GDPTBV ñòi hỏi giáo dục ñịa lý không chỉ quan tâm ñến việc truyền thụ cho học sinh các kiến thức cơ bản về môi trường, kinh tế, xã hội và hình thành những kỹ năng phươn[r]
Trang 1ðỔI MỚI GIÁO DỤC ðỊA LÝ THEO ðỊNH HƯỚNG CỦA GIÁO DỤC
VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
TRẦN ðỨC TUẤN Khoa ðịa lý, Trường ðHSP Hà Nội
I ðẶT VẤN ðỀ Trong thế kỷ XXI, toàn cầu hóa và phát triển bền vững (PTBV) ñã trở thành những khái niệm trung tâm của thế giới hiện ñại Thế giới hiện ñại, toàn cầu hóa với những thay ñổi “chóng mặt“ sẽ không có tương lai nếu không phát triển bền vững, bởi vì phát triển bền vững là sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của ngày hôm nay nhưng ñảm bảo cho các thế hệ tương lai không ít cơ hội sống hơn những gì ngày hôm nay có Với việc cam kết thực hiện Phát triển bền vững là cam kết, là lương tâm
và trách nhiệm của thế hệ hôm nay ñối với các thế hệ tương lai
Chỉ có thể ñạt ñược sự PTBV nếu như chúng ta tiến hành ñổi mới một cách toàn diện và sâu sắc trên các mặt thể chế, công nghệ và nhận thức - hành vi Sự ñổi mới, những cam kết mạnh mẽ và sự tham gia có hiệu quả không thể tự nhiên mà có ñược mà là kết quả của một quá trình giáo dục Con ñường ñi ñến bền vững thông qua giáo dục (Gerhard
de Haan, Học tính bền vững, 2005) Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà trong Chương trình nghị sự cho thế kỷ 21 (Agenda XXI), Hội nghị Thượng ñỉnh về Trái ðất năm 1992 tại Rio de Janero ñã khẳng ñịnh giáo dục vì sự phát triển bền vững (GDPTBV) là chìa khóa, là công cụ chủ chốt của phát triển bền vững Vì vậy, giáo dục nói chung và giáo dục phổ thông tất yếu phải ñổi mới ñể sự PTBV và trở thành công cụ cho sự PTBV Giáo dục ñịa lý phổ thông là không thể ñứng ngoài quá trình ñổi mới như vậy
Môn học ñịa lý ở nhà trường phổ thông là môn hợp có tính tổng hợp của những tri thức khoa học tự nhiên và khoa học xã hội và là một trong những môn học có „tính môi trường“ nhất Với khả năng không chỉ ñề cập ñến khía cạnh không gian mà còn xem xét những khía cạnh kinh tế, xã hội, chính trị và sinh thái của các lãnh thổ khác nhau (ñịa phương, vùng, nước, khu vực, thế giới), giáo dục ñịa lý ở nhà trường phổ thông có nhiều cơ hội ñể tích hợp nội dung GDPTBV vào trong chương trình và nội dung của môn học của mình Câu hỏi ñặt ra với nhiều giáo viên là làm thế nào ñể ñổi mới giáo dục ñịa lý ở nhà trường phổ thông theo những ñịnh hướng và những nguyên
lý của GDPTBV Bài viết này sẽ giải ñáp phần nào câu hỏi nêu trên
II GIÁO DỤC VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG THỜI ðẠI TOÀN CẦU HÓA
Chúng ta ñang sống trong một thế giới biến ñổi mạnh mẽ và sâu sắc Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện ñại và toàn cầu hóa ñang biến cho Trái ðất của chúng ta thành một một “làng toàn cầu” trong ñó các dân tộc, các quốc gia ngày
Trang 2càng phụ thuộc với nhau nhiều hơn trong quá trình phát triển "Tồn cầu hĩa tác động đến quần áo chúng ta mặc, đến âm nhạc chúng ta nghe, đến thức ăn chúng ta
ăn, đến cơng việc chúng ta làm, đến mơi trường chúng ta sống Tồn cầu hĩa thấm vào trong văn hĩa và tính đồng nhất của chúng ta" (Oxfam, 2003) Tồn cầu hĩa đem lại khơng chỉ những cơ hội, những triển vọng mới và những biến đổi to lớn, sâu sắc cho thế giới hiện đại mà cịn đặt ra tất cả các quốc gia, đặc biệt là các nước đang đang phát triển- những nước cĩ nguy cơ trở thành người thua cuộc trong quá trình tồn cầu hĩa- những thách thức và những rủi ro khơng nhỏ
Trong thế giới hiện đại, khi mà nguy cơ và hiểm họa đối với nhân loại khơng ít
đi mà dường như cĩ chiều hướng gia tăng, khi mà khơng chỉ mơi trường tự nhiên đang tiếp tục bị suy thối và cĩ nguy cơ huỷ diệt, mà mơi trường xã hội đang bị xuống cấp và huỷ hoại bởi sự tồn tại dai dẳng của chiến tranh, xung đột, khủng bố
và bất cơng xã hội, khi mà hịa bình ở nhiều nơi trên Trái ðất đang đe dọa thì PTBV
là mục tiêu tối cao mà chúng ta phải đạt tới, là con đường tất yếu mà chúng ta phải
đi, là triết lý sống mà mỗi cơng dân tồn cầu phải thực hiện
Trong thời đại của tồn cầu hĩa, PTBV đã trở thành khái niệm trung tâm của thế giới hiện đại PTBV được xem là quá trình đổi mới xã hội liên quan đến tất cả mọi nguời và được đảm bảo bằng "sự cam kết và tham gia thực sự của mọi nhĩm xã hội“ và “với những phương pháp và hình thức mới của sự tham gia" như đã nêu trong Agenda 21 của Hội nghị Thượng đỉnh Trái ðất năm 1992 PTBV địi hỏi các lĩnh vực sinh thái, kinh tế và xã hội phải kết hợp chặt chẽ và phát triển một cách hài hồ ðiều đĩ cĩ nghĩa là khi đẩy mạnh phát triển bền vững cần phải quan tâm chú ý thiết lập sự liên kết gắn bĩ của các mục tiêu sinh thái (bảo vệ mơi trường và tự nhiên), kinh tế (sự phát triển kinh tế) và xã hội (cơng bằng xã hội) và sự tác động tương hỗ của ba lĩnh vực này PTBV khơng phải là ngừng phát triển để bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên mà phải phát triển theo những nguyên tắc mới, quy luật mới (Hình 1) và những chiến lược mới1
Khái niệm GDPTBV đã bắt đầu được tìm hiểu và nghiên cứu từ khi ðại hội đồng Liên Hợp Quốc năm 1987 chính thức thừa nhận khái niệm PTBV Từ năm
1987 đến năm 1992 khái niệm GDPTBV đã dần được định hình và phát triển Từ năm 1992 đến nay, tầm nhìn của cộng đồng thế giới về GDPTBV đã cĩ những bước tiến quan trọng (Hộp 1)
1
Những chiến lược của sự phát triển bền vững là: 1) Chiến lược hiệu quả: Mục tiêu của chiến lược này
là tăng cường hiệu quả của các mối quan hệ input-output trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên thơng qua những đổi mới về cơng nghệ và phân bố sản xuất., 2) Chiến lược tồn tại hướng tới mục tiêu cải thiện
sự hịa hợp của các dịng vật chất năng lượng bằng việc sử dụng, chẳng hạn các chất tái sinh hoặc các hợp chất thay thế., 3) Chiến lược lâu bền: cĩ mục tiêu năng cao tính bền vững của các sản phẩm và vật liệu, 4) Chiến lược hồn thiện cĩ mục tiêu tạo ra những thay đổi về quan niệm và tạo ra những hình mẫu tiêu dùng và hành vi sử dụng tiết kiệm tài nguyên và giũ gìn mơi trường, 5) Chiến lược chiến lược đồn kết, chung sống hịa bình nhằm phát triển sự sẵn sàng giúp đỡ những cộng đồng dân cư nhỏ (gia đình, làng xĩm, trường học cơ quan…) cũng như phát triển dịch vụ xã hội.
Trang 3GDPTBV có một trọng trách cao cả là mở ra cho tất cả mọi người cơ hội giáo dục, cho phép họ tiếp thu ñược các tri thức và các giá trị cũng như học ñược những những phương thức hành ñộng và phong cách sống cần thiết cho một tương lai ñáng sống và sự thay ñổi xã hội một cách tích cực nhằm mục tiêu “ñưa con người vào vị trí
mà nó có thể ñóng vai trò tích cực trong việc tạo ra một hiệu quả bền vững về mặt sinh thái, kinh tế và tạo nên một môi trường xã hội công bằng, trong khi vẫn duy trì ñược trên phạm vi toàn cầu“ (FMER,2002, TR 4)
Về bản chất GDPTBV chính là quá trình thúc ñẩy các giá trị mà trong ñó tôn trọng ñược ñặt ở vị trí trung tâm (UNESCO1
, 2005):
+ Tôn trọng phẩm giá và các quyền con người của mọi công dân trên thế giới
và cam kết tạo ra sự công bằng về kinh tế và xã hội cho tất cả những người dân + Tôn trọng các quyền con người của các thế hệ tương lai và cam kết thực hiện trách nhiệm giữa các thế hệ
+ Tôn trọng và quan tâm ñến môi trường ña dạng của con người và thiên nhiên, trong ñó không thể tách rời việc khôi phục và bảo tồn hệ sinh thái của Trái ðất
+ Tôn trọng tính ña dạng của văn hóa và cam kết xây dựng một nền hòa bình, không bạo lực và khoan dung tại mỗi ñịa phương và trên toàn thế giới
1
Thập kỷ Giáo dục vì Phát triển Bền vững Liên Hợp Quốc, Văn phòng UNESCO Hà Nội, 2005
Hộp 1: NHỮNG MỐC PHÁT TRIỂN QUAN TRỌNG CỦA GDPTBV Năm 1987: Khái niệm giáo dục phát triển bền vững hiện lần ñầu tiên ñược nhắc ñến Báo cáo Brundland
Năm 1990: Hội nghị Jomtien làm rõ những cơ sở quan trọng của khái niệm Giáo dục phát triển bền vững
Năm 1992: Trong văn kiện “Agenda 21“ của Hội nghị của Liên hiệp quốc về Môi trường
và Phát triển ở Rio de Janeiro giáo dục ñã ñược khẳng ñịnh là một trong những công cụ chủ chốt của phát triển bền vững1
Năm 1992: Hội nghị Toronto thảo luận xung quanh vấn ñề làm thế nào ñể giáo dục có thể thúc ñẩy việc sử dựng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn cho sự tăng trưởng kinh tế trong tương lai
Năm 1994: UNESCO tiến hành dự án “Giáo dục vì một tương lai bền vững“ và dự án
„Tuyên bố về trách nhiệm của thế hệ hiện tại ñối với các thế hệ tương lai“
Năm 1997: Hội nghị Thessaloniki ñã nhấn mạnh ñến mối liên hệ chặt chẽ giữa ñào tạo, quản lý, kinh tế, công nghệ và luân lý- ñạo ñức và mối quan hệ giữa kiến thức hiện ñại, kiến thức truyền thống và tính ña dạng về mặt văn hoá
Năm 2000: Diễn ñàn giáo dục thế giới ở Dakar ñã khẳng ñịnh sự cần thiết phải tạo ñiều kiện ñể cho tất cả mọi nguời ñến năm 2015 ñều ñược hưởng một nền giáo dục chung và nhấn mạnh rằng giáo dục là cơ sở thực sự của sự phát triển bền vững1
Năm 2002: Hội nghị Thượng ñỉnh Johanesburg ñề xuất với ðại hội ñồng LHQ “xem xét thông qua việc triển khai một Thập kỷ Giáo dục vì Sự Phát triển Bền vững“ Ngày 20 tháng
12 năm 2002 ðại hội ñồng LHQ nhất trí thông qua Nghị Quyết 57/254 về việc triển khai một “Thập kỷ Giáo dục Phát triển Bền vững“ ( từ 2005 ñến 2014) Nghị quyết do chính phủ Nhật Bản và 46 quốc gia ñồng tài trợ
Trang 4III GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG DẠY HỌC ðỊA LÝ
1 ðịa lý ở nhà trường phổ thông và GDPTBV
ðịa lý ở nhà trường phổ thông không chỉ là bộ môn ñược coi là có “tính môi trường nhất“ mà còn là một trong những bộ môn có nhiều ưu thế ñể thực hiện GDPTBV1 Trong những thập kỷ qua, ñịa lý ở nhà trường ñã tham gia tích cực vào việc giáo dục môi trường, giáo dục dân số, giáo dục phát triển, giáo dục hòa bình và
ñã trở thành một trong những môn học tích hợp nhiều nhất nội dung giáo dục môi trường vào trong chương trình giảng dạy ðiều này xuất phát ở chỗ bộ môn ñịa lý ở nhà trường phổ thông với hai nhánh cơ bản - ñịa lý tự nhiên và ñịa lý kinh tế - xã hội- có khả năng phản ánh không chỉ mặt tự nhiên, môi trường mà còn thể hiện ñược các mặt kinh tế, xã hội và sự tác ñộng của con người ñến môi trường tự nhiên ở các lãnh thổ có phạm vi khác nhau (ñịa phương, vùng, quốc gia, khu vực và toàn cầu)
Sự cần thiết phải tăng cường GDPTBV còn xuất phát ở một thực tế là mặc dù GDPTBV ñã có hơn 10 năm tồn tại ở kể từ sau Hội nghi Rio nhưng việc phát triển
nó với mức ñộ mong muốn ở nước trên thế giới vẫn chưa ñạt ñược Theo ñiều tra sơ
bộ của chúng tôi ở một số trường THPT tại Hà Nội, số học sinh biết và hiểu khái niệm phát triển bền vững, Agenda 21 chỉ là một con số nhỏ nhoi và cũng chỉ không nhiều giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục cho rằng họ có nghe ñến các khái niệm này nhưng không có những hiểu biết cụ thể Ngay ở CHLB ðức nơi mà giáo dục phát triển bền vững ñang ñược tiến hành khá quy mô và mạnh mẽ thì ở một số trường học cũng có tình trạng tương tự
2 ðổi mới chương trình dạy học ñịa lý theo những ñịnh hướng cơ bản của GDPTBV
ðổi mới giáo dục ñịa lý theo những ñịnh hướng của GDPTBV cần bắt ñầu trước hết bằng việc thiết kế lại và ñổi mới chương trình và nội dung sách giáo khoa ñịa lý phổ thông sao cho những thành phần của GDPTBV ñược tích hợp và lồng ghép trong chương trình và nội dung sách giáo khoa càng nhiều càng tốt GDPTBV ñòi hỏi giáo dục ñịa lý không chỉ quan tâm ñến việc truyền thụ cho học sinh các kiến thức cơ bản về môi trường, kinh tế, xã hội và hình thành những kỹ năng phương pháp cần thiết mà cần phải coi trọng giáo dục các giá trị, các vấn ñề và triển vọng sống trong tương lai nhằm hướng dẫn, khuyến khích học sinh tìm kiếm, phát hiện ra những kế sinh nhai bền vững và qua ñó tích cực tham gia vào các hoạt ñộng xã hội
và sống một cách bền vững.Vì vậy, chương trình ñổi mới về giáo dục ñịa lý phổ thông cần phải là hiện ñại bao gồm 5 thành phần cơ bản của GDPTBV (kiến thức,
kỹ năng, vấn ñề, triển vọng và giá trị) mà trong ñó giá trị là một ñơn vị cấu thành chủ chốt Xây dựng chương trình dựa trên việc xác lập và phát triển các giá trị thay cho việc quá chú trọng ñến kiến thưc hiện ñại sẽ cho phép vượt qua ñược vấn ñề quá
1
Các giáo viên ñịa lý là những nhà giáo dục môi trường trong những giờ học ñầu tiên và môn ñịa lý nằm trong nhóm hàng ñầu về mức ñộ giáo dục môi trường
Trang 5tải- một trong hạn chế lớn thưòng gặp hiện nay trong các chương trình giáo dục ựịa
lý phổ thông ở nhiều nước trên thế giới Chương trình giáo dục ựịa lý phổ thông ựược xây dựng và thiết kế theo tiếp cận ựổi mới nêu trên sẽ tạo cho các giáo viên ựịa
lý thông qua các bài học ựịa lý có thể:
a Giúp học sinh có ựược những kiến thức cơ bản, cần thiết về PTBV
Sự phát triển bền vững ựòi hỏi sự phát triển hài hòa, bền vững về môi trường, kinh tế và xã hội Vì vậy, học sinh cần có những kiến thức cơ bản về những nguyên tắc và quy luật của sự PTBV và cần hiểu ựược những nguyên tắc này sẽ ựược thực hiện như thế nào và chứa ựựng những giá trị gì để thực hiện ựược mục tiêu này, bên cạnh việc hình thành cho học sinh khái niệm về PTBV, Agenda 21 giáo viên có thể dựa vào bảng dưới ựây ựề cập những nguyên tắc cơ bản của sự PTBV (Hình 2) ựể lựa chọn những kiến thức và tắch hợp chúng vào trong những chủ ựề thắch hợp trong chương trình dạy học ựịa lý ở nhà trường phổ thông
Hình 2 Những nguyên tắc và lĩnh vực chủ yếu của sự phát triển bền vững
b Giúp học sinh nhận thức ựược những vấn ựề của sự PTBV Trọng tâm của GDPTBV là hướng vào những vấn ựề về môi trường, kinh tế và
xã hội mà nó ựe dọa tắnh bền vững của Trái đất Nhiều vấn ựề cơ bản như vậy ựã ựược thể hiện trong văn kiện mang tên Agenda 21 của Hội nghi Rio Xuất phát từ ựặc trưng của bộ môn ựịa lý trong quá trình dạy học giáo viên cần tạo ra những ựiều kiện thuận lợi ựể học sinh hiểu rõ những vân ựề vấn ựề trọng tâm có ý nghĩa ựối với Việt nam trong việc PTBV Ở ựây lựa chọn những vấn ựề PTBV sao cho nó cổ vũ và phát triển nguyên lý của sự PTBV Ộtư duy toàn cầu và hành ựộng tại ựịa phươngỘ
có một ý nghĩa thực tiễn rất sâu sắc Những chủ ựề như vậy có thể là dân số và phát
TRONG LĨNH VỰC SINH THÁI
- Tốc ựộ sử dụng các nguồn tài nguyên tái tạo không vượt quá tốc ựộ tái sinh của nguồn tài nguyên này
- Việc sử dụng những nguồn tài sinh không tái tạo ựược ở mức cao nhất cũng chỉ ựược phép bằng việc sản xuất các nguồn tài nguyên thay thế có khả năng tái sinh và cần tuyệt ựối duy trì ở mức thấp nhất
- Lượng các chất phế thải và rác thải ựưa vào môi trường không ựược phép cao hơn khả năng tiếp nhân và ựồng hoá của môi trường
- Tắnh ựa dạng, vẻ ựẹp và các giá trị thẩm mỹ của cảnh quan tự nhiên
và cảnh quan văn hoá cần phải ựược bảo vệ
LĨNH VỰC KINH TẾ
- đáp ứng và ựảm bảo các nhu cầu vật chất và phi vật chất cơ bản
- đảm bảo mức sống cơ bản
- đảm bảo và phát triển hệ thống sản xuất do con người tạo nên
LĨNH VỰC XÃ HỘI
- đảm bảo sự tham gia rộng rãi của nhân dân vào các quyết ựịnh của xã hội
- Tạo ựiều kiện ựể giải phóng nhân dân
- đảm bảo và duy trì hệ thống xã hội của con người
Trang 6triển bền vững; toàn cầu hóa và tác ựộng của nó ựến các nước ựang phát triển; ô nhiễm môi trường nước; hiện tượng nóng lên toàn cầu: sự huỷ hoại rừng và vấn ựề bảo vệ ựa dạng sinh học, phát triển bền vững nông nghiệp và nông thôn, phát triển bền vững ựô thị, sự tương phản giữa các vùng, các nước, giữa người giàu và người nghèo
c Hình thành và phát triển ở học sinh những kỹ năng cần thiết ựể sống một cách bền vững
để thực hiện thành công GDPTBV cần phải vượt lên trên việc giảng dạy ựơn thuần các các vấn ựề chủ chốt của PTBV GDPTBV trong các bài học ựịa lý phải tạo cho học sinh những kỹ năng mà nó sẽ tạo ựiều kiện cho các em tiếp tục học tập sau khi các em rời ghế nhà trường và có những cách kiếm sông một cách bền vững và sống một cách bền vững Việc hình thành một hệ thống các kỹ năng phát triển bền vững là trách nhiệm không chỉ của bộ môn ựịa lý Tuy nhiên, thông qua các bài học ựịa lý giáo viên có thể bồi dưỡng và phát triển một số kỹ năng có ý nghĩa ựối với việc pháat triển bền vững của cá nhân học sinh đó là: a) Khả năng giao tiếp có kết quả (cả bằng ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết), b) Khả năng làm việc hợp tác với người khác, c) Khả năng tư duy hệ thống, d) Khả năng tư duy phê phán ựối với các vấn ựề và các giá trị xã hội và e) Kỹ năng quản lý và tương tác với môi trường ựịa phương
d Giúp học sinh thấy ựược những triển vọng của sự PTBV GDPTBV chứa ựựng trong nó những triển vọng có tầm quan trọng ựể hiểu rõ những vấn ựề toàn cầu cũng như những vấn ựề của ựịa phương trong trong bối cảnh toàn cầu Mỗi một vấn ựề ựều có lịch sử và có tương lai Nhìn rõ những gốc rễ của vấn ựề và dự ựoán ựược tương lai trên cơ sở những viễn cảnh khác nhau là bộ phận
cơ bản của GDPTBV Vắ dụ, việc tiêu dùng qua mức hàng hóa như giấy sẽ dẫn ựến việc chặt phá rừng, ựiều ựó mà theo suy nghĩ về sự PTBV có liên quan ựến những biến ựổi của khắ hậu toàn cầu Trong các bài học ựịa lý giáo viên có thể giúp học sinh triển vọng như những vấn ựề xã hôi và môi truờng thay ựổi theo thời gian, có lịch sử và có tương lai, những vấn ựề môi trường toàn cầu hiện nay có mối liên hệ và tác ựộng tương hỗ với nhau, bản thân công nghệ và khoa học không thể giải quyết ựựoc tất cả những vấn ựề của thế giới hiện ựại
e Hình thành ở học sinh những giá trị của PTBV Các giá trị cũng là bộ phận cấu thành của GDPTBV Việc hiểu biêt những giá trị là phần cơ bản của việc hiểu biết thế giới quan của bản thân và quan ựiểm của những người khác Việc hiểu biết những giá trị riêng của bản thân và giá trị của xã hội mà cá nhân sống ở ựó và giá trị của những dân tộc khác ở khắp nơi trên thế giới
là phần trung tâm của GDPTBV Phân loại giá trị và phân tắch giá trị là các phương pháp có tác dụng ựổi với việc xác lập các thành phần giá trị của GDPTBV Trong các bài học ựịa lý giáo viên nên thông qua việc nghiên cứu các các mối quan hệ giữa xã
Trang 7hội và môi trường ựể dẫn dắt học sinh tới việc chấp nhận các giá trị bắt nguồn từ những nghiên cứu Trên cơ sở tìm hiểu Hiến chương Trái đất, có thể xác ựịnh ra một
số những giá trị quan trọng mà giáo viên cần hình thành và phát triển cho học sinh
đó là: Tôn trọng và quan tâm ựến cuộc sống cộng ựồng, tham gia và hợp tác tắch cực với mọi người ựể giải quyết vấn ựề gay cấn cộng ựồng
3 đổi mới phương pháp dạy học theo những ựịnh hướng của GDPTBV GDPTBV không phải là một môn học mới cần ựược bổ sung vào chương trình giáo dục phổ thông vốn ựã quá tải, mà là một cách tiếp cận tổng thể giáo dục trong
ựó PTBV ựược xem như là bối cảnh thực hiện các mục tiêu hiện tại chứ không phải
là một ưu tiên mang tắnh cạnh tranh
Giá trị lớn lao của GDPTBV là ở chỗ bằng cách sử dụng những tình huống, những phương pháp và cấu trúc học tập thắch hợp, GDPTBV hướng tới Ộựổi mới quá trình học tập ở tất cả lĩnh vực và cấp bậc giáo dục mà nó giúp cho các cá nhân chiếm lĩnh ựược các kỹ năng phân tắch, ựánh giá và năng lực hành ựộng mà PTBV ựòi hỏiỢ (UNESCO Hà Nội, 2005) và Ộmở ra cho tất cả mọi người cơ hội giáo dục, cho phép
họ tiếp thu ựược các tri thức và các giá trị cũng như học ựược những những phương thức hành ựộng và phong cách sống cần thiết cho một tương lai ựáng sống và sự thay ựổi xã hội một cách tắch cựcỢ (FMER, 2002, TR 4)
đổi mới phương pháp dạy học theo những ựịnh hướng của GDPTBV cũng ựồng nghĩa với việc thực hiện những chiến lược dạy học ựịa lý mới, thắch hợp theo ựinh hướng GDPTBV Theo ý kiến của chứng tôi, các chiến lược dạy học mới có thể thực hiện trong các nhà trường phổ thông hiện nay ở nước ta là:
a Chiến lược dạy học hướng tới người học Hiện nay, chiến lược này thường ựược gọi dưới tên ỘDạy học lấy học sinh làm trung tâmỢ đi theo chiến lược này người giáo viên phải dần dần phải hạn chế từ bỏ những hoạt ựộng dạy học có nhiều tác ựộng tiêu cực theo ựịnh hướng của sư phạm ựộc thoại (coi người thầy là nhân vật trung tâm, thống lĩnh của quá trình dạy học) và nhanh chóng chuyển sang hoạt ựộng theo những nguyên tắc của sư phạm ựối thoại và
sư phạm hợp tác điều này có nghĩa là người giáo viên phải tạo lập cho mình và cho học sinh của mình những vị thế mới, giá trị mới trong môi trường giáo dục mới (Hình 2) ựể người học có nhiều cơ hội tắch cực tham gia, hợp tác và trải nghiệm có ựịnh hướng (bao gồm cả giáo dục giá trị và ựiều tra các vấn ựề) Nguyên tắc của việc thực hiện chiến lược này là thiết kế các chương trình và các bài học ựịa lý có khả năng hiện thực hóa càng nhiều càng tốt phương châm Ộthầy thiết kế, trò thi côngỢ để hiện thực hóa chiến lược này thì cần phải tiến hành trong thực tiễn dạy học ựịa lý phổ thông các phương pháp dạy học theo kiểu kiến tạo (tìm tòi sáng tạo) và các phương pháp dạy học kiểu hợp tác Ở ựây việc thực hiện các phương pháp dạy học mới, hiện ựại như dạy học nêu và giải quyết vấn ựề; dạy học bằng giải bài tập nhận thức; thảo luận, làm việc nhóm, dạy học theo kiểu dự án là hết sức cần thiết