trong lĩnh vực điều trị[6], tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu tập trung vào sự hài lòng của nhân viên y tế nói chung đang làm việc tại bệnh viện hoặc ở tuyến cơ sở, rất ít nghiên cứu [r]
Trang 1SỰ HÀI LÒNG CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ ĐỐI VỚI CÔNG VIỆC CHĂM SÓC VÀ ĐIỀU TRỊ HIV/AIDS TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN TỈNH HÒA BÌNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN, NĂM 2013
Nguyễn Hữu Thắng 1 *, Nguyễn Duy Luật 1 , Ngô Thu Hương 2 , Nguyễn Hoàng Long 3
1 Bộ môn Tổ chức và Quản lý Y tế, Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế Công cộng, trường Đại học Y Hà Nội
2 Cử nhân Y tế công cộng, trường đại học Y Hà Nội, khóa 2009-2014
3 Cục Phòng, chống HIV/AIDS, Bộ Y tế
TÓM TẮT
Nghiên cứu cắt ngang kết hợp định tínhvà định lượng nhằm mô tả mức độ hài lòng của nhân viên y tế trong chăm sóc và điều trị HIV/AIDS tại một số bệnh viện của tỉnh Hòa Bình năm 2013 và một số yếu tố liên quan Tổng cộng 123/143 (86%) nhân viên y tế tham gia nghiên cứu định lượng bằng cách tự điền theo bộ câu hỏi của Paul E Spector hiệu chỉnh, bộ câu hỏi này đã được dịch sang tiếng Việt và thử nghiệm với chỉ số Cronbach’s alpha = 0,78 Kết quả nghiên cứu định lượng: Mức độ hài lòng với công việc chăm sóc và điều trị HIV/AIDS của nhân viên y tế ở mứctrung bình, tỷ lệ nhân viên y tế hài lòng chiếm 56,9%, thấp nhất là yếu tố quy chế cơ quan (chỉ có 20,3% nhân viên y tế hài lòng) và chỉ khoảng 1/3 nhân viên y tế hài lòng đối với yếu tố khen thưởng, tiền lương và phúc lợi ngoài lương Mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa
sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc chăm sóc và điều trị HIV/AIDS tại các bệnh viện tỉnh Hòa Bình với các yếu tố giới và năm công tác Nhân viên nữ hài lòng gấp 3,81 lần nhân viên nam và nhân viên làm việc từ 11-20 năm hài lòng cao gấp hơn 3,08 lần so với nhân viên làm dưới 10 năm (p<0,05) Kết quả nghiên cứu định tính trên 37 nhân viên y tế cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến việc chưa hài lòng là phúc lợi, hợp đồng lao động, thiếu trang thiết bị, e sợ lây nhiễm.
Từ khóa: Sự hài lòng, nhân viên y tế, bệnh viện, HIV/AIDS
* Tác giả: Nguyễn Hữu Thắng
Địa chỉ: Ttrường Đại học Y Hà Nội
Điện thoại: 0915313175
Ngày nhận bài: 23/07/2015 Ngày phản biện: 09/10/2015 Ngày đăng bài: 10/11/2015
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, nhân lực là yếu
tố quyết định mọi thành tựu y tế [1] Sự hài lòng
đối với công việc của nhân viên y tế là yếu tố đặc
biệt quan trọng có ảnh hưởng tới chất lượng và
hiệu suất công việc chăm sóc sức khỏe con người
[2] Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y
tế đề cập đến là "suy nghĩ và cảm nhận của nhân
viên về môi trường và điều kiện làm việc của
mình"[3] Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu
chỉ ra rằng, sự hài lòng với công việc của NVYT
sẽ đảm bảo duy trì nguồn nhân lực và nâng cao
chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại các cơ
sở y tế như nghiên cứu của Kate Anne Walker
[4], David Grembowski [5]… Ở Việt Nam đã có
một số nghiên cứu về sự hài lòng của NVYT và
trong lĩnh vực điều trị[6], tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu tập trung vào sự hài lòng của nhân viên y tế nói chung đang làm việc tại bệnh viện hoặc ở tuyến cơ sở, rất ít nghiên cứu liên quan tới
sự hài lòng của nhân viên y tế làm trong lĩnh vực phòng chống HIV/AIDS, đặc biệt trong chăm sóc
và điều trị HIV/AIDS tại bệnh viện Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu: mô tả mức
độ hài lòng đối với công việc và xác định một số yếu tố liên quan đến sự hài lòng của NVYT trong chăm sóc và điều trị HIV/AIDS tại một
số bệnh viện của tỉnh Hòa Bình, năm 2013
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 2- NVYT đang làm công tác tại một số bệnh
viện huyện và bệnh viện đa khoa tỉnh tham gia
chăm sóc và điều trị bệnh nhân HIV/AIDS
- Lãnh đạo Trung tâm phòng chống HIV/
AIDS của tỉnh, Bệnh viện, Trung tâm y tế
huyện và NVYT làm công tác chăm sóc và điều
trị HIV/AIDS
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh,
Bệnh viện và Trung tâm y tế huyện, tỉnh Hòa
Bình
2.3 Thời gian nghiên cứu
Năm 2013
2.4 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.5 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
-Định lượng: Toàn bộ NVYT đang công tác
tại 10 bệnh viện huyện và bệnh viện đa khoa
tỉnh Hòa Bình có tham gia chăm sóc và điều
trị bệnh nhân HIV/AIDS (tháng 7-8 năm 2013)
với tỷ lệ 86% (123/143)
-Định tính: 37 NVYT tham gia, bao gồm
8 cuộc phỏng vấn sâu lãnh đạo lãnh đạo một
số bệnh viện huyện và trung tâm y tế huyện
và Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh; 3
cuộc thảo luận nhóm với 29 NVYT làm công
tác chăm sóc và điều trị HIV/AIDS tại một số
bệnh viện huyện
2.6 Phương pháp, kỹ thuật thu thập thông tin
-Thông tin định lượng được thu thập qua bộ
câu hỏi tự điền (của Paul E Spector hiệu chỉnh)
về sự hài của NVYT [3] với sự hướng dẫn và
giám sát của các giảng viên Viện Đào tạo Y học
dự phòng và Y tế công cộng, trường Đại học Y
Hà Nội Bộ câu hỏi tự điền bao gồm 10 yếu tố: tiền lương, sự thăng tiến, đồng nghiệp, giám sát của cấp trên, quy chế cơ quan, phúc lợi ngoài lương, khen thưởng, quy chế công việc, thông tin nội bộ và kỳ thị Bộ câu hỏi được dịch sang tiếng Việt [7] và thử nghiệm với chỉ số Cron-bach’s alpha = 0,78 Thang đo mức độ hài lòng được tham khảo theo thang điểm Likert, 4 mức
độ "hoàn toàn không đồng ý", "không đồng ý",
"đồng ý" và "hoàn toàn đồng ý" -Thông tin định tính được thu thập qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm NVYT
2.7 Xử lý và phân tích số liệu
-Số liệu định lượng sau khi làm sạch được nhập vào máy tính với phần mềm Epi Data 3.1
và được xử lý bằng phần mềm Stata phiên bản 10.0 Phân loại hài lòng được tham khảo theo Best W John [8] cho thang điểm Likert 4 mức độ:
+ Điểm trung bình các yếu tố từ 1,00-2,00 là hài lòng mức độ thấp
+ Điểm trung bình các yếu tố từ 2,01-3,00 là hài lòng mức độ trung bình
+ Điểm trung bình các yếu tố từ 3,01-4,00 là hài lòng mức độ cao
- Số liệu định tính từ các thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu được ghi chép lại và phân tích dựa trên mục tiêu nghiên cứu
III KẾT QUẢ 3.1 Sự hài lòng đối với công việc của NVYT trong chăm sóc và điều trị HIV/AIDS
Trang 3Hình 1 Điểm trung bình với từng yếu tố hài lòng của NVYT trong chăm sóc và điều trị HIV/AIDS
Điểm trung bình hài lòng chung của NVYT
đạt 2,47, ở mức độ trung bình Hài lòng với yếu
tố quy chế cơ quan là thấp nhất (2,01), sau đó
đến yếu tố khen thưởng (2,06), phúc lợi (2,21),
lương (2,27) Mức độ hài lòng cao với các yết
tố quy chế công việc, giám sát-cấp trên và đồng nghiệp lần lượt điểm trung bình là (2,83; 2,84
và 2,85)
Hình 2 Tỷ lệ hài lòng của NVYT đối với công việc
Tỷ lệ hài lòng chung đạt 56,9%, tỷ lệ hài
lòng đối với yếu tố đồng nghiệp chiếm cao nhất
(88,6%), tiếp theo là yếu tố giám sát, nhận xét
của cấp trên (84,6%), thấp nhất là yếu tố quy chế
cơ quan (chỉ có 20,3% NVYT hài lòng) và chỉ
khoảng 1/3 NVYT hài lòng đối với yếu tố khen thưởng, tiền lương và phúc lợi ngoài lương
3.2 Mối liên quan tới sự hài lòng của nhân viên y tế
Trang 4Bảng 1 Mối liên quan giữa sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc chăm
sóc, điều trị HIV/AIDS với yếu tố giới và thời gian công tác
Giới
(1,64-8,86) 0,001
Số năm công tác:
(1,03-9,14) 0,04
(0,55-4,12) 0,44
(0,18-7,07) 0,92
Phân tích hồi quy đơn biến tìm thấy sự liên
quan có ý nghĩa thống kê giữa hài lòng chung
đối với công việc với yếu tố giới tính và số năm
công tác (p<0,05), cụ thể là nhóm nữ nhân viên
y tế hài lòng với công việc cao gấp 3,81 lần
so với nhóm nam nhân viên y tế (p = 0,001)
và nhóm nhân viên có 11 – 20 năm công tác
hài lòng với công việc cao gấp 3,08 lần so với
nhóm dưới 10 năm công tác (p=0,04)
Kết quả nghiên cứu định tính đã cho thấy,
lý do khiến NVYT chưa hài lòng là “Làm việc
trong lĩnh vực HIV/AIDS nhiều rủi ro, dụng
cụ không đảm bảo, nên nhiều cán bộ rất ngại
tiếp xúc với bệnh nhân”- (Nữ, lãnh đạo bệnh
viện đa khoa huyện) và “Các cán bộ làm việc
với người HIV rất e ngại sợ bị kì thị, nhiều bác
sĩ trẻ không dám làm công tác HIV/AIDS vì
sợ không được sự đồng thuận bởi gia đình”-
(Nam, lãnh đạo bệnh viện đa khoa huyện)
Hoặc có những ý kiến: “Nhân viên ở khoa
truyền nhiễm rất vất vả, hay gặp những người
nhiễm HIV, trong khi đó chương trình phòng
chống HIV/AIDS có rất nhiều quy định, rất
nhiều chuẩn, từ tư vấn, xét nghiệm đến chăm
sóc và điều trị, nên cũng vất vả lắm” – (Nữ,
NVYT, bệnh viện đa khoa tỉnh)
một cấu trúc đa chiều gồm nhiều yếu tố Do vậy
có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng bao gồm điều kiện làm việc, tính chất công việc, cơ hội thăng tiến, lương, thưởng, quan hệ với đồng nghiệp, quan hệ với lãnh đạo, công tác quản lý, đảm bảo an toàn [9] Đối với NVYT tham gia chăm sóc và điều trị HIV/AIDS tại một số bệnh viện tỉnh Hòa Bình chúng tôi mô
tả mức độ hài lòng với 10 yếu tố theo khung
lý thuyết của Paul E Spector hiệu chỉnh[10] Kết quả của nghiên cứu cho thấy, mức độ hài lòng chung ở mức trung bình, có cùng kết quả với nghiên cứu của Nguyễn Hữu Thắng, thực hiện ở tất cả các nhân viên y tế bệnh viện đa khoa huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình năm 2012 [11] Tỷ lệ hài lòng chung đạt 56,9%, kết quả này tương đồng với kết quả nghiên cứu của Đỗ Thị Phúc đối với nhân viên trạm y tế, quận Hà Đông và huyện Thanh Oai, năm 2009 (53,8%) [6] Tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với kết quả nghiên cứu của Lê Cự Linh và cộng sự trên đối tượng NVYT tuyến cơ sở (71,1%)[12]
Từ nghiên cứu cho thấy, sự hài lòng của NVYT đối với yếu tố quy chế cơ quan và tiền lương còn thấp nhưng tỷ lệ hài lòng cao với yếu tố đồng nghiệp Điều này chứng tỏ quy chế
cơ quan là yếu tố đáng quan tâm, còn có quá nhiều công việc và có nhiều công việc hành
Trang 5đột không cần thiết Kết quả của nghiên cứu
này cao hơn các nghiên cứu trước đó, khi tỷ lệ
NVYT hài lòng đối với yếu tố đồng nghiệp là
88,6% so với 79,4% trong nghiên cứu của Lưu
Ngọc Hoạt trên các điều dưỡng của Bệnh viện
trường Đại học Y Hà Nội năm 2010 [13]
Yếu tố kỳ thị là một điểm mới của đề tài so
với các đề tài khác nghiên cứu về sự hài lòng,
bởi trong lĩnh vực HIV/AIDS, vấn đề kỳ thị là
vấn đề rất được quan tâm Không chỉ có bệnh
nhân nhiễm HIV sợ bị kỳ thị mà các bác sỹ,
điều dưỡng, NVYT tiếp xúc với người nhiễm
HIV đôi khi cũng e sợ bị kỳ thị hoặc bản thân
cán bộ y tế kỳ thị đối với người nhiễm Đánh
giá cảm nhận của NVYT về vấn đề này, nghiên
cứu đã cho thấy 83,6% NVYT không hề thấy
mình bị kỳ thị, họ cảm thấy không hề bị người
thân hay cả những người xung quanh xa lánh,
kỳ thị khi làm việc trong lĩnh vực HIV/AIDS
Điều này cho một cái nhìn khả quan về thu hút
nguồn nhân lực trong lĩnh vực này
Liên quan có ý nghĩa thống kê được tìm
thấy giữa yếu tố giới và thời gian công tác với
sự hài lòng chung đối với công việc Tuy nhiên,
kết quả nghiên cứu này có sự khác biệt với
ng-hiên cứu của Hernández JE và cộng sự năm
2010, khi sự hài lòng của nữ giới thấp hơn so
với nam giới [14] Kết quả nghiên cứu cũng có
thể được giải thích rằng sự hài lòng của nữ giới
cao hơn nam giới là do phụ nữ có những mong
đợi thấp hơn cho công việc của họ, còn nam
giới có kỳ vọng công việc, sự nghiệp cao hơn,
khó khăn hơn Hơn nữa, nền văn hóa Việt Nam
mang đậm nét văn hóa Phương Đông, phụ nữ
Việt Nam vẫn coi trọng gia đình hơn công việc,
đó cũng là lý do kiến nữ giới dễ dàng có sự hài
lòng trong công việc cao hơn so với nam giới
Liên quan đến thời gian công tác, trong
nghiên cứu này, nhóm nhân viên có 11 – 20
năm công tác hài lòng với công việc cao gấp
3,08 lần so với nhóm dưới 10 năm công tác
(p=0,04) Thời gian công tác dài giúp NVYT
có đầy đủ kinh nghiệp công tác, tay nghề vững
vàng, cuộc sống ổn định Điều này cho thấy
nhóm nhân viên trẻ, dưới 10 năm công tác cần
được quan tâm hơn nữa để họ gắn bó với công
việc nhất là trong công việc chăm sóc và điều trị HIV/AIDS tại bệnh viện
Nghiên cứu này của chúng tôi, tuy không tìm ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức
độ hài lòng theo yếu tố được tập huấn trong năm vừa qua (p > 0.05), nhưng tỷ lệ nhân viên
y tế tham gia công tác chăm sóc và điều trị HIV/AIDSkhông được tập huấn trong năm qua chiếm tỷ lệ cao và các nhà lãnh đạo cần quan tâm đến những vấn đề này
V KẾT LUẬN
NVYT hài lòng với công việc chăm sóc và điều trị HIV/AIDS ở một số bệnh viện, tỉnh Hòa Bình năm 2013 đạt mức trung bình, tỷ lệ NVYT hài lòng chiếm 56,9%, thấp nhất là yếu
tố quy chế cơ quan (chỉ có 20,3% NVYT hài lòng) và chỉ khoảng 1/3 NVYT hài lòng đối với yếu tố khen thưởng, tiền lương và phúc lợi ngoài lương Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy yếu tố ảnh hưởng đến việc chưa hài lòng
là phúc lợi, hợp đồng lao động, thiếu trang thiết
bị, e sợ lây nhiễm Liên quan có ý nghĩa thống
kê được tìm thấy giữa hài lòng của NVYT với giới tính và thời gian công tác Nữ nhân viên hài lòng gấp 3,81 lần nam nhân viên, nhân viên
có thời gian làm việc từ 11-20 năm hài lòng cao gấp hơn 3,08 lần so với nhân viên làm dưới
10 năm (p<0,05) Kết quả nghiên cứu cung cấp những bằng chứng khoa học góp phần xây dựng khuyến nghị phù hợp, những giải pháp nhằm quản lý nhân lực y tế đặc biệt trong lĩnh vực phòng chống HIV/AIDS giai đoạn hiện nay
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 WHO, The World health report 2006: working to-gether for health, WHO press, Geneva, 2006 Truy cập ngày 16-10-2012, tại trang web http:// www who.int/whr/2006/en.
2 Lamarche Kimberley và Susan Tullai-McGuinness, Canada Nurse Practitioner Job Satisfaction, 2009 Truy cập ngày 5-11-2012, tại trang web http://www ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/19521160.
3 Paul E Spector, "Job satisfaction: Application, as-sessment, cause and consequences", Sage Publica
Trang 6JOB SATISFACTION AMONG HEALTH WORKER WORKING IN CARE AND TREATMENT FOR HIV/AIDS IN SOME HOSPITALS, HOA BINH PROVINCE, 2013
Nguyen Huu Thang 1 , Nguyen Duy Luat 1 , Ngo Thu Huong 2 , Nguyen Hoang Long 3
1 Dept of Health Management and Organization,
2 Institute for Preventive Medicine and Public Health, Hanoi Medical University
2 BPH, Hanoi Medical University, 2009-2014
3 Vietnam Administration of HIV/AIDS control, Ministy of Health
A cross-sectional study combined with
quantita-tive and qualitaquantita-tive method was conducted to
meas-ure job satisfaction, and to determine its associated
factors among health workers working in some
hos-pitals, Hoa Binh province, 2013 Result of quantitative
research study on total of 123/143 (86%)
self-admin-istered questionnaires of Paul E Spector, Job
Satis-faction Servey, which translated in Vietnameses and
piloted with Cronback’s Alpha = 0.78 Findings
indicated that the overall level of job satisfaction
among health workers was moderate About 56.9%
of health workers were job satisfaction The lowest
satisfaction was operation codictions (20.3% health
staff satisfied) and there was only 1/3 health
work-working duration at hospital and health workers’ job satisfaction with p < 0.05 The female health work-ers were satisfaction in health care and treatment for HIV/AIDS at 3.81 times higer than male health workers (p=0.001) Health workers who were 11-20 years were at 3.08 times higer than that of those who were less than 10 years in job satisfaction (p=0.04) Results of qualitative research study on 37 health staff did more clearly about unsatisfaction factors as benefits, contract labor, and lack of equipment,
stig-ma, and fear of infection The findings of this study implied that it is important to understand levels of job satisfaction and its associated factors amonng health workers in order to improve their
perfor-tions, 1997.
4 Walker KA và Pirotta M, " What keeps Melbourne
GPs satisfied in their jobs?", Aust am Physician,
36(10), 2007, tr 877-80.
5 David Grembowski, David Paschane, Paula Diehr
và các cộng sự Managed Care, Physician Job
Sat-isfaction, and the Quality of Primary Care, J Gen
Intern Med, 2005: 20(3), tr 271–277.
6 Đỗ Thị Phúc Sự hài lòng đối với công việc của nhân
viên trạm y tế quận Hà Đông và Huyện Thanh oai,
Hà Nội-năm 2009, 2009 Luận văn tốt nghiệp thạc
sỹ y tế công cộng, Đại học y Hà Nội.
7 Phan Thi Luyen Factors affecting job satisfaction
of the staff in Can Tho University of Medicine and
Pharmacy Viet Nam, 2009 Mahidol Unviersity.
8 John W Best "Education Reseach" 1977.
9 P Krueger, K Brazil, L Lohfeld và các cộng sự
"Organization specific predictors of job satisfaction:
findings from a Canadian multi-site quality of work
life cross-sectional survey", BMC Health Serv Res,
2002, 2(1), tr 6.
10 Spector, truy cập ngày 12-6-2012, tại trang web http://shell.cas.usf.edu/~pspector/scales/jssscore html.
11 Nguyen Huu Thang Workforce satisfaction in Tan Lac district general hospital, Hoa Binh province, Viet Nam 2012, Mahidol University.
12 Lê Cự Linh và Lê Thanh Nhuận "Sự hài lòng của nhân viên y tế tuyến cơ sở", 2009 Tạp chí Y tế công cộng, 13(13).
13 Lưu Ngọc Hoạt Khảo sát mức độ hài lòng của điều dưỡng viên, kỹ thuật viên làm việc tại bệnh viện Đại Học Y Hà Nội năm 2010, 2010 Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ, Đại học y Hà Nội, Hà Nội.
14 Hernández JE, Rondón RF và Ariza NE "Satisfac-ción laboral en el personal de enfermería de la E.S.E Hospital San Antonio de Soatá", 2010 Rev Salud Hist Sanid, 5(2).