nhà trường và cao hơn nữa là trước dân, trước Đảng về việc làm của mình Phấn đấu suốt đời cho mục tiêu, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa
- Người giảng viên phải luôn luôn chân thành lắng
nghe và tiếp thu có chọn lọc những ý kiến của sinh
Trang 7viên, của đồng nghiệp, của lãnh đạo Phải không
ngừng học hỏi, tự học, tự rèn, tự vươn lên trong
công tác và trong cuộc sống
- Giảng viên lý luận chính trị phải là tấm gương
sáng cho sinh viên noi theo Như lời chủ tịch Hồ
Chí Minh đã dạy: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả
đức, tài là văn hóa, chuyên môn, đức là chính trị
Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có
đức Cho nên thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu,
nhất là đối với trẻ con”
3 KẾT LUẬN
Có thể nói, phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh rất
riêng biệt và độc đáo, là sự kết hợp hài hòa cái dân
gian với cái bác học, cái cổ điển truyền thống với
cái hiện đại, giữa phong cách phương Đông với
phong cách phương Tây
Phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh thông qua ngôn
ngữ (nói và viết) có đặc trưng: Một là, nói, viết đúng
đối tượng, hoàn cảnh, mục đích và phương pháp
Hai là, nói và viết ngắn gọn, giản dị, dễ hiểu, dễ
nhớ Ba là, nói và viết chân thực.
Để có được bài nói và viết chân thực, ngắn gọn
đúng đối tượng, Hồ Chí Minh luôn có sự chuẩn bị
kỹ lưỡng, lắng nghe góp ý của mọi người Ngôn
ngữ hành động, hay cử chỉ cũng là một nét phong
cách diễn đạt đặc biệt, rất riêng của Chủ tịch Hồ
Chí Minh
Học tập phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh có vai trò
quan trọng đối với hoạt động giảng dạy của giảng
viên, nhất là giảng viên giảng dạy lý luận chính trị
Họ là những chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, tuyên truyền và đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa Để hoàn thành sứ mệnh cao cả đó, đặc biệt
là trong bối cảnh thế giới nhiều biến động trước cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư thì đòi hỏi đội ngũ giảng viên lý luận chính trị phải không ngừng trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới và sáng tạo, đặc biệt phải tích cực học tập phong cách diễn đạt Hồ Chí minh nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác giáo dục lý luận trong các trường đại học hiện nay
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 1, NXB Chính trị
quốc gia sự thật, Hà Nội 2011
[2] Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 2, NXB Chính trị
quốc gia sự thật, Hà Nội 2011
[3] Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 3, NXB Chính trị
quốc gia sự thật, Hà Nội 2011
[4] Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 4, NXB Chính trị
quốc gia sự thật, Hà Nội 2011
[5] Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 5, NXB Chính trị
quốc gia sự thật, Hà Nội 2011
quốc gia sự thật, Hà Nội 2011
quốc gia sự thật, Hà Nội 2011
quốc gia sự thật, Hà Nội 2011
quốc gia sự thật, Hà Nội 2011
THÔNG TIN VỀ TÁC GIẢ
Phạm Xuân Đức
nghiên cứu);
+ Năm 2002: Tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Giáo dục chính trị (Ban triết), Trường Đại học
Sư phạm I Hà Nội.
+ Năm 2013: Tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Triết học, Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Tóm tắt công việc hiện tại: Giảng viên, khoa Giáo dục chính trị và Thể chất, Trường Đại học Sao Đỏ.
- Lĩnh vực quan tâm: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Điện thoại: 0904409139.