Nhu cầu được uống thuốc tại xã hoặc được lấy thuốc về nhà điều trị nếu được cho phép của pháp luật và cơ sở điều trị chiếm 49,4% trong số bệnh nhân được nghiên cứu vì lý do phải đi lại [r]
Trang 1KẾT QUẢ CHƯƠNG TRÌNH ĐIỀU TRỊ NGHIỆN CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG THUỐC METHADONE TẠI TỈNH PHÚ THỌ NĂM 2015
Hồ Quang Trung *, Đỗ Tiến Bộ, Nguyễn Xuân Ngọc, Lê Trung Đoàn, Đinh Quang Tuấn
Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Phú Thọ
TÓM TẮT
Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp với hồi cứu hồ sơ bệnh án bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc Methadone tại Trung tâm PC HIV/AIDS Phú Thọ đến ngày 30/6/2015 Qua nghiên cứu cho thấy 86,0% bệnh nhân đánh giá chương trình điều trị là rất tốt, tốt và chỉ có 14% đánh giá là được nhưng còn khó khăn
vì phải đi lại xa và phiền hà với việc uống thuốc hằng ngày tại cơ sở Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng heroin giảm
từ 100% trước khi tham gia điều trị xuống còn 26,2% sau 3 tháng, 18,6% sau 6 tháng, 11,3% sau 9 tháng
và 2,3% sau 1 năm điều trị Tỷ lệ nhiễm HIV trước điều trị là 22,3%, nhiễm viêm gan siêu vi B là 16,4% và nhiễm viêm gan siêu vi C là 75,6% Không phát hiện nhiễm mới HIV và các bệnh lây truyền qua đường máu trong số các bệnh nhân tham gia điều trị Tỷ lệ số người đã có cải thiện sức khỏe đạt 89,4%, có cải thiện các quan hệ gia đình, xã hội đạt 92,9% và có cải thiện việc làm, thu nhập Tỷ lệ vi phạm pháp luật trước điều trị là 56% xuống còn 4,3% trong số bệnh nhân điều trị Methadone Các dịch vụ tư vấn, chăm sóc sức khỏe, khám bệnh, dịch vụ điều trị tại cơ sở điều trị được đánh giá chất lượng rất cao trên 99% Nhu cầu được uống thuốc tại xã hoặc được lấy thuốc về nhà điều trị nếu được cho phép của pháp luật và
cơ sở điều trị chiếm 49,4% trong số bệnh nhân được nghiên cứu vì lý do phải đi lại quá xa từ nhà đến cơ
sở điều trị hoặc do lao động ca kíp, công việc hành chính và rất cần được nghiên cứu, bổ sung trong công tác quản lý, cấp phát methadone nhằm thực hiện chương trình bền vững, hiệu quả, chất lượng và tạo các điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận được chương trình điều trị, đặc biệt đối với các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Từ khóa: Methadone, heroin, Chương trình điều trị bằng Methadone, Trung tâm PC HIV/AIDS Phú Thọ.
*Tác giả : Hồ Quang Trung
Địa chỉ: Trung tâm PC HIV/AIDS Phú Thọ
Điện thoại: 0913059685
Email: trungchinhphutho@gmail.com
Ngày nhận bài: 17/07/2015 Ngày phản biện: 09/10/2015 Ngày đăng bài: 10/11/2015
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được
phát hiện vào năm 1995 đến nay, dịch HIV đã
trở nên phổ biến và lan rộng tại 13/13 huyện,
thành, thị và trên 86 % số xã, phường của tỉnh
Phú Thọ; dịch HIV không chỉ tập trung ở thành
phố, thị xã mà đã phát triển nhanh ở nông
thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân
tộc thiểu số Theo kết quả giám sát của Trung
tâm phòng, chống HIV/AIDS Phú Thọ tính đến
ngày 30/6/2015, lũy tích số người nhiễm HIV
có hộ khẩu tại tỉnh (nội tỉnh) là 3.726 người,
trong đó bệnh nhân AIDS là 1.783 người và số
người tử vong do AIDS là 1255 người Trong
những năm gần đây, lây nhiễm HIV do tiêm
chích ma túy ở mức 68 - 72% trong số các ca
mới được phát hiện và tỷ lệ hiện nhiễm HIV
trên nhóm nghiện chích ma túy ở mức rất cao
từ 15 - 20% Cũng như các tỉnh thuộc khu vực Tây Bắc - Bắc Bộ, tình trạng ma túy trong đó chủ yếu là nghiện chích ma túy (NCMT) ở địa phương khá nặng với số người nghiện rất cao,
số thống kê được là 2.282 người, số ước tính khoảng 4.500 - 6.000 người Mặt khác, theo kết quả giám sát dịch của Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Phú Thọ, tỷ lệ lây nhiễm HIV qua đường tình dục trong những năm qua ở tỷ
lệ khá cao 18 - 22%, tập trung trong các nhóm phụ nữ bán dâm, thành viên gia đình người nhiễm, nghiện chích ma túy vì vậy, Phú Thọ
là địa phương có nguy cơ cao khả năng bùng phát dịch HIV nếu không có các biện pháp can thiệp dự phòng hợp lý
Phú Thọ đã và đang thực hiện tốt chương
Trang 2trình can thiệp giảm tác hại (CTGTH) nhằm
làm giảm tỷ lệ nhiễm HIV và nguy cơ lây nhiễm
HIV trong cộng đồng, trong đó điều trị bằng
thuốc Methadone là một biện pháp đang được
quan tâm triển khai Ủy ban nhân dân tỉnh Phú
Thọ đã ban hành Kế hoạch số
3937/KH-UB-ND ngày 27/9/2013 về việc thực hiện chương
trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện
(CDTP) bằng thuốc Methadone trên địa bàn
tỉnh Phú Thọ, giai đoạn 2013 - 2015, với chỉ
tiêu 1.000 - 1.200 người Điều trị nghiện các
chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone
(gọi tắt là điều trị Methadone) là biện pháp
CT-GTH quan trọng, đồng thời cũng góp phần rất
tích cực trong công tác phòng chống tội phạm
liên quan đến ma túy Điều trị Methadone có
thể giúp người nghiện CDTP (heroin) giảm và
ngừng sử dụng heroin, mang lại nhiều lợi ích
về sức khỏe, hiệu quả về kinh tế xã hội và đảm
bảo an ninh trật tự
Chương trình điều trị Methadone đã được
các nước trên thế giới và trong khu vực thực
hiện từ những năm 1960 của thế kỷ XX, hiện
đã rất phổ biến và thống nhất đánh giá điều trị
Methadone là biện pháp đạt được nhiều mục
tiêu về y tế, kinh tế xã hội Ở Việt Nam, sau
giai đoạn điều trị thử nghiệm tại thành phố Hải
Phòng và thành phố Hồ Chí Minh (2008-2011)
đã đánh giá đây là biện pháp rất hiệu quả liên
quan đến giảm người nghiện, giảm tái nghiện,
giảm lây nhiễm HIV và giảm tội phạm và cần
mở rộng để đảm bảo các lợi ích về sức khỏe
và xã hội Chương trình điều trị Methadone tại
Phú Thọ đã được sự quan tâm, giúp đỡ của Bộ
Y tế, các Tổ chức quốc tế và bắt đầu điều trị
cho bệnh nhân từ tháng 9/2012 tại Trung tâm
phòng, chống HIV/AIDS, phường Gia Cẩm,
thành phố Việt Trì Số lượng bệnh nhân đã
được tư vấn, khám và điều trị tính đến ngày
30/6/2015 là 956 người
Sau 3 năm triển khai, chương trình đã thu
được các kết quả tích cực, góp phần quan trọng
trong công tác phòng, chống dịch HIV, phòng
chống tội phạm và đem lại lợi ích tích cực cho
bệnh nhân, gia đình và xã hội Nhằm tổng kết
đánh giá hiệu quả của chương trình điều trị
Methadone một cách toàn diện về các mặt y
tế, kinh xã hội và đưa ra các khuyến nghị nhằm thực hiện tốt chương trình trong thời gian tiếp theo trên phạm vi toàn tỉnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Đánh giá kết quả chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone và các yếu tố liên quan tại tỉnh Phú Thọ năm 2014 - 2015, nhằm mục tiêu: (1) Mô tả đặc điểm của bệnh nhân điều trị Methadone tại tỉnh Phú Thọ năm 2015;
(2) Mô tả một số kết quả của chương trình điều trị nghiện CDTP bằng thuốc Methadone của đối tượng nghiên cứu
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
300 bệnh nhân đang điều trị nghiện CDTP bằng thuốc Methadone và có thỏa thuận đồng
ý tham gia chương trình nghiên cứu
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Bệnh nhân điều trị Methadone từ tháng 3/2015 đến 30/6/2015 tại Trung tâm PC HIV/ AIDS tỉnh Phú Thọ (thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ)
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu hồ sơ, bệnh án
2.4 Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu
Chọn toàn bộ 300 bệnh nhân đang được điều trị tại Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS vào thời điểm tiến hành nghiên cứu
2.5 Biến số nghiên cứu
- Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: Giới tính, nhóm tuổi, nghề nghiệp, dân tộc, tình trạng hôn nhân, trình độ văn hóa
- Thông tin về sử dụng ma túy: Tuổi bắt đầu sử dụng ma túy, thời gian nghiện ma túy, loại ma túy
đã sử dụng, số lần sử dụng ma túy/ngày, số tiền
sử dụng cho việc mua ma túy/1 ngày trước điều
Trang 3trị Methadone, tiền sử cai nghiện ma túy, đã có vi
phạm pháp luật trước điều trị Methadone
- Nguồn thông tin biết về chương trình điều
trị Methadone: giai đoạn điều trị Methadone, lý
do điều chỉnh liều trong giai đoạn duy trì, nhận
xét của người bệnh về điều trị Methadone
- Tình trạng sử dụng Heroin trước và trong
quá trình điều trị Methadone và các nhu cầu
điều trị bằng thuốc methadone
- Tình trạng bệnh tật của bệnh nhân và cải
thiện sức khỏe, quan hệ gia đình, xã hội trước
và trong quá trình điều trị Methadone
2.6 Công cụ thu thập số liệu
Thiết kế bộ câu hỏi phù hợp với mục tiêu
nghiên cứu để phỏng vấn bệnh nhân và bộ công
cụ hồi cứu các số liệu từ hồ sơ bệnh án bệnh nhân, kết quả xét nghiệm nước tiểu, xét nghiệm HIV và viêm gan B, C, các nhu cầu trong việc điều trị của bệnh nhân
2.7 Xử lý số liệu
Bằng chương trình Epi-Info 2000, có sử dụng các thuật toán thống kê ứng dụng trong
y học
III KẾT QUẢ 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu về giới, nhóm tuổi, trình độ văn hóa, tình trạng hôn nhân và việc làm
Bảng 1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu về giới, nhóm tuổi, trình độ văn hóa,
tình trạng hôn nhân và việc làm
2 Nhóm tuổi (Tuổi trung bình: 38,8)
5 Tình trạng hôn nhân
Trang 46 Trình độ văn hóa
Bảng 1 cho thấy, đa số bệnh nhân điều trị
Methadone ở Phú Thọ là nam chiếm tới 99,0%,
chỉ có 1,0% là nữ giới Kết quả này khá tương
đồng so với một số nghiên cứu như ở Hải Phòng
(97,9%), Đà Nẵng (94,5%)
Nhóm bệnh nhân tham gia điều trị có tuổi
trung bình là 38,8 tuổi; không có bệnh nhân
dưới 20 tuổi, nhóm 20-29 tuổi (7,7%), bệnh
nhân tập trung vào nhóm 30-45 tuổi (77,8%)
và nhóm > 45 tuổi là 14,7% Nhóm bệnh nhân
dưới 29 tuổi được điều trị tại Phú Thọ có tỷ lệ
thấp hơn (7,7%) so với các nghiên cứu khác như
ở thành phố Đà Nẵng (52,2%), thành phố Hồ
Chí Minh (45,8%); cho thấy, số người nghiện
CDTP tại tỉnh Phú Thọ chủ yếu số nghiện cũ và
số nghiện mới có số lượng thấp
Số bệnh nhân tham gia điều trị bị thất nghiệp
chiếm 10,3%; số người có nghề lao động tự do,
không có nghề nghiệp ổn định chiếm 71,0% Đây
là khó khăn chung, nhưng với người đã được điều
trị Methadone thì rất cần có sự quan tâm của gia
đình, xã hội trong việc tìm kiếm việc làm, vì ngoài
mưu sinh ra, có việc làm sẽ làm cho họ có niềm
tin, quyên đi sự mặc cảm và không thèm nhớ, tìm
đến ma túy như trong quá khứ Số bệnh nhân có
việc làm ổn định là công chức, công nhân, nông
dân chiếm tỷ lệ 13,0%, khá thuận lợi cho việc điều
trị và tuân thủ điều trị, tuy nhiên, họ cũng cần được sự quan tâm, giúp đỡ trong việc cấp phát thuốc để đảm bảo được duy trì hằng ngày về điều trị cũng như công việc theo giờ hành chính, lao động ca kíp tại các cơ quan, doanh nghiệp Chỉ có 20,3% số người trong nghiên cứu là chưa lập gia đình và có đến 78,0% là đã có gia đình, sống chung Số đã lập gia đình và sống chung cao hơn hẳn các nghiên cứu của các địa phương, là điều kiện thuận lợi khi thực hiện điều trị vì gia đình chính là nguồn động viên, cũng là động lực để bệnh nhân tham gia và tuân thủ điều trị
Trình độ của nhóm bệnh nhân tham gia điều trị có trình độ từ trung học phổ thông trở lên là 54,3%, trung học cơ sở 38,7%, khá cao so với một số tỉnh như thành phố Hải Phòng 46,6%, là điều kiện thuận lợi để thực hiện tốt công tác tư vấn, tuyên truyền thực hiện chương trình điều trị Tuy nhiên, vẫn còn 0,3% số người không biết chữ và trình độ chỉ ở mức tiểu học 5,7%
3.1.2 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu về tình trạng nghiện, cai nghiện, chi phí mua ma túy và cai nghiện ma túy, vi phạm pháp luật của bệnh nhân trước khi điều trị bằng thuốc methadone
Trang 5Bảng 2 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu về tình trạng nghiện, cai nghiện, chi phí mua ma túy
và cai nghiện ma túy, vi phạm pháp luật của bệnh nhân trước khi điều trị bằng thuốc methadone
1 Tuổi bắt đầu sử dụng ma túy (TB: 25 tuổi)
2 Thời gian nghiện ma túy
3 Loại ma túy đã sử dụng
4 Số lần sử dụng ma túy/ngày (TB: 2-3 lần/ngày)
5 Số tiền sử dụng cho việc mua ma túy/1 ngày trước điều trị Methadone (TB: 430.000đ/ngày)
6 Tiền sử cai nghiện ma túy
7 Đã có vi phạm pháp luật trước điều trị Methadone
Trang 6Bảng 2 cho thấy, tỷ lệ số người bắt đầu sử
dụng ma túy dưới 20 tuổi chiếm tỷ lệ khá cao
22,7% ; từ ≥ 20 - < 30 tuổi chiếm tỷ lệ cao
55,0% ; từ ≥ 30 - < 40 tuổichỉ có 17,3% ; ≥ 40
tuổi chiếm 5,0%
Số người nghiện khoảng < 5 năm chiếm
12,5% ; nghiện 5 - 10 năm chiếm 58,8% và
nghiện trên 10 năm chiếm 28,6%
Trong số các bệnh nhân tham gia nghiên
cứu, chủ yếu chỉ nghiện Heroin và nhóm chất
dạng thuốc phiện là thuốc phiện, morphin
Số lần sử dụng ma túy trong một ngày: Khoảng
1- 2 lần/ngày chiếm 65,0%; 3- 5 lần/ngày chiếm
33,7%; trên 6 lần/ngày chiếm 1,3%
Số tiền trung bình dùng để mua ma túy hàng
ngày/1 người là 430 000đ, trong đó: < 500 00 đ
là 76,4%; từ 500 000 - 1 000 000 đ là 18,0%; từ
1 000 000 - 2 000 000 đ là 4,3% và trên 2 000
000 đ là 1,3%
100% số người được điều trị Methadone trước đây đã có nhận thức về tác hại của nghiện
ma túy và cố gắng cai bằng các phương pháp khác nhau và tự cai nhưng không thành công
Số người đã cai nghiện tại Trung tâm GDLĐXH trước khi đến cơ sở điều trị Methadone chiếm 30,1% số bệnh nhân, thấp hơn một số địa phượng như thành phố Đà Nẵng (79,1%)
Số người đã có vi phạm pháp luật trước điều trị Methadone và đã chịu cải tạo giam giữ là 44,3%, cao hơn một số nghiên cứu khác (40% ở Hải Phòng), tỷ lệ vi phạm pháp luật vẫn
ở mức cao do người nghiện phải tìm mọi cách
để có tiền mua ma túy hàng ngày kể cả việc vi phạm pháp luật, trong khi không có việc làm, không có thu nhập
3.1.3 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu về hiểu biết các nguồn thông tin chương trình, giai đoạn điều trị và đánh giá nhận xét về chương trình Methadone
Bảng 3 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu về hiểu biết các nguồn thông tin chương trình,
giai đoạn điều trị và đánh giá nhận xét về chương trình Methadone
1 Nguồn thông tin biết về chương trình điều trị Methadone
2 Giai đoạn điều trị Methadone
3 Lý do điều chỉnh liều trong giai đoạn duy trì
4 Nhận xét của người bệnh về điều trị Methadone
Trang 7Tốt 111 37,0 Được, còn hạn chế, khó khăn
Phiền hà với việc uống hàng ngày tại cơ sở 13 4,3
Thông tin biết về điều trị bằng Methadone
từ nhiều nguồn khác nhau và đều chiếm tỷ lệ
cao: từ cán bộ y tế 67,8% ; từ gia đình 43,9% ;
từ bạn bè 60,8% ; từ TV 57,6% thể hiện công
tác tuyên truyền, tư vấn, sự đồng thuận cao của
các cấp các ngành trong việc triển khai chương
trình tại địa phương
Số bệnh nhân đang ở giai đoạn điều chỉnh
liều là 11,8%; giai đoạn duy trì là 88,7% Số
bệnh nhân được điều chỉnh liều trong giai đoạn
duy trì là 82 người và do khá nhiều nguyên
nhân khác nhau cũng đã gây khó khăn cho
công tác điều trị do phải thường xuyên thăm
khám và kê đơn, tư vấn hỗ trợ
Nhận xét chung của nhóm được điều tra nghiên cứu về Methadone là tốt và rất tốt chiếm
tỷ lệ 86,0%; nhận xét là được nhưng còn khó khăn cản trở về các vấn đề như phải đi lại xa cơ
sở điều trị 9,7% và phiền hà khi phải hàng ngày đến uống thuốc tại cơ sở là 4,3%
3.2 Một số kết quả của chương trình điều trị nghiện CDTP bằng thuốc Methadone
3.2.1 Tình trạng bệnh tật của bệnh nhân và cải thiện sức khỏe, quan hệ gia đình, xã hội trước
và trong điều trị Methadone
Bảng 4 Tình trạng bệnh tật của bệnh nhân và cải thiện sức khỏe, quan hệ gia đình,
xã hội trước và trong quá trình điều trị Methadone
1 Tình trạng nhiễm HIV/AIDS:
2 Tình trạng nhiễm viêm gan B:
3 Tình trạng nhiễm viêm gan C
4 Cải thiện sức khỏe sau điều trị:
Có cải thiện (tăng cân, thoải mái tư tưởng) 269 89,4
5 Cải thiện quan hệ với gia đình, xã hội:
Trang 8Bảng 4 cho thấy 22,3% số bệnh nhân trước
khi điều trị Methadone bị nhiễm HIV, tỷ lệ
nhiễm cao hơn ở Thành phố Đà Nẵng (4,1%),
nhưng thấp hơn thành phố Hải Phòng (27,3%)
16,4% số bệnh nhân trước khi điều trị
Meth-adone nhiễm viêm gan siêu vi B, tỷ lệ nhiễm
cao hơn các điều tra khác như thành phố Đà
Nẵng (14,5%), thành phố Hải Phòng (14,6%)
75,6% số bệnh nhân trước khi điều trị
Meth-adone nhiễm viêm gan siêu vi C, tỷ lệ nhiễm
cao hơn thành phố Hải Phòng (44,1%), thành
phố Đà Nẵng (60%) và thành phố Hồ Chí Minh (71,5%) Sau 2 năm tổ chức điều trị Methadone, chưa phát hiện các ca nhiễm mới HIV, viêm gan siêu vi B, C trong số các bệnh nhân đang điều trị
Các vấn đề về cải thiện sau điều trị về sức khỏe và quan hệ xã hội của bệnh nhân với gia đình, xã hội và ngược lại đều rất tốt, chiếm tỷ
lệ từ 89,4% đến 94,9% 10,6% số bệnh nhân không có cải thiện về sức khỏe do mắc các bệnh mãn tính, nguy hiểm khó hồi phục như AIDS giai đoạn cuối, viêm gan nặng
Hình 1 Tỉ lệ bệnh nhân vi phạm pháp luật theo thời gian
2.7
44.3
4.3 0
5 10
15
20
25
30
35
40
45
50
Tr ướ
c đi
ều tr
Sau 1 năm điều trị Methadone, tỷ lệ vi
phạm pháp luật giảm chỉ còn 4,3% và tỷ lệ vi
phạm cũng giảm dần theo thời gian (Hình 1)
3.2.2 Tình trạng sử dụng Heroin trước và trong quá trình điều trị Methadone và các nhu cầu điều trị bằng thuốc methadone
Trang 9Bảng 5 Tình trạng sử dụng Heroin trước và trong quá trình điều trị Methadone và các nhu cầu điều trị
bằng thuốc methadone
1 Tình trạng sử dụng Heroin trong khi đang điều trị Methadone (xét nghiệm có Heroin + trong nước tiểu)
2 Khoảng cách từ nhà đến cơ sở điều trị
3 Độ dài phù hợp là bao nhiêu km
4 Mong muốn về các hình thức điều trị
5 Mong muốn về các dịch vụ hỗ trợ
6 Mong muốn CSĐT thay đổi
Bảng 5 cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân còn sử
dụng lại Heroin đã giảm rõ rệt từ 100% trước
điều trị xuống còn 26,2% sau 3 tháng, 18,6%
sau 6 tháng, 11,3% sau 9 tháng và 2,3% sau 1
năm điều trị (Hình 2)
Phân tích tình trạng sử dụng heroin trong
nhóm bệnh nhân còn sử dụng lại heroin cho thấy,
bệnh nhân không chỉ giảm về hành vi sử dụng heroin, mà còn giảm cả về tần xuất, liều lượng: số bệnh nhân còn sử dụng heroin, trước điều trị, hầu hết các bệnh nhân này đều sử dụng heroin với tần xuất rất cao 4-10 lần/ngày, tuy nhiên, sau 6 tháng điều trị, tần xuất sử dụng chỉ còn từ 1-2 lần/một tháng và liều lượng giảm nhiều
Trang 10Khoảng cách từ nhà đến cơ sở điều trị của
bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu có độ dài
dưới 5 km chiếm 54,3%; trên 5 km chiếm tỷ lệ
cao là 45,7% gây khó khăn cho tiếp cận điều
trị uống thuốc hằng ngày tại cơ sở 76,3%
bệnh nhân cho rằng độ dài phù hợp từ nhà
đến cơ sở để điều trị hằng ngày khoảng dưới
5 km do phải lao động, việc làm Vì vậy, có
khoảng 49,4 % số bệnh nhân có nhu cầu được uống thuốc tại xã hoặc được mang thuốc về nhà điều trị nếu được hướng dẫn và cho phép của cơ sở điều trị
- Các dịch vụ tư vấn, chăm sóc sức khỏe, khám bệnh, dịch vụ điều trị được đánh giá chất lượng khá cao trên 99%
Hình 2 Tỷ lệ bệnh nhân còn sử dụng Heroin theo thời gian
100
26.2
2.3 0
20
40
60
80
100
120
Trước điều trị Sau 3 tháng Sau 6 tháng Sau 9 tháng Sau 1 năm
IV BÀN LUẬN
Đặc điểm bệnh nhân điều trị nghiện chất
dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại
Phú Thọ, có đến 87,4% đã có tiền sử nghiện
trên 5 năm; 44,3% vi phạm pháp luật và có
30,1% đã cai nghiện ma túy tại các Trung tâm
GDLĐXH trước điều trị Methadone Nhưng khi
được điều trị Methadone, số bệnh nhân còn sử
dụng Heroin giảm dần theo thời gian điều trị cả
về số lần sử dụng và liều lượng từ 100% xuống
11,3% sau 9 tháng điều trị, 2,3% sau 1 năm điều
trị và càng điều trị lâu dài, bệnh nhân càng có xu
hướng không sử dụng ma túy Việc chấp hành các
quy định điều trị và các quy định của pháp luật
liên quan đến ma túy cũng giảm mạnh từ 44,3%
trước điều trị xuống 4,3% sau 1 năm điều trị, vì
vậy, đây là biện pháp điều trị rất cần được mở
rộng và cần tạo các điều kiện thuận lợi cho nhân
dân tiếp cận, sử dụng dịch vụ nhằm phòng chống
đại dịch HIV và tội phạm liên quan đến ma túy
100% bệnh nhân đánh giá việc điều trị
Methadone có hiệu quả trong việc giảm và
ngừng sử dụng Heroin, tuy nhiên, khó khăn cản
trở về các vấn đề như đi lại xa và phải uống thuốc hằng ngày tại cơ sở, vì vậy, trong tương lai cũng rất cần các mô hình cung cấp dịch vụ thuận lợi cho người dân như mở rộng các địa điểm cung cấp thuốc tại xã, phường, thị trấn hoặc cung cấp thuốc cho bệnh nhân trong vòng
7 ngày để tạo điều kiện cho bệnh nhân vừa điều trị vừa có điền kiện lao động, công ăn việc làm
và tiết kiệm chi phí đi lại cho bệnh nhân
Số bệnh nhân được tham gia nghiên cứu còn
bị đồng nhiễm với tỷ lệ cao các bệnh lây nhiễm qua đường máu: 22,3% nhiễm HIV, 16,4% nhiễm viêm gan B, 75,6% nhiễm viêm gan C, 18,3% đang điều trị ARV vì vậy, ngoài việc chăm sóc và điều trị nghiện CDTP, các bệnh khác cũng gặp khó khăn do việc điều trị nhiều bệnh không có thuốc chữa, thuốc đắt tiền hoặc
có tác dụng tương hỗ trong điều trị nghiện và các bệnh khác
V KẾT LUẬN
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu, có