Nghiên cứu đã cho thấy mối liên quan giữa việc được tiếp cận chương trình truyền thông trực tiếp qua nhân viên TCCĐ với kiến thức về HIV/AIDS, người NCMT có kiến thức về HIV/ AIDS thì[r]
Trang 1KIẾN THỨC, HÀNH VI VÀ TIẾP CẬN VỚI CAN THIỆP GIẢM TÁC HẠI DỰ PHÒNG LÂY NHIỄM HIV TRÊN NHÓM NGHIỆN CHÍCH MA TÚY TẠI CẦN THƠ NĂM 2014
Dáp Thanh Giang 1 *, Đỗ Mai Hoa 2 , Lại Kim Anh 1 , Nguyễn Quang Thông 1 ,
Đoàn Duy Dậm 1 , Đinh Công Thức 1
1 Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Cần Thơ
2 Trường Đại học Y tế công cộng Hà Nội
TÓM TẮT
Chương trình can thiệp giảm tác hại (GTH) dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS cho người nghiện chích ma túy (NCMT) đã được triển khai tại Cần Thơ từ năm 2003 Đến nay các can thiệp như tiếp cận cộng đồng (TCCĐ), bơm kim tiêm (BKT), bao cao su (BCS), tư vấn xét nghiệm HIV (TVXN HIV) và Methadone đang thực hiện Nghiên cứu này được tiến hành để tìm hiểu việc tiếp cận với chương trình can thiệp của người NCMT Nghiên cứu cắt ngang trên 240 người NCMT đã được triển khai Kết quả nghiên cứu cho thấy
tỷ lệ người NCMT có kiến thức đúng về HIV/AIDS là 62,1% Tỷ lệ sử dụng chung BKT khi tiêm chích là 7,9% Tỷ lệ những người tham gia nghiên cứu sử dụng BCS khi quan hệ tình dục (QHTD), tiếp cận với chương trình TCCĐ, tiếp cận với chương trình BKT, tiếp cận với chương trình BCS, và tham gia dịch vụ TVXN HIV tương ứng lần lượt là 80,4%, 79,2%, 56,0% và 57,5% Các yếu tố liên quan đến tiếp cận với chương trình can thiệp của người NCMT: kiến thức HIV/AIDS (p<0,001) và hành vi dùng chung BKT khi tiêm chích (p<0,01) liên quan tới tiếp cận chương trình truyền thông trực tiếp; hành vi dùng chung BKT khi tiêm chích ma túy liên quan tới tiếp cận chương trình BKT (p<0,001); học vấn (p<0,05), kiến thức về HIV/ AIDS (p<0,05) và hành vi sử dụng BCS khi QHTD (p<0,001) liên quan tiếp cận chương trình BCS; kiến thức HIV/AIDS (p<0,05) liên quan tới tiếp cận chương trình TVXN HIV
Từ khóa: Tiêm chích ma túy, kiến thức về HIV/AIDS, hành vi nguy cơ, lây nhiễm HIV, can thiệp.
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Dịch HIV/AIDS vẫn còn là một thách thức
của nhân loại, theo báo cáo của UNAIDS, năm
2013 trên thế giới đã có thêm 2,3 triệu người bị
nhiễm HIV mới, nâng số người bị nhiễm HIV
còn sống trên toàn cầu lên hơn 35,3 triệu người
[1]
Tại Việt Nam, tính đến cuối năm 2013 cả
nước phát hiện thêm 11.567 trường hợp nhiễm
HIV, hiện có 216.254 người nhiễm HIV còn
sống Dịch HIV/AIDS ở nước ta vẫn trong giai
đoạn tập trung, đặc biệt sự lây nhiễm HIV cao
ở nhóm NCMT Theo kết quả giám sát trọng
điểm (GSTĐ) năm 2013, tỷ lệ hiện nhiễm HIV
ở nhóm NCMT là 10,3%, số liệu giám sát ca
nhiễm mới 2013 cho thấy số trường hợp nhiễm HIV là người NCMT chiếm 39,2% [2]
Tại Cần Thơ, trong năm 2013 đã phát hiện thêm 330 trường hợp nhiễm HIV, nâng số người nhiễm HIV còn sống lên 5.300 người [3] Tương tự cả nước, lây nhiễm qua nhóm NCMT tại Cần Thơ cũng rất cao Theo số liệu giám sát
ca nhiễm HIV năm 2013, lây nhiễm qua đường máu chiếm 18,8% Theo GSTĐ năm 2013 tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở nhóm NCMT là 23,5% [4]
Ở nghiên cứu chỉ số sinh học hành vi (IBBS) năm 2009, tỷ lệ hiện nhiễm là 32% [3], [5]
Để làm giảm sự lây nhiễm HIV trong nhóm NCMT, chương trình can thiệp GTH tại Cần Thơ đã được triển khai rất sớm từ năm 2003
Trang 2bằng các hoạt động truyền thông trực tiếp
qua nhân viên TCCĐ và cấp phát BKT sạch
miễn phí Từ 2010 đến nay, chương trình được
triển khai đầy đủ các hoạt động can thiệp gồm
truyền thông thay đổi hành vi qua nhân viên
TCCĐ, cung cấp BKT sạch, BCS miễn phí cho
người NCMT, tư vấn xét nghiệm HIV và điều
trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng
Methadone
Nghiên cứu này được triển khai nhằm tìm
hiểu kiến thức và hành vi dự phòng lây nhiễm
HIV, mức độ tiếp cận với chương trình can
thiệp và xác định một số yếu tố liên quan đến
việc tiếp cận của người NCMT với chương
trình can thiệp GTH dự phòng lây nhiễm HIV
tại Cần Thơ năm 2014
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang
2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 3 đến tháng 6/2014
2.3 Đối tượng nghiên cứu
Những người sống tại Cần Thơ có tiêm chích
ma túy trong vòng 01 tháng trước điều tra, đủ
n = Z21-α/2p(1-p)
x D
d2
Các thông số: α=0,05, p=11,7% (theo kết quả điều tra trước đây), Z1 - α/2 =1,96 (hệ số tương ứng với α), d=0,05 (sai số cho phép) và D=1,5 (hệ số ảnh hưởng thiết kế)
2.5 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu theo cụm hai giai đoạn
Giai đoạn 1: Xây dựng khung mẫu và phân
bổ cỡ mẫu
Giai đoạn 2: Tuyển chọn đối tượng tham gia tại các địa điểm đã được lựa chọn
III KẾT QUẢ 3.1 Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
18 tuổi trở lên, đang sinh sống tại các quận/huyện trên địa bàn thành phố Cần Thơ ít nhất trong vòng
3 tháng qua, tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu và có phiếu mời tham gia nghiên cứu
2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu
240 người nghiện chích ma túy, áp dụng theo công thức tính ước lượng một tỷ lệ:
Trang 3Bảng 1 Một số đặc trưng cơ bản về nhóm nghiên cứu
Tuổi
Trung bình: 32,9 (nhỏ
nhất: 19; lớn nhất: 64)
Trình độ học vấn
Trung cấp chuyên nghiệp trở lên
Tình trạng hôn nhân
3.2 Kiến thức và hành vi dự phòng lây nhiễm HIV của đối tượng nghiên cứu
Bảng 2 Kiến thức về HIV/AIDS và hành vi của những người tham gia nghiên cứu
Kiến thức cần thiết về
HIV/AIDS
Sử dụng chung BKT
trong tháng qua
Sử dụng BCS trong lần
QHTD gần nhất
Kết quả bảng 2 cho thấy tỷ lệ NCMT có
kiến thức cần thiết về HIV/AIDS là 62,1% Tỷ
lệ dùng chung BKT khi tiêm chích ma túy trong
vòng 01 tháng qua là 7,9% Tỷ lệ người NCMT
có sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất là 58,2%
3.3 Tiếp cận với chương trình can thiệp giảm tác hại
Trang 4Bảng 3 Tiếp cận với các chương trình can thiệp của những người tham gia nghiên cứu
Lần gần nhất được truyền thông về tiêm chích an toàn và
tình dục an toàn
Trong vòng 06 tháng qua 193 80,4
Lần gần nhất nhận được BKT miễn phí Trong vòng 06 tháng qua 190 79,2
Lần gần nhất, nhận được BCS miễn phí Trong vòng 06 tháng qua 122 56,0
Tỷ lệ NCMT nhận được truyền thông trực
tiếp qua nhân viên TCCĐ trong vòng 06 tháng qua
là 80,4% (bảng 3) Tỷ lệ nhận được BKT miễn phí
trong vòng 06 tháng qua, nhận BCS miễn phí ở lần
QHTD gần nhất trong vòng 06 tháng qua, đã xét
nghiệm HIV và nhận kết quả trong vòng 06 tháng
qua tương ứng là 79,2%, 56%, và 57,5%
3.4 Một số yếu tố liên quan đến việc tiếp cận
của người nghiện chích ma túy với chương trình can thiệp giảm tác hại
Sau khi phân tích đơn biến, các biến độc lập có ý nghĩa thống kê hoặc được dự đoán có khả năng ảnh hưởng đến biến phụ thuộc được tiếp tục sử dụng cho mô hình hồi quy đa biến logistic để dự đoán khả năng tiếp cận với các chương trình can thiệp GTH, như sau:
Bảng 4 Mô hình hồi qui đa biến xác định một số yếu tố liên quan đến tiếp cận của người nghiện chích
ma tuý với chương trình truyền thông trực tiếp qua nhân viên tiếp cận cộng đồng
Biến độc lập OR thô OR hiệu chỉnh
Nữ*
≥ 30 tuổi*
THPT trở lên*
Kiến thức cần thiết
HIV/AIDS
<0,001
Sử dụng BCS khi
QHTD
0,39
(*): Nhóm so sánh
Kết quả bảng 4 có 02 yếu tố có ý nghĩa
thống kê ảnh hướng đến tiếp cận với chương
trình truyền thông trực tiếp là kiến thức cần
thiết về HIV/AIDS (OR=5,32; p<0,001) và hành vi dùng chung BKT khi tiêm chích ma túy (OR=5,00; p<0,01)
Trang 5Bảng 5 Mô hình hồi qui đa biến xác định một số yếu tố liên quan
đến việc tiếp cận chương trình bơm kim tiêm
Kết quả bảng 5 cho thấy yếu tố có mối liên
quan (có ý nghĩa thống kê) đến tiếp cận với chương trình BKT là hành vi dùng chung BKT khi tiêm chích ma túy (OR=8,33; p<0,001)
Bảng 6 Mô hình hồi qui đa biến xác định một số yếu tố liên quan
đến việc tiếp cận chương trình bao cao su
Kiến thức cần thiết
HIV/AIDS
Sử dụng BCS khi
QHTD
Kết quả bảng 6 cho thấy có 03 yếu tố có ý (OR=2,50; p<0,05), kiến thức cần thiết về HIV/
Trang 6Bảng 7 Mô hình hồi qui đa biến xác định một số yếu tố liên quan đến việc tiếp cận chương trình tư vấn xét nghiệm HIV Biến độc lập OR thô OR hiệu chỉnh
Kiến thức cần thiết
HIV/AIDS
Sử dụng BCS khi
QHTD
Kết quả bảng 7 cho thấy yếu tố có mối liên
quan (có ý nghĩa thống kê) đến tiếp cận chương
trình TVXN HIV là kiến thức cần thiết về HIV/
AIDS (OR=1,92; p<0,05)
IV BÀN LUẬN
4.1 Một số đặc điểm chung của đối tượng
ng-hiên cứu
Từ kết quả nghiên cứu cho thấy đặc điểm
chung người NCMT tại Cần Thơ vẫn tương
đương với các địa phương khác trong thời gian
qua ĐTNC có trình độ học vấn khá thấp, cụ
thể từ trung học cơ sở trở xuống chiếm 78,8%,
tương đương năm 2011 (78,8%) [6], điều này
cho thấy trình độ học vấn thấp do việc bỏ học
sớm đưa đến việc sử dụng ma túy Tình trạng
hôn nhân độc thân ở người NCMT chiếm tỷ lệ
cao 72,1%, tương đương so với năm 2011 [6],
người NCMT độc thân và không ổn định do
hệ quả của việc sử dụng ma túy khiến cho họ
khó tự kiểm soát hành vi của mình Từ những
đặc điểm trên cho thấy trình độ học vấn thấp
và việc sử dụng ma túy ở nhóm NCMT luôn
đồng hành, vì vậy rất cần thiết phải tăng cường
truyền thông cung cấp kiến thức HIV/AIDS
cho nhóm này bằng phương pháp hiệu quả hơn
4.2 Kiến thức và hành vi dự phòng lây nhiễm HIV của đối tượng nghiên cứu
Tỷ lệ ĐTNC có kiến thức cần thiết về HIV/ AIDS theo chỉ số 21 của Khung theo dõi đánh giá chương trình phòng, chống HIV/AIDS [7] là 62,1%, tỷ lệ này không thay đổi nhiều so với năm
2011 là 60% [6] So với các địa phương khác, tỷ
lệ này cao hơn nghiên cứu tại Đồng Nai năm
2010 là 56,5% và thấp hơn tại Bến Tre năm
2010 là 76,7% [8], [9] Kiến thức về HIV/AIDS
ở người NCMT chưa chuyển biến nhiều, do đó cần phải tăng cường cung cấp thông tin, đặc biệt truyền thông bằng những thông điệp ngắn gọn, cụ thể, rõ ràng và dễ nhớ phù hợp với học vấn thấp của nhóm nghiên cứu
Đối với hành vi tiêm chích ma túy, tỷ lệ sử dụng chung BKT khi tiêm chích trong tháng qua là 7,9%, thấp hơn tại một số tỉnh như Bến Tre 22,7%, Thái Bình 13,5% So với năm 2011 (11,7%), hành vi này có sự chuyển biến tích cực, hay nói cách khác tỷ lệ người NCMT báo cáo thường xuyên sử dụng BKT sạch khi tiêm chích ma túy trong 01 tháng qua theo chỉ
số dự phòng số 28 của Khung theo dõi đánh giá chương trình phòng, chống HIV/AIDS là 92,1%, tỷ lệ thực hiện hành vi này ở người NCMT đạt yêu cầu so với chỉ tiêu chương trình tại Cần Thơ là 70% [7], [9], [10], [6] Từ kết
Trang 7quả này cho thấy hiệu quả mang lại từ chương
trình truyền thông trực tiếp và biện pháp cung
cấp BKT sạch cho người NCMT đã giúp cho
người NCMT thực hiện hành vi tiêm chích an
toàn
Đối với hành vi QHTD, tỷ lệ ĐTNC
có sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất là
58,2%, thấp hơn so với nghiên cứu tại Khánh
Hòa (64,5%) [11], nhưng cao hơn so với
ng-hiên cứu tại Tiền Giang là 52% [12] So với
nghiên cứu năm 2011 (55,7%), tỷ lệ này không
thay đổi, cho thấy hiệu quả của chương trình
truyền thông trực tiếp hoặc can thiệp bằng BCS
chưa cao, do đó cần chú trọng cung cấp kiến
thức khuyến khích hành vi tình dục an toàn và
nâng cao hiệu quả chương trình BCS cho người
NCMT
4.3 Tiếp cận của người NCMT với chương
trình can thiệp
Trong nghiên cứu này, có 80,4% người
NCMT trả lời có nhận được truyền thông trực
tiếp từ nhân viên TCCĐ trong vòng 06 tháng
qua So với một số tỉnh khác, tỷ lệ này thấp hơn
như ở Bến Tre (90%) nhưng cao hơn nhiều tại
Đồng Nai (34,8%), tăng một ít so với năm 2011
(78,8%) và đã đạt được mục tiêu về độ bao phủ
của chương trình can thiệp (80%) [9], [8]
Có 56% ĐTNC trả lời có nhận được BCS
miễn phí trong vòng 06 tháng qua, tỷ lệ này
cao hơn tại Đồng Nai (29,8%) nhưng thấp hơn
tại Bến Tre (66%) [8], [9] So với năm 2011
(79,1%), thì tỷ lệ này thấp hơn (23,1%) và chưa
đạt so với chỉ tiêu chương trình là 60% [8],
[9] Kết quả này cũng phù hợp với tỷ lệ người
NCMT có sử dụng BCS trong lần QHTD gần
nhất không cao (58,2%)
Tỷ lệ người NCMT nhận được BKT miễn
phí trong 06 tháng qua là 79,2%, thấp hơn so
với nghiên cứu tại Đồng Nai (89,5%) và nghiên
cứu tại Bến Tre (82,9%) [8], [9] So với năm
2011 (71,1%), tỷ lệ này được cải thiện và xắp
xỉ với chỉ tiêu của chương trình đề ra là 80%,
cho thấy can thiệp thời gian qua đã có hiệu quả
Tỷ lệ người NCMT cho biết đã xét nghiệm HIV trong vòng 06 tháng qua là 57,5%, tỷ lệ này cao hơn nghiên cứu tại Đồng Nai (30%) nhưng thấp hơn tại Bến Tre (59%) [8], [9] Xét
về hiệu quả can thiệp, tỷ lệ người NCMT đã tham gia xét nghệm HIV trong 06 tháng qua
có tăng hơn so với khảo sát năm 2011 là 51,1% [6], chứng tỏ công tác truyền thông về lợi ích chương trình TVXN HIV và chuyển gửi có sự cải thiện Tuy nhiên, cần phải phấn đấu thêm để đạt được chỉ tiêu chương trình (60%)
4.4 Một số yếu tố liên quan đến việc tiếp cận của người nghiện chích ma túy với chương trình can thiệp
Nghiên cứu đã cho thấy mối liên quan giữa việc được tiếp cận chương trình truyền thông trực tiếp qua nhân viên TCCĐ với kiến thức về HIV/AIDS, người NCMT có kiến thức về HIV/ AIDS thì khả năng tiếp cận được với chương trình cao hơn 5,3 lần so với nhóm còn lại Theo kết quả trên, những người NCMT không có kiến thức về HIV/AIDS do họ ít có cơ hội được tiếp cận cung cấp thông tin về HIV/AIDS Vì vậy chương trình cần cố gắng phấn đấu để tăng
tỷ lệ người NCMT được tiếp cận với chương trình truyền thông trực tiếp qua đội ngũ nhân viên TCCĐ Một yếu tố khác cho mối liên quan
đó là hành vi dùng chung BKT khi tiêm chích
ma túy, những người NCMT không sử dụng chung BKT khi tiêm chích ma túy thì khả năng tiếp cận được với chương trình truyền thông trực tiếp cao gấp 10 lần so với nhóm còn lại Kết quả này cũng phù hợp với việc nếu người NCMT không được tiếp cận với nhân viên TCCĐ thì họ thiếu trang bị kiến thức cũng như
kỹ năng để thực hiện hành vi tiêm chích an toàn Vì vậy, cần phải đảm bảo duy trì tiếp cận
để truyền thông cung cấp kiến thức về HIV/ AIDS, giúp người NCMT có kiến thức về HIV/ AIDS để thực hiện hành vi an toàn Đối với việc tiếp cận với chương trình BKT,
có mối liên quan giữa tiếp cận chương trình BKT với hành vi sử dụng chung BKT khi tiêm chích
ma túy Những người NCMT không sử dụng
Trang 88,3 lần những người có sử dụng chung BKT khi
tiêm chích Vì vậy, cần duy trì và tăng tỷ lệ người
NCMT được tiếp cận với chương trình BKT để
họ có điều kiện tốt thực hiện hành vi tiêm chích an
toàn giúp phòng tránh lây nhiễm HIV
Có 03 yếu tố liên quan trực tiếp đến việc tiếp
cận chương trình BCS là trình độ học vấn, kiến
thức về HIV/AIDS và hành vi sử dụng BCS khi
QHTD Người NCMT có trình độ học vấn là trung
học phổ thông trở lên thì khả năng tiếp cận với
chương trình BCS cao gấp 2,5 lần những người có
học vấn từ trung học cơ sở trở xuống, có kiến thức
cần thiết về HIV thì khả năng tiếp cận được với
chương trình BCS cao hơn 2,6 lần những người
không có kiến thức cần thiết về HIV/AIDS, có sử
dụng BCS khi QHTD thì khả năng tiếp cận được
với chương trình BCS cao hơn 12,6 lần những
người không sử dụng BCS khi QHTD Từ kết quả
trên, giữa học vấn, kiến thức và tiếp cận chương
trình BCS có quan hệ với nhau Người NCMT có
học vấn và kiến thức về HIV/AIDS sẽ có hành vi
tình dục an toàn hơn, vì vậy khả năng tiếp cận với
chương trình BCS sẽ tốt hơn Vì vậy mục đích
của chương trình can thiệp là tăng số lượng người
NCMT tiếp cận với chương trình BCS để giúp
cho người NCMT thực hiện hành vi tình dục an
toàn phòng tránh lây nhiễm HIV
Người NCMT có kiến thức cần thiết về HIV/
AIDS thì khả năng tiếp cận được với chương
trình TVXN HIV cao hơn 1,9 lần so với nhóm
đối lập Khi người NCMT được được trang bị
kiến thức về HIV/AIDS, họ sẽ hiểu được lợi
ích của TVXN HIV và tham gia dịch vụ TVXN
HIV Dịch vụ TVXN HIV là rất cần thiết giúp
cho đối tượng nguy cơ cao biết được tình trạng
HIV của mình để có kế hoạch chăm sóc sức
khỏe bản thân và phòng tránh lây nhiễm HIV
cho người khác Vì vậy, để người NCMT tham
gia dịch vụ TVXN HIV nhiều hơn, họ cần phải
được tiếp cận truyền thông cung cấp kiến thức
về HIV/AIDS, từ đó họ mới nhận thức được
tầm quan trọng và tham gia TVXN HIV
V KẾT LUẬN
Tỷ lệ người NCMT có kiến thức về HIV/
AIDS là 62,1%; sử dụng chung BKT khi tiêm chích trong tháng qua là 7,9% và sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất là 58,2%
Tỷ lệ người NCMT được tiếp cận với chương trình truyền thông trực tiếp, nhận BKT, BCS miễn phí và xét nghiệm HIV có nhận kết quả trong 6 tháng qua tương ứng lần lượt là 80,4%, 79,2%, 56% và 57,5%
Kiến thức về HIV/AIDS và hành vi sử dụng chung BKT khi tiêm chích ma túy có liên quan đến tiếp cận truyền thông trực tiếp; hành vi dùng chung BKT khi tiêm chích có liên quan đến tiếp cận BKT; học vấn, kiến thức về HIV/ AIDS và hành vi sử dụng BCS khi QHTD có liên quan đến tiếp cận BCS; kiến thức về HIV/ AIDS của người NCMT có liên quan đến tiếp cận TVXN HIV
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 UNAIDS (2013), Report on the Global AIDS epi-demic 2013
2 Cục phòng chống HIV/AIDS (2013), Báo cáo tổng kết công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2012 và
kế hoạch công tác năm 2013
3 Ban chỉ đạo 138 thành phố Cần Thơ (2013), Kế hoạch phòng, chống HIV/AIDS năm 2014.
4 Trung tâm phòng chống HIV/AIDS thành phố Cần Thơ (2014), Báo cáo kết quả giám sát trọng điểm trên các nhóm nguy cơ cao.
5 Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương (2010), Kết quả giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/ AIDS (IBBS) tại Việt Nam - Vòng II - 2009.
6 Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Cần Thơ (2012), Báo cáo kết quả khảo sát kiến thức và hành vi dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS trên nhóm NCMT tại Cần Thơ năm 2011.
7 Bộ Y tế (2007), Khung theo dõi, đánh giá chương trình phòng chống HIV/AIDS quốc gia, NXB Y học, Hà Nội.
8 Nguyễn Duy Phúc (2010), Kiến thức, thực hành phòng chống HIV/AIDS, tỷ lệ nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan trong nhóm người nghiện chích ma túy tại Đồng Nai năm 2009, Luận văn thạc sỹ Y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng Hà Nội.
9 Nguyễn Trung Dũng (2010), Đánh giá chương trình can thiệp phòng lây nhiễm HIV cho người nghiện chích ma túy tại Bến Tre năm 2008 - 2010, Luận văn thạc sỹ Y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng Hà Nội.
Trang 910 Đỗ Huy Giang (2013), "Nhiễm HIV và đặc điểm
hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện
chích ma túy, gái mại dâm tại 4 huyện/thành phố
tỉnh Thái Bình năm 2012", Tạp chí Y học thực hành
(889+890), tr 81-84.
11 Trần Thị Kim Dung và cộng sự (2013), "Khảo sát
hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trên các đối tượng
tiêm chích ma túy, phụ nữ bán dâm, nam quan hệ tình dục đồng giới tại Khánh Hòa năm 2012", Y học thực hành (889+890), tr 144-147.
12 Trần Thị Thủy Hà (2013), "Điều tra hành vi phòng chống HIV/AIDS trong nhóm nghiện chích ma túy tại Tiền Giang năm 2012", Y học thực hành (899+890), tr 147-151.
KNOWLEDGE, BEHAVIOR AND ACCESS TO HIV PREVENTION
INTERVENTION IN IDU GROUP IN CAN THO 2014
Dap Thanh Giang 1 , Do Mai Hoa 2 , Lai Kim Anh 1 , Nguyen Quang Thong 1 ,
Doan Duy Dam 1 , Dinh Cong Thuc 1
1 CanTho HIV/AIDS Prevention Center
2 Hanoi School of Public Health
The harm reduction intervention to prevent
HIV/AIDS transmission for injecting drug
users (IDU) have been deployed in Can Tho
from 2003 The current, interventions such
as outreach, needle, condom, voluntary
coun-seling and testing (VCT) and Methadone are
performing This study was conducted to
un-derstand the approach with the harm reduction
intervention program in IDU The study was
done by cross sectional method on 240 IDUs
The study results showed that the rate of IDU
with correct knowledge about HIV/AIDS was
62,1% The rate of needles sharing was 7,9%
The proportion of study participants who
re-ported using condoms when having sex, access
to community outreach programs, access to
needle and syringe programs, access to
pro-grams condoms, and use HIV testing
coun-seling service corresponding 80,4%, 79,2%, 56,0% and 57,5% Factors relating to access to intervention programs of IDUs: knowledge of HIV/AIDS (p<0.001) and behavior of sharing needles when injecting (p<0.01) related to ac-cess to outstreach program; behavior of sharing needles when injecting drugs related to access
to needle and syringe programs (p<0,001); education (p<0,05), the knowledge of HIV/ AIDS (p<0,05) and behavior of using condom when having sex (p<0,001) related to access
to condom program; knowledge of HIV/AIDS (p<0,05) related to access to HIV testing coun-seling program
Keywords: Drug injecting, knowledge of
HIV/AIDS, risk behaviors, HIV infection, in-tervention