Nhưng kết quả của nghiên cứu này cũng gợi ý rằng để hạn chế tỷ lệ bệnh nhân AIDS bỏ trị ARV, cần tăng cường giám sát, chỉ đạo chuyên môn, nâng cao chất lượng truyền thông, tư vấn, đi[r]
Trang 1THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BỆNH NHÂN AIDS
BỎ TRỊ ARV TẠI CÁC PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ TỈNH THANH HÓA,
NĂM 2012-2013
Lê Trường Sơn 1 *, Trần Văn Sơn 2 , Nguyễn Bá Cẩn 1 , Nguyễn Văn Hùng 2 ,
Nguyễn Đăng Tùng 1 , Vũ Đình Nam 1 , Phạm Hoàng Anh 1
1 Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS Thanh Hóa
2 Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế
TÓM TẮT
Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 72 bệnh nhân tại 08 phòng khám ngoại trú (OPC) tỉnh Thanh Hóa năm 2012-2013 để tìm hiểu thực trạng về bệnh nhân AIDS bỏ trị ARV Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân AIDS bỏ trị ARV 84,7% là nam giới, 66,6% trình độ học vấn dưới trung học phổ thông, 91,6% khó khăn về tài chính, 88,9% không có việc làm ổn định và 63,9% vẫn đang sử dụng ma túy trong khi điều trị Bệnh nhân bỏ trị ARV hay quên uống thuốc ARV là 63,7%, trên 50% gặp tác dụng phụ khi uống thuốc ARV và 50% chưa hiểu đầy đủ khái niệm tuân thủ điều trị ARV Có ba nguyên nhân chính khiến bệnh nhân
bỏ điều trị ARV là 38,9% đi làm ăn xa, 25% sợ bị kỳ thị và 18% do điều trị không hiệu quả (dừng uống thuốc ARV để điều trị bệnh khác) Sử dụng mô hình hồi quy đa biến cho thấy yếu tố liên quan đến bỏ do điều trị không hiệu quả là tình trạng hôn nhân và đi làm ăn xa (p<0,05); yếu tố liên quan đến bỏ trị do sợ bị kỳ thị là khoảng cách đến phòng OPC và ngại mọi người biết mình nhiễm HIV/AIDS (p<0,05) Chương trình chăm sóc hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS cần tăng cường hơn nữa công tác truyền thông, tư vấn, tiếp cận quản lý người nhiễm HIV/AIDS.
Từ khóa: Điều trị ARV, bỏ trị ARV, phòng khám ngoại trú.
*Tác giả: Lê Trường Sơn
Địa chỉ: Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS Thanh Hóa
Điện thoại: 0978.898.965
Ngày nhận bài: 17/07/2015 Ngày phản biện: 09/10/2015 Ngày đăng bài: 10/11/2015
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Điều trị thuốc kháng virut (ARV) cải thiện
một cách rõ rệt cuộc sống của bệnh nhân nhiễm
HIV/AIDS và góp phần làm giảm sự lây nhiễm
HIV trong cộng đồng [1] Thuốc ARV đã có
mặt tại Việt Nam từ những năm 1995 nhưng
việc tiếp cận rộng rãi với điều trị ARV chỉ bắt
đầu từ năm 2006 với số lượng người được tiếp
cận với ARV gia tăng mỗi năm, từ 2700 bệnh
nhân vào năm 2005 lên gần 38,000 bệnh nhân
vào năm 2009 Hiện nay, điều trị ARV cho
người nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam là một
trong những mục tiêu ưu tiên của chiến lược
quốc gia phòng, chống HIV/AIDS [2]
Thanh Hóa được triển khai điều trị cho bệnh
nhân AIDS đầu tiên từ năm 2004-2005 ở khoa
truyền nhiễm Bệnh viện đa khoa tỉnh với 40
bệnh nhân Đến nay, Thanh Hóa đã triển khai điều trị ARV cho 1.870/2.410 bệnh nhân AIDS còn sống ở 9 phòng khám ngoại trú (OPC) [3] Việc triển khai điều trị ARV cho bệnh nhân nhiễm HIV không ít khó khăn từ vấn đề tiếp cận dịch vụ, tuân thủ điều trị cho đến việc xử
lý các bệnh do giảm miễn dịch gây ra Bên cạnh đó, những năm gần đây, thực trạng bệnh nhân AIDS bỏ trị ARV tại các phòng OPC của Thanh Hóa đang là vấn đề quan ngại cho chính quyền địa phương và ngành y tế Thanh Hóa [3] Thanh Hóa đã triển khai một số nghiên cứu đánh giá hoạt động chăm sóc hỗ trợ cho người nhiễm HIV và tuân thủ điều trị ARV, tuy nhiên chưa có một đề tài nghiên cứu nào về thực trạng bỏ trị ARV trên những bệnh nhân AIDS trên địa bàn tỉnh Để tăng cường nâng cao chất lượng điều trị ARV cho bệnh nhân AIDS ở các cơ sở khám
Trang 2và điều trị ngoại trú giảm tỷ lệ bỏ trị của bệnh
nhân, góp phần vào việc thực hiện chiến lược
phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm
nhìn 2020, chúng tôi tiến hành nghiên cứu mô
tả thực trạng bệnh nhân AIDS bỏ trị ARV và
xác định một số yếu tố liên quan đến bỏ trị ARV
của bệnh nhân AIDS tại các phòng khám ngoại
trú, tỉnh Thanh Hóa, năm 2012-2013
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng bệnh nhân AIDS bỏ trị ARV và
xác định một số yếu tố liên quan đến bỏ trị ARV
2.2 Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp
ng-hiên cứu định lượng và định tính
2.3 Địa điểm nghiên cứu
08 phòng khám ngoại trú trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa
2.4 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 1/2012-10/2013
2.5 Phương pháp chọn mẫu
- Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng: 72 người,
chọn tất cả bệnh nhân AIDS bỏ trị từ tháng
1/2012 – tháng 10/2013 tại 08 phòng OPC của
tỉnh Thanh Hóa đủ tiêu chuẩn
- Cỡ mẫu nghiên cứu định tính: 08 thảo
luận nhóm ở 08 phòng OPC; 08 phỏng vấn
sâu người hỗ trợ điều trị tại nhà của bệnh nhân
AIDS bỏ trị đang còn sống; 08 phỏng vấn sâu
bệnh nhân AIDS bỏ trị đã tham gia phỏng vấn
bộ câu hỏi định lượng
Bệnh nhân AIDS bỏ trị ARV (Là bệnh nhân
không đến khám và lấy thuốc ARV trong vòng
90 ngày sau lần hẹn tái khám cuối cùng - theo
định nghĩa của WHO)
Người hỗ trợ điều trị tại nhà (Là người ký
giấy cam kết trong hồ sơ bệnh án ở phòng OPC trong việc hỗ trợ bệnh nhân AIDS điều trị ARV tại gia đình)
Cán bộ phòng OPC (05 cán bộ/1 OPC: Lãnh đạo phụ trách phòng OPC, Bác sỹ điều trị và chăm sóc HIV/AIDS, Cán bộ tư vấn tuân thủ điều trị và chăm sóc HIV/AIDS, Cán bộ hỗ trợ điều trị ARV và Dược sỹ cấp phát thuốc điều trị HIV/AIDS)
2.6 Công cụ thu thập và phương pháp xử lý
số liệu
Phỏng vấn trực tiếp các bệnh nhân AIDS bỏ trị ARV bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn gồm có 3 phần: Thông tin chung; Kiến thức, thực hành, tuân thủ điều trị ARV và các yếu tố liên quan đến bỏ trị ARV Ngoài ra còn thu thập thông tin về lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân AIDS bỏ trị ARV trong hồ sơ, bệnh án Bộ hướng dẫn Phỏng vấn sâu bệnh nhân AIDS bỏ trị ARV; Phỏng vấn sâu người hỗ trợ điều trị tại nhà; Thảo luận nhóm cán bộ của phòng khám ngoại trú
Nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1, phân tích bằng phần mềm SPSS 13.0
2.7 Đạo đức nghiên cứu:
Nghiên cứu này tuân thủ theo quy trình xét duyệt đạo đức của Cục Phòng, chống HIV/ AIDS, Bộ Y tế và đảm bảo đối tượng đồng ý tham gia vào nghiên cứu và mọi thông tin về đối tượng nghiên cứu được giữa bí mật và dấu kín
III KẾT QUẢ 3.1 Thực trạng về bệnh nhân AIDS bỏ trị ARV ở các phòng OPC tỉnh Thanh Hóa
Trong số 72 bệnh nhân bỏ trị ARV được phỏng vấn, đa số là nam giới (84%), có trình độ
từ và dưới trung học cơ sở (66,6%), đang sống chung với vợ/chồng (41,7%), không có việc làm ổn định (73,6%) và sống cách xa phòng OPC trên 10 km chiếm 62,5%
Trang 3Bảng 1 Thông tin nhân khẩu học về bệnh nhân được phỏng vấn
(n=72)
Tỷ lệ (%) Giới tính
Trình độ học vấn
Từ trung học cơ sở trở xuống (≤lớp 9) 48 66,6
Từ Phổ thông trung học trở lên (≥lớp 10) 24 33,4
Tình trạng hôn nhân
Chưa Vợ/chồng/ ly dị/ly thân 42 58,3 Đang chung sống với vợ/chồng 30 41,7
Nghề nghiệp
Khoảng cách từ nhà đến phòng OPC
Kiến thức về tuân thủ điều trị ARV
(nêu đúng 4 ý: uống đúng thuốc, uống đúng liều lượng, uống đúng thời gian quy định và uống đúng cách)
Kiến thức không tốt (trả lời đúng < 3 ý) 36 50,0 Kiến thức về ARV tốt (trả lời đúng 4 ý) 36 50,0
Đã từng quên uống thuốc ARV
Gặp phản ứng phụ của thuốc ARV
Bảng 2 Sự tuân thủ điều trị ARV trên những bệnh nhân AIDS bỏ trị (n=72)
Hơn 50% bệnh nhân có kiến thức tốt về
ARV - nêu đúng 4 ý về khái niệm tuân thủ điều
trị gồm uống đúng cách, uống đúng liều lượng,
uống đúng thuốc và uống đúng thời gian quy
định, 63% bệnh nhân đã từng quên uống thuốc
và hơn 50% bệnh nhân cho biết họ đã gặp phản ứng phụ khi uống thuốc ARV
Trang 4Bảng 3 Tình trạng liên quan bỏ trị ARV của bệnh nhân AIDS tại phòng OPC
Không được tư vấn thường xuyên tại OPC 14 19,4 Ngại mọi người khi ở phòng OPC 47 65,3 Không nhận được hỗ trợ từ người hỗ trợ 14 19,4
Có sử dụng ma túy trước khi bỏ trị 46 63,9
Có đi làm ăn xa trước khi bỏ trị 40 55,5
Bệnh nhân AIDS bỏ điều trị ARV phần lớn
có hoàn cảnh khó khăn về tài chính (91,6%),
hay đi làm ăn xa (55,5%), trước khi bỏ trị vẫn
duy trì những hành vi nguy cơ như sử dụng ma
túy (63,9%) và hay uống rượu bia (65,3%) Khi
thảo luận nhóm tại phòng OPC các bác sỹ phụ
trách đều cho biết bệnh nhân đang còn sử dụng
ma túy khi điều trị ARV “Bệnh nhân bỏ trị là
bệnh nhân tuân thủ điều trị kém, là người
ng-hiện chích ma túy, khó liên lạc với bệnh nhân
và gia đình” (Bác sỹ, nam giới 50 tuổi, lãnh
đạo phụ trách phòng OPC Bỉm Sơn)
Bản thân người bệnh còn chưa tin tưởng
tuyệt đối về thuốc điều trị ARV (62,5%) Ý kiến
của cán bộ dược, nữ 34 tuổi của OPC Mường
Lát “Bệnh nhân ít tuân thủ điều trị, thường
xuyên có hiện tượng thừa thuốc và thiếu thuốc,
một số bệnh nhân là nữ thường bi quan về sức khỏe của mình” Bệnh nhân bỏ trị còn có rào
cản là ngại gặp mọi người khi đến khám và nhận thuốc ở phòng OPC (65,3%) Người hỗ trợ bệnh nhân, nữ 38 tuổi ở Quan Hóa cho biết
“Việc đi lại tái khám và nhận thuốc vô cùng khó khăn vì nhà xa cơ sở điều trị Ngoài ra còn phải luôn luôn dấu mọi người tình trạng bệnh tật của mình sợ ảnh hưởng đến vợ con”
Đặc biệt, đã có đến 81% bệnh nhân bỏ trị được cán bộ phòng OPC tư vấn thường xuyên và nhận được sự hỗ trợ từ người hỗ trợ tại nhà Sự hỗ trợ từ y tế và người nhà là vô cùng có ý nghĩa qua
ý kiến của Bệnh nhân bỏ trị, nữ 33 tuổi ở Tĩnh Gia
“Mẹ luôn là người cho tôi tiền, trông nom con cho tôi, nhắc nhở tôi uống thuốc, tái khám Tôi sống tiếp được là nhờ có mẹ”
Hình 1 Nguyên nhân bỏ điều trị ARV của bệnh nhân AIDS
Trang 5Lý do chính khiến bệnh nhân AIDS bỏ trị
chiếm tỷ lệ cao nhất là đi làm ăn xa (39%), 25%
là do sợ mọi người biết bị bệnh kỳ thị, 18% là
do điều trị không hiệu quả (dừng để uống thuốc
khác) và còn lại 18% là lý do khác
3.2 Mô hình hồi quy logistic các yếu tố liên quan đến bỏ trị ARV
Bảng 4 Mô hình hồi quy logistic các yếu tố liên quan đến nguyên nhân bỏ trị do điều trị không hiệu quả
Trình độ học vấn: ≥ Trung học cơ sở 0,2 0,3 0,01-3,7
Tình trạng hôn nhân: Đang sống chung 0,03 0,01 0,002-0,5
Được tư vấn thường xuyên 1,4 0,7 0,2-11,2
Kiến thức tốt về ARV 2,9 0,26 0,4-19,7
Sử dụng mô hình hồi quy logistic tìm kiếm
các yếu tố liên quan đến nguyên nhân bỏ trị
ARV là do điều trị không hiệu quả Kết quả cho
thấy hai yếu tố là tình trạng hôn nhân và đi làm
ăn xa có liên quan đến nguyên nhân bỏ trị có ý
nghĩa thống kê p<0,05 Những người đang sống
chung với vợ/chồng thì nguy cơ bỏ trị ARV do điều trị không hiệu quả thấp hơn những người độc thân/góa/ly dị Tương tự những người không đi làm ăn xa thì nguy cơ bỏ trị ARV do điều trị ARV không hiệu quả thấp hơn so với những người đi làm ăn xa
Bảng 5 Mô hình hồi quy logistic các yếu tố ảnh hưởng đến nguyên nhân bỏ trị do sợ bị kỳ thị
Trình độ học vấn ≥ Trung học cơ sở 0,9 0,9 0,1-6,7
Tình trạng hôn nhân Đang sống chung vợ/chồng 2,6 0,2 0,5-13,5
Khoảng cách từ nhà đến OPC ≤ 10 km 8,4 0,01 1,5-47,3
Ngại mọi người khi ở OPC 17,5 0,02 1,5-20,2
Yếu tố chính tác động đến nguyên nhân bỏ
trị do sợ bị kỳ thị trong mô hình hồi quy này
phát hiện: những bệnh nhân bỏ trị ARV sống
cách phòng OPC dưới 10 km có nguy cơ gấp
8,4 lần bỏ trị do sợ bị kỳ thị so với những bệnh
nhân sống cách OPC trên 10 km Những bệnh nhân ngại mọi người biết mình nhiễm HIV khi đến phòng OPC để khám và lấy thuốc có nguy
cơ bỏ trị do sợ bị kỳ thị cao gấp 17,5 lần so với những bệnh nhân không ngại đến OPC
Trang 6IV BÀN LUẬN
Bệnh nhân AIDS bỏ trị ARV chủ yếu là nam
giới chiếm hơn 84%, đang sống chung với vợ/
chồng 41,7% Kết quả này cũng tương tự với
nghiên cứu của Hoàng Huy Phương ở Ninh
Bình và Lê Đình Vinh ở Đắc Lắc [4, 5] Nghiên
cứu này cũng cho thấy những người đang sống
chung với vợ/chồng thì nguy cơ bỏ trị ARV do
điều trị không hiệu quả thấp hơn những người
đang có tình trạng hôn nhân độc thân/góa/ly dị
Khoảng cách xa hay gần bệnh nhân AIDS
đến phòng OPC cũng là yếu tố tác động đến
nguyên nhân bỏ trị Hơn 35% bệnh nhân AIDS
sống cách phòng OPC 10 km Kết quả này cũng
tương đồng với nghiên cứu của Hoàng Huy
Phương ở Ninh Bình và ngược lại với kết quả
nghiên cứu của Nguyễn Văn Kính [4, 6] Trong
nghiên cứu này những bệnh nhân bỏ trị ARV
sống cách phòng OPC 10 km có nguy cơ bỏ trị
gấp 8,4 lần do sợ bị kỳ thị so với những bệnh
nhân sống cách OPC trên 10 km
Yếu tố sử dụng ma túy là cầu nối gián tiếp
ảnh hưởng đến bỏ trị ARV Trong nghiên cứu
này, 63,9% số bệnh nhân sử dụng ma túy trong
thời gian điều trị ARV Mặc dù yếu tố sử dụng
ma túy không có mối liên quan đến nguyên nhân
bỏ trị Tuy nhiên, trên thực tế bệnh nhân điều trị
ARV vẫn là người nghiện chích ma túy, việc
tiếp tục sử dụng ma túy trong khi điều trị ARV
có thể ảnh hưởng khiến họ sao nhãng việc uống
thuốc hay quên uống thuốc ARV nhiều hơn, từ
đó dẫn đến coi trọng việc chích hút hơn điều trị
ARV, bỏ trị xảy ra sau hệ quả này Cán bộ y tế và
người nhà bệnh nhân cần phải quan tâm, hỗ trợ,
tư vấn, giám sát tích cực hơn đối với những bệnh
nhân này, giúp họ vẫn thực hành tuân thủ điều trị
tốt mặc dù chưa từ bỏ hẳn được ma túy
Hỗ trợ từ người thân trong gia đình là động
lực quan trọng để bệnh nhân AIDS duy trì điều
trị chiến đấu với bệnh tật và hòa nhập với gia
đình, cộng đồng Trong nghiên cứu này, hơn
80% số bệnh nhân nhận được sự hỗ trợ, chủ
yếu là từ bố/mẹ hoặc vợ/chồng Tuy rằng, sự hỗ
trợ từ người thân không có mối liên quan đến
nguyên nhân bỏ trị, nhưng ở một số nghiên cứu
đã chỉ rõ bệnh nhân có sự hỗ trợ của người thân trong quá trình điều trị sẽ tuân thủ điều trị tốt hơn những người không được hỗ trợ điều trị, đặc biệt tỷ lệ bỏ trị rất thấp trong những bệnh nhân có người hỗ trợ điều trị tại nhà là vợ hoặc chồng [6]
Ngoài sự hỗ trợ của người thân trong gia đình, hỗ trợ từ cán bộ phòng OPC cũng đóng vai trò then chốt Hơn 80% bệnh nhân nhận được tư vấn thường xuyên từ cán bộ y tế Khi
sử dụng mô hình hồi quy, tỷ lệ người bệnh được
tư vấn thường xuyên có nguy cơ bỏ trị thấp hơn
so với người không được tư vấn thường xuyên
Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê, tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cũng ghi nhận việc bệnh nhân thường xuyên nhận được thông tin
từ cán bộ y tế sẽ giúp cho bệnh nhân cảm thấy được quan tâm, sống có ý nghĩa, sống lạc quan
và đặc biệt nhắc nhở bệnh nhân thực hành tuân thủ điều trị tốt hơn, hạn chế tỷ lệ bỏ trị
Mặc dù nghiên cứu còn có những hạn chế như không có nhiều tài liệu và các báo cáo
về bệnh nhân AIDS bỏ trị ARV, hoặc không điều tra đối chứng trên những bệnh nhân vẫn đang điều trị ARV ở các phòng khám ngoại trú OPC để tìm ra mối liên quan rõ ràng hơn về nguyên nhân bỏ trị Nhưng kết quả của nghiên cứu này cũng gợi ý rằng để hạn chế tỷ lệ bệnh nhân AIDS bỏ trị ARV, cần tăng cường giám sát, chỉ đạo chuyên môn, nâng cao chất lượng truyền thông, tư vấn, điều trị và quản lý bệnh nhân AIDS tại các phòng OPC và địa phương
có người nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV; Duy trì hệ thống nhân viên tiếp cận cộng đồng
để tăng cường kết nối dịch vụ giữa chương trình
và bệnh nhân AIDS điều trị ARV; Tăng cường vai trò của người hỗ trợ tại nhà trong việc phối hợp xây dựng kế hoạch điều trị ARV phù hợp cho bệnh nhân (đặc biệt bệnh nhân có hành vi
sử dụng ma túy, đi làm xa nhà, sống độc thân,
có thái độ tự kỳ thị/ sợ kỳ thị do nhiễm HIV)
V KẾT LUẬN
Bệnh nhân AIDS bỏ trị ARV ở các phòng OPC là do bệnh nhân có khó khăn về tài chính
Trang 7(91,6%), không có việc làm ổn định (88%),
đang sử dụng ma túy (63,9%) và đi làm ăn xa
(55,5%) khi đang điều trị ARV Chỉ có 50% bệnh
nhân AIDS bỏ trị hiểu đúng về tuân thủ điều trị
ARV Lý do chính khiến bệnh nhân AIDS bỏ trị
là 18% do điều trị không hiệu quả; 25% bỏ trị
vì sợ mọi người kỳ thị và 38,9% bỏ trị vì đi làm
ăn xa Yếu tố liên quan đến bỏ trị ARV do điều
trị không hiệu quả là tình trạng hôn nhân và đi
làm ăn xa (p<0,05); Yếu tố liên quan đến bỏ trị
ARV do sợ bị kỳ thị là khoảng cách đến phòng
OPC và ngại mọi người biết mình nhiễm HIV/
AIDS (p<0,05) Cần tăng cường hơn nữa công
tác truyền thông, tư vấn, tiếp cận quản lý người
nhiễm HIV/AIDS để hạn chế tỷ lệ bệnh nhân
AIDS bỏ trị ARV
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 WHO Meeting report on assessment of WHO HIV drug resistance early warning indicators 2011.
2 Cục phòng chống HIV/AIDS Mô hình thí điểm Tiếp cận điều trị 2.0 tại Việt Nam (Ban hành kèm theo Quyết định số 1039/QĐ-BYT ngày 03/4/2012)
Hà Nội, 2012.
3 Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS Thanh Hoá Báo cáo tình hình nhiễm HIV/AIDS 27 huyện, thị tỉnh Thanh Hoá năm 2012 2012.
4 Hoàng Huy Phương Đánh giá sự tuân thủ điều trị
và một số kết quả điều trị ARV ở bệnh nhân HIV/ AIDS tại các phòng khám ngoại trú tỉnh Ninh Bình năm 2012 2012.
5 Lê Đình Vinh, Chu Đức Thảo và Nguyễn Đình Tuấn Thực trạng điều trị kháng retrovirus cho người nhiễm HIV/AIDS tại tỉnh Đắc Lắc trong 3 năm 2007-2009, Hội nghị khoa học quốc gia về HIV/ AIDS lần thứ IV năm 2010, Bộ y tế Hà Nội, 2010.
6 Nguyễn Văn Kính Đánh giá tuân thủ và hiệu quả điều trị bằng thuốc kháng virus (ARV) Hà Nội, 2009.
SITUATION AND RELATED FACTORS TO AIDS PATIENTS WHO DROPPED OUT OF ARV TREATMENT AT OUT-PATIENT CLINICS IN THANH HOA
PROVINCE FROM 2012 TO 2013
Le Truong Son 1 , Tran Van Son 2 , Nguyen Ba Can 1 , Nguyen Van Hung 2 ,
Nguyen Dang Tung 1 , Vu Dinh Nam 1 , Pham Hoang Anh 1
1 Thanh Hoa provincial AIDS centre
2 Vietnam Administration of HIV/AIDS control.
A cross-sectional study conducted on 72
AIDS patients dropped out of
antiretrovi-ral treatment (ARV) at 08 out-patient clinics
(OPC) in Thanh Hoa province, 2012-2013 in
order to examine situation of ARV dropped out
– AIDS patients The results showed that 84.7%
of ARV dropped out – AIDS patients was male,
66.6% under level of lower high school’s
edu-cation, needy finance was 91.6%, unstable job
was 88.9% and still using drug during ARV
treatment was 63.9% The patients usually
forgot taking ARV medicine was 63.7%, upper
50% appeared side-effect of ARV and 50% of
patients did not fully understanding about ARV
treatment There were three main reasons for
patients dropped out of ARV treatment, those
were work away from home (38,9%), fear of
being discrimination (25%) and 18% - uneffec-tive treatment (stopped taking ARV as to treat another diseases) The results of the multivari-ate logistic regression model showed that fac-tors related to ARV dropped out due to ARV uneffective treatment were marital status and work away from home (p<0,05); factors related
to ARV dropped out due to fear of being dis-crimination were distance from house to OPC and fear of disclosure to HIV identity (p<0,05) HIV/AIDS care and treatment program should
be more strengthened on communication, con-sulting, accessing and managing patients living with HIV/AIDS
Keywords: ARV treatment, drop out of
ARV, out-patient clinic