Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này để đánh giá mức độ tiếp cận và hiệu quả sử dụng vốn vay (qua việc có việc làm mới, cải thiện sức khỏe, thái độ của cộng đồng…) của nhữ[r]
Trang 1ĐÁNH GIÁ VỀ MỨC ĐỘ TIẾP CẬN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN VAY TỪ HỘI PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS THÀNH PHỐ HÀ NỘI NĂM 2013
Lê Nhân Tuấn*, Phạm Thị Ngọc Hân
Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS Hà Nội
TÓM TẮT
Thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 408 thành viên của Hội phòng chống HIV/AIDS Hà Nội để đánh giá mức độ tiếp cận và hiệu quả sử dụng vốn vay từ Hội Kết quả cho thấy 14,2% đăng ký vay vốn nhưng chỉ có 9,3% được vay vốn 53,5% hội viên biết về chương trình vay vốn cho rằng chương trình có hiệu quả, 16,8% cho rằng rất hiệu quả, chỉ có 2,1% cho rằng chương trình vay vốn không có hiệu quả Sau khi vay vốn, thu nhập trung bình của hội viên tăng từ 2,000,000 vnd lên 3,000,000 vnd (p=0,008); thái độ xa lánh của cộng đồng với hội viên giảm từ 63,1% xuống 5,3% (p<0,01); các triệu chứng của nhiễm trùng cơ hội bao gồm sốt, đau đầu, tiêu chảy, da khô hoặc ngứa, loét, đau họng của hội viên giảm đi (p<0,001) Nghiên cứu đã chỉ ra sự tiếp cận với nguồn vốn vay còn thấp và bước đầu chương trình đã có hiệu quả tốt nhằm nâng cao chất lượng sống của hội viên về kinh tế, xã hội và sức khỏe.
Từ khóa: chương trình vay vốn, HIV/AIDS, Hà Nội
I ĐẶT VẤN ĐỀ
HIV/AIDS là một đại dịch nguy hiểm, là mối
hiểm họa đối với tính mạng, sức khoẻ con người
và tương lai nòi giống của các quốc gia, các dân
tộc trên toàn cầu, tác động trực tiếp đến sự phát
triển kinh tế, văn hóa, trật tự và an toàn xã hội,
đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước [1,
2] Việt Nam là một trong những quốc gia thực
hiện nguyên tắc 03 thống nhất do Liên Hiệp
Quốc khởi xướng, một trong những nội dung
đó là có một chiến lược quốc gia phòng, chống
HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm
nhìn 2020 đã được Thủ Tướng Chính phủ ban
hành tại Quyết định số 36/2004/QĐ-TTg, ngày
17/3/2004 Qua 5 năm tổ chức thực hiện chiến
lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS, nhìn
chung các cấp uỷ Đảng, chính quyền ở các Bộ,
ngành, các tỉnh, thành phố đã tích cực lãnh đạo,
chỉ đạo triển khai thực hiện các nội dung chiến
lược và đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp
phần ngăn chặn, hạn chế tốc độ gia tăng của đại
dịch HIV và chúng ta đã hoàn thành xuất sắc mục
tiêu đã đặt ra khống chế tỷ lệ nhiễm HIV dưới
0,3% trong cộng đồng dân cư năm 2010 Tuy nhiên, người nhiễm HIV trong cộng đồng vẫn còn bị sự xa lánh của cộng đồng, bị ghét bỏ
và không có công việc ổn định Thu nhập thấp, chất lượng cuộc sống kém, không nhận được sự chăm sóc đúng mực về y tế là những rào cản để người nhiễm HIV hòa nhập cộng đồng Một trong những nguyên nhân khiến nguời nhiễm HIV thu nhập bấp bênh và không có công việc ổn định là ít có cơ hội tiếp cận với những nguồn vay vốn để kinh doanh buôn bán Vì vậy Hội phòng, chống HIV/AIDS thành phố Hà Nội đã triển khai chương trình vay vốn cho người nhiễm HIV không thu lãi suất để tạo điều kiện cải thiện chất lượng cuộc sống của hội viên Tuy nhiên kể
từ khi thực hiện đến nay chưa có nghiên cứu nào đánh giá kết quả hoạt động vay vốn của Hội Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này để đánh giá mức độ tiếp cận và hiệu quả sử dụng vốn vay (qua việc có việc làm mới, cải thiện sức khỏe, thái độ của cộng đồng…) của những hội viên sau khi được tiếp cận và sử dụng nguồn vốn của Hội phòng, chống HIV/AIDS
Trang 2n = Z2
1-α/2
p(1-p)
d2
Hà Nội năm 2013 Kết quả của nghiên cứu sẽ là
cơ sở khoa học để điều chỉnh các hoạt động của
hội theo hướng bền vững và hiệu quả
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Mức độ tiếp cận và hiệu quả sử dụng vốn
vay của hội viên sau khi được tiếp cận và sử
dụng nguồn vốn của Hội phòng chống HIV/
AIDS Hà Nội
2.2 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3 Địa bàn nghiên cứu
Tại 30 chi hội phòng chống HIV/AIDS Hà Nội
2.4 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 4-12/2013
2.5 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu: Áp dụng công thức nghiên cứu mô
tả cắt ngang
Trong đó:
- n là cỡ mẫu tối thiểu
- Z: là hệ số tin cậy, với ngưỡng xác suất α
= 0,05%, Z = 1,96
- p: là tỷ lệ hội viên được vay vốn ước tính
(theo nghiên cứu của COHED 2012 p=0,4 [1])
q = 1 - p = 1- 0,4= 0,6
- d: là sai số tuyệt đối lấy mức 5%, d = 0,05
Thay vào tính được cỡ mẫu làm tròn,
phòng những trường hợp từ chối trả lời hoặc không hợp tác trong quá trình điều tra Trên thực tế nghiên cứu điều tra được 408 trường hợp tham gia trả lời phỏng vấn
Cách chọn mẫu:
Lập danh sách các hội viên đang sinh hoạt tại thời điểm điều tra từ tất cả 30 chi hội của Hội, phòng chống HIV/AIDS Hà nội Danh sách các hội viên do các chi hội trưởng cung cấp theo thứ tự ABC Từ danh sách các hội viên thuộc 30 chi hội trực thuộc Hội PC HIV/AIDS thành phố Hà Nội, nghiên cứu đã lựa chọn ngẫu nhiên hệ thống cho đến khi đủ 400 hội viên thì dừng lại với hệ số k=3
2.6 Phân tích số liệu
Thông tin được thu thập bằng bộ phiếu phỏng vấn đối với đối tượng mẫu được lựa chọn Số liệu được phân tích theo phương pháp thống kê y học với phần mềm Epi.info 6.04
2.7 Đạo đức nghiên cứu
Đề tài đã được thông qua hội đồng nghiên cứu khoa học của Cục phòng, chống HIV/ AIDS Bộ Y tế
III KẾT QUẢ 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Trong thời gian nghiên cứu, có 408 đối tượng được chọn tham gia nghiên cứu Bảng 1 trình bày đặc điểm về nhóm tuổi, phân bố giới
và trình độ văn hóa của các đối tượng nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm tuổi chiếm nhiều nhất là nhóm trên 30 tuổi: 74,8%, nhóm thấp nhất là nhóm dưới 19 tuổi: 1,5%
Tỷ lệ phân bố nam, nữ lần lượt là 42,9% và 57,1% Trình độ học vấn chủ yếu là trung học phổ thông với 38,0%, tỷ lệ mù chữ chỉ có 1,0%
Trang 3Bảng 1 Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Nhóm tuổi
Giới
Trình độ học vấn
Nghề nghiệp
Tình trạng hôn nhân
Kết quả bảng trên cũng cho thấy tỷ lệ lao
động tự do trong các nhóm nghề nghiệp chiếm
cao nhất với 68,4%, học sinh, sinh viên chiếm
thấp nhất với 3,9% Tình trạng hôn nhân chủ yếu đều đang có gia đình với 44,9%, tỷ lệ ly thân thấp chỉ có 3,4%
Trang 4Bảng 2 Thực trạng nhà ở của đối tượng nghiên cứu
Kết quả ở bảng 2 cho thấy điều kiện nhà ở
của đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nhà kiên cố chiếm 47,3%, tỷ lệ nhà vách đất thấp, chỉ có 3,4%
Bảng 3 Thực trạng về đăng ký và thực hiện vay vốn của hội viên
3.2 Mức độ tiếp cận nguồn vốn vay của hội viên
Đăng ký vay vốn
Làm thủ tục vay vốn
Được vay vốn của Hội
Bảng 3 cho thấy trong 408 đối tượng trả lời
về đăng kí vay vốn, chỉ có 14,2% trả lời đã từng
đăng kí vay vốn, trong khi đó tỷ lệ chưa từng
đăng kí vay vốn chiếm 82,1% Tỷ lệ hội viên
được làm thủ tục vay vốn chiếm 12,7%, trong đó
tỷ lệ chưa từng được làm thủ tục vay vốn chiếm 82,6% Tuy nhiên có 9,3% trả lời có được vay vốn, trong đó tỷ lệ không được vay vốn chiếm 85,8%
Trang 526.3
34.2
Kinh doanh sản xuất Tăng gia sản xuất Khác
Hình 1 Phân bố mục đích vay vốn của Hội viên
Hình 1 cho thấy mục đích vay vốn chủ yếu
của hội viên là để kinh doanh sản xuất chiếm
39,5%, tỷ lệ để tăng gia sản xuất chiếm 26,3%
3.3 Mức độ cải thiện cuộc sống của hội viên
sau khi được vay vốn.
Trong tổng số 408 hội viên có 286 hội viên (chiếm 70,1%) biết về chương trình vay vốn 45,6% tổng số hội viên đánh giá chương trình cho vay vốn là hiệu quả, 14,5% cho là rất hiệu quả
Bảng 4 Nhận xét của các hội viên biết về chương trình vay vốn Mức độ hiệu quả Số lượng Tỷ lệ %
Bảng 4 cho thấy có 53,5% hội viên biết về
chương trình vay vốn cho rằng chương trình có hiệu quả, 16,8% cho rằng rất hiệu quả, chỉ có 2,1% cho rằng chương trình vay vốn không có hiệu quả
Bảng 5 Cải thiện về việc làm sau khi vay vốn của hội viên Việc làm mới Hội viên được vay vốn Hội viên không được vay vốn
Trang 6Bảng 6 So sánh thu thập trước và sau khi vay vốn của hội viên Chỉ số Trước khi vay vốn Sau khi vay vốn
Test t, p = 0,008
Bảng 6 cho thấy thu nhập trung bình và
thu nhập tối đa của hội viên tăng lên sau khi vay vốn, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p=0,008
Bảng 7 Thái độ của cộng đồng đối với hội viên được vay vốn
Thái độ cộng đồng Trước khi vay vốn Sau khi vay vốn χ 2 , P
p=0,002
p=0,852 Coi như người bình
χ 2 =20,1 p=0,000
p=0,575
Bảng 7 cho thấy có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê giữa thái độ xa lánh của cộng
đồng với hội viên trước và sau khi vay vốn,
trước vay vốn tỷ lệ hội viên bị xa lánh chiếm 63,1%, sau vay vốn tỷ lệ này giảm còn 5,3% với p<0,01
Bảng 8 Tỷ lệ nhận thấy có sự thay đổi thái độ của cộng đồng sau vay vốn
Bảng 8 cho thấy tỷ lệ nhận thấy có sự thay
đổi của cộng đồng với người nhiễm HIV/AIDS
sau khi vay vốn chiếm 53,7%, 46,3% không có
số lần mắc nhiễm trung cơ hội (NTCH) sau khi được vay vốn chiếm 59,8%, tỷ lệ cải thiện về sức khỏe và tăng cân chiếm 24,5% Trong đó
Trang 7Bảng 9 Cải thiện về tình trạng sức khỏe sau khi vay vốn của hội viên
Bảng 10 Các triệu chứng sức khỏe thường gặp trước và sau khi tham gia vay vốn
Triệu chứng Trước khi tham gia Sau khi tham gia χ 2 , P
p <0,001
p <0,001
p <0,001
p <0,001
p <0,001
p <0,001
p = 0,45
p = 0,003
Bảng 10 cho thấy các triệu chứng của nhiễm
trùng cơ hội bao gồm sốt, đau đầu, tiêu chảy, da
khô hoặc ngứa, loét, đau họng miệng của hội
viên tham gia vay vốn giảm so với trước khi
tham gia vay vốn, sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê với p<0,001, triệu chứng ho kéo dài có sự
khác biệt với p<0,01
IV BÀN LUẬN
Nghiên cứu mô tả cắt ngang 408 đối tượng
học chiếm 38,0% Nghề nghiệp chủ yếu là làm
tự do chiếm 68,4%, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu
có gia đình chiếm nhiều nhất 44,9%, tỷ lệ này cũng tương tự kết quả nghiên cứu của Cohed năm 2012 [3], tuy nhiên kết quả này khác với nghiên cứu của Dương Anh Linh cho thấy nghề nghiệp chủ yếu là nội trợ (37,1%) [4] Sự khác biệt này có thể là do nghiên cứu này tiến hành ở
Hà Nội, đa phần các đối tượng nghiên cứu đều
có trình độ học vấn không cao, không có nghề
Trang 8lâm ngư nghiệp Việt Nam tăng dần từ năm 2005
1.639.500 đồng đến năm 2012 đạt 5.199.000
đồng [5] Tuy nhiên khi so sánh với kết quả
ng-hiên cứu thì thu nhập bình quân đầu người của
hội viên là thấp hơn đáng kể, trước khi vay vốn
trung bình một tháng hội viên thu nhập được
2.000.000 đồng, sau khi vay vốn thu nhập có
tăng lên khoảng 3.000.000 đồng Điều này chỉ
ra rằng thu nhập của người nhiễm HIV còn thấp
so với mức bình quân của đối tượng làm nhóm
nông lâm ngư nghiệp, so với mức thu nhập bình
quân chung của cả nước là 4.465.600 đồng vẫn
thấp hơn [5] Tuy nhiên cũng nhận thấy rằng
thu nhập sau khi vay vốn tăng hơn so với trước
khi vay ở thu nhập trung bình và thu nhập tối
đa Điều này phản ánh phần nào hiệu quả của
chương trình vay vốn đối với cuộc sống của
người có HIV tại Hà Nội
Đánh giá của hội viên về hiệu quả chương
trình vay vốn, nhóm những hội viên biết về
chương trình vay vốn thì tỷ lệ trả lời cho rằng
chương trình vay vốn có hiệu quả và hiệu quả
cao hơn lần lượt là 53,5% và 16,8% Điều đó
chứng tỏ rằng hội viên rất quan tâm đến chương
trình vay vốn, họ đánh giá rất cao về hiệu quả
cũng như tầm quan trọng của chương trình
Mặc dù tỷ lệ không biết không trả lời của hội
viên về hiệu quả của chương trình vay vốn khá
cao, tuy nhiên nguyên nhân có thể do tỷ lệ hội
viên được đăng kí, được vay vốn còn thấp nên
chưa hiểu rõ về hiệu quả mang lại của chương
trình, bên cạnh đó các nguồn thông tin hỗ trợ cung
cấp cho hội viên còn hạn chế nên bản thân họ
chưa có đầy đủ hiểu biết về chương trình này
Đa phần nghề nghiệp chính của hội viên là
làm tự do, chủ yếu là các công việc mang tính
thời vụ, không ổn định, lúc có, lúc không chính
vì vậy cũng ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập
của bản thân và gia đình Việc triển khai chương
trình vay vốn cho hội viên đã giúp họ có cơ hội
tìm kiếm hoặc tạo ra công việc mới Những hội
viên không được vay vốn thì tỷ lệ có việc làm
họ có thêm cơ hội tìm việc mà còn giúp họ có điều kiện để phát triển kinh doanh, một phần giúp
ổn định hơn trong cuộc sống, một phần giúp tăng thêm thu nhập giảm gánh nặng kinh tế
Nghiên cứu của Vũ Văn Xuân và cộng sự năm 2013 tiến hành ở Bắc Giang chỉ ra rằng thái độ của cộng đồng với người nhiễm HIV chủ yếu là xa lánh (38,3%) [6], đây cũng là thực trạng chung hiện nay khi người nhiễm HIV phải đối mặt với những trở ngại cho bản thân và gia đình Họ ngại giao tiếp với xã hội bên ngoài, cản trở về mặt học tập, công việc nhiều gia đình có không thể cho con đến trường
vì sự phản đối của cộng đồng Tác giả Nguyễn Thanh Long cũng chỉ ra rằng đa phần người nhiễm HIV chịu sự xa lánh của cộng đồng [7] Đây cũng là thực trạng chung của nghiên cứu khi có 63,1% trả lời rằng họ bị xa lánh, 20,6%
bị ghét bỏ, điều này giải thích một phần vì sao đa số hội viên có công việc tự do chủ yếu mang tính chất thời vụ, không yêu cầu nhiều
về trình độ bằng cấp, và cũng không quan tâm xem họ có nhiễm HIV hay không Tuy nhiên điều đó cũng đồng nghĩa với việc là thu nhập cũng không cao Chính vì vậy có lẽ mà phần lớn người nhiễm HIV đều tự chăm sóc ở nhà, ít khi đến cơ sở y tế, tác giả Vũ Văn Xuân cũng chỉ ra rằng 94,4% người nhiễm HIV tự chăm sóc ở nhà [6] Đây cũng chính là nguyên nhân mà tỷ lệ mắc nhiễm trùng cơ hội khá cao với các triệu chứng như sốt (70,5%), tiêu chảy (68,2%), loét miệng, họng (63,0%), tỷ lệ triệu chứng này cũng phù hợp với nghiên cứu của Dương Anh Linh [4] Nhu cầu của người nhiễm HIV được điều trị nhiễm trùng cơ hội là rất cao (99,2%), được tư vấn (24,4%), được an ủi động viên và được đối
xử bình đẳng [6] Nhận thấy rằng sau khi tham gia vào hội, được điều trị ARV, được tham gia các buổi sinh hoạt thì thái độ của cộng đồng với người nhiễm HIV đã thay đổi đáng kể, thái độ xa lánh của cộng đồng đã giảm từ 63,1% xuống còn 5,3%, tỷ lệ ghét bỏ cũng giảm từ 20,6% xuống
Trang 9cộng đồng và cái nhìn rộng mở hơn của xã hội
với người nhiễm HIV Bên cạnh đó tỷ lệ nhận
thấy có sự thay đổi của cộng đồng với người
nhiễm HIV sau khi được vay vốn là 53,7%,
điều này phần nào giúp người nhiễm HIV hòa
nhập hơn với cộng đồng Ngoài ra sức khỏe
cũng là những thay đổi quan trọng khi so sánh
trước và sau khi vay vốn Có 59,8% hội viên trả
lời rằng họ khỏe hơn, tăng cân và giảm số lần
mắc nhiễm trung cơ hội sau khi được vay vốn,
24,5% có khỏe hơn và tăng cân Điều này có
thể do họ có cơ hội việc làm ổn định, thu nhập
cũng tăng lên, do đó có thêm thời gian để chăm
sóc bản thân nhiều hơn, vì vậy mà sức khỏe cải
thiện hơn Bên cạnh đó bản thân họ cũng được
tư vấn, chăm sóc và điều trị khi tham gia vào
hội, vì vậy bản thân có nhiều kinh nghiệm hơn
trong việc tự xử trí các vấn đề sức khỏe Nhận
thấy có sự giảm đáng kể giữa các triệu chứng
của nhiễm trùng cơ hội trước và sau khi vay
vốn, ngoại trừ triệu trứng nôn, buồn nôn thì tất
cả các triệu chứng khác đều giảm có ý nghĩa
thống kê
V KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy 14,2% đăng
ký vay vốn nhưng chỉ có 9,3% được vay vốn
53,5% hội viên biết về chương trình vay vốn cho
rằng chương trình có hiệu quả, 16,8% cho rằng
rất hiệu quả, chỉ có 2,1% cho rằng chương trình
vay vốn không có hiệu quả Sau khi vay vốn, thu
nhập trung bình của hội viên tăng từ 2.000.000
vnd lên 3.000.000 vnd (p=0,008); thái độ xa lánh
của cộng đồng với hội viên giảm từ 63,1% xuống
5,3% (p<0,01); các triệu chứng của nhiễm trùng
cơ hội bao gồm sốt, đau đầu, tiêu chảy, da khô
hoặc ngứa, loét, đau họng của hội viên giảm so với trước khi tham gia vay vốn (p<0,001) Nghiên cứu đã chỉ ra sự tiếp cận với nguồn vốn vay còn thấp và bước đầu chương trình đã có hiệu quả tốt nhằm nâng cao chất lượng sống của hội viên về kinh tế, xã hội và sức khỏe Cần mở rộng hơn nữa thông tin, hoạt động cho vay vốn của chi Hội nhằm tạo điều kiện cho hội viên tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế và Ban quản lý dự án quỹ toàn cầu HIV/ AIDS Báo cáo kết quả hoạt động năm 2004 và
kế hoạch triển khai năm 2005 Dự án tăng cường chương trình chăm sóc, tư vấn, hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS dựa vào cộng đồng tại Việt Nam do quỹ toàn cầu tài trợ tháng 3/2001 2004
2 Bộ Y tế Luật Phòng chống nhiễm vi rút gây ra Hội chứng Suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/ AIDS) Hà Nội 2006.
3 Trung tâm nghiên cứu Sức khỏe Cộng đồng và Phát triển (Cohed) Khảo sát khả năng tiếp cận với nguồn tín dụng sẵn có ở địa phương của người nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, Hà Nội 2012.
4 Dương Anh Linh Một số đặc điểm của người nhiễm HIV tại tỉnh Kiên Giang năm 2011 và tuân thủ điều trị Luận văn chuyên khoa II, Trường đại học Y Hà Nội 2012.
5 Tổng cục thống kê Niêm giám thống kê tóm tắt
2012 Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội 2012.
6 Vũ Văn Xuân, Nguyễn Quý Thái và Trần Văn Tiến Nghiên cứu thông tin phản hồi của người nhiễm HIV về sự hỗ trợ của gia đình và cộng đồng Tạp chí
Y học thực hành 2013; 3(860): 28
7 Nguyễn Thanh Long và Nguyễn Văn Kỳ Kiến thức, thái độ và hành vi phòng chống HIV/AIDS trong nhóm đồng bào dân tộc H’Mông ở Lai Châu Tạp chí Y học thực hành 2013; 3(860): 25
Trang 10ASSESSMENT OF THE LEVEL OF ACCESS AND EFFECTIVE USE OF THE FUNDS FROM ASSEMBLY OF AGAINST HIV / AIDS IN HANOI IN 2013
Le Nhan Tuan, Pham Thi Ngoc Han
Hanoi center of HIV/AIDS control, Hanoi
A cross-sectional study was conducted on
408 members to assess the level of access and
effective use of the funds from assembly of
against HIV/AIDS in Hanoi in Hanoi in 2013
The result showed that 14.2% registered to
bor-row money but only 9.3% were accepted 53.5%
of members said that the lending program was
an effective program, 16.8% said it was very
ef-ficient and only 2.1% said the program was not
effective After borrowing, the average income
of membership increased from 2,000,000 VND
to 3,000,000 VND (p = 0.008); alienated attitude
of the community to membership decreased from 63.1% to 5.3% (p <0.01); the symptoms of op-portunistic infections of membership include fe-ver, headache, diarrhea, dry skin or itching, ulcer, sore throat decreased (p <0.001) This research showed that the level of access was still low and the lending program was initially good effect to improve the quality of the membership life in the socio-economy and the health
Keywords: lending program, HIV/AIDS,
Hanoi