1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại TP. Tân An, Long An năm 2015

6 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tiến hành tại Cơ sở điều trị Methadone số 1 thuộc Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Long An vào năm 2015 nhằm mô tả một số kết quả điều trị Methadone đối với bệnh nhân ngh[r]

Trang 1

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG THUỐC METHADONE TẠI THÀNH PHỐ TÂN AN,

TỈNH LONG AN NĂM 2015

Nguyễn Thanh Sơn *, Nguyễn Thanh Hương, Nguyễn Ngọc Linh

Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Long An

TÓM TẮT

Nghiên cứu tiến hành tại Cơ sở điều trị Methadone số 1 thuộc Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Long

An vào năm 2015 nhằm mô tả một số kết quả điều trị Methadone đối với bệnh nhân nghiện Heroin (BN) và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng Đây là nghiên cứu cắt ngang, áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng qua hồi cứu 100 bệnh án của BN đã điều trị trên 6 tháng và phương pháp định tính qua 6 cuộc thảo luận nhóm với

36 đối tượng (6 cán bộ y tế, 30 BN và người hỗ trợ) Kiểm định T ghép cặp và McNemar được dùng để xử lý

số liệu định lượng và dữ liệu định tính được gỡ băng, mã hóa theo chủ đề Sau 6 tháng điều trị, tỷ lệ bệnh nhân

sử dụng Heroin giảm xuống còn 32% Tuy nhiên có 10,4% BN sử dụng Methamphetamine;bệnh nhân tăng cân trung bình 3,4 kg sau 12 tháng điều trị, tỷ lệ BN không còn nguy cơ trầm cảm là 67,9% Sau 1 năm điều trị, không phát hiện trường hợp nhiễm HIV mới Nghiên cứu cho thấy sự quan tâm, giám sát của gia đình có tác động tích cực đến tuân thủ điều trị của bệnh nhân Cần tăng cường trách nhiệm gia đình trong hỗ trợ bệnh nhân

và điều chỉnh giờ uống thuốc phù hợp để góp phần đạt kết quả điều trị tốt hơn.

Từ khóa: Điều trị Methadone, Heroin, Methamphetamine

Tác giả* : Nguyễn Thanh Sơn

Địa chỉ: Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Long An

Điện thoại: 01267301456

Ngày nhận bài: 24/07/2015 Ngày phản biện: 9/10/2015 Ngày đăng bài: 10/11/2015

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Chương trình điều trị thay thế nghiện các

chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế

Methadone đã được triển khai ở nhiều quốc gia

như Úc, Hoa Kỳ, Hà Lan, Ấn Độ, Thái Lan,

Trung Quốc Đây là chương trình điều trị lâu

dài, có kiểm soát, giá thành rẻ, được sử dụng

theo đường uống nên giúp cho BN nghiện

Her-oin phòng lây nhiễm các bệnh lây truyền qua

đường máu như HIV, viêm gan B, C, đồng thời

giúp BN phục hồi chức năng tâm lý và hoà nhập

cộng đồng [1] Tại Việt Nam, chương trình triển

khai thí điểm vào tháng 4/2008 tại thành phố

Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh Tại

Long An, cơ sở đầu tiên được triển khai tại

Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS vào tháng

10/2013, đến cuối tháng 6/2015 cơ sở đang điều

trị cho 184 BN

Mặc dù trên thế giới và Việt Nam đã có các

nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị

Metha-done, tuy nhiên để có những bằng chứng khoa học nhằm cải thiện chất lượng phục vụ BN và qua đó vận động chính sách trong việc mở rộng

độ bao phủ chương trình, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu mô tả một số kết quả điều trị Methadone và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng kết quả điều trị của BN

II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang có phân tích kết hợp phương pháp định lượng qua hồi cứu hồ sơ bệnh án, phiếu đánh giá BN để mô tả một số kết quả điều trị Methadone và phương pháp nghiên cứu định tính để xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị

2.2 Đối tượng nghiên cứu và chọn mẫu

Đối tượng nghiên cứu định lượng gồm toàn

Trang 2

bộ 100 BN đang trong giai đoạn điều trị liều

duy trì, được đánh giá kết quả sau 6 tháng và

12 tháng điều trị, số BN này điều trị từ tháng

10/2013 đến tháng 7/2015 và chiếm tỷ lệ

54,3%

Đối tượng nghiên cứu định tính được chọn

chủ đích nhưng đảm bảo đa dạng về khoảng

cách đến cơ sở điều trị, tuổi, thời gian điều trị…

gồm 18 BN đang điều trị, 12 người hỗ trợ BN

và toàn bộ 6 cán bộ y tế của cơ sở điều trị

2.3 Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu định lượng được thu thập qua sử

dụng biểu mẫu được thiết kế sẵn để tổng hợp

thông tin từ hồ sơ bệnh án về thông tin chung

của BN, tình trạng sức khỏe, cân nặng và kết

quả xét nghiệm HIV, Heroin trước, sau điều trị

Methadone Dữ liệu định tính thu thập qua thực

hiện 6 cuộc thảo luận nhóm có ghi âm và ghi

chép để thu thập thông tin về các yếu tố ảnh

hưởng đến sự tuân thủ và kết quả điều trị của

BN

2.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Số liệu định lượng được nhập bằng phần

mềm Epidata 3.1 và xử lý bằng phần mềm

SPSS 19.0; sử dụng thống kê mô tả và kiểm

định T ghép cặp, kiểm định McNemar khi cỡ

mẫu cho phép Số liệu định tính được gỡ băng,

mã hóa theo chủ đề và trích dẫn nội dung thảo

luận nhóm theo mục tiêu nghiên cứu

2.5 Vấn đề đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu được sự cho phép của Hội đồng

đạo đức Trường Đại học Y tế công cộng, Sở Y

tế và Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Long

An và tiến hành dựa trên nguyên tắc tự nguyện, người tham gia nghiên cứu được giải thích về mục đích nghiên cứu và thông tin thu thập tuyệt đối được bảo mật chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu

III KẾT QUẢ 3.1 Một số thông tin chung của bệnh nhân

100% đối tượng nghiên cứu là nam, độ tuổi trung bình là 29,5 (±6,3), độ tuổi trung bình sử dụng ma túy lần đầu là 19,9 (±4,6), tuổi tiêm chích ma túy lần đầu là 20,1 (±5,0); 100% BN

đã sử dụng Heroin trong 1 tháng trước khi điều trị Methadone với tần suất trung bình 3 lần/ ngày; 16,7% BN sử dụng chung bơm kim tiêm

và 4,0% BN sử dụng thêm Methamphetamine (ma túy đá); 76,0% BN đã từng đi cai nghiện ít nhất 1 lần trong đó có 17,0% ít nhất 3 lần, tỷ lệ

BN thất nghiệp là 43,0%

3.2 Kết quả điều trị Methadone

3.2.1 Tình hình sử dụng chất gây nghiện

Trước điều trị Methadone, 100% BN xét nghiệm Heroin dương tính, sau 6 tháng điều trị chỉ còn 32% và sau 12 tháng điều trị giảm xuống còn 16,7% Trước điều trị, 16,7% BN

sử dụng chung bơm kim, sau 6 tháng điều trị không phát hiện BN sử dụng chung bơm kim tiêm Tỷ lệ BN sử dụng ma túy đá sau 6 tháng điều trị đã tăng lên 10,4% (p<0,05) (Bảng 1)

Bảng 1 Tình hình sử dụng Methamphetamine trước và sau 6 tháng điều trị

Sử dụng Methamphetamine (ma túy đá) Sau 6 tháng điều trị Tổng

Có sử dụng Không sử dụng

Trước điều trị Có sử dụng 3 (75,0%) 1 (25,0%) 4 (100,0%)

Không sử dụng 10 (10,4%) 86 (89,6%) 96 (100,0%)

Kiểm định McNemar với p<0,05

Trang 3

3.2.2 Tình trạng sức khỏe

Cân nặng: Sau 6 tháng điều trị, cân nặng

trung bình của BN tăng lên gần 2 kg (từ 56,5 kg

lên 58,4 kg với p<0,001) Đối với BN điều trị

từ 12 tháng trở lên, cân nặng trung bình tăng 3,4

kg (từ 57,7 kg trước điều trị tăng lên 61,1 kg sau

12 tháng với p<0,001)

Nhiễm HIV: Trước điều trị Methadone có

13/100 BN đã nhiễm HIV chiếm tỷ lệ 13%, sau

12 tháng điều trị không phát hiện trường hợp

nhiễm HIV mới

Nguy cơ trầm cảm: 67,9% BN có nguy cơ trước điều trị đã không còn nguy cơ sau 6 tháng điều trị Tỷ lệ BN có nguy cơ sau 6 tháng điều trị thấp hơn trước điều trị (p<0,001), 60% BN có nguy cơ sau 6 tháng điều trị đã không còn nguy

cơ sau 12 tháng điều trị Tỷ lệ BN có nguy cơ sau

12 tháng thấp hơn sau 6 tháng điều trị (p<0,05)

3.2.3 Tình trạng việc làm của BN

Nghiên cứu cho thấy có 23,3% BN thất nghiệp trước điều trị đã tìm được việc làm sau

6 tháng điều trị (p<0,05) (Bảng 2)

Bảng 2 Tình trạng việc làm của BN trước và sau 6 tháng điều trị

Có việc làm Thất nghiệp

Trước điều trị Có việc làm 56 (98,2%) 1 (1,8%) 57 (100%)

Thất nghiệp 10 (23,3%) 33 (76,7%) 43 (100%)

Kiểm định McNemar với p<0,05

3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả điều trị

Methadone

3.3.1 Các yếu tố từ bệnh nhân

3.3.1.1 Mối quan hệ của bệnh nhân với

người nghiện ma túy

Bệnh nhân sẽ không tuân thủ điều trị tốt nếu

thường xuyên tiếp xúc với người nghiện ma túy

“Hồi mới uống thuốc ngày nào tôi cũng đi

theo nên nó ngoan dữ lắm, sau này để tự mình

nó đi, uống xong ngồi quán cà phê nên bị tụi nó

khích bác, lôi kéo rồi rủ đi chỗ khác chơi tiếp

bỏ uống thuốc luôn.” (Thảo luận nhóm người

hỗ trợ BN 1, nữ 47 tuổi)

“Đừng có nên thả lỏng nó, mình phải sát sao

thì nó điều trị mới có kết quả, mình mà bỏ lỏng

nó thì nó cặp bè, cặp bạn chơi lại liền” (Thảo

luận nhóm người hỗ trợ BN 1, nữ 58 tuổi)

3.3.1.2 Khoảng cách từ nhà đến cơ sở điều

trị Methadone

Khoảng cách từ nhà đến cơ sở điều trị là một

yếu tố quan trọng có tác động đến kết quả điều trị của BN

“Tôi thấy ở huyện thì uống ở huyện cho gần, lên đây xa quá nên ngày nào không tiền

đổ xăng thì tụi nó nghỉ uống” (Thảo luận nhóm

BN 1, BN 27 tuổi)

“Ở dưới huyện chưa có chỗ uống nên tụi nó

lên đây gặp bạn bè rủ đi chơi tiếp, rủ riết rồi cũng chơi nữa thôi, cái đó thì còn nhiều lắm”

(Thảo luận nhóm BN 3, BN 26 tuổi)

3.3.2 Các yếu tố từ gia đình và bạn bè

3.3.2.1 Yếu tố tâm lý của gia đình có người nghiện ma túy

Tâm lý che giấu về người thân nghiện ma túy có thể ảnh hưởng tiêu cực đến quyết định đăng ký điều trị và sự tuân thủ uống thuốc của BN

“Nó bị nghiện ở thành phố (Thành phố

Hồ Chí Minh) không ai biết, giờ về đây lên xã chứng giấy này nọ thì họ sẽ biết nhà mình có người nghiện thì căng quá nên phải tính mãi

Trang 4

mới đi đăng ký” (Thảo luận nhóm người hỗ trợ

BN 1, nam 61 tuổi)

“Có người gặp và nói với con tôi “ Ê bữa

nay con vô đây uống thuốc hả” rồi đồn đại làm

ảnh hưởng tới nó nên nó bỏ uống thuốc” (Thảo

luận nhóm người hỗ trợ BN 2, nữ 45 tuổi)

3.3.2.2 Sự quan tâm hỗ trợ của gia đình đối

với bệnh nhân

Sự quan tâm hỗ trợ của gia đình có tác động

tích cực đến sự tuân thủ điều trị của BN

“Điều trị được 3 tháng, tưởng nó đã ổn định

nên tôi mới đi mần, ai ngờ là nó bỏ điều trị

liền Giờ phải theo dõi hàng ngày nó mới uống

thuốc đầy đủ” (Thảo luận nhóm người hỗ trợ

BN 2, nữ 55 tuổi)

“Nếu gia đình thờ ơ bỏ mặc thì BN sẽ không

tuân thủ điều trị nên bị hội chứng cai tức khắc

sẽ sử dụng lại Heroin” (Thảo luận nhóm cán

bộ y tế)

3.3 Các yếu tố từ phía cung cấp dịch vụ điều

trị Methadone

Thời gian uống thuốc trong ngày

Giờ giấc uống thuốc theo giờ quy định là

không phù hợp với BN đã có việc làm, điều này

sẽ ảnh hưởng đến sự tuân thủ điều trị của họ

“Tôi đi làm từ sáng tới chiều, chỉ có cách

uống trước 7 giờ rồi chạy vô xí nghiệp thay ca,

vô trễ hoài thì không được nên đành bỏ uống”

(Thảo luận nhóm BN 1, BN 26 tuổi)

“Chồng tôi đi làm không có đúng giờ đúng

giấc người ta không chịu nhận, 7 giờ là vô làm

rồi, còn ảnh thì 7 giờ mới được uống thuốc”

(Thảo luận nhóm người hỗ trợ BN 1, nữ 28

tuổi)

IV BÀN LUẬN

4.1 Kết quả điều trị Methadone

4.1.1 Tình hình sử dụng chất gây nghiện

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ BN xét

nghiệm Heroin dương tính giảm còn 32% sau 6 tháng điều trị và 16,7% sau 12 tháng, thấp hơn 6% so với nghiên cứu của Nguyễn Văn Hải ở Hải Dương (2014) với tỷ lệ là 38% sau 6 tháng điều trị [3] Theo số liệu thống kê năm 2014 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, có 90% BN cai nghiện tập trung bị tái nghiện, điều này cho thấy điều trị Methadone có ưu điểm hơn Nghiên cứu không phát hiện BN trong quá trình điều trị còn dùng chung BKT Kết quả này tương tự nghiên cứu của Hoàng Bình Yên và cộng sự tiến hành tại Thanh Hóa vào năm 2013 [6] Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm nguy cơ lây nhiễm các bệnh qua đường máu, nhất là HIV

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có 10,4%

BN đã bắt đầu sử dụng ma túy đá sau 6 tháng điều trị (p<0,05), cao hơn 2,8% so với số liệu năm 2014 tại 8 cơ sở điều trị Methadone của

Ủy ban Phòng, chống AIDS thành phố Hồ Chí Minh (7,6%) Nguyên nhân có thể do điều trị Methadone, BN sử dụng Heroin không còn gây cảm giác hưng phấn nên sử dụng ma túy đá để đạt được khoái cảm Điều này phù hợp với ng-hiên cứu của Schwann Shariatirad trên BN điều trị Methadone tại Iran năm 2012 [8] Đây là hạn chế của điều trị Methadone, cần tiếp tục nghiên cứu những giải pháp để cải thiện tác động tiêu cực này

4.1.2 Tình trạng sức khỏe

Cân nặng trung bình của BN tăng 3,4 kg sau

12 tháng điều trị (p<0,001) thấp hơn 0,3 kg so với nghiên cứu của Phạm Thị Đào ở Đà Nẵng năm 2013 (tăng 3,7 kg) [2] và 0,6 kg so với nghiên cứu Nguyễn Văn Hải ở Hải Dương năm

2014 (tăng 4 kg) [3] Hầu hết, các nghiên cứu cho thấy điều trị Methadone giúp BN cải thiện

về ăn uống và giấc ngủ nên dẫn đến cải thiện

về cân nặng, điều này góp phần nâng cao sức khỏe BN

Sau 12 tháng điều trị, nghiên cứu không phát hiện trường hợp nhiễm HIV mới, tương

tự nghiên cứu của Phạm Thị Đào ở Đà Nẵng và Hoàng Bình Yên ở Thanh Hóa cùng tiến hành năm 2013 [2, 6] Kết quả này đã đáp ứng mục tiêu quan trọng của chương trình điều trị

Trang 5

Methadone là giảm tỷ lệ nhiễm mới HIV đối

với người nghiện chích ma túy

Về sức khỏe tâm thần, kết quả nghiên cứu

cho thấy có 67,9% BN có nguy cơ trầm cảm

trước điều trị đã không còn nguy cơ sau 6 tháng

điều trị (p<0,001) Nghiên cứu của Nghiêm Lê

Phương Hoa ở Hà Nội năm 2010 cũng cho kết

quả gần tương tự khi có đến 78,9% BN có nguy

cơ trước điều trị đã không còn nguy cơ sau 3

tháng điều trị [4]

4.1.3 Tình trạng việc làm

Nghiên cứu cho thấy có 23,3% BN thất

nghiệp sau 6 tháng điều trị đã tìm được việc làm

(p<0,05), kết quả này thấp hơn nghiên cứu của

Nghiêm Lê Phương Hoa tại Hà Nội năm 2010

là 52,2% và của Phạm Thị Đào tiến hành tại Đà

Nẵng năm 2010 là 45,8% [2, 4] Nguyên nhân

là do đa phần BN có trình độ học vấn thấp, dưới

trung học phổ thông 60% Ngoài ra, thời gian

nghiện quá dài dẫn đến tình trạng sức khỏe kém

hoặc có thể BN đã có tiền án nên gặp khó khăn

khi tìm việc làm Đây là hạn chế của BN nghiện

ma túy, vì vậy cần nghiên cứu về nhu cầu xã hội

và khả năng đáp ứng của BN, trên cơ sở đó thiết

kế một chương trình hỗ trợ việc làm phù hợp

mới có thể cải thiện được thực trạng này

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả điều trị

Methadone

4.2.1 Các yếu tố từ bệnh nhân

Nghiên cứu cho thấy, khoảng cách đến cơ sở

điều trị quá xa sẽ ảnh hưởng đến kết quả điều

trị của BN Nghiên cứu của Vũ Việt Hưng tiến

hành năm 2010 ở Hà Nội cũng đưa ra kết quả

tương tự [5] Đây là hạn chế trong sự đáp ứng

nhu cầu của BN trong bối cảnh thiếu hụt nhân

lực hiện nay Vì vậy, Bộ Y tế cần sớm ban hành

hướng dẫn triển khai điểm cấp phát thuốc tại y

tế tuyến cơ sở, có như thế BN sẽ dễ dàng tiếp

cận điều trị Methadone

4.2.2 Các yếu tố từ gia đình và bạn bè

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rào cản tâm

lý của gia đình BN khi có mối liên quan đến

người nghiện ma túy và sự lo ngại khi làm thủ

tục xác nhận đơn điều trị Methadone BN sẽ bị chính quyền địa phương đưa đi cai nghiện tập trung Nghiên cứu của tác giả Vũ Việt Hưng ở

Hà Nội vào năm 2010 cũng đưa ra những nhận định tương tự [5] Như vậy, những rào cản về tâm lý sẽ làm hạn chế sự tiếp cận điều trị Meth-adone của BN

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự quan tâm của gia đình có tác động tích cực đối với sự tuân thủ điều trị của BN và sự tiếp xúc của BN với người TCMT ngoài cộng đồng sẽ thúc đẩy

BN tiếp tục sử dụng Heroin, tương tự kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hải ở Hải Dương năm 2014 [3] Như vậy, ngay từ khi đăng ký điều trị cần giải thích rõ chính gia đình đóng vai trò quyết định và cần phải có biện pháp thích hợp quản lý BN tránh tiếp xúc với người ng-hiện ngoài cộng đồng để giúp BN tuân thủ điều trị tốt

4.2.3 Các yếu tố từ phía cung cấp dịch vụ điều trị Methadone

Đa số BN và gia đình đều nhận xét giờ giấc uống thuốc bắt đầu lúc 7 giờ là chưa phù hợp đối với BN đã có việc làm tại các nhà máy, xí nghiệp, họ sẽ không tuân thủ điều trị vì bị áp lực nơi làm việc Nghiên cứu của James A Pe-terson tại Hoa Kỳ năm 2010 cũng cho thấy một

số BN không muốn điều trị vì giờ giấc là trở ngại đối với họ [7] Vì vậy, điều chỉnh giờ giấc uống thuốc sớm hơn quy định là cần thiết

V KẾT LUẬN

Tỷ lệ BN dương tính Heroin giảm còn 32% sau 6 tháng và 16,7% sau 12 tháng điều trị, tuy nhiên có 10,4% BN bắt đầu sử dụng ma túy

đá sau 6 tháng điều trị Nghiên cứu không phát hiện BN nhiễm HIV mới Cân nặng trung bình của BN tăng 3,4 kg sau 12 tháng điều trị Có 67,9% BN đã không còn nguy cơ trầm cảm sau

6 tháng điều trị, 23,3% BN thất nghiệp trước điều trị đã có việc làm sau 6 tháng điều trị (p<0,05)

Sự quan tâm, hỗ trợ của gia đình có tác động lớn đối với sự tuân thủ điều trị của BN BN

Trang 6

tiếp xúc với người nghiện ma túy, giờ giấc uống

thuốc không phù hợp, khoảng cách đi uống

thuốc quá xa là những yếu tố làm ảnh hưởng

đến kết quả điều trị của BN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đái Duy Ban, Lê Quang Huấn Các thuốc hỗ trợ điều

trị nghiện ma túy Nhà xuất bản y học, Hà Nội, 2009.

2 Phạm Thị Đào Khảo sát tình hình bệnh nhân điều trị

thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện bằng

Metha-done tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2010-2012

Tạp chí truyền nhiễm Việt Nam 2013 (1), 48-52.

3 Nguyễn Văn Hải Đánh giá hiệu quả điều trị

ng-hiện các CDTP bằng thuốc Methadone tại tỉnh Hải

Dương từ năm 2010 đến 2013 Tạp chí truyền nhiễm

Việt Nam 2014, 2(6), 53-59.

4 Nghiêm Lê Phương Hoa Mô tả thực trạng cơ sở

điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện

bằng thuốc Methadone tại huyện Từ Liêm, Hà Nội năm 2010, Luận văn Thạc sĩ y tế công cộng, Trường Đại học y tế công cộng, Hà Nội, 2010.

5 Vũ Việt Hưng Thực trạng hoạt động, sự tiếp cận

và sử dụng dịch vụ điều trị thay thế Methadone tại huyện Từ Liêm, Hà Nội năm 2010, Luận văn Thạc

sĩ y tế công cộng, Trường Đại học y tế công cộng,

Hà Nội, 2010

6 Hoàng Bình Yên và các cộng sự Đánh giá một số kết quả điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại Thanh Hóa từ 5/2011 đến 5/2012, Tạp chí truyền nhiễm Việt Nam

2013 (3), 60-65.

7 Peterson James A et al Why don’t out-of-treatment individuals enter methadone treatment programs? Int J Drug Policy 2010 21(1), 36-42.

8 Schwann Shariatirad et al Methamphetamine Abuse During Methadone Maintenance Treatment in Iran;

A Qualitative Study, The 6th National Congress on Addiction Biology, Tehran, Iran, 2012.

RESULT OF METHADONE REPLACEMENT TREATMENT FOR HEROIN ADDICTIONS IN TAN AN CITY, LONG AN PROVINCE, 2015

Nguyen Thanh Son, Nguyen Thanh Huong, Nguyen Ngoc Linh

Long An Center for HIV/AIDS Prevention and Control

This study at Methadone treatment clinic

No1 of Long An Center for HIV/AIDS

Preven-tion and Control in 2015 aimed to describe

treat-ment results for Heroin addictions and explore

some influencing factors This is the

cross-sec-tional study, applying the quantitative method to

collect retrospectively data from medical records

of 100 patients treated at least 6 months and the

qualitative method to conduct 6 focus group

dis-cussions with 36 participants (6 health staff, 30

patients and 6 supporters) Pair-T test and

Mac-Nemar test were used to analyze quantitative data

Qualitative data were transcribed and

thematical-ly coded After 6 months of treatment, the rate of

Heroin addicted patients reduced into 32%

How-ever, there were 10.4% of patients using Metham-phetamine; on average patients’ weight increased 3,4 kg after 12 months of treatment The rate of patients without risk of depression was 67.9% After 1 year of treatment, there was no new case

of HIV infection The results indicate that care and support from family have positive impact on treatment adherence It is necessary to enforce family responsibility in patient support and to adjust appropriate time taking Methadone, and thereby it will contribute to success of Metha-done treatment

Keywords: Methadone treatment, Heroin,

Methamphetamine

Ngày đăng: 11/03/2021, 03:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w