Phân tích đặc điểm hoạt động tình dục bao gồm tuổi lần đầu bán dâm, phân nhóm khách hàng có quan hệ với đối tượng theo các loại hành vi quan hệ tình dục với khách hàng nam t[r]
Trang 1SỬ DỤNG RƯỢU, BIA VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
TRONG NHÓM NAM BÁN DÂM ĐỒNG GIỚI Ở HÀ NỘI NĂM 2014 - 2015
Lê Minh Giang 1,2 *, Nguyễn Hữu Anh 1 , Nguyễn Minh Sang 1 , Phạm Đức Mạnh 3 , Michael Clatts 4
1 Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo HIV/AIDS - Đại học Y Hà Nội
2 Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công Cộng - Đại học Y Hà Nội
3 Cục phòng, chống HIV/AIDS, Hà Nội
4 Đại học Puerto Rico, Hoa Kỳ
TÓM TẮT
Sử dụng rượu bia phổ biến trong nhóm nam tình dục đồng giới và có liên quan đến các hành vi quan hệ tình dục không an toàn là nguy cơ lây nhiễm HIV/STIs Hiện còn thiếu các nghiên cứu tìm hiểu về các yếu
tố liên quan đến hành vi sử dụng rượu bia ở nhóm nam tình dục đồng giới nói chung và nam bán dâm đồng giới nói riêng Bài báo này tìm hiểu thực trạng sử dụng rượu, bia trong nhóm nam bán dâm đồng giới
và mô tả một số yếu tố liên quan Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang với cỡ mẫu là 195 nam giới tuổi từ 16-35 tự báo cáo có bán dâm cho nam giới khác trong vòng 90 ngày trước điều tra Nghiên cứu được thực hiện tại thành phố Hà Nội từ 6/2014-6/2015 Trong 195 nam bán dâm đồng giới tham gia nghiên cứu, tuổi trung bình là 22 và phần lớn ở ngoại tỉnh (85%) Phân tích theo thang điểm AUDIT cho thấy 4,6% có nguy
cơ sử dụng rượu bia thấp, 33% ở mức có nguy cơ, 25,1% ở mức có hại và 36,9% mức lệ thuộc Phân tích hồi quy logistic đa cấp với 2 mô hình tìm hiểu các yếu tố liên quan đến mức độ uống rượu có hại và uống rượu ở mức độ lệ thuộc cho thấy trầm cảm và bị kì thị ở mức cao có liên quan chặt chẽ ở cả 2 mô hình Các chương trình giảm hại phòng chống HIV/AIDS trong quần thể nam bán dâm đồng giới cần quan tâm đến nguy cơ rượu bia và các yếu tố liên quan như tình trạng trầm cảm và mức độ kỳ thị của cộng đồng.
Từ khóa: Nam bán dâm đồng giới, sử dụng rượu, kì thị, trầm cảm
*Tác giả: Lê Minh Giang
Địa chỉ: Đại học Y Hà Nội
Điện thoại:0913281842
Email: leminhgiang@hmu.edu.vn
Ngày nhận bài: 05/06/2015 Ngày phản biện: 09/10/2015 Ngày đăng bài: 10/11/2015
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiều nghiên cứu cho thấy sử dụng rượu
bia khá phổ biến trong nhóm nam tình dục
đồng giới (NTDĐG) ví dụ như 73% NTDĐG
ở Trung Quốc sử dụng rượu bia ở mức độ hàng
ngày [1], một nghiên cứu khác tại Nga cho thấy
gần 60% NTDĐG uống rượu hàng tuần [2]
Các nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan sử
dụng chất và quan hệ tình dục hậu môn không
bảo vệ trong nhóm NTDĐG [2, 3] Nghiên cứu
trên 3000 NTDĐG trẻ ở Hoa Kỳ cho thấy rượu,
cocain, amphetamine liên quan đến quan hệ
tình dục hậu môn không an toàn [4] Tuy nhiên
các nghiên cứu tìm hiểu yếu tố liên quan đến
việc sử dụng rượu bia ở nhóm NTDĐG còn ít
Trong một nghiên cứu ở Nga thì việc sử dụng rượu bia trong NTDĐG là nhằm đối phó với tình trạng kì thị cũng như liên quan đến tình trạng trầm cảm Nghiên cứu cũng cho thấy việc
sử dụng rượu, bia ở nhóm nam bán dâm đồng giới (NBDĐG) có liên quan đến bối cảnh gặp
gỡ khách hàng [2]
Ở Việt Nam, các nghiên cứu trên nhóm NT-DĐG tập trung phân tích những ảnh hưởng của việc sử dụng rượu, bia lên các hành vi tình dục nguy cơ Điều tra IBBS cho thấy 44,7% (năm 2005) và 23,6% (năm 2009) NTDĐG ở Hà Nội báo cáo rằng từng có quan hệ tình dục khi uống rượu [5, 6] Một nghiên cứu khác về NBDĐG tại 3 thành phố ở Việt Nam cho thấy
Trang 2gần một nửa sử dụng rượu trước hoặc trong quá
trình quan hệ tình dục hậu môn không bảo vệ
với tất cả các loại bạn tình [7] Tuy nhiên, còn
thiếu các nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến
việc uống rượu ở nhóm NTDĐG nói chung và
NBDĐG nói riêng Vì vậy chúng tôi tiến hành
nghiên cứu này với mục tiêu: Mô tả thực trạng
sử dụng rượu, bia và các yếu tố liên quan trên
nhóm nam bán dâm đồng giới
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nam giới tuổi từ 16 có quan hệ tình dục với
nam giới khác vì mục đích trao đổi trong 90
ngày qua
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Tại các địa điểm tập trung NBDĐG trên địa
bàn Hà Nội
2.3 Thời gian nghiên cứu
Từ 6/2014 đến 6/2015
2.4 Phương pháp chọn mẫu
Áp dụng công thức ước lượng một tỷ lệ
trong quần thể [8]:
n = Z2
(1-α/2)
1-p
ε2P Dựa trên p=20% (tỉ lệ sử dụng rượu bia ở
mức gây hại theo thang điểm AUDIT trong
nghiên cứu trên nhóm NQHTDĐT tại Hà Nội
năm 2009) [9]; Hệ số sai lệch mong muốn ε=0,3;
cỡ mẫu ước tính tối thiểu là 171, chúng tôi lấy dự
phòng đối tượng từ chối nên mẫu tổng là 195
Chúng tôi thực hiện chọn mẫu theo phương
pháp thời gian-địa điểm (Time-Location
Sam-pling hay viết tắt là TLS) Đây là một hình
thức chọn mẫu theo cụm trong đó các đơn vị
mẫu là các cụm thời gian - địa điểm Đây là
phương pháp chọn mẫu được áp dụng phổ biến
trong các nghiên cứu trên nhóm quần thể ẩn mà
không có các biện pháp để xác định một khung
chọn mẫu theo các phương pháp thông thường
Trên cơ sở cỡ mẫu tối thiểu cần thiết, nhóm nghiên cứu tiến hành chọn mẫu với số lượng đối tượng được chọn ở mỗi cụm tỷ lệ thuận với kích thước quần thể nghiên cứu ước lượng ở mỗi cụm
2.5 Biến số nghiên cứu
Biến phụ thuộc: Uống rượu bia ở mức có hại (AUDIT 16-19), uống rượu bia ở mức phụ thuộc (AUDIT≥20) [10]
Các biến số phân loại nhóm tuổi, mức thu nhập, quan hệ tình dục hậu môn nhận, CESD
20 [11], tự kì thị, bị kì thị [12] là những biến độc lập
2.6 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
Phỏng vấn trực tiếp đối tượng bằng bộ câu hỏi định lượng được thiết kế sẵn và đã được thử nghiệm tại thực địa trước khi triển khai
2.7 Phân tích số liệu
Số liệu được xử lý và phân tích bằng chương trình STATA 11.0 Để tìm hiểu các yếu tố liên quan đến mức độ nguy cơ sử dụng rượu theo thang điểm AUDIT chúng tôi sử dụng phân tích hồi quy logistic đa bậc
2.8 Đạo đức nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu đã được thông qua hội đồng đạo đức của trường Đại học Y Hà Nội năm
2013 (Quyết định số 120/HĐĐĐ – ĐHYHN)
III KẾT QUẢ 3.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu
Trong tổng số 195 NBDĐT tham gia nghiên cứu có 59% được tiếp cận tại các cơ sở dịch
vụ dành cho nam đồng tính (quán sauna, massage…) Tuổi trung bình của đối tượng là 22,3±3,5 và tập trung trong nhóm tuổi 20-24 (56%) Phần lớn đối tượng đến từ ngoại tỉnh (85%) và chưa tốt nghiệp phổ thông trung học (67%) Có 79% tự nhận mình là nam giới và 21% nhận mình là nữ giới, chuyển giới Về khuynh hướng tình dục phần lớn là thích quan
Trang 3hệ tình dục với cả nam và nữ (42%), 38,5% chỉ
thích nữ và 19,5% chỉ thích nam 3.2 Thực trạng sử dụng rượu bia trên nhóm nam bán dâm đồng tính
Bảng 1 Thực trạng sử dụng rượu/bia Mức độ sử dụng rượu/bia trong 12 tháng qua
(thang điểm AUDIT)(9)
Tổng
n (%)
1 – 7 (nguy cơ thấp) 9 (4,6)
8 – 15 (mức nguy cơ) 65 (33,3)
16 – 19 (mức có hại) 49 (25,1)
20 – 40 (mức lệ thuộc) 72 (36.9)
Trong tổng số 195 NBDĐT tham gia nghiên
cứu, phân loại theo thang điểm AUDIT tỷ lệ
NBDĐT ở mức lệ thuộc chiếm 37% trong khi
mức nguy cơ thấp chiếm 4,6%
3.3 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng sử dụng rượu bia
Bảng 2 Đặc điểm hoạt động bán dâm theo phân mức nguy cơ thang AUDIT
Phân mức nguy cơ AUDIT
p*
Đặc điểm
Tuổi lần đầu bán dâm
≤18 tuổi 62 25 (40,3) 16 (25,8) 21 (33,9)
0,746
Từ 19 đến 24 tuổi 117 44 (37,6) 27 (23,1) 46 (39,3)
Từ 25 đến 29 tuổi 16 5 (31,3) 6 (37,5) 5 (31,3)
Hành vi QHTD với khách hàng nam trong 30 ngày qua
Miệng – sinh dục nhận (N=191)
< 6 khách 86 38 (44,2) 23 (26,7) 25 (29,1)
0,098
6 – 11 khách 56 23 (41,1) 9 (16,1) 24 (42,8)
≥ 12 khách 49 13 (26,5) 16 (32,7) 20 (40,8)
Miệng – sinh dục cho (N=190)
< 4 khách 87 34 (39,1) 23 (26,4) 30 (34,5)
0,397
4 – 12 khách 54 25 (46,3) 10 (18,5) 19 (35,2)
≥ 13 khách 49 14 (28,6) 15 (30,6) 20 (40,8)
Hậu môn đâm (N=191)
< 2 khách 91 37 (40,7) 28 (30,8) 26 (28,6)
0,084
2 khách 32 15 (46,9) 4 (12,5) 13 (40,6)
≥ 3 khách 68 21 (30,9) 16 (23,5) 31 (45,6)
Hậu môn nhận (N=190)
0 khách 82 37 (45,1) 22 (26,8) 23 (28,1)
0,141
1 – 3 khách 60 22 (36,7) 11 (18,3) 27 (45,0)
≥ 4 khách 48 14 (29,2) 15 (31,3) 19 (39,6)
(*) Sử dụng test khi bình phương để so sánh các tỷ lệ
Trang 4So sánh các đặc điểm hoạt động bán dâm
của NBDĐT theo 3 phân mức nguy cơ thang AUDIT chưa thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
Bảng 3 Sức khỏe tâm thần theo phân mức nguy cơ thang AUDIT Đặc điểm
Phân mức nguy cơ AUDIT
p*
Sử dụng ma túy trong 30 ngày
Không 132 55 (41,7) 36 (27,3) 41 (31,1)
0,049
Có 31 19 (30,2) 13 (20,6) 31 (49,2)
Nhận thấy cần điều trị vấn đề lạm dụng rượu
Không 182 71 (39,0) 46 (25,3) 65 (35,7)
0,384
CESD-20
≤15 (Bình thường) 72 38 (52,8) 14 (19,4) 20 (27,8)
0,003 16-21 (Thấp) 55 19 (34,6) 19 (34,6) 17 (30,9)
≥22 (Cao) 68 17 (25,0) 16 (23,5) 35 (51,5)
Tự kỳ thị
Thấp 121 39 (32,2) 35 (28,9) 47 (38,8)
0,087 Cao 74 35 (47,3) 14 (18,9) 25 (33,8)
Bị người khác kì thị
Không kì thị 54 30 (55,6) 14 (25,9) 10 (18,5) <0,001
(*) Sử dụng test khi bình phương để so sánh các tỷ lệ
Kết quả cho thấy tỷ lệ đối tượng có sử dụng
ma túy trong 30 ngày qua uống rượu bia ở mức
lệ thuộc cao hơn nhóm còn lại với sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Đối tượng có
nguy cơ trầm cảm cao có tỷ lệ sử dụng rượu,
bia ở mức lệ thuộc (51,5%) cao hơn 2 nhóm
nguy cơ trầm cảm ở mức độ thấp (30,9%)
và bình thường (27,8%) với sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê (p<0,05) Tỷ lệ bị người khác kì thị ở mức độ cao có sử dụng rượu bia mức độ lệ thuộc (55,2%) cao hơn nhóm
bị kì thị ở mức độ thấp (36,1%) và không kì thị (18,5%) với sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê (p<0,001)
Trang 5Bảng 4 Một số yếu tố liên quan với sử dụng rượu, bia ở mức có hại trở lên
qua phân tích hồi quy logistic đa bậc (Multinomial logistic regression)
Biến
Uống rượu bia ở mức
có hại (16-19 điểm)
Uống rượu bia ở mức phụ thuộc (≥20 điểm)
OR hiệu chỉnh (95%CI) OR Hiệu chỉnh (95%CI)
Nhóm tuổi
20-24 tuổi 0,99 (0,37-2,72) 3,55 (0,98-12,78) 25-29 tuổi 1,07 (0,33-3,52) 4,81 (1,19-19,4)* Mức thu nhập
Từ 3,5 – 7 triệu 1,34 (0,49-3,68) 3,01 (1,05-8,67)* Trên 7 triệu 1,71 (0,62-4,75) 4,04 (1,39-11,8)*
≥ 1 khách 1,62 (0,71-3,66) 2,85 (1,27-6,38)** CESD 20
16-21 (Thấp) 4,46 (1,6-12,37)** 2,82 (1,01-7,85)*
≥22 (Cao) 3,34 (1,19-9,39)* 5,76 (2,19-15,15)***
Cao 0,29 (0,12-0,69)** 0,42 (0,19-0,96)*
Bị kì thị Không bị kì thị/ thấp 1 1
Cao 2,07 (1,15-3,73)* 2,15 (1,21-3,82)**
* p<0,05; ** p<0,01; *** p<0,001 N=190; Phân tích sử dụng mức uống rượu bia hợp lý, nguy cơ thấp và ở mức nguy cơ (< 15 điểm) làm tham khảo;
Kết quả phân tích cho thấy các yếu tố làm
tăng nguy cơ sử dụng rượu, bia ở mức có hại
là tình trạng trầm cảm và mức độ kỳ thị cao
Các yếu tố làm tăng nguy cơ sử dụng rượu, bia
ở mức lệ thuộc là tuổi cao, thu nhập cao, quan
hệ tình dục hậu môn nhận, trầm cảm và mức độ
bị kỳ thị cao Tình trạng tự kỳ thị là yếu tố làm
giảm nguy cơ sử dụng rượu bia ở cả mức có hại
và mức lệ thuộc
IV BÀN LUẬN
4.1 Đặc điểm chung về mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn Hà
Nội là một trong những thành phố tập trung
đông nhóm NBDĐG bên cạnh thành phố Hồ
Chí Minh và Nha Trang
NBDĐG trẻ tuổi với tuổi đời trung bình là
22, phần lớn sinh ra ở ngoại tỉnh (85%) lên Hà
Nội vì các lý do việc làm, học tập Kết quả này
cũng phù hợp với nghiên cứu của Hà Huy và
cộng sự trong đó tỷ lệ ở ngoại tỉnh là 76% [12]
Về trình độ học vấn tỷ lệ chưa tốt nghiệp phổ thông trung học là 67% chiếm tỷ lệ cao hơn so với kết quả trong nghiên cứu của Vũ Đức Việt (40%) [13] Khoảng ¼ có thu nhập trung bình dưới 3,5 triệu.Trong kết quả này của chúng tôi cho thấy NBDĐG hạn chế về trình độ học vấn
và phần lớn ở ngoại tỉnh nên khi lên thành phố lớn sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình tìm kiếm việc làm
4.2 Thực trạng sử dụng rượu bia trên nhóm nam bán dâm đồng giới
Về thực trạng sử dụng rượu bia trong nhóm NBDĐG phân loại theo các mức nguy cơ của AUDIT có thể thấy 95,3% sử dụng rượu từ mức nguy cơ trở lên và phần lớn tập trung ở mức độ lạm dụng và gây hại chiếm lần lượt là 37% và 25% Kết quả này cho thấy là việc sử dụng rượu bia trong nhóm NBDĐG ở mức nguy cơ cao hơn so với nhóm nam giới ở Việt Nam trong nghiên cứu của Kim Bảo Giang và cs trong đó 87% sử dụng rượu, bia trong năm qua và mức
Trang 6độ có nguy cơ là 25,5% và trong số này 22,2%
ở mức nguy cơ, 16-19% ở mức gây hại và 1,4%
ở mức lệ thuộc/nghiện [14]
4.3 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng
sử dụng rượu bia trên nhóm nam bán dâm
đồng giới
Phân tích đặc điểm hoạt động tình dục bao
gồm tuổi lần đầu bán dâm, phân nhóm khách
hàng có quan hệ với đối tượng theo các loại
hành vi quan hệ tình dục với khách hàng nam
trong 30 ngày qua (bao gồm miệng sinh dục
cho, miệng sinh dục nhận, hậu môn cho, hậu
môn nhận) phân bố theo các mức độ sử dụng
rượu bia theo thang AUDIT chúng tôi chưa
thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong
ng-hiên cứu này Ngng-hiên cứu của Wirtz cho thấy
nhóm NTDĐG hiếm khi hoặc chưa từng sử
dụng bao cao su khi quan hệ tình dục hậu môn
có tỷ lệ sử dụng rượu bia ở mức có hại và lệ
thuộc cao hơn so với mức độ không có nguy
cơ trong khi những đối tượng luôn sử dụng bao
cao su thì ngược lại [2]
Bên cạnh đặc điểm về hoạt động tình dục,
trong nghiên cứu này chúng tôi cũng phân tích
vấn đề sức khỏe tâm thần theo các phân mức
thang AUDIT Kết quả so sánh từng biến bao
gồm sử dụng ma túy, nguy cơ trầm cảm và bị kì
thị với 3 mức độ (Không kì thị, Thấp và Cao)
theo các mức phân loại nguy cơ trong thang
điểm AUDIT phát hiện thấy sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê (p<0,05) Kết quả nghiên cứu
của Wirtz trên nhóm NTDĐG tại Nga cũng chỉ
ra việc sử dụng ma túy giải trí có tỷ lệ sử dụng
rượu bia ở mức gây hại (33,6%) và lệ thuộc
(38,4%) cao hơn so với sử dụng rượu bia ở mức
bình thường (22,3%) Nguy cơ trầm cảm và kì
thị là những vấn đề nhóm NBDĐG hay phải
đối diện, trong nghiên cứu trên quần thể
NT-DĐG trong đó có cả NBNT-DĐG, Wirtz cũng lý
giải những căng thẳng, kì thị có thể dẫn đến
việc NTDĐG sử dụng rượu bia nhiều như cách
thức để họ đối phó [2]
Phân tích mô hình hồi quy logistic đa cấp,
có 2 mô hình chúng tôi đưa ra bao gồm những
yếu tố liên quan đến uống rượu bia ở mức có hại
và uống rượu bia ở mức phụ thuộc Trong cách
phân tích này thì nhóm có điểm Audit dưới 15 được sử dụng để tham khảo và các biến nhóm tuổi và thu nhập đưa vào mô hình để hiệu chỉnh Kết quả phân tích từ hai mô hình cho thấy:
Ở mô hình thứ nhất khi tìm hiểu các yếu
tố liên quan đến sử dụng rượu bia ở mức có hại, kết quả cho thấy các yếu tố liên quan bao gồm trầm cảm, tự kì thị và bị người khác kì thị Trong mô hình thứ hai tìm hiểu các yếu tố liên quan đến sử dụng rượu bia mức phụ thuộc có thêm biến quan hệ tình dục hậu môn nhận + Nguy cơ trầm cảm (CESD): Trong mô hình uống rượu ở mức có hại, NBDĐG có nguy
cơ trầm cảm ở mức “thấp” và “cao” có nguy
cơ uống rượu bia ở mức có hại lần lượt gấp
4 lần và 3 lần so với nhóm có nguy cơ trầm cảm ở mức bình thường.Trong khi đó ở mô hình thứ hai NBDĐG trong nhóm có nguy cơ triệu chứng trầm cảm ở mức cao thì uống rượu
ở mức lạm dụng cao gấp 5 lần so với nhóm có nguy triệu chứng trầm cảm ở mức thấp và kết quả này cao hơn trong mô hình thứ nhất.Trong nghiên cứu của Hà Huy và cs cũng chỉ ra rằng trầm cảm có ảnh hưởng gián tiếp lên hành vi tình dục nguy cơ và có ảnh hưởng làm gia tăng việc sử dụng rượu bia trong quần thể nghiên cứu [12] Nghiên cứu của Carolyn trên quần thể NTDĐG cũng cho thấy những đối tượng có mức nguy cơ trầm cảm cao và thấp có mức độ
sử dụng rượu bia trong tình trạng say cao gấp 2,5 lần và 3 lần so với những đối tượng có mức nguy cơ trầm cảm bình thường [15]
+ Quan hệ tình dục hậu môn nhận: trong mô hình thứ hai cho thấy trong tháng qua những nam bán dâm đồng tính có quan hệ tình dục hậu môn nhận với khách hàng nam giới có nguy cơ sử dụng rượu ở mức lạm dụng cao gấp 3 lần so với những nam bán dâm đồng tính không có quan hệ tình dục hậu môn trong tháng qua Hành vi tình dục hậu môn có nguy cơ lây nhiễm HIV/STIs cao nhất là hành vi nhận vì vậy việc khách hàng quan hệ vào hậu môn của đối tượng có thể tạo nên những tâm lý lo lắng cho đối tượng
+ Bị kì thị: Trong cả 2 mô hình, nhóm bị
kì thị ở mức độ cao có nguy cơ uống rượu ở
Trang 7mức có hại và mức lệ thuộc cao gấp 2 lần so
với nhóm bị kì thị ở mức độ thấp hoặc không
bị kì thị Trong nghiên cứu của Wirtz cho rằng
nhóm NTDĐG sử dụng rượu bia như cách thức
đối phó với tình trạng bị xã hội phân biệt kì thị
họ [2]
+ Tình trạng tự kỳ thị là yếu tố làm giảm
nguy cơ sử dụng rượu bia ở cả mức có hại và
mức lệ thuộc trong nghiên cứu này Hiện chưa
có nhiều thông tin đề cập đến vấn đề này và
đây là chủ đề cần quan tâm trong các nghiên
cứu tương lai
Trong nghiên cứu này chưa đề cập đến một
số yếu tố tiền sử gia đình có người sử dụng
rượu bia, chủng tộc, bị lạm dụng tình dục cũng
được một số nghiên cứu khác đề cập tới [15]
V KẾT LUẬN
NBDĐG sử dụng rượu, bia chủ yếu là ở
mức lệ thuộc (36,9%) và có hại (25,2%) Các
yếu tố làm tăng nguy cơ sử dụng rượu, bia ở
mức lệ thuộc là tuổi cao, thu nhập cao, quan hệ
tình dục hậu môn không an toàn, trầm cảm và
mức độ bị kỳ thị cao Hai yếu tố sau cũng có
liên quan đến sử dụng rượu, bia ở mức có hại
Tình trạng tự kỳ thị là yếu tố làm giảm nguy
cơ sử dụng rượu bia ở cả mức có hại và mức
lệ thuộc
Để làm giảm tình trạng sử dụng rượu, bia ở
mức có hại, góp phần nâng cao hơn nữa hiệu
quả của các chương trình giảm nguy cơ lây
nhiễm HIV/STIs và các chương trình giảm hại
liên quan đến sử dụng chất gây nghiện trong
quần thể NBDĐG, các chương trình can thiệp
cho nhóm này cần quan tâm đến tình trạng trầm
cảm của đối tượng và mức độ kỳ thị của cộng
đồng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nehl, E.J., et al., Prevalence and correlates of
alco-hol use among a sample of general MSM and money
boys in Shanghai, China AIDS Care, 2012 24(3):
324-30.
2 Wirtz, A.L., et al., Alcohol Use and Associated Sex-ual and Substance Use Behaviors Among Men Who Have Sex with Men in Moscow, Russia.AIDS Be-hav, 2015.
3 Nguyen TA, et al., Prevalence and risk factors as-sociated with HIV infection among men having sex with men in Ho Chi Minh City, Vietnam.AIDS Be-hav, 2008 12(3): 476-482.
4 Celentano DD, et al., Associations between sub-stance use and sexual risk among very young men who have sex with men Sex Transm Dis 2006 Apr 33(4): 265-271.
5 Ministry of Health, Results from the HIV/STI In-tegrated Biological and Behavioral Surveillance (IBBS) in Vietnam, 2005–2006 Hanoi, Vietnam 2006.
6 Ministry of Health, Results from the HIV/STI In-tegrated Biological and Behavioral Surveillance (IBBS) in Viet Nam - Round II 2009 Hanoi, Việt Nam 2011.
7 Yu G, et al., Substance use among male sex workers
in Vietnam: Prevalence, onset, and interactions with sexual risk Int J Drug Policy 2014 Nov 8.
8 S.K, L and S.Lemeshow, Sample size determination
in health studies: A practical manual, 1991.
9 Nguyen Bich Diep, Nguyen Văn Hùng, and L.M Giang, Sử dụng rượu và hành vi tình dục nguy cơ ơ nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới ở Hà Nội năm
2010 Tạp chí Nghiên cứu y học 4(84 SUPPL.),
59-64 Tạp chí Nghiên cứu y học, 2013 4(84 SUPPL): 59-64.
10 Tế, B.Y., Hướng dẫn Sàng lọc và can thiệp giảm tác hại do sử dụng rượu bia, 2013.
11 Robert E., et al.,“Assessment of Depression in Ado-lescents Using the Center for Epidemiologic Studies Depression Scale.” Psychological Assessment 2, no
2 (1990): 122–28 doi:10.1037/1040-3590.2.2.122.
12 Huy Ha, et al., Homosexuality-Related Stigma and Sexual Risk Behaviors Among Men Who Have Sex With Men in Hanoi, Vietnam Arch Sex Behav, 2015.
13 Vũ Đức Việt, et al., Nguy cơ nhiễm HIV và bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam bán dâm đồng tính tại ba thành phố của Việt Nam năm 2010 Y học thực hành, 2010 889+890: 67-70.
14 Giang KB, et al., Alcohol Use and Alcohol Con-sumption–Related Problems in Rural Vietnam: An Epidemiological Survey Using AUDIT Subst Use Misuse, 2008 Jan 1 43(3-4): 481-495.
15 Carolyn F.Wong, Michele D.Kipke, and G Weiss, Risk factors for alcohol use, Frequent use, and Binge dringking among young men who have sex with men Addic Behav, 2008 33 (8): 1012-1020.
Trang 8ALCOHOL USE AND RELATED FACTORS AMONG MEN WHO SELL SEX
TO MEN IN HANOI CITY, 2014-2015
Le Minh Giang 1,2 , Nguyen Huu Anh 1 , Nguyen Minh Sang 1 , Pham Duc Manh 3 ,
Michael Clatts 4
1 Center for Research and Training on HIV/AIDS –Hanoi Medical University
2 Department of Epidemiology –Hanoi Medical University
3 Vietnam Administration of HIV/AIDS Control
4 Puerto Rico University, United State
Alcohol use has increased among men
who have sex with men and related tosexual
behaviorriskof HIV/AIDS infection However,
there is lack of information about the factors
related to the alcohol use among general MSMs
and MSWs This article describes the status of
alcohol use among men who sell sex to men
and associated factors A cross-sectional survey
on 195 men aged from 16 to 35 who
self-reported that they had sex with a male partner
for material rewards within the last 90 days
This study was conducted in Hanoi City from
6/2014-6/2015 Participants had a mean age
of 22 and 85% come from outside of Hanoi
Based on AUDIT scale, the study showed level
of risk of alcohol use include 4.6% at low `risk, 33% at risk, 25.1% at harmful and 36.9% at dependence Analysis of multinomial logistic regressionwith 2 modelsshowed that perceived community stigma and depression were associated with alcohol use of harmful and dependence in the 2 models HIV prevention interventions for MSWs need to address more further risk of alcohol use and related factors such as depression and stigma of community
Keywords: Male sex worker, alcohol,
stig-ma, depression