1. Trang chủ
  2. » Kỹ Năng Mềm

Hiện nhiễm HIV, hành vi nguy cơ và tiếp cận chương trình ở các quần thể nguy cơ tại khu vực phía Nam, 2010-2014

10 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm mô tả chiều hướng tỷ lệ lưu hành HIV, hành vi nguy cơ và mức độ tiếp cận chương trình phòng chống HIV ở nam tiêm chích ma túy (TCMT), phụ nữ mại dâm (PNMD) và nam quan hệ đồng giới[r]

Trang 1

HIỆN NHIỄM HIV, HÀNH VI NGUY CƠ VÀ TIẾP CẬN CHƯƠNG TRÌNH

PHÒNG CHỐNG Ở CÁC QUẦN THỂ NGUY CƠ CAO TẠI KHU VỰC PHÍA NAM, 2010-2014

Phạm Duy Quang*, Nguyễn Duy Phúc, Khưu Văn Nghĩa, Trần Phúc Hậu, Phạm Thị Minh Hằng, Phan Trọng Lân, Nguyễn Vũ Thượng

Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh

TÓM TẮT

Nhằm mô tả chiều hướng tỷ lệ lưu hành HIV, hành vi nguy cơ và mức độ tiếp cận chương trình phòng chống HIV ở nam tiêm chích ma túy (TCMT), phụ nữ mại dâm (PNMD) và nam quan hệ đồng giới (MSM) các tác giả tiến hành phân tích dữ liệu giám sát trọng điểm HIV, lồng ghép hành vi tại 9 tỉnh phía Nam năm 2010-2014 Kiểm định Cochran–Armitage được sử dụng để đánh giá xu hướng nhiễm HIV, hành vi và tiếp cận chương trình Kết quả cho thấy hành vi an toàn hơn được ghi nhận ở nam TCMT và PNMD, nhưng không gặp ở nhóm MSM Trong khoảng thời gian này, tỷ lệ lưu hành HIV ở mức thấp trên nhóm PNMD (2–4%), giảm rõ ở nam TCMT (từ 23% xuống 12%) và dao động ở mức 2–10% ở nhóm MSM Năm 2014,

tỷ lệ tiếp cận các can thiệp giảm tác hại giảm chỉ bằng phân nửa năm 2010 Trong khi tỷ lệ xét nghiệm HIV

ở MSM có xu hướng tăng, tỷ lệ này lại giảm nhẹ ở cả nam TCMT và PNMD Chỉ 6–19% các quần thể nguy

cơ đã bị nhiễm HIV tiếp cận điều trị thuốc kháng retrovirus (ARV) Như vậy dịch nhiễm HIV có xu hướng giảm ở nam TCMT, ổn định ở PNMD nhưng có xu hướng gia tăng ở quần thể MSM Mức độ tiếp cận các chương trình HIV cần được tăng cường trong thời gian tới tại các tỉnh phía Nam.

Từ khóa: TCMT, PNMD, MSM, HIV, Giám sát trọng điểm.

*Tác giả : Phạm Duy Quang

Địa chỉ: Viện Pasteur TP HCM; 167 Pasteur, Quận 3, TP HCM

Điện thoại: (08) 3 8202815

Email: duyquang.pham@gmail.com

Ngày nhận bài: 20/07/2015 Ngày phản biện: 09/10/2015 Ngày đăng bài: 10/11/2015

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong hơn 20 năm qua Việt Nam đã theo

dõi sát sao dịch HIV/AIDS thông qua hệ thống

giám sát HIV quốc gia, đặc biệt là giám sát

trọng điểm được thiết lập từ 1994 [1] Đến nay,

dịch HIV chủ yếu tập trung ở các quần thể nguy

cơ bao gồm người tiêm chích ma túy (TCMT),

phụ nữ mại dâm (PNMD) và nam quan hệ đồng

giới (MSM) [2] Tiêm chích chung là yếu tố

nguy cơ của nhiễm HIV không những ở TCMT

mà còn ở PNMD và MSM Trong cộng đồng,

HIV lan truyền ở mức thấp với ước tính tỷ lệ lưu

hành HIV chung chỉ 0,29% vào năm 2015 [3]

Dù số người nhiễm giảm dần trong những năm

gần đây, tính đến tháng 6/2015, cả nước có hơn

227.100 người nhiễm HIV đã được ghi nhận,

trong đó hơn 42% (95.750 người) đang được

điều trị thuốc kháng retrovirus (ARV) [4]

Việc triển khai mạnh mẽ các can thiệp giảm tác hại tập trung cho các quần thể nguy cơ

từ 2002 và mở rộng điều trị ARV cho người nhiễm HIV từ 2005 đã củng cố hệ thống giám sát HIV tại Việt Nam Giám sát huyết thanh học hàng năm và giám sát hành vi được tiến hành song song những năm 2000 Việc lồng ghép

bộ câu hỏi hành vi ngắn vào thường qui giám sát trọng điểm HIV từ 2010 đã phần nào cung cấp số liệu chính yếu cho theo dõi dịch, hoạt động chương trình và lập kế hoạch không chỉ

ở các tỉnh/thành phố có dịch HIV cao mà còn các tỉnh có dịch HIV thấp/trung bình [5] Trong bài báo này, chúng tôi mô tả chiều hướng tỷ lệ lưu hành HIV, hành vi nguy cơ và mức độ tiếp cận chương trình HIV ở các quần thể nguy cơ tại 9 tỉnh triển khai tại khu vực phía Nam nhằm cung cấp một bức tranh về dịch HIV và đề xuất

và củng cố các can thiệp tập trung cho các quần thể này

Trang 2

II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu:

Ba (3) nhóm đối tượng của giám sát trọng

điểm (GSTĐ+) là nam giới (≥18 tuổi) tự nhận

có tiêm chích ma túy, phụ nữ (≥18 tuổi) tự nhận

có quan hệ tình dục (QHTD) nhằm trao đổi tiền

hoặc hàng hóa, và nam giới (≥18 tuổi) tự nhận

có QHTD đồng giới trong vòng 1 tháng trước

điều tra này

2.2 Địa điểm nghiên cứu:

Các tỉnh tham gia Giám sát trọng điểm lồng

ghép hành vi (GSTĐ+) ở phía Nam Chương

trình GSTĐ+ được bắt đầu triển khai ở An

Giang và Thành phố Hồ Chí Minh vào năm

2010, sau đó mở rộng lên 4 tỉnh năm 2011 và

8-9 tỉnh năm 2012-2013 Năm 2014, chỉ có 6

tỉnh triển khai hoạt động này tại khu vựa phía

Nam

2.3 Thiết kế nghiên cứu:

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng các số

liệu quản lý có sẵn của chương trình HIV kết

hợp với số liệu điều tra xã hội học đối tượng

nghiên cứu

2.4 Phương pháp thu thập thông tin nghiên

cứu:

Các nhóm đối tượng nghiên cứu được chọn

thuận tiện từ các tụ điểm tại cộng đồng thông

qua mạng lưới đồng đẳng viên; đây là các tụ

điểm đã được xác định từ hoạt động vẽ bản đồ

điểm nóng ở giai đoạn tiền điều tra Sau khi

người tham gia được giải thích và đồng ý miệng

với biên bản thỏa thuận tham gia, các cá nhân

này được phỏng vấn trực tiếp nhằm thu thập

các thông tin dân số-xã hội, hành vi tình dục,

sử dụng chất gây nghiện và tiếp cận các chương

trình can thiệp HIV sẵn có Với từng quần thể

được lên kế hoạch, khoảng 150-300 cá thể/năm

được thu dung ở mỗi tỉnh/thành phố

2.5 Phương pháp phân tích số liệu:

Trong thiết kế nghiên cứu mô tả, chúng tôi

tính tần số (tỷ lệ phần trăm) cho biến định tính

và trung vị (khoảng tứ phân vị) cho biến định lượng Phân tích dùng kiểm định Cochran– Armitage để xác định sự thay đổi theo thời gian của 6 chỉ số sau: (i) Luôn dùng bao cao

su (BCS) khi mua hay bán dâm trong 1 tháng qua; (ii) Tiêm chích chung trong 1 tháng qua; (iii) Nhiễm HIV; (iv) Tiếp cận can thiệp giảm hại trong 1 tháng qua: phân phát bơm kim tiêm (BKT) cho nam TCMT và 100% BCS cho PNMD và MSM; (v) Xét nghiệm HIV trong 12 tháng qua và (vi) Tiếp cận điều trị ARV ở người nhiễm HIV Số liệu được nhập trên Epi Data phiên bản 3.1 và phân tích thống kê được thực hiện trên Stata phiên bản 12.0

III KẾT QUẢ 3.1 Đặc tính dân số xã hội học

Đặc tính dân số xã hội học, hành vi và tiếp cận chương trình HIV của 6.423 nam TCMT, 6.640 PNMD và 3.698 MSM được trình bày trong Bảng 1 Tuổi trung vị ở nam TCMT nằm trong khoảng 26–28, và hơn 50% có thời gian tiêm chích trên 4 năm Ở tuổi đời 25–29, hơn 50% PNMD đã hành nghề khoảng 2–4 năm So với 2 quần thể này, MSM có tuổi đời trẻ hơn (trung vị: 23–24 năm) với trung vị tuổi lần đầu QHTD đồng giới từ 19 đến 20 tuổi

3.2 Hành vi tiêm chích ma túy

Ở nam TCMT, trung vị số lần tiêm chích dao động 30–50 lần/tháng Hầu hết nam TCMT (91,3–95,1%) đều sử dụng BKT sạch trong lần tiêm chích gần nhất và sử dụng chung BKT trong tháng qua đã giảm từ 38,2% xuống 25,3% trong giai đoạn 2010-2014 (p<0,001) Khoảng 2–9% PNMD và 5,6–17,6% MSM tham gia khảo sát cho biết đã từng tiêm chích

ma túy So với nhóm nam TCMT, tỷ lệ tiêm chích chung trong tháng qua đều ở mức khá cao

ở MSM (34,5–79,1%) và PNMD (21,1–100%)

có tiêm chích ma túy và tỷ lệ này có xu hướng tăng đáng kể trong giai đoạn 2010-2014 Rất ít (<5%) nam TCMT, PNMD và MSM có tiêm chích ma túy hiện đang được điều trị can nghiện chất bằng methadone (Bảng 1 và Hình 1a)

Trang 3

3.3 Hành vi trao đổi tiền/hàng hóa trong

quan hệ tình dục

Gần một phần ba nam TCMT (27,7 –37,2%)

cho biết có QHTD với PNMD trong 12 tháng

qua với tỷ lệ luôn sử dụng BCS chỉ ở mức 34,0–

60,5% Có đến 21,5–45,2% MSM cho biết có

tham gia bán dâm cho nam trong 12 tháng qua

Ở quần thể nguy cơ này, sử dụng BCS với các bạn tình nam đều ở mức thấp: 34,2–51,0% cho biết luôn dùng BCS trong tháng qua và 31,2 – 71,7% dùng BCS trong lần QHTD gần nhất với bạn tình nam Chỉ 29,1 – 47,4% MSM luôn dùng BCS khi bán/mua bán dâm

Trang 4

Bảng 1 Đặc điểm của các quần thể nguy cơ tham gia GSTĐ+, 2010-2014.

Nam tiêm chích ma túy Tổng (số tỉnh)

Phụ nữ mại dâm Tổng (số tỉnh)

Trang 5

Nam quan hệ đồng giới Tổng (số tỉnh)

Sử dụng BCS trong lần QHTD hậu môn gần nhất với bạn tình nam

BCS: bao cao su; BKT

MSM: nam quan hệ đồng giới; NKL

PNMD: phụ nữ mại dâm; QHTD: quan hệ tình dục; *: T

Trang 6

Trong 1 tháng trước phỏng vấn, mỗi PNMD

có bán dâm cho khoảng 9–14 khách (trung vị)

Trên tám phần mười (80,9–88,1%) có sử dụng

(BCS) trong lần bán dâm gần nhất Tỷ lệ luôn luôn

dùng BCS khi QHTD với khách trong tháng qua

tăng từ 56,5% năm 2010, lên 62,3% năm 2012 và

65,3% năm 2014 (p<0,001) (Bảng 1 và Hình 1b)

3.4 Tình trạng nhiễm HIV

Trong giai đoạn 2010-2014, với tỷ lệ nhiễm

chung là 12,3% (Khoảng tin cậy 95%: 11,4–

13,1%), tỷ lệ lưu hành HIV được ghi nhận cao

nhất ở nam TCMT, kế đến là nhóm MSM (6,5%

[5,7–7,3%]), và thấp nhất ở nhóm PNMD (2,8%

[2,4–3,3%]) Trong thời gian này, tỷ lệ lưu

hành HIV ở mức thấp ở PNMD (2,5–4,3%) và

giảm rõ ở nam TCMT (từ 23,3% xuống 12,1%,

p<0,001) Ở MSM, tỷ lệ này dao động ở mức

2-10% và có xu hướng tăng từ 2,5% năm 2012

lên 9,5% năm 2014 (Hình 1c)

3.5 Thực trạng tiếp cận chương trình HIV

Phân tích này ghi nhận sự giảm mức độ tiếp

cận các chương trình giảm tác hại HIV tập trung cho các quần thể nguy cơ trong giai đoạn

2010-2014 Cụ thể, tỷ lệ tiếp cận chương trình phân phát BKT ở quần thể nam TCMT giảm từ 72,7% năm

2010 xuống 47,2% năm 2014 (p<0,001) Năm

2014, tỷ lệ tiếp cận chương trình 100% BCS trong

1 tháng trước phỏng vấn ở cả PNMD và MSM chỉ bằng một phần hai so với 2010 (PNMD: 79,0%

so với 43,2%, p<0,001; MSM: 56,8% so với 28,9%, p<0,001) (Hình 1d)

Trừ nhóm MSM, tỷ lệ tiếp cận xét nghiệm HIV trong 12 tháng qua ở cả nam TCMT và PNMD cũng giảm nhẹ trong giai đoạn 2010-2014 (TCMT: 35,7% so với 30,8%, p<0,001; PNMD: 59,2% so với 42,9%, p<0,001) Ở nhóm MSM,

tỷ lệ này đã tăng từ 46,2% năm 2010 lên 53,9% năm 2012 và 63,1% năm 2014 (p=0,002) Tổng cộng 186/1.215 (15,3%, dao động 5,9–19,2%) người nhiễm HIV được phát hiện đã được điều trị ARV nhưng việc tăng tiếp cận điều trị HIV chưa được ghi nhận ở bất kỳ quần thể nào (Hình 1e, 1f)

Trang 7

Hình 1 Chiều hướng hành vi nguy cơ, tỷ lệ lưu hành HIV và mức độ tiếp cận chương trình HIV ở nam tiêm chích ma túy (TCMT, hình tam giác), phụ nữ mại dâm (PNMD, hình tròn) và nam quan hệ đồng giới (MSM, hình vuông), 2010-2014

a) Dùng chung BKT trong tháng qua ở nam TCMT, PNMD và MSM có tiêm chích ma túy

b) Sử dụng BCS khi bán/mua dâm

c) Nhiễm HIV

d) Tiếp cận chương trình phân phát BKT ở TCMT, 100% BCS ở PNMD và MSM

e) Xét nghiệm HIV trong 12 tháng qua

f) Tiếp cận điều trị HIV ở người nhiễm HIV.

IV BÀN LUẬN

Qua phân tích hơn 16.700 đối tượng nguy

cơ tham gia GSTĐ+ từ 2010 đến 2014 ở các

tỉnh phía Nam, chúng tôi thấy tỷ lệ lưu hành

HIV giảm rõ ở nam TCMT và ổn định ở mức

thấp ở PNMD Tuy nhiên, các can thiệp giảm

tác hại hiện tại cho MSM dường như chưa thể

ngăn chặn sự lây lan HIV trong quần thể này

Việc giảm mức độ tiếp cận các chương trình dự

phòng chủ chốt và mức độ xét nghiệm HIV và

điều trị ARV chưa cao ở 3 quần thể trên có thể

làm tái bùng phát dịch HIV, nhất là những phân

nhóm nguy cơ cao của các quần thể này như

nam TCMT có QHTD với PNMD, PNMD và

MSM có tiêm chích ma túy, trong thời gian tới tại các tỉnh phía Nam

Kết quả phân tích cho thấy các can thiệp giảm tác hại tiến hành trong thời gian vừa qua

đã đã có hiệu quả giảm đáng kể tỷ lệ dùng chung BKT ở nam TCMT và tăng sử dụng BCS khi QHTD khi bán dâm ở nhóm PNMD Điều này nhiều khả năng đã giúp ngăn chặn

sự lây lan HIV qua đường tiêm chích và mua/ bán dâm, giảm tỷ lệ lưu hành HIV ở các quần thể này Đây là minh chứng thêm nữa về dịch HIV đang giảm dần ở Việt Nam [6] Giống như các khu vực khác, các can thiệp ít ỏi cho MSM tại khu vực phía Nam chưa thể ngăn chặn sự

Trang 8

bùng phát dịch HIV qua QHTD đồng giới và

mại dâm nam không an toàn ở MSM [6, 7]

Các thiệp giảm tác hại cho MSM cần được tiến

hành mạnh mẽ hơn nữa nhằm kìm hãm dịch

HIV ở quần thể này

Dù hành vi an toàn hơn được ghi nhận ở cả

nam TCMT và PNMD nhưng tỷ lệ dùng chung

BKT vẫn còn khá cao ở nam TCMT (25%) và

chỉ 65% PNMD luôn dùng BCS khi QHTD

với khách vào năm 2014 Việc ít tiếp cận các

chương trình can thiệp, ít tiếp cận xét nghiệm

HIV và ít biết tình trạng nhiễm bản thân trong

thời gian gần đây gợi mở rằng nhiều đối tượng

tham gia khảo sát có thể vẫn tiếp tục các hành

vi nguy cơ và qua đó làm tăng lan truyền HIV

ra cộng đồng Do đó, các địa phương tại phía

Nam cần giám sát chặt chẽ hoạt động can thiệp

và chú trọng hơn nữa tới độ bao phủ của các

can thiệp trọng điểm cho các quần thể nguy cơ

này Lưu ý rằng các can thiệp dự phòng chỉ can

thiệp tập trung cho một hành vi nguy cơ ở một

quần thể như thời gian qua có thể không phải

là một đáp ứng dịch phù hợp trong tương lai do

sự đan xen hành vi khi mua bán dâm và tiêm

chích ma túy không an toàn được ghi nhận ở

hầu hết các nhóm Vì thế, cần lồng ghép can

thiệp như phân phát BCS và BKT cả cho nam

TCMT, MSM và PNMD có tiêm chích nhằm

tối đa hóa việc phòng ngừa lan truyền HIV

của các can thiệp cho các nhóm này [8] Điều

trị nghiện chất bằng methadone cho người có

TCMT cũng cần được mở rộng nhằm giảm các

hành nguy lây nhiễm HIV qua đường TCMT

Tháng 5/2015, Bộ Y tế mở rộng tiêu chuẩn

điều trị ARV (điều trị ngay cho đối tượng nguy

cơ cao đã bị nhiễm HIV và CD4<500 tế bào/μL

cho các đối tượng nhiễm khác) nhằm hiện thực

hóa chiến lược “90-90-90” (90% người nhiễm

HIV được chẩn đoán, 90% người được chẩn

đoán được điều trị HIV, 90% người điều trị ARV

ức chế virus thành công) vào năm 2020 [9, 10]

Kết quả của phân tích này cho thấy mức độ tiếp

cận điều trị ARV thấp ở các quần thể nguy cơ cao

đã bị nhiễm HIV Tâm lý lo sợ bị kỳ thị kép hành

vi nguy cơ và tình trạng huyết thanh dương tính

tại cộng đồng và cơ sở điều trị có thể là những

rào cản cho việc tiếp cận xét nghiệm HIV và điều

trị ARV [11] Loại bỏ các yếu tố này là phức tạp, khó khăn nhưng vô cùng quan trọng để giúp tăng cường hơn nữa mức độ tiếp cận dịch vụ xét ng-hiệm và điều trị HIV ở các quần thể nguy cơ và qua đó góp phần tiến tới chiến lược “90-90-90” vào năm 2020 Phổ quát các lợi ích của việc sớm chẩn đoán tình trạng nhiễm HIV và điều trị ARV bao gồm kéo dài và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nhiễm và giảm lan truyền HIV cho cộng đồng có thể góp phần xóa bỏ rào cản tự

kỳ thị của bản thân người nhiễm cũng như sự kỳ thị người sống chung với HIV từ cộng đồng Phân tích tổng hợp đầu tiên này về chiều hướng nhiễm HIV, hành vi nguy cơ và tiếp cận chương trình HIV ở cả ba quần thể nguy cơ (nam TCMT, MSM và PNMD) đã giúp phần nào xác định các trọng tâm của các can thiệp HIV trong tương lai tại khu vực phía Nam Tuy vậy, các kết quả này cần được diễn giải cùng với các giới hạn của GSTD+, cách thu thập số liệu và tiếp cận phân tích thống kê Việc chỉ thu dung đối tượng giám sát tại các tụ điểm và chỉ dùng phỏng vấn trực tiếp có thể làm thu thập quá mức số người

có nguy cơ cao nhiễm HIV cũng như dẫn đến các câu trả lời như xã hội mong đợi mà đôi khi không như thực hành của các đối tượng nguy cơ Sự biến động về số lượng tỉnh triển khai GSTĐ+ qua các năm có thể dẫn đến các sai số trong việc ước tính chiều hướng các chỉ số được quan tâm tại khu vực Thêm nữa, việc chưa kiểm soát yếu tố tỉnh

và tụ điểm trong phân tích thống kê có thể dẫn đến các sai lệch trong việc ước tính các tỷ lệ lưu hành HIV, hành vi nguy cơ và tiếp cận can thiệp HIV ở các quần thể

V KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu cho thấy dịch HIV có khuynh hướng giảm ở nhóm nam TCMT và ổn định ở nhóm PNMD tuy nhiên còn ở mức cao

ở MSM Việc lồng ghép can thiệp tập trung vào hành vi tiêm chích chung và tình dục không an toàn khi mua/bán dâm sẽ giúp giảm thiểu sự lan truyền HIV cho các quần thể nguy cơ cũng như góp phần đáng kể cho việc giảm lây lan HIV ra cộng đồng Tăng cường tiếp cận xét ng-hiệm HIV để sớm phát hiện nhiễm HIV và điều

Trang 9

trị ARV kịp thời giúp kéo dài thời gian sống

cho bản thân và giảm lan truyền HIV cho cộng

đồng

Lời cám ơn

Chúng tôi chân thành cảm ơn các đối tượng

tham gia khảo sát, đồng đẳng viên, phỏng vấn

viên, lãnh đạo các Trung tâm y tế các huyện/

thị triển khai GSTĐ+ và các đồng nghiệp tại

Chương trình HIV/AIDS thuộc Khoa KSDB

Viện Pasteur Tp Hồ Chí Minh đã hỗ trợ cho

việc thực hiện và hoàn thành nghiên cứu này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyen T, Nguyen T, Trinh Q HIV/AIDS

epidem-ics in Vietnam: evolution and responses AIDS Educ

Prev 2004,16:137 - 154.

2 Joint United Nations Programme on HIV/AIDS

(UNAIDS) HIV in Asia and the Pacific UNAIDS

Report 2013 In Bangkok; 2013.

3 Vietnam Authority of HIV/AIDS Control Vietnam

HIV/AIDS estimates and projections, 2011-2015

In Hanoi; 2013.

4 Cục Phòng Chống HIV/AIDS Báo cáo Công tác

phòng, chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm 2015

và nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2015 Hà

Nội, Việt Nam: Tháng 7/2015 Truy cập tại: http://

www.vaac.gov.vn/Desktop.aspx/Cac-hoat-dong-chuyen-mon/Tinh-hinh-dich-so-lieu-HIVAIDS/

Bao_cao_Cong_tac_phong_chong_HIVAIDS_6_

thang_dau_nam_2015_va_nhiem_vu_trong_tam_6_ thang_cuoi_nam_2015/ Ngày truy cập: 01/09/2015.

5 Thanh DC, Hien NT, Tuan NA, Ha HTT, Thang PH,

Ha NTT, et al Brief behavioural surveys in routine HIV sentinel surveillance: a new tool for monitoring the HIV epidemic in Viet Nam Western Pac Surveill Response J 2015,6:52-54.

6 Pham QD, Wilson DP, Kerr CC, Shattock AJ, Do

HM, Duong AT, et al Estimating the Cost-Effec-tiveness of HIV Prevention Programmes in Viet-nam, 2006-2010: A Modelling Study PLoS ONE 2015,10:e0133171.

7 Garcia MC, Meyer SB, Ward P Elevated HIV prev-alence and risk behaviours among men who have sex with men (MSM) in Vietnam: a systematic re-view BMJ Open 2012,2.

8 El-Bassel N, Wechsberg WM, Shaw SA Dual HIV risk and vulnerabilities among women who use or inject drugs: no single prevention strategy is the an-swer Curr Opin HIV AIDS 2012,7:326-331.

9 The joint United Nations Programme on HIV/ AIDS (UNAIDS) Viet Nam is the first country in Asia to commit to new HIV treatment targets Ha-noi, Vietnam: UNAIDS; 2014 Available at: http:// www.unaids.org/en/resources/presscentre/feature-stories/2014/october/20141027vietnamtargets Ac-cessed 09 January, 2015.

10 Bộ Y Tế Công văn số 3655/BYT-AIDS V/v áp dụng tiêu chuẩn điều trị HIV/AIDS mới Hà Nội: Việt Nam: Tháng 5/2015.

11 Tran DA, Shakeshaft A, Ngo AD, Rule J, Wilson DP, Zhang L, et al Structural barriers to timely initiation

of antiretroviral treatment in Vietnam: findings from six outpatient clinics PLoS One 2012,7:e51289.

Trang 10

HIV PREVALENCE, RISK BEHAVIORS AND ACCESSING TO HIV

PROGRAMS AMONG KEY-AFFECTED POPULATION IN SOUTHERN

VIETNAM, 2010-2014

Pham Duy Quang*, Nguyen Duy Phuc, Khuu Van Nghia, Tran Phuc Hau, Pham Thi Minh Hang, Phan Trong Lan, Nguyen Vu Thuong

Pasteur Institute in Ho Chi Minh City

To describe trends of HIV prevalence, risk

behaviors and accessing to HIV programs

among males who inject drugs (MWID),

fe-male sex workers (FSWs) and men who have

sex with men a cross-sectional survey was

con-ducted to analyze data of the annual HIV sentinel

surveillance in nine southern provinces from 2010

through 2014 We used Cochran–Armitage test

for trend to assess trends of HIV prevalence, risk

behaviors, access to HIV programs over time

The results showed that during 2010-2014,

ex-cept MSM group, safer behaviors were

docu-mented among both MWID and FSWs During

that time, HIV prevalence was relatively low

among FSWs (2 – 4%), significantly declined

among MWID (from 23% to 12%), and was

within a range of 2-10% in MSM In 2014, ac-cessing to harm reduction programs was halved that of 2010 While the proportion of HIV test-ing significantly increased among MSM, there was a significant decline in HIV testing among both MWID and FSWs Only 6–19% among key affected populations with HIV infection accessed antiretroviral therapy (ART) That was clearly HIV epidemic is declining among MWID and stabilizes among FSWs but is pos-sibly expanding among MSM Improved access

to HIV programs for key affected populations

is urgent in southern Vietnam

Keywords: MWID, FSWs, MSM, HIV,

sentinel surveillance

Ngày đăng: 11/03/2021, 04:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w