2011 cho thấy hội chứng vai gáy có nhiều nguyên nhân phức tạp, bao gồm một số yếu tố liên quan môi trường làm việc ngồi sai tư thế trong thời gian dài, ít chuyển động, cá nhân tuổi, chỉ [r]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
PHẠM VĂN TUÂN
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN HỘI CHỨNG VAI GÁY CỦA NHÂN VIÊN VĂN PHÒNG ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
NÔNG NGHIỆP, NĂM 2018
Chuyên ngành : Y tế công cộng
Mã số : 8720701
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN THU HÀ
HÀ NỘI – 2018
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
Người hướng dẫn khoa học:
TS Nguyễn Thu Hà
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận văn được bảo vệ Trường Đại Học Thăng Long
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thư viện Trường Đại Học Thăng Long
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng vai gáy là một trong những rối loạn cột sống cổ gây nên ở người trưởng thành [45]; tỷ lệ hiện mắc hội chứng vai gáy trên thế giới dao động từ 16,7% đến 75,1% [17] Hội chứng vai gáy là nguyên nhân chính gây ra những bất lợi trong cuộc sống hàng ngày và tại nơi làm việc ở nhiều quốc gia Tuy nhiên, hiện nay xu hướng hội chứng vai gáy ngày càng trẻ hóa hơn Nhất là những nhân viên văn phòng thường xuyên làm việc trước màn hình máy tính liên tục trong nhiều giờ đồng hồ Những triệu chứng đau lâu ngày ảnh hưởng trược tiếp đến hiệu quả làm việc và chất lượng sống một cách rõ rệt Đối với người làm văn phòng một ngày với 8 tiếng ngồi làm việc trên máy vi tính, khiến vùng cổ ít hoạt động hoặc hoạt động không có điểm tựạ
Do tính chất của công việc, nên có thể tình trạng ngồi lâu sẽ kéo dài hơn thế và tiếp diễn ở nhà Như vậy cơ thể sẽ ở một tư thế nhất định trong thời gian dài, các cơ làm việc liên tục sẽ dẫn đến co cơ, đau mỏi Đặc biệt là các cơ vùng cổ và bả vai sẽ phải hoạt động nhiều cùng với đôi tay, khi các cơ làm việc quá lâu, tư thế làm việc không đúng, không có thời gian nghỉ ngơi thư giãn cho cơ thể hồi phục Nếu tình trạng này kéo dài các khối cơ không được thư giãn sẽ dẫn đến tình trạng đình công liên tục, cơ co nhiều, đau mỏi liên tục và người bệnh không thể tiếp tục công việc được Nghiên cứu của Malchaire J.B và Cimmino M.A cho thấy hội chứng vai gáy có nhiều nguyên nhân phức tạp, bao gồm một số yếu tố liên quan môi trường làm việc (ngồi sai tư thế trong thời gian dài, ít chuyển động), cá nhân (tuổi, chỉ
số khối cơ thể, hệ gen, tiền sử đau cơ xương), các hành vi (hút thuốc
và mức độ hoạt động thể chất), và tâm lý xã hội (sự hài lòng công việc, mức độ căng thẳng, lo âu và trầm cảm) [31], [11] Để tìm hiểu đầy đủ một số yếu tố liên quan đến hội chứng vai gáy ở đối tượng
nhân viên văn phòng, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Thực
trạng và một số yếu tố liên quan hội chứng vai gáy của nhân viên văn phòng đến khám tại Bệnh viện Đa khoa nông nghiệp, năm 2018“ với mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng hội chứng vai gáy của nhân viên văn phòng đến khám tại Bệnh viện Đa khoa nông nghiệp, năm 2018
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến hội chứng vai gáy của đối tượng nghiên cứu
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
11 TỔNG QUAN VỀ HỘI CHỨNG VAI GÁY
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến hội chứng vai gáy
Hiệp hội quốc tế về nghiên cứu đau (International Association for the Study of Pain) định nghĩa hội chứng vai gáy là thuật ngữ được sử dụng để mô tả người bệnh có cảm giác không thoải mái ở vùng vai gáy, biểu hiện là sự mệt mỏi, căng cơ hay đau tại vùng vai gáy, có thể lan lên đầu hay xuống cánh tay Đau vai gáy có thể do chấn thương, do bệnh lý cột sống, tuy nhiên có một số lượng không nhỏ liên quan đến nghề nghiệp do các bất hợp lý về tổ chức lao động do căng thẳng Theo phân loại ICD 10 Hội chứng vai gáy được phân loại 4 nhóm M54.2; M54.; M50; M5 [32]
1.1.2 Nguyên nhân và phân loại hội chứng vai gáy
Nguyên nhân: Do cấu trúc của vùng cổ rất phức tạp bao gồm nhiều thành phần giải phẫu khác nhau (cơ, xương, dây chằng, đĩa đệm, các khớp), mỗi một thành phần bị ảnh hưởng thì có thể gây đau vai gáy Phân loại hội chứng vai gáy: Có nhiều cách phân loại hội chứng vai gáy Dựa vào thời gian, mức độ đau (cấp, mạn tính)
1.1.3 Các vị trí cảm nhận đau ở vùng vai gáy
- Đĩa đệm cột sống cổ: Được xác định có nhậy cảm với đau Vị trí xuất chiếu của đau thoái hóa đĩa đệm là cạnh cột sống
- Hệ thống dây chằng: (1) Dây chằng dọc sau là vị trí nhận cảm đau,
nó được phân bố bởi thần kinh quoặt ngược khoang đốt sống Sự phát sinh đau ở đây có thể do lồi các vòng sợi đĩa đệm phía sau xâm lấn (2) Dây chằng liên mỏm gai có phân bố thần kinh, có thể là nguồn nhận cảm đau
- Các rễ thần kinh: Các rễ thần kinh trong bao màng cứng (rễ vận động, cảm giác bản thể và giao cảm) là các điểm nhận cảm đau
- Màng cứng được phân bố bởi thần kinh khoang đốt sống Cơ chế đau là do bị căng hoặc ép ở đầu trong bao rễ các tổ chức trong bao màng
Trang 5- Các khớp mỏm: Diện khớp được phân bố bởi các sợi giao cảm bản thể do vậy đây cũng là vị trí nhận cảm đau
- Các biến đổi thoái hóa cột sống: Như gai xương, có thể chạm vào các rễ thần kinh khi nhô ra qua lỗ gian đốt sống gây đau
- Các cơ cổ là cơ quan nhận cảm đau,
1.2 THỰC TRẠNG HỘI CHỨNG VAI GÁY
(1) Các yếu tố nguy cơ thuộc nhóm công việc:
- Các yếu tố về áp lực thể là những yếu tố liên quan đến năng lượng sinh cơ học được tạo ra trong cơ thể Trong y văn khái niện này được định nghĩa coi như là “sự biểu hiện mang tính cơ học” [46]
- Các yếu tố áp lực về cơ [46]: Phương pháp thông thường nhất là lượng giá áp lực về cơ bằng điện cơ đồ
- Tư thế cơ thể và vận động: Kết quả nghiên cứu tiến cứu của Ariëns
và cộng sự đã chỉ ra có mối liên quan giữa ngồi làm việc kéo dài hơn 95% thời gian làm việc với hội chứng vai gáy, giữa tư thế gập cổ với hội chứng vai gáy
- Vấn đề về lực tác dụng: Lực tác dụng lên chuột và bàn phím là một yếu tố nguy cơ gây đau cơ xương ở vai và cánh tay
- Những yêu cầu về nhìn
- Thời gian và các thành phần của công việc
- Các yếu tố tâm lý xã hội, căng thẳng tâm lý
(2) Các yếu tố nguy cơ thuộc về cá nhân:
- Giới tính: Hầu hết trong các nghiên cứu đều thấy, tỷ lệ nữ có nguy
cơ cao hơn nam kể cả khi không tính đến tính chất công việc hay nghề nghiệp liên quan, điều này cũng không có sự khác biệt đối với nghề sử dụng máy tính
- Kỹ năng làm việc: Sự khác biệt về mặt kỹ năng làm việc với máy tính cũng được quan sát thông qua những nghiên cứu thực nghiệm và các hình thức nghiên cứu khác
- Một số nghiên cứu về một số yếu tố liên quan đến hội chứng vai gáy ở nhân viên văn phòng: Nghiên cứu của Malchaire J.B (2001) và Cimmino M.A (2011) cho thấy hội chứng vai gáy có nhiều nguyên
Trang 6nhân phức tạp, bao gồm một số yếu tố liên quan môi trường làm việc (ngồi sai tư thế trong thời gian dài, ít chuyển động), cá nhân (tuổi, chỉ
số khối cơ thể, hệ gen, tiền sử đau cơ xương), các hành vi (hút thuốc
và mức độ hoạt động thể chất), và tâm lý xã hội (sự hài lòng công việc, mức độ căng thẳng, lo âu và trầm cảm) [31], [11] Nghiên cứu của Yue P (2012) tại Trung Quốc đã quan sát thấy những người báo cáo hội chứng vai gáy là những người thực hiện các hoạt động nhiều
ở vai, làm việc ở tư thế ngồi hoặc đứng với cổ cong trong thời gian dài [50] Nghiên cứu Trần Thị Thu Thuỷ (2012) ở đối tượng nhân viên văn phòng ở Hà Nội cho thấy [3] các yếu tố liên quan đến hội chứng vai gáy bao gồm ngồi ghế không có đệm lót, dùng chung bàn làm việc, không thoải mái với góc làm việc
Trang 7Chương II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhân viên văn phòng đến khám tại Bệnh viện Đa khoa nông nghiệp năm 2018 đạt các tiêu chuẩn sau:
* Tiêu chuẩn chọn mẫu:
- Đối tượng thuộc độ tuổi lao động
- Các đối tượng là nhân viên văn phòng có thời gian làm việc trực tiếp với máy tính ≥4 giờ/ngày
- Người không có các bệnh hoặc thương tật do các nguyên nhân: Chấn thương, tai nạn, các bệnh lý nhiễm trùng, do u lành hoặc ung thư, thoái hóa đốt sống, cột sống, những trường hợp dị dạng cột sống
cổ từ nhỏ
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Đối tượng không thuộc độ tuổi lao động
- Các đối tượng là nhân viên văn phòng có thời gian làm việc trực tiếp với máy tính <4 giờ/ngày
- Người có các bệnh hoặc thương tật do các nguyên nhân: Chấn thương, tai nạn, các bệnh lý nhiễm trùng, do u lành hoặc ung thư, thoái hóa đốt sống, cột sống, những trường hợp dị dạng cột sống cổ
từ nhỏ
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu tháng 6 đến
tháng 10 năm 2018 tại Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp, Hà Nội
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: là nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Cỡ mẫu: áp dụng công thức tính cỡ mẫu nghiên cứu mô tả
) 1 (
d p p Z
n: Cỡ mẫu nghiên cứu
p= tỷ lệ % nhân viên văn phòng mắc hội chứng vai gáy (lấy tỷ lệ mắc hội chứng vai gáy của nhân viên văn phòng ở Hà Nội 2012 là 76,9% (p=0,77)) [3] d = Sai số mong muốn (ước tính d = 0,04) ➔ Thay vào công thức ta có cỡ mẫu n~470
Trang 8Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện Lựa chọn các đối
tượng là nhân viên văn phòng đến khám tại Bệnh viện đa khoa nông nghiệp đủ tiêu chuẩn chọn, trong thời gian 6/2018-8/2018 cho đến khi đủ cỡ mẫu nghiên cứu
2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin
- Phiếu đánh giá hội chứng vai gáy của đối tượng nghiên cứu (chi tiết Phụ lục 1) Nghiên cứu áp dụng bộ chỉ số NDI – bộ công cụ chuẩn
để đo lường mức độ đau mỏi vai gáy đã được kiểm chứng [1] [44] (phụ lục 1A)
- Bộ câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc để phỏng vấn thông tin chung, và một số yếu tố liên quan của đối tượng nghiên cứu (chi tiết Phụ lục 2)
2.3 Biến số và chỉ số nghiên cứu: Biến số, chỉ số theo 2 mục tiêu nghiên cứu
2.4 Phân tích và xử lý số liệu
Nhập liệu bằng phần mềm Epi Data 3.1 Số liệu được làm sạch và mã hóa trước khi phân tích Phân tích số liệu bằng STATA 13.0
Trang 92.5 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Thăng Long thông qua Nghiên cứu được sự đồng ý của lãnh đạo của Bệnh viện Đa khoa Nông Nghiệp
2.6 Hạn chế nghiên cứu
Nghiên cứu có những hạn chế của một nghiên cứu mô tả cắt ngang, tất
cả các yếu tố nghiên cứu đều được xác định cùng tại một thời điểm, khó xác định chính xác yếu tố căn nguyên
Hội chứng vai gáy là vấn đềliên quan trực tiếp với tư thế lao động và tần
số thao tác trong hoạt động thực tế hàng ngày Song nghiên cứu mới chỉ phân tích được theo hướng đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống hội chứng vai gáy Như vậy sẽ hạn chế phân tích được các yếu tố nghề nghiệp liên quan đến hội chứng Ngoài ra, nghiên cứu chưa phân tích đánh giá hội chứng đau vai mặc dù hai hội chứng này thường đi liền với nhau, mà chỉ phân tích đánh giá hội chứng đau gáy
Trang 10Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thực trạng hội chứng vai gáy của nhân viên văn phòng đến khám tại Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp, năm 2018
Có 79,0%
Không 21,0%
Biểu đồ 3 1 Tỷ lệ hội chứng vai gáy của đối tượng nghiên cứu Hầu hết đối tượng có hội chứng vai gáy 391 người (chiếm 79,0%), 21,0% không mắc hội chứng này Điểm NDI trung bình chung là 19,44±7,52
Biểu đồ 3 2 Phân loại hội chứng vai gáy (n=391)
Tỷ lệ hội chứng vai gáy ở mức độ nhẹ 77,5%; 14,8% ở mức
độ trung bình và 7,7% ở mức độ nặng Điểm NDI trung bình trong nhóm có hội chứng vai gáy là 21,34±11,02
Trang 11Biểu đồ 3 3 Tỷ lệ hội chứng vai gáy theo giới (n=495)
Tỷ lệ mắc hội chứng vai gáy ở nam giới 80,2% cao hơn ở nữ giới 77,9%
Biểu đồ 3 4 Tỷ lệ hội chứng vai gáy theo nhóm tuổi (n=495)
Tỷ lệ mắc hội chứng vai gáy tăng dần theo nhóm tuổi; cao nhất ở nhóm trên 50 tuổi 97,1%
Bảng 3 1 Tỷ lệ hội chứng vai gáy theo đặc điểm công việc Hội chứng vai gáy
Đặc điểm công việc SL Có % SL Không % p
Trang 12Tỷ lệ mắc hội chứng vai gáy tang dần theo số năm làm việc với máy tính, cao nhất ở đối tượng có trên 10 năm làm việc với máy tính 90,1%; tỷ lệ đối tượng có thời gian làm việc liên tục với máy tính trên 4 giờ mắc hội chứng vai gáy 93,2% cao hơn đối tượng dưới
4 giờ 71,2%; sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05
Không thấy sự khác biệt giữa tỷ lệ mắc hội chứng vai gáy giữa đối tượng dưới 8 giờ và trên 8 giờ làm việc/ngày
Bảng 3 2 Điểm chỉ số tàn tật gáy Đặc điểm NDI (TB±SD) p
Số năm làm việc với
máy tính
<5 năm 18,22±9,12 0,09
5 - <10 năm 19,15±7,58
≥10 năm 20,79±5,62 Thời gian làm
việc/ngày <8h ≥8h 18,60±5,40 19,49±7,62 0,57 Thời gian làm việc
liên tục với máy tính
Điểm NDI trung bình ở đối tượng có thời gian làm việc liên tục với máy tính trên 4hh là 21,95 cao hơn hẳn đối tượng có thời gian làm việc dưới 4h (18,06); ở đối tượng không nghỉ giữa giờ có điểm NDI là 23,55 cao hơn đối tượng có nghỉ giữa giờ; sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05
3.2 Một số yếu tố liên quan đến hội chứng vai gáy của đối tượng
3.2.2 Một số yếu tố liên quan hội chứng vai gáy của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3 3 Mối liên quan giữa thông tin nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu với hội chứng vai gáy (n=495) Hội chứng vai
Trang 13Khả năng mắc nguy cơ hội chứng vai gáy cao hơn ở đối tượng: tuổi trên 35 OR=3,04 (95%CI: 1,81-5,11); đối tượng đã ly hôn (so với đối tượng chưa kết hôn) OR=28,38 (95%CI:3,77-30,84); mối liên quan có ý nghĩa thống kê với p<0,05
Chưa tìm thấy mối liên quan giữa giới, học vấn, tình trạng kết hôn với nguy cơ mắc hội chứng vai gáy
Bảng 3 4 Mối liên quan giữa đặc điểm công việc của đối tượng
nghiên cứu với hội chứng vai gáy (n=495)
Chưa tìm thấy mối liên quan giữa thời gian làm việc/ngày; thời gian nghỉ giữa giờ với khả năng mắc nguy cơ hội chứng vai gáy
Trang 14Bảng 3 5 Mối liên quan giữa các kiến thức về phòng chống hội chứng vai gáy của đối tượng với hội chứng vai gáy (n=495)
Hội chứng vai gáy Kiến thức về
Kỹ năng nên tránh hoặc
thay thế
(5,61 – 15,68)
<0,01 Đạt
Chung
Số liệu trình bày bảng trên cho thấy khả năng mắc nguy cơ hội chứng vai gáy cao hơn ở đối tượng có kiến thức chưa đạt về: nguyên nhân hội chứng vai gáy OR=6,07 (3,72 – 9,92), tư thế đúng
về phòng tránh vai gáy OR=8,97 (95%CI: 5,39 – 14,99); kỹ năng nên tránh hoặc thanh thế OR=9,37 (95%CI: 5,61 – 15,68); hình thức phòng tránh vai gáy trong giờ làm việc OR=2,46 (95%CI: 1,19-5,11); mối liên quan có ý nghĩa thống kê với p<0,05
Chưa tìm thấy mối liên quan giữa kiến thức về phòng tránh hội chứng vai gáy; kiến thức về việc cần điều chỉnh nơi làm việc; kiến thức phòng tránh vai gáy sau giờ làm việc
Chưa tìm thấy mối liên quan giữa thái độ về phòng chống vai gáy và hội chứng vai gáy; p>0,05
Bảng 3 6 Mối liên quan giữa thực hành phòng chống hội chứng vai gáy của đối tượng với hội chứng vai gáy (n=495) Hội chứng vai gáy
<0,01 Thường
xuyên 249 74,8 84 25,2
Trang 15Chung 391 79,0 104 21,0
Kết quả số liệu bảng trên cho thấy khả năng mắc nguy cơ hội chứng vai gáy cao hơn ở đối tượng: thỉnh thoảng/không quan tâm ngồi theo tư thế đúng trong quá trình làm việc OR=2,40 (95%CI: 1,38-4,29) (so với nhóm thường xuyên ngồi làm việc tư thế đúng); đối tượng thỉnh thoảng/không quan tâm không dùng động tác lặp đi lặp lại OR=4,31 (95%CI: 2,52-7,61) (so với nhóm thường xuyên không dùng các động tác lặo đi lặp lại); đối tượng không thực hành các biện pháp phóng tránh hội chứng vai gáy khi ở nhà OR=3,17
(95%CI: 1,24-8,15); mối liên quan có ý nghĩa thống kê với p<0,05
Bảng 3 7 Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh hội chứng vai gáy với hội chứng vai gáy Hội chứng vai
thức
Chưa 321 89,9 36 10,1 8,66
(5,21-14,42)
<0,01 Đạt 70 50,7 68 49,3