Với dịch vụ TVXNTN, mô hình được cho là có hiệu quả trong việc giảm hành vi nguy cơ, đã phần lớn được truyền thông đến với nhóm NCMT tại 3 tỉnh, tuy nhiên để đạt yêu cầu của dự án là[r]
Trang 1GÓI DỊCH VỤ CƠ BẢN CHO NHÓM NGHIỆN CHÍCH MA TÚY:
ĐỘ BAO PHỦ VÀ TÁC ĐỘNG TỚI CÁC HÀNH VI NGUY CƠ
Phạm Đức Mạnh 1 *, Trần Đại Quang 2 , Lê Anh Tuấn 2 , Nguyễn Anh Tuấn 2
1 Cục Phòng chống HIV/AIDS Bộ Y tế
2 Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, Hà Nội
TÓM TẮT
Nghiên cứu điều tra cắt ngang trên nhóm nghiện chích ma túy (NCMT) từ 18 tuổi trở lên, có tiêm chích
ma túy nghiện chích ma túy ít nhất một lần trong 1 tháng trước nghiên cứu, đã được triển khai từ 11/2013-3/2014 tại Hòa Bình, Tuyên Quang, Bắc Kạn nhằm xác định mức độ bao phủ và tác động của gói dịch vụ
cơ bản trong dự phòng lây nhiễm HIV cho nhóm NCMT tại cộng đồng Kết quả cho thấy tỷ lệ người nghiện chích ma túy nhận được từng dịch vụ trong gói dịch vụ cơ bản rất cao Tuy nhiên, tỷ lệ nhận được đầy đủ gói dịch vụ cơ bản còn thấp Dịch vụ TVXNTN và điều trị MMT là hai mô hình có hiệu quả trong việc giảm hành vi nguy cơ Nhóm có xét nghiệm HIV và biết kết quả trong vòng 6 tháng vừa qua có nguy cơ dùng chung BKT, thuốc và dụng cụ pha thuốc với bạn chích trong 6 tháng qua thấp hơn so với nhóm không sử dụng dịch vụ này trong 6 tháng qua (AOR 0,63; 95%CI 0,44–0,89) Nhóm có xét nghiệm HIV và biết kết quả trong vòng 6 tháng qua hoặc đã tham gia điều trị MMT có nguy cơ dùng lại BKT của người khác hoặc đưa cho người khác dùng lại BKT trong 1 tháng qua thấp hơn so với nhóm không sử dụng các dịch vụ này (AOR 0,41; 95%CI 0,26–0,65 và AOR 0,54; 95%CI 0,31–0,95).Việc nhận được đầy đủ các dịch vụ của gói can thiệp cơ bản làm giảm nguy cơ dùng chung BKT, thuốc và dụng cụ pha thuốc với bạn chích trong 6 tháng qua (OR 0,49; 95%CI 0,31–0,76) cũng như nguy cơ dùng lại BKT của bạn chích trong 1 tháng qua (OR 0,34; 95%CI 0,16 – 0,72).
Từ khóa: Gói dịch vụ cơ bản, nghiện chích ma túy, can thiệp giảm tác hại, HIV/AIDS
*Tác giả: Phạm Đức Mạnh
Địa chỉ: Cục phòng chống HIV/AIDS Bộ Y tế
Điện thoại: 0912518803
Email: manh65vn@yahoo.com
Ngày nhận bài: 08/07/2015 Ngày phản biện: 09/10/2015 Ngày đăng bài: 10/11/2015
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Dự án HAARP tại Việt Nam triển khai trong
4 năm (2010-2013) do Chính phủ Australia và
Chính phủ Hoàng gia Hà Lan tài trợ nhằm mục
đích làm giảm sự lây truyền HIV liên quan tới
việc sử dụng ma túy ở 3 tỉnh của Việt Nam (Bắc
Kạn, Hòa Bình, Tuyên Quang) thông qua việc
xây dựng gói dịch vụ can thiệp cho người
ng-hiện chích ma túy (NCMT) [1]
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác
định mức độ bao phủ và tác động của các hoạt
động can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV cho
nhóm NCMT tại cộng đồng thông qua phỏng
vấn trực tiếp người NCMT tại cộng đồng về tiếp
cận với các chương trình can thiệp như truyền
thông thay đổi hành vi, cung cấp bơm kim tiêm
(BKT) và bao cao su (BCS), tư vấn xét nghiệm
HIV tự nguyện (TVXNTN), điều trị bằng thuốc thay thế Methadone (MMT)
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thiết kế nghiên cứu
Điều tra cắt ngang đã được triển khai tại
3 tỉnh từ tháng 11/2013 đến tháng 3/2014 với nhóm NCMT tại cộng đồng, từ 18 tuổi trở lên,
có tiêm chích ma túy (TCMT) ít nhất một lần trong 1 tháng qua Nghiên cứu đã được Hội đồng Y đức Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương thông qua Tất cả đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Tất cả người NCMT tham gia được tuyển
Trang 2chọn tại cộng đồng: Bắc Kạn: 201 người, Tuyên
Quang: 200 người và Hòa Bình: 200 người
Sử dụng kết quả lập bản đồ điểm nóng định
kỳ nhóm NCMT tại cộng đồng 3 tỉnh để xây
dựng khung mẫu cho quần thể mục tiêu tại mỗi
tỉnh [2 - 4] Trên cơ sở danh sách các tụ điểm,
địa chỉ và ước tính số lượng người NCMT cụ
thể tại từng tụ điểm, sử dụng phương pháp chọn
mẫu theo cụm thời gian (Time Location
Sam-pling – TLS) để tiến hành chọn mẫu [5] Quá
trình thu thập mẫu gồm hai bước, bước đầu liệt
kê các tụ điểm theo thời gian (VDT – Venue
Day Time) nơi có thể tiếp cận nhóm quần thể
đích, sau đó lựa chọn VDT và mời đối tượng
đích tham gia [5]
2.3 Thu thập số liệu
Số liệu thu thập gồm số liệu hành vi thông
qua phỏng vấn cá nhân trực tiếp do phỏng vấn
viên được tập huấn thực hiện và số liệu sinh
học (tỷ lệ nhiễm HIV) thông qua thu thập mẫu
máu để xét nghiệm HIV
Mỗi người tham gia đủ tiêu chuẩn nhận
được một thẻ mời, có ghi thông tin về nghiên
cứu, địa chỉ của điểm nghiên cứu và ngày hết
hạn để đến điểm nghiên cứu phỏng vấn và lấy
mẫu xét nghiệm
Tất cả mẫu máu được thu thập, tách huyết
tương/huyết thanh tại tỉnh rồi chuyển về Viện
VSDTTƯ Xét nghiệm HIV được thực hiện tại
Phòng xét nghiệm HIV chuẩn thức quốc gia
của Viện VSDTTƯ, thực hiện phương cách III
theo quy định của Bộ Y tế Các mẫu máu được
xét nghiệm sàng lọc bằng sinh phẩm Genscreen
HIV1/2 V2 hoặc Murex HIV Ag/Ab
Combina-tion, kết quả âm tính trả lời “Âm tính” Các
mẫu có phản ứng dương tính được xét nghiệm
khẳng định bằng sinh phẩm bổ sung 1 (Sero-dia HIV1/2 Mix) và sinh phẩm bổ sung 2 (De-termine HIV1/2) Có 5% mẫu HIV âm tính và 10% mẫu HIV dương tính được lựa chọn ngẫu nhiên để kiểm tra lại chất lượng
2.4 Phân tích thống kê
Phỏng vấn viên sử dụng máy tính bảng để phỏng vấn trực tiếp người tham gia nghiên cứu, sau đó số liệu được chuyển gửi về máy chủ dưới dạng file excel và được chuyển sang dạng stata để phân tích
Để có thể đánh giá hiệu quả của các hoạt động can thiệp thông qua một điều tra cắt ngang, kỹ thuật “thống kê ghép cặp” (Coars-ened Exact Matching – CEM) được sử dụng nhằm tăng khả năng suy luận về quan hệ nhân quả và hạn chế ảnh hưởng của các yếu tố gây nhiễu [6- 9]
Sau khi kết hợp ghép cặp, mô hình hồi quy logistic được sử dụng để ước tính tác động của can thiệp Đầu tiên, sử dụng hồi quy logistic đơn biến để tính tỷ suất chênh cho mỗi chỉ số quan tâm trên đây Sau đó sử dụng mô hình đa biến để tính tỷ suất chênh hiệu chỉnh cho các biến số có ý nghĩa thống kê (p_value <0,05) ở
mô hình đơn biến Mô hình phân tích tương tự được sử dụng cho cả mẫu đầy đủ và mẫu ghép cặp Các kết quả không có ý nghĩa thống kê sẽ không được trình bày mà số liệu đầy đủ được trình bày ở phần phụ lục
III KẾT QUẢ 3.1 Thông tin cơ bản về nhóm nghiên chích
ma tủy tại 3 tỉnh
Trang 3Bảng 1 Đặc điểm của nhóm nghiện chích ma túy tại 3 tỉnh
(N=201) (N=200) (N=200) (N=601) Nhóm tuổi (n)
Dân tộc (n)
Tình trạng hôn nhân (n)
Trình độ học vấn (n)
Nghề nghiệp (n)
Nhóm tuổi của người NCMT trong nghiên
cứu tại hai tỉnh Bắc Kạn và Tuyên Quang trên
30 tuổi chiếm tỷ lệ hơn 80%, ở Hòa Bình
nhóm tuổi này chiếm 50% Trong số người
được hỏi tại tỉnh Tuyên Quang có 88% là
người dân tộc Kinh, tỷ lệ này tại Hòa Bình và
Bắc Kạn tương ứng là 70,5% và 41,5%, tại Bắc
Kạn tỷ lệ đối tượng thuộc dân tộc Tày chiếm
đến hơn 50% 72,5% người được phỏng vấn
tại Tuyên Quang trả lời hiện tại đang có vợ,
tỷ lệ này ở Bắc Kạn là 55,2% và Hòa Bình là
47,5% Tỷ lệ đối tượng được phỏng vấn học
trung học phổ thông tại Hòa Bình là 73%,
Bắc Kạn 39,3% và Tuyên Quang 47,5%
Hơn 60% người được phỏng vấn tại 3 tỉnh đều làm nghề tự do, tỷ lệ rất nhỏ người được hỏi không có việc làm
3.2 Tiếp cận gói dịch vụ cơ bản dành cho nhóm nghiện chích ma tuý
Gói dịch vụ can thiệp cơ bản bao gồm: (1) truyền thông thay đổi hành vi về tiêm chích an toàn (TCAT); (2) truyền thông thay đổi hành vi
về tình dục an toàn (TDAT); (3) cung cấp BKT sạch và thu gom BKT đã sử dụng; (4) cung cấp BCS; (5) tư vấn, xét nghiệm HIV tự nguyện;
và (6) triển khai điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone
Trang 4Hình 1 Nhận được dịch vụ truyền thông về tiêm chích an toàn và tình dục an toàn
Trên 90% người NCMT nhận được các tài
liệu truyền thông và tư vấn về các nội dung này
trong 3 tỉnh điều tra Trung bình hàng tháng người
NCMT nhận được 1-2 lần tư vấn cho cả nội dung TCAT và TDAT Số lần được phát tài liệu truyền thông của nhóm NCMT là từ 1-2 lần/tháng
Hình 2 Nhận được BKT và BCS và trao đổi với TTVĐĐ
Trang 5Hầu hết nhóm NCMT tại các tỉnh điều tra
đều biết các cơ sở có thể thực hiện xét
ng-hiệm HIV với xấp xỉ 100% tại Hòa Bình, Bắc
Kạn và thấp hơn tại Tuyên Quang (79%) Tuy
nhiên, tại Tuyên Quang tỷ lệ người NCMT đã
từng xét nghiệm HIV và biết kết quả trong 03
năm qua khá thấp (40,0%) Tỷ lệ này tại Hòa
Bình và Bắc Kạn là 93,0% và 91,0% Trung bình nhóm NCMT đến các cơ sở TVXNTN
để xét nghiệm HIV khoảng 2 lần trong vòng
3 năm Tỷ lệ có xét nghiệm HIV gần nhất trong vòng 6 tháng qua tại Bắc Kạn và Hòa Bình là 70,1% và 61%, tại Tuyên Quang chỉ
có 15,5%
Hình 4 Mô hình đa bậc chương trình điều trị MMT
Tại Bắc Kạn, 94% người NCMT đã từng
nghe về chương trình MMT Gần 60% người
NCMT đã từng đến các điểm triển khai điều trị
MMT Tỷ lệ đăng ký điều trị MMT tại Bắc Kạn
khoảng 40% và phần lớn trong số này đã được
tham gia điều trị (83% trên tổng số người đăng ký
điều trị và 32% trên tổng số người NCMT được
điều tra) Tại Hòa Bình có 96,5% người NCMT
đã từng nghe về chương trình MMT, trong số đó gần 90% từng đến các cơ sở điều trị, đăng ký điều trị MMT là 67,2% và 47,2% trên tổng số người NCMT tham gia điều tra đã được điều trị MMT Chỉ có khoảng 10% người NCMT cho biết có khó khăn khi tham gia chương trình này
Hình 5 Mô hình đa bậc gói dịch vụ cơ bản
Trang 6Về độ bao phủ các gói dịch vụ cơ bản, tại cả
3 tỉnh có gần 100% người NCMT đã từng nhận
được ít nhất một dịch vụ của gói can thiệp cơ
bản Tỷ lệ này cũng được lặp lại trong khoảng
thời gian 6 tháng trước cuộc điều tra Tỷ lệ
người NCMT nhận được 3 dịch vụ (gồm được
truyền thông về TCAT, được truyền thông về
TDAT và nhận được BKT miễn phí) tại Hòa
Bình, Tuyên Quang và Bắc Kạn tương ứng là
87,0%, 73,5% và 68,7%
Tỷ lệ nhận được 5 dịch vụ (ngoài 3 dịch vụ
trên cộng thêm nhận được BCS miễn phí và
được xét nghiệm HIV) tương ứng tại Hòa Bình,
Bắc Kạn và Tuyên Quang là 79,5%, 62,7% và
30% Với gói can thiệp cơ bản đầy đủ gồm 6 dịch vụ (thêm được điều trị MMT ngoài 5 dịch
vụ trên), tỷ lệ người NCMT nhận được tại Hòa Bình và Bắc Kạn là 31,5% và 23,9%
3.3 Tác động của việc tiếp cận gói dịch vụ cơ bản với hành vi tiêm chích ma tuý
Số liệu điều tra đầy đủ bao gồm 255 người NCMT không được can thiệp và 346 được can thiệp Trong số 346 cá thể được can thiệp này,
324 người được ghép cặp với một hoặc nhiều
cá thể trong số 237 người của nhóm kia Như vậy tổng cỡ mẫu để phân tích sau khi ghép cặp
là 237+324=561
Bảng 2 Mối liên quan giữa việc nhận các dịch vụ trong gói cơ bản và hành vi tiêm chích ma túy
Mẫu ghép cặp (n=561)
Dùng chung BKT, thuốc, dụng cụ pha thuốc trong 6 tháng qua
Được truyền thông về tiêm chích an toàn trong
6 tháng qua
0,63 [0,29 – 1,38] 0,252 Nhận được bơn kim tiêm miễn phí trong 6
tháng qua
0,50 [0,17 – 1,44] 0,199 Xét nghiệm HIV và biết kết quả trong 6 tháng
qua
0,60 * [0,43 – 0,85] 0,004
0,63 [0,44 – 0,89] 0,010
[0,46 – 0,99] [0,51 – 1,14]
Dùng lại của người khác hoặc đưa cho người khác dùng lại BKT trong 1 tháng qua
Được truyền thông về TCAT trong 6 tháng qua 0,77 0,562
[0,31 – 1,87]
Nhận được BKT miễn phí trong 6 tháng qua 0,46 0,178
[1,15 – 1,42]
Xét nghiệm HIV và biết kết quả trong 6 tháng
qua
0,36
[0,23 – 0,56] [0,26 – 0,65]
[0,24 – 0,73] [0,31 – 0,95]
* OR: Tỷ suất chênh; AOR: Tỷ suất chênh hiệu chỉnh; CI: Khoảng tin cậy
Trang 7trị MMT có nguy cơ dùng lại BKT của người
khác hoặc đưa cho người khác dùng lại BKT
trong 1 tháng qua thấp hơn so với nhóm
không sử dụng các dịch vụ này (AOR 0,41; 95%CI 0,26–0,65 và AOR 0,54; 95%CI 0,31– 0,95)
Bảng 3: Mối liên quan giữa mức độ nhận gói can thiệp cơ bản và hành vi tiêm chích ma túy
Mẫu ghép cặp (n=552)
OR [95% CI] p value AOR [95% CI] p value
Dùng chung BKT, thuốc, dụng cụ pha thuốc trong 6 tháng qua
Nhận đầy đủ dịch vụ 0,49 [0,31 – 0,76] 0,002
Dùng lại của người khác hoặc đưa cho người khác dùng lại BKT trong 1 tháng qua
Nhận 5 dịch vụ 0,60 [0,40 – 0,90] 0,015 0,79 [0,51 – 1,22] 0,284 Nhận đầy đủ dịch vụ 0,30 [0,14 – 0,61] 0,001 0,34 [0,16 – 0,72] 0,005
Trong khi nếu chỉ nhận được 3 hoặc 5 dịch
vụ can thiệp của gói dịch vụ cơ bản không có
mối liên quan với nguy cơ dùng chung BKT,
thuốc và dụng cụ pha thuốc với bạn chích trong
6 tháng qua và dùng chung BKT trong 1 tháng
qua thì việc nhận được đầy đủ các dịch vụ của
gói can thiệp cơ bản làm giảm nguy cơ dùng
chung BKT, thuốc và dụng cụ pha thuốc với
bạn chích trong 6 tháng qua (OR 0,49; 95%CI
0,31–0,76) cũng như nguy cơ dùng lại BKT của
bạn chích trong 1 tháng qua (OR 0,34; 95%CI
0,16 – 0,72)
IV BÀN LUẬN
Độ bao phủ của gói dịch vụ can thiệp cơ
bản được tính bao gồm được thảo luận, trao đổi
với TTVĐĐ của dự án, nhận được BKT, BCS
miễn phí, được truyền thông và nhận tài liệu về
TCAT và TDAT, sử dụng dịch vụ TVXNTN và
tham gia điều trị MMT Các dịch vụ này được
đo lường riêng rẽ hoặc phối hợp các dịch vụ,
trong thời gian 6 tháng trước cuộc điều tra hoặc
đã từng nhận được dịch vụ
Công tác truyền thông được triển khai khá
tốt khi hầu hết nhóm NCMT tại các tỉnh điều
tra đều được trao đổi, tư vấn về TCAT, TDAT,
biết các cơ sở có thể thực hiện xét nghiệm HIV, nghe đến cơ sở điều trị MMT trên địa bàn tỉnh… Tuy nhiên, tỷ lệ người NCMT đã từng xét nghiệm HIV và biết kết quả trong 03 năm qua chưa thực sự cao, và tỷ lệ này trong vòng 6 tháng qua còn thấp
Tương tự khi phân tích đa bậc cho chương trình MMT, ngoại trừ tỉnh Tuyên Quang vừa mới bắt đầu triển khai chương trình này trong khoảng thời gian thực hiện điều tra, hai tỉnh còn lại đều đã có những kết quả cụ thể cho chương trình này Tại Bắc Kạn và Hòa Bình, chương trình truyền thông về MMT thực hiện rất tốt với hơn 90% người NCMT đã từng nghe về chương trình Tỷ lệ người NCMT đăng ký điều trị MMT tại 2 tỉnh này chưa đến một nửa Một điểm đáng ghi nhận tại 3 tỉnh là chương trình MMT được triển khai tương đối phù hợp và thuận tiện cho người NCMT khi chỉ có một tỷ
lệ nhỏ cảm thấy khó khăn khi tham gia chương trình này
Về độ bao phủ các gói dịch vụ cơ bản, tại cả 3 tỉnh điều tra, gần như toàn bộ người NCMT đã từng nhận được ít nhất một dịch vụ của gói cơ bản Tỷ lệ này cũng được lặp lại trong khoảng thời gian 6 tháng trước cuộc điều tra Tuy nhiên khi kết hợp nhiều dịch vụ trong
Trang 8gói cơ bản, tỷ lệ này giảm dần Với gói gồm 3
dịch vụ là truyền thông về tiêm chích an toàn,
tình dục an toàn và nhận BKT miễn phí, tỷ lệ
người NCMT nhận được khoảng 70-85% Với
5 dịch vụ (thêm nhận BCS miễn phí và xét
ng-hiệm HIV), tỷ lệ cao nhất vẫn tại khoảng 80%
và thấp nhất chỉ có khoảng 30% và được lý giải
bởi tỷ lệ được xét nghiệm HIV tại Tuyên Quang
cũng khá thấp Khi tính gói đầy đủ gồm 6 dịch
vụ (thêm điều trị MMT), ngoài Tuyên Quang mới
đang bắt đầu chương trình MMT, thì tỷ lệ người
NCMT nhận được đầy đủ các dịch vụ của gói
cơ bản tại 2 tỉnh còn lại chưa đến một phần ba
V KẾT LUẬN
Tỷ lệ người NCMT nhận được từng dịch vụ
của hoạt động can thiệp rất cao Tuy nhiên, tỷ lệ
nhận được đầy đủ gói dịch vụ cơ bản còn thấp
Với dịch vụ TVXNTN, mô hình được cho là
có hiệu quả trong việc giảm hành vi nguy cơ,
đã phần lớn được truyền thông đến với nhóm
NCMT tại 3 tỉnh, tuy nhiên để đạt yêu cầu của
dự án là được xét nghiệm HIV và nhận kết quả
6 tháng 1 lần thì tỷ lệ này chưa cao Tương tự
với chương trình điều trị MMT, hầu hết người
NCMT tại cộng đồng có biết đến chương trình
này, và mặc dù dự án đã có kế hoạch từ khi xây
dựng chương trình nhưng đến nay tỷ lệ người
NCMT được điều trị MMT còn rất thấp, đặc
biệt ở Tuyên Quang chỉ mới bắt đầu điều trị
Được xét nghiệm HIV và nhận kết quả trong
6 tháng qua và tham gia điều trị MMT là 2 dịch
vụ riêng lẻ có hiệu quả làm giảm hành vi nguy
cơ lây nhiễm HIV của nhóm NCMT tại 3 tỉnh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Cục Phòng, chống HIV/AIDS, Bộ Y tế Văn kiện dự
án Phòng, chống HIV/AIDS khu vực châu Á tại Việt Nam, do Chính phủ Australia và Chính phủ Hoàng gia Hà Lan tài trợ, 2009
2 BQL dự án Phòng, chống HIV/AIDS khu vực châu
Á tại Việt Nam tỉnh Bắc Kạn (2013) Kết quả cập nhật bản đồ các điểm nóng về ma túy và mại dâm tỉnh Bắc Kạn tháng 8/2013.
3 Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Hòa Bình Bảng tổng hợp thông tin bản đồ điểm nóng nhóm NCMT năm 2013.
4 Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Tuyên Quang (2013) Báo cáo kết quả điều tra vẽ bản đồ điểm nóng
về tiêm chích ma tuý, mại dâm năm 2013.
5 Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương (2014) Kết quả sơ
bộ Giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI (IBBS) tại Việt Nam vòng III năm 2013.
6 PSI Research & Metrics Toolkit Use of Coarsened Exact Matching (CEM) in Program Evaluation
2011 PSI’s Four Pillars.
7 Blackwell M, Iacus S, King G, Porro G CEM: Coarsened exact matching in Stata, 2010.
8 Shadish WR, Cook TD, Campbell DT Experimen-tal and quasi-experimenExperimen-tal designs for generalized causal inference, 2002.
9 Stuart EA Matching methods for causal inference: A review and a look forward Statistic Science, 2010
Trang 9BASIC SERVICE PACKAGE FOR INJECTING DRUG USER: COVERAGE AND EFECTIVENESS TO RISK BEHAVIORS
Pham Duc Manh 1 , Tran Dai Quang 2 , Le Anh Tuan 2 , Nguyen Anh Tuan 2
1 Vietnam Administration of HIV/ AIDS control, Ministry of Health
2 National Institute of Hygiene and Epidemiology, Hanoi
A cross-sectional study among injection
drug users (IDUs), who aged 18 and older, have
injected drug at least once in the past month,
were conducted from 11/2013-3/2014 in Hoa
Binh, Tuyen Quang, Bac Kan in order to
de-termine the coverage and impact of the basic
service package on HIV prevention for IDUs in
the community
The results showed that the proportion of
IDUs receiving each service in the basic
ser-vice package is very high However, this
pro-portion for full basic service package remains
low VCT and MMT were two models to be
effective in reducing risk behaviors IDU group
tested for HIV and know their results within the
past 6 months has shared needles, drugs and
equipment in the past 6 months lower than the
group did not using this service (AOR: 0.63; 95% CI: 0.44 to 0.89) The group tested for HIV and know their results within 6 months or participated MMT program has reused needles
of others or give others reusing syringes in the past 1 month lower than the group did not us-ing these services (AOR: 0.41; 95% CI: 0.26
to 0.65 and AOR: 0.54; 95% CI: 0.31 to 0.95) Receiving full basic service package has reduced the risk on sharing needles, drugs and equipment in the past 6 months (OR: 0.49; 95% CI: 0.31 to 0, 76) as well as the risk on reusing needles in 1 month (OR: 0.34; 95% CI: 0.16 to 0.72)
Keywords: Basic service package, injecting
drug users, harm reduction, HIV/AIDS