1. Trang chủ
  2. » Vật lí lớp 11

Xác suất bỏ trị theo thời gian và yếu tố ảnh hưởng tới bỏ trị ở những bệnh nhân điều trị cai nghiện tại 6 cơ sở điều trị Methadone Tỉnh Thái Nguyên.

9 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy để phục vụ cho mục tiêu phân tích yếu tố ảnh hưởng tới bỏ điều trị, chúng tôi sử dụng thiết kế bệnh chứng để tận dụng nguồn thông tin sẵn có được ghi nhận trong bệnh án về đặc [r]

Trang 1

XÁC SUẤT BỎ ĐIỀU TRỊ THEO THỜI GIAN VÀ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI

BỎ ĐIỀU TRỊ Ở NHỮNG BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ CAI NGHIỆN TẠI 6 CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ METHADONE TỈNH THÁI NGUYÊN

Đào Thị Minh An 1 *, Nguyễn Thị Huyền Trang 1 , Lê Ái Kim Anh 2 , Nguyễn Hoàng Long 3

1 Bộ môn Dịch tễ, Đại học Y Hà Nội

2 Trung tâm phòng, chống AIDS tỉnh Thái Nguyên

3 Cục phòng chống HIV/AIDS, Bộ Y tế

TÓM TẮT:

Nghiên cứu nhằm mục tiêu phân tích xác suất bỏ điều trị theo thời gian và một số yếu tố ảnh hưởng ở bệnh nhân điều trị Methadone (MMT) Phương pháp nghiên cứu thuần tập hồi cứu được sử dụng để phân tích xác suất bỏ điều trị theo thời gian và phương pháp bệnh chứng được sử dụng bỏ điều trị để phân tích yếu

tố ảnh hưởng tới bỏ điều trị Sự kiện bỏ điều trị được ghi nhận theo thời gian để phân tích xác suất bỏ điều trị bằng phương pháp phân tích sống còn Kapplan Meier Phân tích yếu tố ảnh hưởng bằng hồi qui Cox Kết quả cho thấy xác suất bỏ điều trị tăng nhanh trong 3 năm đầu (sau năm 1:8,7%, sau năm 2:18,0% và sau năm 3:25,8 %).Các yếu tố ảnh hưởng đến bỏ điều trị của: bệnh nhân gồm: có khó khăn từ bản thân; còn sử dụng chất gây nghiện; tự đến hoặc được giới thiệu từ công an Khuyến nghị mô hình điều trị MMT tại cộng đồng cần sớm được triển khai Tăng cường tư vấn cho người nhà bệnh nhân hỗ trợ về tinh thần trong việc điều trị, cải thiện được mối quan hệ gia đình Tăng cường tiếp cận và giới thiệu người nghiện tại cộng đồng tới cơ sở MMT qua cán bộ Y tế và cán bộ Ủy ban nhân dân.

Từ khóa: Methadone, bỏ điều trị, Thái Nguyên.

I ĐẶT VẤN ĐỀ:

Tính đến 15/01/2015, tỉnh Thái Nguyên có

5.671 người nghiện ma túy và được ghi nhận là

một trong 7 tỉnh/thành phố trọng điểm về ma

túy trong cả nước Thái Nguyên đã triển khai

các hình thức cai nghiện tại gia đình, tại cộng

đồng và tại các Trung tâm Giáo dục - Lao động

xã hội giai đoạn 1994-2010 Vào 9/2011, Thái

Nguyên bắt đầu triển khai điều trị cai nghiện

bằng Methadone thay thế Tính tới thời điểm

31/8/2015, trên toàn bộ địa bàn tỉnh đã có 6

cơ sở điều trị Methadone (MMT) tại 5 huyện/

thành phố, điều trị cho 2.638 bệnh nhân Phân

tích trên số liệu hồi cứu của chúng tôi cho thấy

tỉ lệ bệnh nhân bỏ điều trị 30 ngày liên tục tại 6

cơ sở MMT Thái Nguyên là >18% Một trong

những yếu tố quyết định thành công của điều trị

Methadone là điều trị liên tục hàng ngày, duy trì

bệnh nhân lâu dài trong chương trình Nghiên cứu FHI 360, Bộ Y tế (2014), đánh giá hiệu quả chương trình thí điểm điều trị nghiện các chất thuốc phiện bằngmethadone tại Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỉ lệ bỏ liều theo thời gian tăng dần từ 1-18 tháng và sau đó

từ 18 – 24 tháng thì tỉ lệ này giảm đối với những

BN bỏ liều 1-2 ngày với các tỉ lệ tương ứng là 1,5%; 18,9%; 19,8%; 23,2%; 34,3% và 27,6% [1] Các nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy sau

12 tháng điều trị, tỉ lệ tuân thủ của bệnh nhân là 35,2% trong khi đó tỉ lệ không tuân thủ và rất không tuân thủ là 55,9% và 9%[2] Tỷ lệ bệnh nhân bỏ điều trị trong một số nghiên cứu Meth-adone khác trên thế giới dao động trong khoảng 17% sau 3 tháng nghiên cứu, 13%, 14% và 27% sau 6 tháng và 11% sau 18 tháng [3 - 4], [5], [6].Tại Việt Nam, nghiên cứu tại cơ sở điều trị MMTThành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỉ lệ

Trang 2

mới bỏ cuộc trong 6 tháng là 1,9%, trong năm

2009 là 8,8%, năm 2010 là 10,9%, năm 2011

chỉ ở mức 5,1%, cộng dồn tính đến năm 2011

là 26,6% [7]; 10,2% bệnh nhân ra khỏi chương

trình sau 1 năm và 17,7% đã dừng và ra khỏi

chương trình điều trị sau 2 năm Tỷ suất ra khỏi

chương trình dao động trong khoảng từ 7 đến

10,8 trường hợp/1000 bệnh nhân-tháng, tương

đương với tỷ lệ bỏ điều trị trung bình là 8,3

trường hợp/1000 người-tháng [1]

Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào của Việt

Nam nghiên cứu sâu về xác suất bỏ liều điều

trị methadone theo thời gian và các yếu tố liên

quan Câu hỏi nghiên cứu của chúng tôi là xác

suất bỏ điều trị theo các khoảng thời gian của

bệnh nhân MMT như thế nào để từ đó có những

khuyến nghị cho chương trình Nghiên cứu có

mục tiêu phân tích xác suất bỏ điều trị theo thời

gian, xác định một số yếu tố ảnh hưởng

II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu thuần tập hồi cứu sổ theo dõi

điều trị toàn bộ 2.638 bệnh nhân đăng ký tại 6

cơ sở MMT tỉnh Thái Nguyên từ 30/9/2011 đến

31/8/2015

- Nghiên cứu bệnh chứng

2.2 Đối tượng và cỡ mẫu nghiên cứu

Nhóm chủ cứu: Toàn bộ 187 bệnh nhân

đăng ký tại 6 cơ sở MMT tỉnh Thái Nguyên

từ 30/09/2011 đến 31/08/2015 có 30 ngày liên

tục không đến uống thuốc (bỏ điều trị) tiếp cận

được qua liên hệ điện thoại Nhóm chứng: 187

bệnh đang còn duy trì điều trị trong chương

trình MMT có mã số bệnh án tiếp liền với

bệnh nhân bỏ điều trị được chọn làm nhóm đối

chứng Tiếp cận bệnh nhân nhóm đối chứng tại

các lần đến uống thuốc gần đây nhất và phỏng vấn trực tiếp

2.3 Biến số nghiên cứu

Tuổi, giới, học vấn, tình trạng hôn nhân, công việc có thu nhập, tính chất công việc, tình trạng điều trị Methadone – ARV (khoảng cách, thời gian giữa cơ sở điều trị), người hỗ trợ, phương tiện và chi phí uống thuốc, tình trạng sức khỏe mắc bệnh phối hợp (lao, tiêu chảy, nấm, viêm phổi, bệnh răng miệng, viêm gan ), HIV, khó khăn từ bản thân (đi lại xa, không sắp xếp được thời gian, chi phí tổn kèm, bị bắt đi trại/tù, chuyển địa bàn sinh sống, vấn đề về sức khỏe), khó khăn từ gia đình (gia đình không

hỗ trợ, có biến động lớn trong gia đình), khó khăn từ cán bộ Y tế - cơ sở Y tế (không có dịch

vụ điều trị bệnh phối hợp, thời gian chờ uống thuốc), khó khăn từ phác đồ điều trị (tác dung phụ từ Methadone, sợ phát hiện heroin trong nước tiểu, quá trình điều trị lâu, vẫn thèm ma túy); cải thiện mối quan hệ gia đình, sức khỏe, công việc

2.4 Phân tích và xử lý số liệu

Sự kiện bỏ điều trị được ghi nhận theo thời gian để phân tích xác suất bỏ điều trị bằng phương pháp phân tích sống còn Kapplan

Mei-er Phân tích yếu tố ảnh hưởng bằng hồi qui Cox đơn và đa biến trên phần mềm Stata 12.0

2.5 Đạo đức nghiên cứu

Đề cương nghiên cứu được thông qua hội đồng đạo đức của Cục phòng chống HIV/AIDS Việt Nam Thông tin của bệnh nhân trích xuất

từ sổ điều trị được bảo mật Số liệu cá thể được phân tích thành số liệu tổng hợp chung không

có sự kết nối với danh tính bệnh nhân

III KẾT QUẢ

Trang 3

Bảng 1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu trong nghiên cứu bệnh chứng

Nhóm bỏ điều trị (n=187)

Nhóm chứng

Cơ sở

Tuổi TB ±SD (min-max) 35,31±6,90 21-55 37,13±8,37 21-60 0,01*

Nhóm tuổi

Tình trạng hôn nhân

Học vấn

Người giới thiệu

Ủy ban nhân dân/cơ

sở Y tế

Mức độ

Hiếm khi, thỉnh thoảng

K/cách từ nhà-cơ sở MMT 7,49±6,35 0,5-30 6,90±6,34 0,1-40 0,37

T/gian từ nhà-cơ sở MMT 20,20±14,55 2-60 17,05±11,17 3-60 0,01*

Khác (vợ chồng ) 18 14,4 18 14,4 Phương tiện

Trang 4

* Khác biệt có ý nghĩa thống kê

Bảng1 trình bày đặc điểm của đối tượng trong

nghiên cứu bệnh chứng cho thấy có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê giữa nhóm chủ cứu và nhóm

đối chứng về những yếu tố: tuổi, tình trạng hôn

nhân, người giới thiệu đến cơ sở điều trị, mức độ

và công việc phải di chuyển xa nhà, thời gian và

phương tiện di chuyển từ nhà đến cơ sở MMT

Vì hạn chế số trang của bài báo, do vậy đặc điểm của 2638 bệnh nhân trong thiết kế thuần tập hồi cứu xin độc giả tham khảo tại bài báo về " Thực trạng bỏ điều trị, ra khỏi chương trình và quay lại điều trị tại các cơ sở điều trị cai nghiện bằng Methadone tỉnh Thái Nguyên từ 30/9/2011 đến 31/8/2015" được xuất bản cùng trong số báo này

Bảng 2 Đặc điểm về sử dụng chất gây nghiện, cai nghiện và các bệnh kèm

theo trên cỡ mẫu của thiết kế nghiên cứu bệnh chứng

Sử dụng chất gây nghiện, cai nghiện và điều trị methadone thay thế

Tuổi TB lần đầu sử dụng chất gây nghiện 24,26 ± 6,10 15-48 25,20 ± 6,05 14-45 0,18

Số lần cai nghiện 2,90 ± 2,16 0-10 3,04 ± 2,21 0-9 0,54

Còn sử dụng chất gây nghiện trong quá

Tình trạng sức khỏe

Điều trị ARV (bệnh án) (n=34) 16 47,1 29 72,5 0,03*

MMT-ARV:

TB k/c khác cơ sở 7,1±5,75 2-20 8,2±8,12 2-25 0,73

Bảng 2 trình bày đặc điểm về sử dụng chất

gây nghiện, cai nghiện và các bệnh kèm theo

cho thấy có sự khác biệt giữa nhóm chủ cứu và

nhóm đối chứng về tình trạng sử dụng chất gây nghiện trong quá trình điều trị MMT và tình trạng điều trị ARV

Trang 5

Hình 1 trình bày xác suất bỏ điều trị thời gian

2.638 bệnh nhân theo dõi từ 9/2011-8/2015 cho

Hình 3 So sánh xác suất bỏ điều trị lũy tích theo thời gian theo (1) đặc điểm khó khăn từ bản thân, (2) khó khăn từ gia đình, (3) cải thiện mối quan hệ gia đình, (4) cải thiện sức khỏe, (5) cải thiện công việc

trên cỡ mẫu của nghiên cứu bệnh chứng

Hình 2 So sánh xác suất bỏ điều trị lũy tích theo thời gian theo (1) công việc xa nhà, (2) nguồn giới thiệu bệnh nhân đến cơ sở MMT, (3) đặc điểm sử dụng chất gây nghiện ở giai đoạn duy trì điều trị MMT, (4) đặc

điểm mắc bệnh kèm theo trên cỡ mẫu nghiên cứu bệnh chứng

thấy xác suất bỏ trị tăng nhanh trong 3 năm đầu (sau năm 1: 8,7%, sau năm 2: 18,0% và sau năm 3: 25,8 %)

Hình 2 so sánh xác suất bỏ điều trị theo theo

các nhóm đối tượng khác nhau cho thấy xác

suất bỏ điều trị cao hơn: ở những đối tượng

có công việc phải thường phải đi xa nhà; ở

những đối tượng được giới thiệu từ công an; ở những đối tượng còn sử dụng chất gây nghiện; và ở những đối tượng không mắc bệnh kèm theo

Trang 6

Bảng 3 Phân tích đa biến hồi quy Cox về xác suất bỏ điều trị của đối tượng

Còn sử dụng chất gây nghiện trong điều trị 2,24 1,62-3,09 <0,001 Người giới thiệu:

Cơ sở Y tế - Ủy ban nhân dân 1 1

Hình 3 so sánh xác suất bỏ điều trị theo các

khó khăn và cải thiện trong quá trình điều trị

MMT, cho thấy xác suất bỏ điều trị cao hơn

nhóm bệnh nhân có gặp khó khăn từ cá nhân và gia đình; không cải thiện mối quan hệ gia đình; không cải thiện sức khỏe, công việc

Bảng 3 trình bày kết quả phân tích mô hình

hồi quy đa biến Cox với biến đầu vào là các

biến có ý nghĩa thống kê từ phân tích đơn biến

gồm điểm nhân khẩu học (có công việc mang

lại thu nhập, người giới thiệu tới cơ sở điều trị

methadone), các yếu tố về sử dụng chất gây

ng-hiện và mắc các bệnh kèm theo, các khó khăn

về bản thân, gia đình, cán bộ Y tế, phác đồ và

các cải thiện mối quan hệ tại gia đình, công

việc, sức khỏe được đưa vào mô hình Kết quả

cho thấy đối tượng có khó khăn từ bản thân có

khả năng bỏ điều trị gấp 1,62 lần (91%CI:

1,19-2,21) so với những đối tượng không có khó

khăn từ bản thân; những đối tượng còn sử dụng

chất gây nghiện có khả năng bỏ điều trị gấp

2,24 lần (95%CI: 1,62-3,09), những đối tượng

tự đến hoặc được giới thiệu từ công an có khả

năng bỏ điều trị cao gấp 1,75 lần (95%CI:

1,07-2,86); 3,78 lần (95%CI: 2,23-3,09) so với đối

tượng được Cơ sở Y tế - Ủy ban nhân dân giới

thiệu đến

IV BÀN LUẬN

Nghiên cứu này chỉ ra rằng xác suất bỏ

điều trị MMT tăng dần có ý nghĩa thống kê

trong 3 năm đầu tiên của điều trị MMT (sau

năm 1:8,7%, sau năm 2:18,0% và sau năm

3:25,8 %) Nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí

Minh 2008-2011 cho thấy trong số 1141 bệnh

đến 10,8 trường hợp trên 1000 bệnh nhân-tháng [1] Theo báo cáo năm 2012, ở Thanh Hóa cho thấy tỷ lệ bệnh nhân bỏ điều trị là 10,6% (sao

12 tháng theo dõi), 13,3% (sau 18 tháng theo dõi) [8].Nghiên cứu năm 2012 tại Malaysia theo dõi trong vòng 2 năm có 25,0% bệnh nhân bỏ điều trị [9],ở Pháp (2014) cho thấy tỷ

lệ này khá cao với 64,8% bệnh nhân bỏ điều trị Methadone (sau 12 tháng điều trị) [2] Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho thấy sau theo dõi 1 năm, xác suất bệnh nhân bỏ điều trị là 26%; bệnh nhân mới điều trị (điều trị dưới 3 tháng) có xác suất bỏ điều trị cao gấp 4 lần so với bệnh nhân đã duy trì điều trị (điều trị trong chương trình hơn 1 năm) [10] Một số nghiên cứu tại Hoa Kỳ, Trung Quốc, Indonessia cho thấy xác suất bỏ điều trị sau 3 năm là 50% [11], [12], nghiên cứu tại Trung Quốc (3/2008-2/2009) cho thấy xác suất bỏ điều trị tích lũy là khá cao 1,3, 6 tháng là (6%, 25%, 43%) [13] Như vậy có thể thấy xác suất bỏ điều trị theo thời gian của bệnh nhân điều trị MMT tại Thái Nguyên tương đồng với kết quả ở một số tỉnh khác và trên thế giới

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng những đối tượng có khó khăn từ bản thân (việc

đi xa, không sắp xếp được thời gian, chi phí

đi lại cá nhân mỗi lần đến cơ sở MMT, vướng

đi làm ăn xa, thiếu quyết tâm…) có khả năng

bỏ điều trị gấp 1,62 lần (91%CI: 1,19-2,21) so

Trang 7

tại các cơ sở điều trị MMT tuân thủ điều trị,

nhưng thực tế bệnh nhân vẫn phải chi trả một

số phí khác liên quan tới việc đi lại cơ sở điều

trị và điều này góp phần không nhỏ ảnh hưởng

tới duy trì điều trị của bệnh nhân [14] Một

nghiên cứu khác cũng tại Trung Quốc (2009)

chỉ ra những bệnh nhân mất thời gian đi tới cơ

sở trên >30 phút có nguy cơ bỏ điều trị cao 1,63

lần sau 12 tháng [13] Báo cáo của WHO (2004)

cũng đã chỉ ra việc chi phí tốn kém của cá nhân

đến nhân khi đến điều trị MMT là yếu tố ảnh

hưởng tới duy trì điều trị[10] Nghiên cứu tại

Malaysia (2012) cho thấy trình độ văn hóa thấp

là yếu ảnh hưởng đến tình trạng bỏ điều trị

MMT [9] Nghiên cứu năm 2014 tại Pháp cho

thấy những bệnh nhân không có chỗ ở ổn định,

gặp khó khăn trong việc đi tới cơ sở MMT là

những yếu tố ảnh hưởng tới tỉ lệ 64,8% bỏ điều

trị sau 12 tháng [2] Vì vậy để giảm khó khăn

trong đi lại cho bệnh nhân, chương trình điều

trị MMT có thể cân nhắc mô hình triển khai

MMT tại cộng đồng Tăng cường tư vấn nâng

cao nhận thức đúng đắn cho bệnh nhân điều trị

MMT, tư vấn cho người nhà bệnh nhân hỗ trợ

về tinh thần trong việc điều trị, cải thiện được

mối quan hệ gia đình

Kết quả của chúng tôi cũng chỉ ra rằng

những đối tượng còn sử dụng chất gây nghiện

trong quá trình điều trị có khả năng bỏ điều trị

gấp 2,24 lần những đối tượng không có hành

vi này Nghiên cứu tại Trung Quốc

(2010),Ma-laysia (2012) và Pháp (2014) đều chỉ ra rằng

liều điều trị methadone thấp làm bệnh nhân

vẫn tiếp tục sử dụng chất gây nghiện và đây là

yếu tố ảnh hưởng tới bỏ điều trị của bệnh nhân

[14],[9],[2] Đặc biệt nghiên cứu tại Trung

Quốc (2014) cho thấy cho thấy xác suất bỏ

điều trị của những đối tượng còn sử dụng chất

gây nghiện cao gấp 5,72 lần (HR: 5,72, 95%CI:

1,49-21,92)[15]

Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng những đối

bản thân nên quá trình điều trị không được lâu dài và bền vững Những đối tượng tự đến mặc

dù có thể đã có nhận thức từ bản thân hoặc gia đình nhưng lại thiếu tư vấn đầy đủ quá trình điều trị MMT từ cán bộ y tế và chính quyền

và những yếu tố này có thể đã ảnh hưởng tới

sự tham gia lâu dài của bệnh nhân trong điều trị MMT Vì vậy cần tăng cường tiếp cận và giới thiệu người nghiện tại cộng đồng tới cơ

sở MMT qua cán bộ y tếvà cán bộ ủy ban nhân dân thay cho tiếp cận từ công an

Ưu nhược điểm của nghiên cứu: Nếu kinh phí và thời gian cho phép thì nghiên cứu này

sẽ thiết kế theo dõi dọc đối tượng theo thời gian từ khi đăng ký điều trị đến khi xuất hiện

sự kiện "bỏ điều trị" Tuy nhiên thời gian cần theo dõi là 4 năm và kinh phí tương ứng sẽ rất lớn Trên thực tế đề tài có sự khống chế về thời gian triển khai trong 1 năm với kinh phí hạn

Do vậy để phục vụ cho mục tiêu phân tích yếu

tố ảnh hưởng tới bỏ điều trị, chúng tôi sử dụng thiết kế bệnh chứng để tận dụng nguồn thông tin sẵn có được ghi nhận trong bệnh án về đặc điểm cá nhân, đặc điểm điều trị, đặc điểm tuân thủ trong của bệnh nhân từ khi đăng ký đến thời điểm bỏ điều trịbỏ điều trịbỏ điều trị Vì vậy, về lý thuyết thông tin hồi cứu phụ thuộc vào mức độ ghi nhận đầy đủ của cán bộ Y tế Tuy nhiên những thông tin được hồi cứu trong nghiên cứu đều dựa trên bằng chứng xác thực gồm: thông tin về nguồn giới thiệu bệnh nhân đến dựa trêngiấy giới thiệu; thông tin về vấn đề sức khỏe dựa trên hồ sơ bệnh ánkhám lâm sàng, xét nghiệm máu, nướctiểu, chụp xquang, thông tin về tuân thủ điều trị dựa trên kết quả xét ng-hiệm nước tiểu định kỳ hàng tháng, lý do bỏ điều trị và khó khăn trong quá trình điều trị dựa trên phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân Vì vậy, ưu điểm của nghiên cứu bệnh chứng này là kiểm soát tốt các sai số hồi cứu thông tin Hạn chế trong thiết kế bệnh chứng này là hạn chế trong phân tích xác suất bỏ điều trị theo thời gian trên

Trang 8

V KẾT LUẬN

Xác suất bỏ điều trị tăng dần trong 3 năm

đầu điều trị methadone Xác suất bỏ điều trị

sau năm 1:8,7%, sau năm 2:18,0% và sau năm

3:25,8 % Một số yếu tố ảnh hưởng đến xác suất

bỏ điều trị: đối tượng có khó khăn từ bản thân

có khả năng bỏ điều trị gấp 1,62 lần (91%CI:

1,19-2,21) so với những đối tượng không có

khó khăn từ bản thân; những đối tượng còn sử

dụng chất gây nghiện có khả năng bỏ điều trị

gấp 2,24 lần (95%CI: 1,62-3,09), những đối

tượng tự đến hoặc được giới thiệu từ công an có

khả năng bỏ điều trị cao gấp 1,75 lần (95%CI:

1,07-2,86); 3,78 lần (95%CI: 2,23-3,09) so với

đối tượng được Ủy ban nhân dân và cơ sở Y tế

giới thiệu đến

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Y tế, F., Đánh giá hiệu quả chương trình thí điểm

điều trị nghiện các chất thuốc phiện bằngmethadone

tại Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh 2014.

2 Roux, P., et al., Predictors of non-adherence to

meth-adone maintenance treatment in opioiddependent

in-dividuals: Implications for clinicians Current

phar-maceutical design, 2014 20(25): p 4097-4105.

3 Xiao, L., et al., Quality of life of outpatients in

meth-adone maintenance treatment clinics Journal of

ac-quired immune deficiency syndromes (1999), 2010

53(Suppl 1): p S116.

4 Rhoades, H.M., et al., Retention, HIV risk, and illicit

drug use during treatment: methadone dose and visit

frequency American Journal of Public Health, 1998

88(1): p 34-39.

5 Sees, K.L., et al., Methadone maintenance vs

180-day psychosocially enriched detoxification for

treat-ment of opioid dependence: a randomized controlled

trial Jama, 2000 283(10): p 1303-1310.

6 Metzger, D.S., et al., Human immunodeficiency vi-rus seroconversion among intravenous drug users in-and out-of-treatment: an 18-month prospective follow-up JAIDS Journal of Acquired Immune De-ficiency Syndromes, 1993 6(9): p 1049-1056.

7 Thịnh, T., Kết quả Điều trị Thay thế Bằng Metha-done trên bệnh nhân nghiện Heroin tại TPHCM sau

3 năm theo dõi, 2008-2011 2011.

8 Trung tâm phòng, c.H.A., Báo cáo Hoạt động điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại Thanh Hóa 2012.

9 Ramli, M., et al., Associated risk factors to Non-compliance to Methadone Maintenance Ther-apy The Medical journal of Malaysia, 2012 67(6):

p 560-564.

10 Blum, J., J Durocher, and D Abbas, Proposal for the inclusion of misoprostol in the WHO model list of essential medicines Gynuity Health Projects, 2010:

p 1-34.

11 Riki Febrian, J.B., When Do Indonesian MMT Clients Cease Injecting? Harm Reduction, in In

CD The 10th International Congress on AIDS in Asia and the Pacific 2011: Busan, Korea.

12 Igor Van Laere, T.H., et al, Methadone Mainte-nance Treatment and HIV Care in West Java Indonesia: Smaller Team, Higher Retention, in In

CD The 10th International Congress on AIDS in Asia and the Pacific 2011: Busan, Korea.

13 Che, Y., et al., Predictors of early dropout in meth-adone maintenance treatment program in Yunnan province, China Drug and alcohol review, 2010 29(3): p 263-270.

14 Yin, W., et al., Scaling up the national methadone maintenance treatment program in China: achieve-ments and challenges International journal of epide-miology, 2010 39(suppl 2): p ii29-ii37.

15 Jiang, H., et al., Factors associated with one year retention to methadone maintenance treatment pro-gram among patients with heroin dependence in China Subst Abuse Treat Prev Policy, 2014 9(11).

Trang 9

PROBABILITY OF DROPOUT AND DETERMINANTS AMONG PATIENTS REGISTERED AT SIX METHADONE MAINTENANCE TREATMENTS

IN THAI NGUYEN

Dao Thi Minh An 1 , Nguyen Thi Huyen Trang 1 , Le Ai Kim Anh 2 , Nguyen Hoang Long 3

1 Department of Epidemiology – Hanoi Medical University

2 Provincial AIDS center of Thai Nguyen

3 Vietnam Administration for HIV/AIDS Control, Ministry of Health

To analyse probability of quitting methadone

treatment 30 days continously and determinants

among patients registered at 6 MMTs in Thai

Nguyen Retrospective cohort design was applied

to estimate propobality of dropout MMT through

times Case control study was applied to analyze

determinants of quitting Quitting events were

identified through time for calculating

propobali-ty of dropout using Kapplan Meier analysis Cox

regression were used to analyze determinants

Probabilityamong of quitting increased rappidly

in the first 3 years of treatment (year 1:8,7%, year

2:18,0% and year 3:25,8 % ) Determinants of quitting are having individual difficulties; keep using heroine; be introduced for MMT bypolice MMT implemented at communce is model of concern Strengthening patient’s family sup-ports for MMT patients regarding spiritand family relationships Enhance the involvement

of the health workers and staff of the people's Committees in troduce in step of introducing drug users to the MMTs

Keywords: Dropout, MMT, determinants

Ngày đăng: 11/03/2021, 04:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w