Nhằm giải đáp cho những quan ngại về những tác động do cơ chế mới gây ra như người bệnh bỏ trị, sử dụng đồng thời ma túy hay không hài lòng với dịch vụ, chúng tôi đã thực hiện một ng[r]
Trang 1ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG
CỦA VIỆC CHUYỂN ĐỔI
TỪ MÔ HÌNH DỊCH VỤ MIỄN PHÍ
SANG MÔ HÌNH XÃ HỘI HOÁ
TRONG CHƯƠNG TRÌNH ĐIỀU TRỊ NGHIỆN
CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG METHADONE
USAID SMART TA Báo cáo Kỹ thuật Hải Phòng, Việt Nam, 2013 - 2014
NHÓM NGHIÊN CỨU
TS Nguyễn Tố Như
Nghiên cứu viên chính
Ts Nguyễn Bình Nguyên
BS Phạm Lê Huy Ths Vương Thị Anh Thu Ths Nguyễn Quỳnh Hương
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone (gọi tắt là chương trình methadone) được bắt đầu triển khai tại Việt Nam từ năm 2008, cung cấp dịch vụ điều trị thay thế tự nguyện cho người bệnh ngoại trú Từ những thành công thu được của chương trình trong những năm qua, trong bối cảnh nguồn tài trợ nước ngoài đang giảm dần, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra các chiến lược nhằm đảm bảo nguồn tài chính bền vững cho chương trình Một trong số đó là việc chuyển đổi từ mô hình dịch vụ điều trị miễn phí sang mô hình xã hội hóa, trong đó Nhà nước và người bệnh đồng chi trả cho chi phí hoạt động thường xuyên Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng là tỉnh tiên phong đã ban hành Quyết định số2574/ QĐ-UBND về việc quy định tạm thời mức giá dịch vụ điều trị nghiện tại các
cơ sở điều trị methadone công lập thuộc Hải Phòng là 10.000đ/người bệnh/ ngày (tương đương khoảng 0.49 Đô la Mỹ), có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 với mức hỗ trợ 80% cho một số đối tượng chính sách
Nhằm giải đáp cho những quan ngại về những tác động do cơ chế mới gây ra như người bệnh
bỏ trị, sử dụng đồng thời ma túy hay không hài lòng với dịch vụ, chúng tôi đã thực hiện một nghiên cứu định tính và định lượng tại 09
cơ sở điều trị (CSĐT) tại Hải Phòng
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp tổng hợp, bao gồm phân tích xu hướng theo thời gian, điều tra cắt ngang lặp lại, thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu Tỷ lệ người bệnh methadone tham gia 05 vòng điều tra cắt ngang đạt 82% (cỡ mẫu = 2.102) Thảo luận nhóm được thực hiện với các nhân viên của CSĐT methadone và phỏng vấn sâu các đối tượng là người bệnh methadone tự nguyện ra khỏi chương trình
3 USAID SMART TA Báo cáo Kỹ thuật
Trang 4KẾT QUẢ
NGỪNG ĐIỀU TRỊ VÀ BỎ LIỀU
Mặc dù tỷ lệ bỏ trị trung bình hàng tháng có sự khác biệt mang tính thống kê giữa hai năm 2013 và 2014, tỷ lệ bỏ trị tăng lên chỉ là 0.3% và trong phạm vi hạn chế của nghiên cứu này không thể xác định nguyên nhân bỏ trị có phải hoàn toàn là do việc thu phí điều trị hay không Tỷ lệ người bệnh bỏ trị ở cả
9 CSĐT năm 2014 chỉ là 2% cho thấy tác động của mô hình xã hội hóa lên việc bỏ trị của người bệnh là rất nhỏ, không đáng kể
“Cái số bệnh nhân mà mình biết là không có tiền xong rồi bỏ có khoảng 3-4 trường hợp
gì đấy Bỏ hẳn luôn không quay lại Trước khi người ta bỏ, nợ vài tháng rồi bỏ luôn Tất nhiên
là không phải vì là mình không cho họ uống nhưng do đến họ ngại, họ xấu hổ rồi họ cảm thấy không thể đóng được nữa thì họ thôi.”
(Tư vấn viên, Q1)
Việc thu phí cũng có tác động lên số lượng bỏ liều Người bệnh sẽ bỏ liều khi họ không có tiền để nộp mặc dù với
cơ chế xã hội hóa mới này thì không có tình trạng người bệnh từ chối điều trị
“Theo báo cáo thì càng ngày tỷ lệ bỏ càng nhiều hơn.”
(Tư vấn viên, Q5)
“Mình không thể đuổi bệnh nhân đi được nhưng bệnh nhân ở đây thì em thấy là họ thường tự giác Nếu không có tiền đóng phí điều trị thì họ tự họ nghỉ.”
(Điều dưỡng, Q4)
Mô hình xã hội hóa không có tác động đáng kể hay có ý nghĩa thống kê lên tình trạng sử dụng ma túy
Trang 5MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI BỆNH
Để đánh giá những thay đổi trong mức độ hài lòng của
người bệnh sau khi bắt đầu triển khai việc thu phí, các cuộc
khảo sát ý kiến của người bệnh được thực hiện hàng quý
trong vòng một năm với tổng số là 05 cuộc khảo sát Dựa
trên kết quả từ 82% tỷ lệ người bệnh tham gia khảo sát trên
tổng số 2.012 người bệnh methadone tại 09 CSĐT, mức độ
hài lòng đối với các khâu của dịch vụ bước đầu giảm ngay
sau khi việc thu phí được áp dụng, nhưng sau đó lại trở
về mức cũ trong suốt quá trình thu thập ý kiến khảo sát.
Một số thay đổi khác là thái độ của người bệnh đối với
nhân viên CSĐT, người bệnh dễ bị kích động, có thái độ
tiêu cực
“ Có một số vấn đề ví dụ như là thái
độ giữa bệnh nhân và phòng khám thì
có sự thay đổi bởi vì rằng là trước thì
mình miễn phí hoàn toàn thì nói chung
mối quan hệ không có vấn đề gì cả,
nhưng sau này khi bắt đầu đóng tiền
thì mình phải nhắc nhở bệnh nhân
Nhắc nhiều thì bệnh nhân sẽ cảm thấy
khó chịu, khó chịu thì anh biết tính chất
bệnh nhân ở đây người ta rất là bốc
đồng ấy, người ta có thể quay ra chửi
bới, đe dọa ngay ”
(Điều dưỡng, Q2)
“Khi bọn em cho bệnh nhân nghỉ vì
không đóng tiền thì nhiều bệnh nhân đe
dọa, sửng cồ lên”
(Nhân viên hành chính, H3)
Cơ sở điều trị Tỷ lệ tham gia trung bình của 5 khảo sát (n=2102)
An Dương 77%
Dương Kinh 84%
Hồng Bàng 80%
Ngô Quyền 80%
Thủy Nguyên 67%
5 USAID SMART TA Báo cáo Kỹ thuật
Trang 6BIỂU ĐỒ 1
Tỷ lệ% người bệnh chưa hài lòng với các khâu dịch vụ tại 09 CSĐT Methadone tại Hải Phòng, dựa trên kết quả của 05 khảo sát từ tháng 02/2014 đến 02/2015.
Khám Bệnh Tiếp đón-Hành chính
Tư vấn Phát thuốc
Bảo vệ
Vệ sinh
Đợt 1 (2/2014) (5/2014) Đợt 2 (8/2014) Đợt 3 (11/2014) Đợt 4 (2/2015) Đợt 5
12 10 8 6 4 2 0
Mặc dù gặp nhiều khó khăn và còn nhiều hạn chế, nhân viên CSĐT nhận thấy rằng việc thu một phần phí điều trị giúp cải thiện thu nhập và điều kiện làm việc cho nhân viên, từ đó giúp nâng cao chất lượng dịch vụ
“Nếu mà để được lâu dài chắc chắn vấn đề xã hội hóa bắt buộc phải làm Vì nếu bệnh nhân đã mong muốn xác định điều trị lâu dài phải tham gia một phần nào đó vào phí điều trị đúng không ạ”
(Trưởng phòng khám, H4)
MỨC ĐỘ SẴN SÀNG CHI TRẢ
Một khi người bệnh đã hiểu lý do của việc chuyển đổi sang cơ chế xã hội hóa,
đa số người bệnh sẵn sàng trả 10.000 đồng/liều (tương đương khoảng 0.49
Đô la Mỹ) Khoảng 77% lựa chọn thu phí hàng tháng, đối lập với tần suất thu
phí theo quý như đề xuất hiện nay Ba phần tư số người bệnh bày tỏ ít nhiều khó khăn trong việc trả phí, cho rằng khoảng cách giữa các lần nộp phí ngắn hơn sẽ thuận tiện hơn cho họ để thu xếp vấn đề tài chính 30% người bệnh cho biết việc thu phí gây khó khăn đáng kể mặc dù họ vẫn sẵn sàng chi trả
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu được thực hiện với sự hỗ trợ của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tại Việt Nam thông qua thỏa thuận dự án sốAID-486-A-11-00011 “Sustainable Management of the HIV/AIDS Response and Transition to Technical Assistance” (SMART TA) Nhóm nghiên cứu gồm TS Nguyễn Tố Như – nghiên cứu viên chính, Ts Nguyễn Bình Nguyên,
BS Phạm Lê Huy, Ths Vương Thị Anh Thu, Ths Nguyễn Quỳnh Hương Xin chân thành cảm ơn Cục Phòng, chống HIV/AIDS, Bộ Y tế - Phòng Can thiệp Giảm tác hại , nhóm kỹ thuật của USAID, nhóm kỹ thuật điều trị methadone của PEPFAR tại Việt Nam, Sở Y tế thành phố Hải Phòng, Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS thành phố Hải Phòng, 09 CSĐT methadone tại Hải Phòng và người bệnh tại các cơ sở đã tham gia vào nghiên cứu này
Báo cáo được thực hiện bằng nguồn kinh phí tài trợ từ Nhân dân Mỹ thông qua Cơ quan Phát triển Quốc tê Hoa Kỳ(USAID) Nội dung của báo cáo này do FHI 360 hoàn toàn chịu trách nhiệm và không nhất thiết phản ánh quan điểm của USAID hay Chính phủ Hoa Kỳ.
Mọi thắc mắc xin liên hệ
TS BS Nguyễn Tố Như
Phó Trưởng Đại diện, FHI 360 Việt Nam
tonhu@fhi360.org
KẾT LUẬN
Sau khi chuyển đổi sang mô hình xã hội hóa, tỷ lệ bỏ trị và bỏ liều có sự thay
đổi nhỏ, tuy nhiên chưa đủ căn cứ để xác định liệu đây có phải là do tác động
trực tiếp của việc thu phí hay không Mức độ hài lòng của người bệnh đối với
dịch vụ có sự thay đổi, mặc dù tình trạng người bệnh không hài lòng giảm
xuống khi họ bắt đầu quen với cơ chế mới Nhìn chung, người bệnh sẵn sàng
chi trả cho điều trị methadone, và việc thu phí điều trị không tác động lớn
đến hệ thống dịch vụ điều trị methadone
KIẾN NGHỊ
1 Lên lịch thu phí hàng tháng, giải thích rõ ràng lý do thay đổi lịch thu phí
để tránh những hiểu lầm không đáng có khi thực hiện thu phí
2 Bổ sung vị trí kế toán chịu trách nhiệm thu phí để giảm gánh nặng cho
nhân viên phòng khám trong thời gian thu phí
3 Với 30% người bệnh gặp khó khăn trong chi trả phí điều trị methadone,
cần cân nhắc mở rộng phạm vi đối tượng được hưởng chính sách hỗ
trợ hoặc đơn giản hóa quy trình, thủ tục nộp hồ sơ xác nhận đối tượng
chính sách
4 Xây dựng quy chế hoặc quy trình xử lý đối với các trường hợp không
nộp phí Hiện nay CSĐT lúng túng trong việc quyết định tiếp tục cung
cấp điều trị hay ngừng điều trị với các trường hợp này, dẫn đến việc bỏ
trị không đáng có của người bệnh
7 USAID SMART TA Báo cáo Kỹ thuật