1. Trang chủ
  2. » Ngữ Văn

Thực trạng sử dụng thuốc y học cổ truyền của người bệnh đến khám tại Bệnh viện Quân y 354 năm 2019 và một số yếu tố liên quan

78 50 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên qua điều tra của chúng tôi các đối tượng này lại chủ yếu được kê đơn bằng thuốc YHHĐ mà ít được kê đơn bằng thuốc YHCT, một phần do bệnh nặng, bệnh mạn tính phải uống thuốc suố[r]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

KHÁM T ẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 354 NĂM 2019

Hà N ội-2019

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

KHÁM T ẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 354 NĂM 2019

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số

liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác gi ả luận văn

Lê Thị Hồng Gấm

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, Bộ môn Y Tế Công Cộng trường Đại học Thăng Long

đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học thạc sĩ tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy/cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình học tập để hoàn thành phần học các

chứng chỉ thạc sĩ

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới cô PGS.TS Nguyễn Bạch Ngọc,

cô đã dành nhiều tâm huyết của mình giúp đỡ tôi trong quá trình làm nghiên

cứu để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy/cô trong Hội đồng khoa học

vì những góp ý chuyên môn giúp tôi hoàn thiện luận văn này một cách tốt nhất

Tôi xin trân trọng cảm ơn tới Ban lãnh đạo Bệnh viện Quân Y 354, Lãnh đạo Khoa Y học Cổ truyền cùng bạn bè đồng nghiệp, nơi tôi công tác luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới gia đình và bạn bè, những người đã luôn ở bên tôi, động viên và khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập

Trang 5

iii

L ỜI CAM ĐOAN i

L ỜI CẢM ƠN ii

M ỤC LỤC iii

DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH M ỤC BẢNG BIỂU vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN 3

1.1.1.Định nghĩa 3

1.1.2 Nguồn gốc thuốc YHCT 4

1.1.3 Các dạng thuốc YHCT Error! Bookmark not defined 1.1.4 Phân loại thuốc YHCT 4

1.1.5 Phân loại chế phẩm thuốc YHCT 6

1.2 THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC Y HỌC CỔ TRUYỀN TẠI VIỆT NAM 7

1.3 SỬ DỤNG THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN 8

1.3.1 Trên thế giới 8

1.3.2 Sử dụng thuốc YHCT tại Việt Nam 12

1.4 Giới thiệu Bệnh viện Quân Y 354 Error! Bookmark not defined 1.5 Khung lý thuyết nghiên cứu 21

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 22

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22

2.1.2 Th ời gian và địa điểm nghiên cứu 22

2.2 Phương pháp nghiên cứu 22

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 22

2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 22

2.3 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 23

Trang 6

2.4 Phương pháp thu thập thông tin 25

2.4.1 Công cụ thu thập thông tin: 25

2.4.2 Kỹ thuật thu thập thông tin 25

2.4.3 Quy trình thu thập thông tin 25

2.5 Phân tích và xử lý số liệu 28

2.6 Sai số và cách khắc phục sai số 28

2.6.1 Sai số 28

2.6.2 Cách khắc phục sai số 28

2.7 Đạo đức nghiên cứu: 28

2.8 Hạn chế của đề tài 29

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 30

3.2 Thực trạng sử dụng thuốc y học cổ truyền của người bệnh đến khám tại phòng khám s ố 19, Bệnh viện Quân Y 354 32

3.3 Một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng thuốc YHCT của đối tượng nghiên cứu 39

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 45

4.1 Th ực trạng sử dụng thuốc y học cổ truyền của người bệnh đến khám tại phòng khám số 19 Bệnh viện Quân Y 354 năm 2019 45

4.2 Một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng thuốc YHCT của đối tượng nghiên cứu 51

K ẾT LUẬN 55 TÀI LI ỆU THAM KHẢO

Trang 7

v

BHYT Bảo hiểm y tế

BV Bệnh viện CBYT Cán bộ y tế CSSK Chăm sóc sức khỏe CSSKBĐ Chăm sóc sức khỏe ban đầu YDCT Y dược cổ truyền

YHCT Y học Cổ truyền YHHĐ Y học hiện đại TCT Thuốc cổ truyền TCAM TeleCommunications Access Method

TM Trademark WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Ogranization)

Trang 8

DANH M ỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Biến số và chỉ số nghiên cứu 23

Bảng 3.1.Phân bố đối tượng theo tuổi 30

Bảng 3.2.Phân bố đối tượng theo giới và dân tộc 30

Bảng 3.3.Phân bố đối tượng theo nghề nghiệp 31

Bảng 3.4 Phân bố đối tượng theo trình độ học vấn 31

Bảng 3.5 Phân bố mẫu theo tình trạng bảo hiểm y tế 31

B ảng 3.6 Tỷ lệ đối tượng theo điều kiện kinh tế 32

Bảng 3.7 Tỷ lệ đối tượng theo nơi thường trú 32

Bảng 3.8 Tỷ lệ sử dụng thuốc y học cổ truyền của đối tượng 32

Bảng 3.9 Phân bố tình trạng đã sử dụng thuốc theo thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 33

Bảng 3.10 Lý do chưa bao giờ sử dụng YHCT của người bệnh 34

Bảng 3.11 Lý do sử dụng thuốc YHCT của người bệnh 34

Bảng 3.12 Nguồn thông tin về thuốc y học cố truyển 35

Bảng 3.13 Chỉ định sử dụng thuốc y học cổ truyền 35

Bảng 3.14 Phân bố nguồn sử dụng thuốc 36

Bảng 3.15 Mục đích sử dụng thuốc YHCT của đối tượng nghiên cứu 36

Bảng 3.16 Sử dụng thuốc YHCT theo tính chất bệnh 37

Bảng 3.17 Nhóm bệnh thường được điều trị bằng thuốc y học cố truyền 37

Bảng 3.18 Các dạng chế phẩm thuốc YHCT đã sử dụng của đối tượng nghiên cứu 38 Bảng 3.20 Mức độ tín nhiệm thuốc y học cổ truyền 39

Bảng 3.22 Mối liên quan giữa tuổi với việc sử dụng YHCT 40

Bảng 3.23 Mối liên quan giữa nghề nghiệp với việc sử dụng thuốc YHCT 40

Bảng 3.24 Mối liên quan giữa nơi thường trú với việc sử dụng YHCT 40

Bảng 3.25 Mối liên quan giữa trình độ học vấn với việc sử dụng YHCT 41

B ảng 3.26 Mối liên quan giữa loại đối tượng với việc sử dụng YHCT 41

Trang 9

vii

Bảng 3.27 Mối liên quan giữa loại chỉ định dùng YHCT với việc mức độ sử dụng

YHCT 41

Bảng 3.28 Mối liên quan giữa mục đích sử dụng với việc sử dụng YHCT 42

Bảng 3.29 Mối liên quan giữa mức tín nhiệm với việc sử dụng YHCT 43

Bảng 3.30 Mối liên quan giữa loại bệnh với việc sử dụng YHCT 43

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam có một nền Y học cổ truyền lâu đời và phong phú Cội nguồn

của nền Y học cổ truyền Việt Nam là những kinh nghiệm dân gian hình thành

do kết quả đấu tranh sinh tồn giữa con người với những tác nhân gây bệnh, được lưu truyền và liên tục được bổ sung bởi kinh nghiệm của các thế hệ, ngày một hoàn thiện và khoa học hơn, góp phần đáng kể trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Từ xưa cha ông ta đã có nhiều kinh nghiệm trong sử dụng thuốc y học cổ truyền để điều trị và phòng bệnh rất

hiệu quả [20] Trong bối cảnh thuốc tân dược ngày càng bị lạm dụng dẫn đến tình trạng kháng thuốc và còn có nhiều tác dụng không mong muốn, thì thuốc

Y học cổ truyền đang ngày càng được sử dụng nhiều hơn Hiện nay thuốc Y

học cổ truyền không chỉ được sử dụng rộng rãi ở các nước phương đông mà còn ở nhiều nước phát triển như Mỹ, Anh, Đức vì không những có tác dụng

chữa bệnh hiệu quả mà còn có tác dụng điều hòa khí huyết, âm dương, làm cân bằng các hoạt động trong cơ thể để duy trì sức khỏe, nâng cao chất lượng

cuộc sống lại có độ an toàn cao [20]

Ở Việt Nam, Ban chấp hành trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 24 - CT/

TW, ngày 4/8/2008 về việc phát triển nền Đông y Việt Nam và Hội Đông y

Việt Nam trong tình hình mới Một trong các quan điểm chỉ đạo của Chỉ thị này là phát triển nền Đông y Việt Nam vì mục tiêu bảo vệ, chăm sóc sức khỏe

của nhân dân, bảo tồn bản sắc, phát huy và phát triển một bộ phận văn hóa

của dân tộc Việt Nam, thể hiện tinh thần độc lập và tự cường của dân tộc Việt Nam Chỉ thị nêu rõ, cần kế thừa, bảo tồn và phát triển nền Y học, kết hợp Đông y với Tây y trong chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân [1], [10]

Đánh giá sau 10 năm thực hiện Chỉ thị trên, Bộ trưởng Y tế đã chỉ đạo:

“tới đây nhu cầu về chăm sóc sức khỏe bằng Y học cổ truyền sẽ là một lựa

chọn ưu tiên của nhiều đối tượng người cao tuổi, người mắc bệnh mạn tính, bệnh mới nổi, bệnh khó chữa Với chính sách “người Việt Nam dùng thuốc

Trang 11

2

Việt Nam”, Y học cổ truyền phải phát triển mạnh mẽ hơn nữa, chú trọng phát triển dược liệu "made in Vietnam" [1]

Việt Nam đã có một số nghiên cứu về sử dụng thuốc Y học cổ truyền

của người bệnh nhưng chưa mô tả sâu đó là các loại thuốc gì, dạng gì, dùng cho các bệnh cấp tính hay mạn tính, mức độ tín nhiệm ra sao? Lý do người bệnh lựa chọn sử dụng thuốc y học cổ truyền là gì? Đặc biệt, viện Quân Y

354 là một bệnh viện đa khoa, trong đó có khoa Y học cổ truyền nhưng chưa

có một nghiên cứu về thực trạng sử dụng thuốc của người bệnh đến khám tại

bệnh viện Liệu có nhiều hơn người bệnh sử dụng thuốc y học cổ truyền theo lời kêu gọi của nhà nước, do có chỉ định của cán bộ y tế hay người bệnh tự

lựa chọn? Và nếu có chỉ định của bác sỹ, thì liệu họ có chấp nhận và dùng

một cách tin tưởng hay không?

Để trả lời cho các câu hỏi trên, nghiên cứu “Thực trạng sử dụng thuốc

YHCT c ủa người bệnh đến khám tại phòng khám số 19, khoa Y học cổ truyền Bệnh viện Quân y 354 năm 2019 và một số yếu tố liên quan” được thực

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 THU ỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN

1.1.1 Định nghĩa

Theo định nghĩa của WHO: “Y học Cổ truyền (YHCT) còn được gọi là

Y học dân tộc, (Traditional medicine) là toàn bộ những kiến thức, kỹ năng,

thực hành dựa trên những nền tảng lý luận, lòng tin và kinh nghiệm của mỗi khu vực, mỗi nền văn hóa khác nhau Được sử dụng để duy trì sức khỏe, cũng như phòng và chữa bệnh, cải thiện, điều trị những rối loạn thể chất, tinh thần” Thuật ngữ này được sử dụng để chỉ YHCT ở một số quốc gia trên thế giới đặc

biệt là tại các nước phát triển Thuật ngữ “YHCT” đề cập tới những phương pháp bảo vệ và phục hồi sức khỏe, ra đời và tồn tại trước khi có Y học hiện đại (YHHĐ), được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, đặc biệt YHCT còn là một phần của di sản văn hóa các dân tộc [48]

Thuốc YHCT có nguồn gốc tự nhiên gồm các loại thực vật, động vật, khoáng vật có khả năng dùng làm thuốc chữa bệnh Thuốc y học cổ truyền là thuốc có thành phần là dược liệu được chế biến, bào chế hoặc phối ngũ theo lý luận và phương pháp của y học cổ truyền hoặc theo kinh nghiệm dân gian thành chế phẩm có dạng bào chế truyền thống hoặc hiện đại [12]

Mỗi nền YHCT trên thế giới đều gắn liền với đặc điểm văn hóa và lối

sống của dân tộc đó Mặc dù vậy trong nhiều hệ thống YHCT khác nhau vẫn

có những đặc tính chung mang tính phổ biến, đó là:

Niềm tin vào hệ thống lý luận, cho rằng con người là một thể thống

nhất của thể xác và tâm hồn, tinh thần và cảm xúc Sức khỏe con người là sự cân bằng của nhiều mặt đối lập nhau trong cơ thể cũng là sự cân bằng giữa cơ

thể con người và thế giới con người ( giới tự nhiên và môi trường sinh hoạt, làm việc)

Trong nghiên cứu này, ốm/ bệnh được định nghĩa là tất cả các trường hợp

gặp phải các vấn đề bất thường về sức khỏe, các vấn đề bất thường này gây ảnh

Trang 13

4

hưởng đến các hoạt động bình thường hàng ngày như ăn uống, đi lại, giao tiếp, lao động, vui chơi…trong thời gian ít nhất từ một ngày trở lên [42]

Cách tiếp cận trong chẩn đoán và điều trị của YHCT là một cách tiếp

cận tổng thể, không đơn giản là chỉ xác định cơ quan nào của cơ thể bị rối

loạn, tổn thương Cũng như ngoài các phương pháp điều trị được đưa ra, các thầy thuốc YHCT thường kèm theo các lời khuyên về lối sống và hành vi sức

khỏe đối với từng người bệnh cụ thể Và mỗi người bệnh khác nhau sẽ nhận được phương pháp điều trị khác nhau cho dù họ mắc cùng một chứng bệnh

Trước những lợi ích mà YHCT đem lại đối với sức khỏe con người cũng như sự lan rộng của nó thì WHO đã nhận định về lợi ích của YHCT:

“Không cần phải chứng minh lợi ích của YHCT mà cần phải đề cao và khai thác rộng rãi hơn những khả năng của nó có lợi cho toàn thể nhân loại, phải đánh giá và công nhận cho đúng chân giá trị của nó và làm cho nó hữu hiệu hơn, chắc chắn hơn, rẻ tiền hơn để sử dụng nhiều hơn” [11], [50]

1.1.2 Ngu ồn gốc thuốc YHCT

Thuốc YHCT có nguồn gốc tự nhiên gồm các loại thực vật, động vật, khoáng vật có khả năng dùng làm thuốc chữa bệnh, được phát hiện từ những kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh với bệnh tật lâu đời của người dân mà tìm ra

Do nhu cầu sử dụng ngày càng lớn cùng với việc thu hoạch tràn lan, ngày nay nguồn dược liệu tự nhiên ngày càng cạn kiệt, do vậy để tạo ra được nguồn nguyên liệu có chất lượng chúng ta phải gieo trồng, thu hái và chăn nuôi một cách có quy hoạch Mặt khác để sử dụng thuốc hợp lý, tránh lãng phí thì cần

có sự hiểu biết nhất định về quá trình bào chế, tính năng dược vật, sự quy kinh, phối ngũ và kiêng kỵ, đảm bảo tính hiệu quả và tính an toàn [12]

1.1.3 Phân lo ại thuốc YHCT

Thuốc thượng phẩm: Có khoảng 120 vị, là những vị thuốc có tác dụng bổ dưỡng và không độc: nhân sâm, hoàng kỳ, ba kích, cam thảo…

Trang 14

Thuốc trung phẩm: Là thuốc vừa có tác dụng bổ, vừa có tác dụng chữa bệnh, trong đó có khoảng 120 vị, những thuốc này có thể có độc hoặc không độc như can khương, ma hoàng, xuyên quy, bạch thược…

Thuốc hạ phẩm: Có khoảng 125 vị, những vị thuốc này khi dùng phải bào chế: phụ tử, bán hạ [20]

Trang 15

6

1.1.4 Các d ạng thuốc và phân loại chế phẩm thuốc YHCT

Thu ốc YHCT thường được bào chế dưới nhiều dạng khác nhau gồm: Thu ốc thang (tự sắc) là thuốc uống thường được dùng nhiều nhất so với các loại thuốc khác như thuốc viên nén, thuốc hoàn, thuốc tễ, thuốc siro, thuốc cao lỏng vì tính hiệu quả của nó Tuy nó có những bất tiện như phải mất công sắc thuốc, uống lượng thuốc nhiều, mùi vị thường khó uống Bù lại, thuốc thang ngấm nhanh trực tiếp vào hệ tiêu hóa, quan trọng nhất là thuốc thang được gia giảm theo bệnh trạng của từng người, từng bệnh nhân cụ thể Thuốc thang thường dùng cho những bệnh mãn tính lâu ngày, bệnh nhân đã dùng nhiều loại thuốc tây, nhưng cơ thể dị ứng với thuốc tây hoặc bị đau dạ dày, hoặc nóng quá gây táo bón, khó ngủ thì nên chuyển qua dùng thuốc y học cổ truyền dân tộc cho mát và an toàn Do thuốc thang dùng lâu dài cũng không gây những tác dụng không mong muốn, lại chữa vào tận gốc căn bệnh nên những bệnh nhân lớn tuổi, hoặc những người mắc những bệnh mãn tínhlâu ngày rất ưa dùng

Si rô là chế phẩm thuốc lỏng hay hỗn dịch dùng đường uống, có vị

ngọt, chứa nồng độ cao đường trắng (sucrose) hay chất tạo ngọt khác và dược

chất hoặc các dịch chiết từ dược liệu Sirô đơn là dung dịch đường trắng gần bão hòa trong nước tinh khiết Sirô cũng bao gồm những chế phẩm được hòa tan hay tạo thành hỗn dịch bằng nước ngay trước khi sử dụng tùy theo tính

chất của dược chất Viên nang là dạng thuốc uống chứa một hay nhiều dược

chất trong vỏ nang với nhiều kiểu dáng và kích thước khác nhau, tiện lợi, dễ

Trang 16

Ngâm rượu là thuốc cho vào bình thủy tinh hoặc sứ rồi cho rượu vào

ngâm, được dùng trong bồi bổ cơ thể hoặc có thể dùng làm thuốc bôi ngoài tùy theo từng bệnh cụ thể Có thể ngâm trong vài tháng tới vài năm [12]

1.2 TH ỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC Y HỌC CỔ TRUYỀN TẠI

VI ỆT NAM

Trước yêu cầu phát triển mới của đất nước và hội nhập với cộng đồng thế giới đòi hỏi YHCT phải không ngừng được đổi mới về tổ chức, nâng cao năng lực trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại và một nguồn nhân lực đủ về số lượng và mạnh về chất lượng đáp ứng được yêu cầu phát triển ngày càng cao của phòng bệnh, chữa bệnh, nghiên cứu khoa học và sản xuất thuốc Đông Dược phù hợp với sự phát triển của thế giới và của thời đại [8], [17]

Tuy nhiên, cho đến nay theo báo cáo Chính sách Quốc gia về y dược cổ truyền (YDCT) mới có 01 Sở Y tế có phòng quản lý YDCT, 66,7% Sở Y tế

có chuyên viên chuyên trách YDCT, 31,7% Sở Y tế chỉ có chuyên viên bán chuyên trách về YDCT, một số bệnh viện YDCT tỉnh, thành phố số giường bệnh còn thấp như: Ninh Bình, Long An, Đồng Nai, Lào Cai, Hoà Bình, Quảng Bình,v.v… Đội ngũ chuyên sâu YHCT còn rất mỏng, nhiều nơi chưa

có cán bộ chuyên môn về YHCT, trang thiết bị phục vụ cho công tác khám chữa bệnh bằng YHCT còn nghèo nàn, nhiều tỉnh số cán bộ YHCT có trình

độ đại học chỉ đếm trên đầu ngón tay như Quảng Trị, Quảng Bình, Đắc Nông, Kon Tum Ngay cả tại một số bệnh viện YHCT tuyến tỉnh, số lượng cán bộ hầu như rất ít và không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng YHCT như Bệnh viện YHCT Hà Giang có 103 cán bộ/100 giường bệnh, trong đó chỉ có 12 bác sĩ/100 giường bệnh; Bệnh viện YHCT Bình Dương có 126 cán bộ/150 giường bệnh, có 31 cán bộ đại học, trên đại học/150 giường bệnh; Bệnh viện YHCT Cao Bằng có 109 cán bộ/150 giường bệnh, trong đó có 20 bác sĩ/150 giường bệnh [8], [18]

Bên cạnh đó, số cán bộ có trình độ cao đa số tập trung tại các Viện, Bệnh viện Trung ương đầu ngành Nghiên cứu cũng cho thấy, nhân lực y dược học

Trang 17

8

cổ truyền có trình độ sau đại học tập trung nhiều ở tuyến trung ương (35,1%)

và tuyến tỉnh/thành phố (16,4%) Số y sĩ YHCT tập trung nhiều ở tuyến phường/xã (95,6%), tuyến tỉnh/thành phố và quận/huyện (47,8% và 46,2%) Thời gian làm công tác chuyên môn so với quỹ thời gian là 64,55- 81,15% và mức độ đáp ứng nhu cầu công tác là 68,0-89,3% [14]

1.3 S Ử DỤNG THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

1.3.1 Trên th ế giới

Nhận rõ vai trò quan trọng và lợi ích của việc sử dụng YHCT trong chăm sóc sức khỏe (CSSK), nhiều quốc gia trên thế giới đã đặt ra vấn đề kết hợp YHHĐ với YHCT trong CSSK ban đầu Không chỉ ở các nước châu Á và các nước đang phát triển mà ngay cả những nước phát triển, YHCT cũng được sử dụng rộng, và nói về mối quan hệ giữa kiến thức, thái độ, thực hành của người bệnh đối với sức khỏe chung của họ [39] Trong tuyên ngôn Alma - Ata “Sức khỏe cho mọi người” năm 1978, Tổ chức Y tế thế giới đã kêu gọi các quốc gia chấp nhận YHCT vào trong hệ thống CSSK và công nhận vị trí của thầy thuốc YHCT trong hệ thống y tế Kết quả là hơn 40 năm qua việc sử dụng YHCT trong CSSK ban đầu tại tuyến y tế cơ sở đã tăng lên một cách đáng kể ở những nước đang phát triển cũng như việc sử dụng những thuốc bổ trợ và thay thế ở những nước phát triển trên thế giới Bởi những lý do đó, ngay trong những năm đầu của thế kỷ 21, Tổ chức Y tế thế giới đã vạch ra chiến lược về YHCT trong giai đoạn 2002 - 2005 để kết hợp YHCT vào trong

hệ thống hệ thống y tế quốc gia Trong 3 năm nghiên cứu, Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra khuyến cáo chung cho các nước trên thế giới về việc điều trị kết hợp YHCT với YHHĐ trong CSSK cộng đồng [50]

Một trong các quốc gia tiêu biểu có nền YHCT phát triển cao phải kể

tới là Trung Quốc Nền YHCT Trung Quốc có từ lâu đời và có ảnh hưởng sâu

sắc đến nền YHCT của nhiều quốc gia như Nhật Bản, Việt Nam, Ấn Độ

Nền YHCT Trung Quốc là nền YHCT dựa trên nền tảng lý luận sâu sắc, kết

hợp nhuần nhuyễn với triết học phương Đông, với học thuyết Âm dương, Ngũ

Trang 18

hành, với những tác phẩm lý luận kinh điển như Nội kinh, Nạn kinh, Thương hàn, Kim quỹ yếu lược Sự kết hợp YHCT với YHHĐ tại Trung Quốc là một trong những chủ trương chính của Ngành Y tế Trung Quốc Trong đó các thầy thuốc Tây y được đào tạo thêm về YHCT bên cạnh những thầy thuốc chuyên khoa YHCT và các thầy thuốc YHCT được đào tạo thêm về YHHĐ, họ được công nhận một cách chính thức vào hệ thống y tế Hệ thống CSSK bằng YHCT của Trung Quốc theo báo cáo của WHO lên đến 525 000 bác sĩ chuyên khoa YHCT với 2 654 bệnh viện YHCT, 170 trường đại học và các

viện nghiên cứu về YHCT Số lượng người dân sử dụng YHCT tại Trung

Quốc là 90%, lượng bệnh nhân hàng năm điều trị ngoại trú là 200 triệu, bệnh nhân nội trú là 3 triệu lượt người một năm YHCT Trung Quốc đã được hơn

120 quốc gia và khu vực trên thế giới chấp nhận và giành được vị trí hợp pháp

ở nhiều quốc gia trên thế giới như Singapore, Malaysia và Indonesia Tại

Hồng Công, Trung Quốc, 60% dân số đã khám chữa bệnh bằng YHCT [47],

Hiện nay, thuốc cổ truyền Trung Quốc đóng vai trò quan trọng trong

nền YHCT ở Trung Quốc Tại Trung Quốc có tới 11.146 loài trong tổng số khoảng 25000 loài được dùng làm thuốc trên thế giới Bên cạnh nguồn thuốc

cổ truyền Trung Quốc còn có nguồn thuốc của các dân tộc bản địa Hai nguồn dược liệu này được sử dụng trong chăm sóc sức khỏe, làm mỹ phẩm và

thực phẩm chức năng Trung Quốc là nước xuất khẩu dược liệu lớn sang các nước thuộc châu Á, Âu, bắc Mỹ, Thái Bình dương và châu Úc Các chất Taxon, Gingko hay các dịch chiết từ Nhân sâm, Tam thất cũng là những mặt hàng xuất khẩu mạnh của Trung Quốc [47]

Nhìn chung, nhiều nước trên thế giới rất quan tâm phát triển và sử dụng YHCT trong việc CSSK cho nhân dân và coi đó là một trong những yếu tố then chốt trong CSSKBĐ

YHCT hiện nay đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới Tại châu Phi có tới 80% dân số sử dụng YHCT trong CSSK Tại châu Á

và Mỹ - La tinh số lượng người sử dụng YHCT ngày một tăng Tỷ lệ nguời

bệnh sử dụng các biện pháp chữa bệnh bằng YHCT tại Ghana là hơn 60%

Trang 19

10

Đối với khu vực Mỹ - La tinh, theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới, 71% dân số Chile sử dụng YHCT và 40% dân số Colombia đã sử dụng YHCT trong khám chữa bệnh [48]

Một nghiên cứu khác của Peltzer và cộng sự tại Nam Phi cho thấy YHCT còn đóng vai trò quan trọng trong CSSK sinh sản, chăm sóc trước sinh, trong khi sinh và sau sinh, chăm sóc sơ sinh và kế hoạch hóa gia đình [40]

Nghiên cứu sử dụng các thuốc thảo dược của YHCT trong điều trị

những bệnh hiểm nghèo như ung thư cũng đang được tiến hành tại nhiều quốc gia trên thế giới, người bệnh cũng tìm đến YHCT sau khi điều trị bằng các phương pháp YHHĐ chư thấy hiệu quả Các sản phẩm từ thảo dược dành cho

bổ dưỡng, chống lo âu, thực phẩm chức năng, vitamin tự nhiên được dùng ngày càng nhiều tại các nước phát triển Người bệnh sử dụng YHCT hay các

biện pháp thay thế bổ trợ còn tìm thấy sự hài lòng trong các dịch vụ cung cấp

về chất lượng, về tính an toàn trong sử dụng [32]

Các báo cáo khảo sát của Mỹ đã chỉ ra rằng những phàn nàn của người

bệnh về các dịch vụ khám chữa bệnh YHCT ít hơn YHHĐ Sử dụng YHCT còn cắt giảm bớt chí phí quốc gia về y tế Trong nghiên cứu của Doris Muta

về hiệu quả kinh tế của việc sử dụng YHCT trong khám chữa bệnh (KCB) năm 2001, tại Kenya, chính phủ đã tiết kiệm được 80.000 USD/ năm Tác giả cũng nêu ra rằng các thầy thuốc YHCT giải quyết được 68,7% gánh nặng

bệnh tật, so với 31,3% từ phía Chính phủ [35]

Nhật Bản cũng là một quốc gia có nền YHCT lâu đời và phát triển với

lịch sử trên 1400 năm Nhật Bản được xem là nước có tỷ lệ người sử dụng YHCT cao nhất thế giới hiện nay, một số nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản đã xác định sự phổ biến của việc sử dụng thuốc YHCT điều trị cho

bệnh nhân có khối u là khá cao, nhất là những bệnh nhân có khối u lành tính, các loại thuốc thay thế thường là thảo dược chiếm 96,2% Động cơ thúc đẩy người bệnh sử dụng phần lớn là do được tư vấn và giới thiệu (77,7%), tự cá nhân lựa chọn thì ít hơn (23,3%) [38]

Trang 20

Karl Peltzer và cs (2016) đã nghiên cứu về sử dụng thuốc YHCT trong

12 tháng qua ở người dân trong cộng đồng bị các bệnh mạn tính ở Myanmar

Kết quả cho thấy trong số 1600 người tham gia khảo sát, tỷ lệ sử dụng thuốc YHCT là 95,1% (nhà thuốc cung cấp 14,6%, sản phẩm TCAM = 65,0% và TCAM tự trợ giúp = 86,2%) Hơn 90% người tham gia nhận thấy thuốc YHCT là rất có ích Trong phân tích hồi quy logistic đa biến, các tác giả cho

biết một số yếu tố liên quan đến sử dụng thuốc YHCT, gồm tuổi cao hơn, trình độ văn hoá thấp, cư trú ở nông thôn và có hai hoặc nhiều tình bệnh mạn tính có liên quan đến sử dụng thuốc YHCT Thuốc YHCT được sử dụng khá

phổ biến ở Myanmar [40]

Hyeun-Kyoo Shin H.K và cs (2013) đã công bố kết quả nghiên cứu về

việc sử dụng các loại thuốc YHCT và trải nghiệm không mong muốn ở 2000 người tiêu dùng trong năm 2008 ở Hàn Quốc Trong số 2.000 người tham gia,

có 45,8% đã dùng thuốc thảo dược hoặc nhận các liệu pháp y học cổ truyền Các kết quả còn cho thấy tỷ lệ sử dụng YHCTcao hơn ở phụ nữ và trong số

những bệnh nhân ở độ tuổi 30 Trong tổng số sử dụng YHCT của Hàn Quốc, châm cứu chiếm 36,7%, thuốc thảo dược chiếm 13,4% Về tần suất sử dụng YHCT, 73,8% bệnh nhân báo cáo sử dụng TM dưới 5 lần trong 1 năm [37]

Nghiên cứu của Chun-Chuan Shih cho biết các yếu tố liên quan đến việc sử dụng của y học cổ truyền Trung Quốc trong mô hình hồi qui logistic

đa biến Những người trẻ tuổi có nhiều khả năng sử dụng các dịch vụ YHCT hơn những người già > 70 tuổi Đàn ông sử dụng ít hơn phụ nữ Những người

có trình độ học vấn cao có khả năng sử dụng nhiều hơn những người có trình

độ học vấn thấp Những người chưa kết hôn ít sử dụng thuốc YHCT hơn những người đã kết hôn [33]

Trong nghiên cứu công dụng của thảo dược và các sản phẩm bổ sung ở bệnh nhân mắc bệnh mạn tính ở Việt Nam năm 2017, Karl P., Nguyễn Hữu Thắng, Nguyễn Bạch Ngọc và cs đã sử dụng phân tích hồi quy logistic đa biến trong phân tích kết quả và cho biết, tuổi, cư dân thành thị, người có thu nhập trung bình, người không tham gia uống rượu, có ba hoặc nhiều bệnh

Trang 21

với YHCT, thái độ của người cung cấp YHCT đối với khách hàng cũng có liên quan tới việc sử dụng YHCT thay vì các yếu tố nhân khẩu học xã hội [36]

Siti Z M và cộng sự nghiên cứu về các phương thức TCAM khác nhau được sử dụng ở người dân Malaysia và cho biết, các liệu pháp dựa trên sinh

học, bao gồm liệu pháp thảo dược, đã được người dân sử dụng phổ biến khi

có các vấn đề về sức khoẻ (88,9%) và để duy trì sức khỏe (87,3%) Trong danh mục này, nhóm sản phẩm thảo dược nói chung, thảo dược làm đẹp bằng

thảo mộc và nhóm sản phẩm vệ sinh nguồn gốc thảo mộc được sử dụng phổ biến nhất cho các vấn đề sức khỏe (23,6%), trong khi thảo dược nguyên chất

là những loại được sử dụng phổ biến nhất để duy trì sức khỏe (29,6%) [44]

1.3.2 S ử dụng thuốc YHCT tại Việt Nam

Y học cổ truyền, dược học cổ truyền là vốn cổ rất quý của dân tộc ta, có lịch sử lâu đời, bắt nguồn từ khi có loài người trên đất nước Việt Nam Khởi đầu, qua kinh nghiệm trong khi tìm kiếm thức ăn, người xưa đã phát hiện dần

những vị thuốc từ cỏ cây đến động vật, khoáng vật Những kinh nghiệm đó

dần được sưu tầm, đúc kết, ghi chép thành hệ thống lý luận truyền từ đời này qua đời khác [12]

Trang 22

Việt Nam, giáp với Trung Quốc - núi liền núi, sông liền sông Vì vậy, trong quá trình lịch sử lâu dài xây dựng và phát triển của mỗi nước đều có

giao lưu và ảnh hưởng lẫn nhau về nhiều mặt: Văn hóa, xã hội, phong tục trong đó có YHCT Đóng góp cho sự phát triển của YHCT nói chung và nói riêng trong lĩnh vực dược cổ truyền ở nước ta cũng đã có sự đóng góp rất nhiều của các danh y của nhiều triều đại, trong số đó nổi bật lên là sự nghiệp

của danh y Tuệ Tĩnh ở cuối đời Trần vào thế kỷ XIV Ông được suy tôn là

"Vị thánh thuốc nam" trong Y học cổ truyền nước ta với hai tác phẩm y học

nổi tiếng là "Nam dược thần hiệu" và "Hồng nghĩa giác tư y thư" Đây là bộ sách gồm 2 quyển: Quyển thượng và quyển hạ Quyển thượng gồm bài phú thuốc nam bằng chữ nôm, bài phú về dược tính vị thuốc bằng chữ hán, các

mục về y lý chung, cũng như chủ trị của các thuốc, thuốc bổ, tả, ôn, lương của

12 kinh, ba đơn thuốc thường dùng "Như ý đơn", "Hồi sinh đơn", "Bổ âm đơn" và 37 phương kinh nghiệm Quyển hạ gồm 13 phương gia giảm, 37 phương trị thương hàn và đề cương phép trị các bệnh Quyển thứ hai là

"Nam dược thần hiệu", đây là bộ sách có 11 quyển, quyển đầu nói về dược tính 499 vị thuốc nam, 10 quyển sau, mỗi quyển nói về một khoa trị bệnh, đây

là bộ sách ảnh hưởng rất sâu rộng trong các y gia Việt Nam, bởi nó đã chỉ dẫn cách dùng thuốc nam để trị bệnh cho đại đa số người nghèo, nên được phổ

cập đến quần chúng qua các phương thuốc điều trị đơn giản, dễ kiếm với

những vị thuốc sẵn có ở Việt Nam Ông đã mở đường cho sự nghiệp nghiên cứu thuốc Nam, xây dựng nền móng cho ngành dược cổ truyền Việt Nam [24] Kế thừa Tuệ Tĩnh đến thế kỷ XVIII ở thời kỳ hậu Lê lại xuất hiện danh

y Lê Hữu Trác với hiệu là Hải Thượng Lãn Ông (1720 - 1791), ông đã dày công biên soạn pho sách “Hải thượng Y tông tâm lĩnh”, một bộ sách đồ sộ với

28 tập gồm 66 quyển Trong đó có nhiều quyển đề cập đến dược cổ truyền,

nổi trội có tập "Dược phẩm vậng yếu" [20] Trong tập này ông đã chọn 150 vị thuốc thiết yếu trong các sách dược cổ truyền kinh điển, căn cứ vào khí vị và công năng mà phân loại theo ngũ hành thành 5 bộ, quy nạp tất cả tính vị ưa nhau vào cùng một loại, cơ sở để biên soạn quyển sách này như ông đã viết

Trang 23

14

" lấy phần dược tính trong Phùng thị cẩm nang làm cốt yếu, tham hợp thêm các sách Cảnh nhạc toàn thư, Y học nhập môn, Lôi công bào chế, Bản thảo cương mục các vị thuốc đã nêu rõ: chủ dụng, hợp dụng, kỵ dụng và phụ thêm cách bào chế" để tạo thành quyển sách được trình bày gọn gàng, cách tra tìm dễ dàng nhanh chóng "Lĩnh nam bản thảo" cũng là một trong 28 tập của

Hải Thượng Lãn Ông (Lĩnh nam bản thảo - bản thảo của đất Lĩnh nam - bao

gồm Việt Nam và phía nam Trung Quốc) là một quyển sách đề cập tới khí vị,

chủ trị của các vị thuốc Nam, một số vị có phụ thêm cách bào chế Ông đã phân chia thành 2 quyển: Quyển thượng, đây là quyển thừa kế biên tập theo Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh: Quyển hạ do Hải Thượng Lãn Ông sưu

tầm nghiên cứu, tập hợp bổ xung thêm một số vị thuốc, ông đã sắp xếp phân chia các vị thuốc cổ truyền thành 22 loại, trong đó loại cỏ hoang gồm 60 vị, loại dây leo gồm 17 vị, loại rau gồm 46 vị và bổ sung 117 vị [20]

Về chuyên ngành Y học cổ truyền, vấn đề đào tạo và nghiên cứu dược

cổ truyền được quan tâm - đặc biệt với các phương tiện nghiên cứu của khoa

học và Y dược học hiện đại đã tạo nhiều chế phẩm cao cấp từ thuốc cổ truyền, đóng góp tích cực trong hệ thống chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho nhân dân Thực hiện phương châm kết hợp Y học cổ truyền với Y học hiện đại, hiện đại hóa Y học cổ truyền nhưng vẫn giữ được bản sắc của Y học cổ truyền [31]

Nghị định của Chính phủ số 37/CP ngày 20/6/1996 về định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong 1996-2000

và chính sách quốc gia về thuốc Việt Nam: “Phát huy, phát triển thuốc cổ truyền, khai thác có chọn lọc các bài thuốc gia truyền cũng như kinh nghiệm

chữa bệnh cổ truyền của nhân dân đã được thử thách, công nhận qua thời gian, khuyến khích khen thưởng thoả đáng về tinh thần và vật chất đối với

những đơn vị đã cống hiến những bài thuốc, vị thuốc quý [9] Tăng cường đầu

tư, nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực thuốc cổ truyền, tiêu chuẩn hoá kỹ thuật bào chế, chế biến và sử dụng thuốc cổ truyền Tăng cường đào tạo và

bồi dưỡng các lương y, những người sản xuất và bào chế thuốc cổ truyền

Trang 24

nhằm xây dựng một đội ngũ cán bộ về YDCT có chất lượng, có trình độ cao” [13]

Chính sách quốc gia về thuốc và chiến lược phát triển ngành Dược giai đoạn đến năm 2020 và những năm tiếp theo đã đặt vấn đề phát triển dược

liệu, trong đó xác định kế hoạch hóa nhiệm vụ phát triển nguồn dược liệu, xác định vùng nuôi trồng cây con làm thuốc, kết hợp trồng rừng với trồng cây thuốc, chọn lọc, bảo tồn phát triển nguồn giống và gen cây thuốc, xây dựng vườn quốc gia về cây thuốc, xây dựng bộ tiêu chuẩn nhà nước về các dược

liệu [28], [30]

Đến năm 2005, chúng ta đã điều tra khảo sát có 3948 loài thực vật, 408 loài động vật, 75 loại khoáng vật, 52 loài tảo có ở Việt Nam được sử dụng làm thuốc Năm 1999 Bộ Y tế đã ban hành Danh mục thuốc chủ yếu với 88 chế phẩm thuốc YHCT, 60 cây thuốc tại tuyến y tế xã và 186 vị thuốc thiết

yếu Năm 2005, Danh mục thuốc chủ yếu YHCT được ban hành với 94 chế

phẩm thuốc YHCT, 30 cây thuốc được trồng tại vườn thuốc mẫu, danh mục

96 cây thuốc Nam phân theo nhóm bệnh và 215 vị thuốc Đến tháng 2/2008

Bộ Y tế ban hành "Danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở

khám ch ữa bệnh" với 98 loại chế phẩm và 237 vị thuốc [26], [27]

Bộ Y tế (2013) tại Việt Nam có 70 mặt hàng trong danh mục thuốc thảo dược thiết yếu: 10 đối với sốt, 10 đối với phát ban, 11 đối với rối loạn tiêu hóa, 10 đối với rối loạn cơ địa nam, 8 đối với nhóm xương khớp, 9 đối với ho, 7 cho gan và 5 cho nhóm thuốc lợi tiểu Theo Bộ Y tế Việt Nam (2013), việc sản xuất và quản lý dược phẩm và dược phẩm dược liệu đang được tăng cường Một số nhà bán lẻ thuốc YHCT đã được cấp giấy chứng nhận để đáp ứng các điều kiện cho kinh doanh y học cổ truyền Quản lý nguồn gốc và chất lượng của các loại thuốc thảo dược và thảo dược phải đối mặt với một số mối quan hệ khác biệt [25]

Kết quả nghiên cứu về thực trạng sử dụng y học cổ truyền của người dân tỉnh Hà Tây (cũ) cho thấy tỷ lệ sử dụng YHCT trong cộng đồng là 72,9% trong đó điều trị kết hợp YHCT với y học hiện đại (YHHĐ) là 36,3%; điều trị

Trang 25

16

bằng YHHĐ đơn thuần là 34%; bằng y học cổ truyền đơn thuần 29,7% Về phương pháp điều trị của y học hiện đại: thuốc YHCT đơn thuần là 34,8%; phương pháp kết hợp thuốc và không dùng thuốc là 63,2%; phương pháp không dùng thuốc đơn thuần là 2,1% Về mục đích sử dụng y học cổ truyền:

để chữa bệnh là 61,3%; vừa để chữa bệnh đồng thời làm thuốc bổ 27,3%; để chữa bệnh sau khi chữa bệnh bằng YHHĐ không khỏi là 3,4% [16]

Nghiên cứu của Trần Thủy Sóng tại Hà Nội cho thấy, sử dụng thuốc YHCT là ở cơ sở y tế (CSYT) công lập là 68% và CSYT ngoài công lập là 95,7%, châm cứu được sử dụng với tỷ lệ 76% ở cơ sở y tế công lập và 85,1%

ở CSYT ngoài công lập Nguồn cung cấp thuốc hầu hết từ các địa phương khác với tỷ lệ 72,7% của cơ sở y tế công lập và 72,4% của cơ sở y tế ngoài công lập Dạng thuốc sắc vẫn được sử dụng rộng rãi tại cơ sở y tế công lập với tỷ lệ 60%, ở cơ sở y tế ngoài công lập với tỷ lệ 89,4%, dạng thuốc hoàn được sử dụng ở cơ sở y tế ngoài công lập chỉ là 14,9% Lý do được người dân lựa chọn khi sử dụng YHCT là quen dùng với 35,4%, 61,9% người dân được cán bộ y tế hướng dẫn sử dụng y học cổ truyền Lý do nhiều nhất người dân không lựa chọn phương pháp YHCT là tác dụng không tốt với tỷ lệ 35,7% [23]

Điều tra của Nguyễn Thị Bay trên 933 hộ dân tại Thuận An, Bình Dương về nhận xét được vai trò của YHCT trong đời sống của người dân, kết quả như sau: Thích dùng các phương pháp điều trị bằng y học cổ truyền nói chung: 87,4% Biện pháp chọn dùng: Cạo gió 81,6%; Xoa bóp 18,2%; Châm cứu 16,8%, thuốc Nam 10,4% Về nơi dùng: Tại nhà 61,4%; Tại trạm y tế: 9,2%; tại Bệnh Viện 2,0% Mỗi khi có bệnh thực thể đến phòng khám YHCT 4,1%; đến phòng mạch bác sĩ tư 16,8%; đến phòng khám y tế phường hoặc khu vực 21%, và đến nhà thuốc tây là 42,4% [2]

Tác giả Nguyễn Thị Oanh, trong một nghiên cứu về thực trạng sử dụng YHCT ở các trạm y tế tại thành phố Thanh Hóa năm 2007 cho thấy tỷ lệ người dân sử dụng y học cổ truyền trong khám chữa bệnh (KCB) tại các trạm

y tế là 22,0% [19]

Trang 26

Các báo cáo tổng kết trong những năm trở lại đây cho thấy xu hướng sử dụng YHCT trong khám chữa bệnh của người dân tăng lên rõ rệt Năm 2009,

tỷ lệ người bệnh khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền ở tuyến tỉnh là 7,2%, tuyến huyện là 5,8%, tuyến xã là 20,6%; tỷ lệ điều trị nội trú bằng y học cổ truyền hoặc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại là 14,1%, tỷ lệ điều trị ngoại trú bằng y học cổ truyền so với tổng chung là 19,7% [4] Đến năm

2010, tỷ lệ khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền so với tổng số lượt KCB ở tuyến xã là 24,6%, ở tuyến huyện là 9,1% và ở tuyến tỉnh là 8,8% Tỷ lệ điều trị nội trú bằng y học cổ truyền kết hợp với y học hiện đại ở tuyến huyện chiếm 17,1% và ở tuyến tỉnh chiếm 8,6% [5], [6] Tỷ lệ tương ứng theo báo cáo tổng quan ngành y tế năm 2013 và báo cáo tổng kết ngành y tế năm 2013 Cũng theo hai báo cáo này, tỷ lệ điều trị ngoại trú bằng y dược cổ truyền ở tuyến tỉnh đạt 12,6%, tuyến huyện 8,1% và tuyến xã đạt 25,9% [7]

Nghiên cứu của Trần Xuân Bách, Nguyễn Kim Ngân và cs (2016) đã nghiên cứu về Ưu tiên và sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ y học cổ truyền ở

cộng đồng dân tộc thiểu số nông thôn tại 3 tỉnh của Việt Nam Kết quả cho

thấy mức độ hài lòng cao với các dịch vụ YHCT rất cao, hơn 90% số người được hỏi cho biết tình trạng sức khỏe của họ được cải thiện khi sử dụng thuốc YHCT Các yếu tố liên quan đến sẻ dụng thuốc YHCT so với thuốc y học

hiện đại là dân tộc thiểu số, phụ nữ có sự hài lòng về dịch vụ YHCT tại cộng đồng cao hơn Các tác giả đã nhấn mạnh đến vai trò của nhân viên y tế tại

cộng đồng trong truyền thông và cung cấp các dịch vụ YHCT Đó là một điều đáng ghi nhận và hỗ trợ họ để YHCT được sử dụng rộng rãi hơn [32] Nghiên

cứu cắt ngang của Karl P., Thang N.H, Ngoc N.B ở 1601 bệnh nhân trưởng thành (tuổi trung bình: 50,5 tuổi, SD = 22,7) cho biết, có 43,6% đã sử dụng

thảo dược tại nhà Trong phân tích hồi quy logistic đa biến, tuổi già, cư trú đô

thị, có thu nhập trung bình, không tham gia uống rượu, có ba tình trạng mãn tính trở lên, tuân thủ thuốc thấp và tình trạng sức khỏe kém có liên quan đến

việc sử dụng thuốc thảo dược tại nhà Các phương thuốc thảo dược thường

Trang 27

18

được sử dụng bao gồm ngải cứu, nghệ vàng, lô hội, atisô, [41] Tuy nhiên,

những nghiên cứu tương tự ở Việt Nam còn rất ít

Tỷ lệ khám bệnh bằng y học cổ truyền so với tổng khám chữa bệnh chung của từng tuyến đã có bước cải thiện đáng kể, tuy nhiên chưa chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lượt khám chữa bệnh chung và ở mức thấp so với mục tiêu của Kế hoạch hành động của Chính phủ về phát triển y, dược cổ truyền Việt Nam đến năm 2020 trong đó mục tiêu đến năm 2015 tỷ lệ khám chữa bệnh YHCT ở tuyến trung ương đạt 10%; tuyến tỉnh đạt 15%; tuyến huyện đạt 20% và tuyến xã đạt 30%; đến năm 2020: tuyến trung ương đạt 15%; tuyến tỉnh đạt 20%; tuyến huyện đạt 25% và tuyến xã đạt 40% [27]

Trang 28

1.4 GI ỚI THIỆU BỆNH VIỆN QUÂN Y 354

Bệnh viện quân Y 354 là một bệnh viện hạng A, đóng quân trên địa bàn thành phố Hà Nội Chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện là thu dung, cấp cứu

và điều trị cho hơn 100 đầu mối tuyến, với quy mô hơn 500 giường bệnh Đối tượng phục vụ đa dạng, bao gồm: Cán bộ công nhân viên trong lực lượng vũ trang, các đối tượng chính sách và cả người dân khắp các tỉnh Đồng thời sẵn sàng tham gia làm các nhiệm vụ khác khi có yêu cầu của cấp trên Bệnh viện

có 23 khoa, 4 phòng Các Khoa gồm có:

Khối nội: Khoa Nội Tim – Thận – Khớp

Khoa Nội truyền nhiễm – Da liễu Khoa Nội Tiêu hóa – Bệnh máu Khoa Y học Cổ truyền (phòng khám số 19) Khoa Nội Tâm thần kinh

Khoa Khám chữa bệnh nhân dân Khoa Hồi sức cấp cứu

Khoa khám bệnh

Khối ngoại: Khoa Ngoại Chấn thương chỉnh hình

Khoa Phẫu thuật – Gây mê hồi sức

Khoa Ngoại chung

Trang 29

20

Khoa Dinh dưỡng Khoa Chống nhiễm khuẩn Khoa Lý liệu – Phục hồi chức năng Khoa Trang bị

Và một số phòng ban như: Ban chính trị, Ban hành chính, Ban tài

chính, Ban hậu cần

Quy trình khám ch ữa bệnh của bệnh viện: Bệnh nhân đến bấm số,

sau đó đến quầy tiếp đón cung cấp các giấy tờ có liên quan, quầy tiếp đón có nhiệm vụ phân luồng bệnh nhân vào các phòng khám đa khoa trong bệnh viện, hoặc vào chuyên khoa theo tính chất bệnh

Khoa YHCT là một khoa nằm trong bệnh viện, được thành lập ngày 27/7/1977 có nhiệm vụ khám, thu dung, điều trị một số loại bệnh cấp và mạn tính bằng Y học cổ truyền kết hợp Y học hiện đại, tham mưu cho Ban giám đốc về Y học cổ truyền trong bệnh viện, tích cực thừa kế các bài thuốc gia truyền của các lương y và của bệnh viện YHCT trong nước Nhiệm vụ của Khoa là: a) Tổ chức nghiên cứu khoa học nhằm xác định các phương pháp

điều trị phòng bệnh bằng phương pháp YHCT, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật

về YHCT để không ngừng nâng cao chất lượng điều trị; b) Thường xuyên

nắm bắt tình hình tổ đông y tại các khoa trong bệnh viện Tư vấn các khoa

trong việc sử dụng thuốc YHCT và vận dụng các phương pháp không dùng thuốc trong điều trị Hàng năm có khoảng 600-700 lượt bệnh nhân điều trị tại khoa và đã có hiệu quả nhất định

Bệnh viện có 20 phòng khám bệnh, hàng ngày trung bình có hơn 1000 lượt bệnh nhân đến khám, do lưu lượng khám đông nên bệnh viên giai cho khoa YHCT một phòng khám số 19

Phòng khám 19 được đặt tại khoa, có nhiệm vụ khám đa khoa cho tất cả

các đối tượng quân, dân, sàng lọc theo tính chất bệnh, phân luồng người bệnh vào các khoa lâm sàng theo đúng mặt bệnh chuyên khoa Trường hợp nhẹ không cần theo dõi, sẽ kê đơn về uống tại gia đình

Trang 30

1.5 Khung lý thuy ết nghiên cứu

Y h ọc

C ổ truyền

Điều trị một số

b ệnh

xương khớp (Dây đau xương, huyết đằng, lá lốt, đinh lăng…) -Nhóm thuốc hạ sốt (Lá diếp cá, rau má,

cỏ nhọ nồi…) -Nhóm thuốc chữa cảm lạnh (Kinh giới, tía tô, gừng, quế…)

…………

Thuốc nước đóng túi

Thuốc viên hoàn

Siro

Thuốc thang (sắc)

Thuốc lá Tươi/khô

Thuốc ngâm rượu

Trang 31

22

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Người bệnh, có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên, đến khám tại phòng khám

số 19, Bệnh viện Quân Y 354

Tiêu chuẩn chọn:

- Người bệnh đồng ý tham gia

- Người bệnh có khả năng đọc, hiểu và trả lời các câu hỏi

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Người bệnh nặng không có khả năng đối thoại chính xác với thầy thuốc

2.1.2 Th ời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian được tiến hành từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2019

Địa điểm nghiên cứu tại phòng khám số 19, khoa Y học Cổ Truyền Bệnh viện Quân Y 354, Tổng cục Hậu cần

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thi ết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, có phân tích

Trang 32

p: Tỷ lệ ước đoán sử dụng thuốc Y học Cổ truyền tại Việt Nam theo Karl P., Thang Nguyen Huu, Nguyen Bach Ngoc và Supa P (2017) là 43,6%,

p = 0,436 [41]

d: Khoảng sai lệch cho phép, d = 0,05

Tổng số n = 378 Thêm 10% biến bỏ cuộc tổng 400 người

- Cách chọn mẫu: Chọn mẫu từ người bệnh đến khám bệnh tại Phòng khám số 19 của Bệnh viện bắt đầu từ 1 tháng 4 cho đến 30 tháng 4 đủ số lượng cần cho nghiên cứu

2.3 Các bi ến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá

2.3.1 Biến số và chỉ số nghiên cứu

B ảng 2.1: Biến số và chỉ số nghiên cứu

thập

Thông tin chung về đối tượng được điều tra

Tuổi (<30, 30-50,51-70, >70) Số lượng, tỷ lệ theo nhóm tuổi Phỏng vấn

Giới: Nam, Nữ Số lượng, tỷ lệ % theo giới Phỏng vấn Dân tộc: Kinh, khác Số lượng, tỷ lệ % theo dân tộc Phỏng vấn Nghề nghiệp (Bộ đội, văn phòng, công nhân,

hưu trí, lao động tự do, nội trợ, khác) Số lượng, tỷ lệ % nghề nghiệp Phỏng vấn Trình độ (tốt nghiệp PTTH trở xuống, trung

cấp, cao đẳng, đại học trở lên) Số lượng, tỷ lệ % theo trình độ Phỏng vấn Nơi ở (thành phố, thị xã thị trấn, nông thôn) Số lượng, tỷ lệ % theo nơi ở Phỏng vấn

Điều kiện kinh tế (nghèo, cận nghèo, trung

bình, khá giả, giàu)

Số lượng, tỷ lệ % theo điều kiện kinh

Trang 33

24

Chế độ sử dụng dịch vụ (quân nhân, bảo hiểm

y tế, dịch vụ tự nguyên) Số lượng, tỷ lệ % theo đố tượng Phỏng vấn Bệnh hiện mắc (Thoái hóa cột sống, bệnh về

thần kinh ngoại biên, bệnh về tiêu hóa, bệnh về

tiết niệu, )

Số lượng, tỷ lệ % theo bệnh Phỏng vấn

Mục tiêu 1 Mô tả thực trạng sử dụng thuốc YHCT của người bệnh đến khám tại phòng khám số 19, Bệnh viện Quân Y 354 năm 2019

Thực trạng sử dụng thuốc YCHC trước khi vào

viện (chưa sử dụng bao giờ, rất ít khi, thường

xuyên)

Số lượng, tỷ lệ % sử dụng thuốc Phỏng vấn

Sử dụng loại thuốc dạng

(viên hoàn, sắc thang, đóng túi, khác)

Số lượng, tỷ lệ % theo dạng chế phẩm Phỏng vấn

Các dạng thuốc YHCT hay dùng trong một số

bệnh thông thường

Số lượng, tỷ lệ % theo bệnh Phỏng vấn

Loại thuốc dạng chế phẩm dễ sử dụng (viên

hoàn, sắc thang, đóng túi, khác)

Số lượng, tỷ lệ % theo dạng chế phẩm

dễ sử dụng Phỏng vấn

Lý do sử dụng thuốc YHCT (sẵn có, hiệu quả,

rẻ tiền, ít tác dụng không mong muốn) Sdo dùngố lượng, tỷ lệ % lý Phỏng vấn

Lý do không chọn? (bất tiện, khó uống, không

tin tưởng, thiếu kiến thức YHCT)

Số lượng, tỷ lệ % lý

do không dùng Phỏng vấn

Sự tín nhiệm đối với YHCT (điều trị tiếp khi

có bệnh, chuyển sang thuốc YHHĐ, giới thiệu

cho người thân, bạn bè điều trị bằng thuốc

YHCT)

Số lượng, tỷ lệ % độ tín nhiệm Phỏng vấn

Mục tiêu 2 Một số yếu tố liên quan tới sử dụng thuốc YHCT của đối tượng nghiên cứu

Trang 34

Nghề nghiệp OR, CI95%, p Tính toán

2.3.2 Tiêu chuẩn đánh giá mức độ sử dụng thuốc Y học Cổ truyền

- Chưa sử dụng

- Rất ít

- Thường xuyên

2.4 Phương pháp thu thập thông tin

2.4.1 Công cụ thu thập thông tin:

Xây dựng Phiếu Phỏng vấn: Thiết kế phiếu Phỏng vấn theo bộ câu hỏi tự điền gồm 3 phần:

Phần 1 Thông tin chung về đối tượng được Phỏng vấn

Phần 2 Mô tả thực trạng sử dụng thuốc Y học Cổ truyền

Phần 3 Câu hỏi liên quan đến sử dụng thuốc YHCT của đối tượng nghiên cứu

2.4.2 K ỹ thuật thu thập thông tin

Thu thập thông qua bảng câu hỏi tự điền

2.4.3 Quy trình thu t hập thông tin

 Bước 1: Xây dựng và hoàn thiện công cụ nghiên cứu

+ Xây dựng bộ công cụ nghiên cứu, nghiên cứu viên xây dựng bộ câu hỏi dựa theo mục tiêu nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và tham khảo các ý kiến chuyên gia

+ Sau khi xây dựng xong, nghiên cứu viên sẽ tiến hành phỏng vấn thử với bộ câu hỏi, chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện nội dung cho phù hợp, sau

đó in ra phục vụ cho Phỏng vấn chính thức

Trang 35

Mô t ả cách thu thập thông tin tại phòng khám:

Điều tra viên sẽ lần lượt giới thiệu mục đích nghiên cứu và tính bảo mật cho người cung cấp thông tin Nếu người dân đồng ý tham gia nghiên cứu thì sẽ đưa vào danh sách đối tượng nghiên cứu Tiếp theo, đối tương nghiên cứu sẽ được điều tra viên hướng dẫn người dân biết cách tự điền phiếu phỏng vấn sao cho chính xác nhất, tránh sai sót Phỏng vấn lần lượt cho đến khi đủ

cỡ mẫu thì dừng

Trang 36

SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU

Phân tích nh ững yếu tố

d ẫn đến tỷ lệ sử dụng thuốc YHCT

Trang 37

28

2.5 Phân tích và x ử lý số liệu

Sau khi việc thu thập thông tin kết thúc, các phiếu điều tra được làm sạch và nhập số liệu Dữ liệu được quản lý bằng phần mềm EpiData và được

xử lý bằng phần mềm SPSS 20,0 Kết quả sẽ được trình bày dưới dạng thống

kê mô tả bằng bảng, biểu đồ, đồ thị

Phương pháp phân tích hồi quy logistic được sử dụng để phân tích một

số yếu tố liên quan với mức ý nghĩa p < 0,05 để xác định mối liên quan đến việc sử dụng thuốc YHCT

- Kiểm tra kỹ phiếu để đảm bảo tất cả các câu hỏi đã được trả lời

- Nhập lại phiếu lần 2, nếu có nghi ngờ cho đến khi chính xác, tránh sai số

2.7 Đạo đức nghiên cứu:

- Đề cương nghiên cứu này đã được thông qua bởi Hội đồng xét duyệt

đề cương Trường Đại học Thăng Long

- Nghiên cứu được triển khai theo đúng đề cương đã được phê duyệt

- Nghiên cứu được triển khai có được sự đồng ý của Ban giám đốc

Bệnh viện Quân Y 354

Trang 38

- Các thông tin thu thập được chỉ dùng cho đúng mục tiêu nghiên cứu, không dùng cho mục đích khác, thông tin cơ bản của đối tượng sẽ được mã hóa và giữ bí mật

2.8 H ạn chế của đề tài

- Nghiên cứu chỉ thực hiện tại một phòng khám đa khoa của bệnh viện nên chỉ đại diện cho các đối tượng đến khám, chưa phản ánh được chính xác thực trạng sử dụng thuốc YHCT ngoài cộng đồng

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, nên các kết quả chỉ phản ánh số liệu tại thời điểm nghiên cứu, không kiểm định được mối quan hệ nhân quả

Điều kiện kinh tế và mức độ sử dụng đánh giá dựa the tự đánh giá của đối tượng nghiên cứu nên chưa phản ánh tính chính xác của đối tượng

Trang 39

30 tuổi và trên 70 tuổi rất ít, tương đương 7,5% và 9,5%

Bảng 3.2.Phân bố đối tượng theo giới và dân tộc (n=400)

Trong nghiên cứu, tỷ lệ nữ giới (61,8%) nhiều hơn nam giới (38,2%)

Về dân tộc, đối tượng là dân tộc Kinh chiếm chủ yếu với 96,8% (Bảng 3.2)

Ngày đăng: 11/03/2021, 02:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Thị Bay (2002). Vai trò của Y học cổ truyền trong đời sống của người dân huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương, Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 6(1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Bay
Năm: 2002
3. Bộ Y tế (2010). Thông tư Hướng dẫn kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh, số 50/2010/TT- BYT, ngày 31/12/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2010
8. Trịnh Yên Bình (2013). Thực trạng nhân lực, nhu cầu đào tạo liên tục cho cán bộ y dược cổ truyền và đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp, Luận án tiến sĩ y học, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhân lực, nhu cầu đào tạo liên tục cho cán bộ y dược cổ truyền và đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp
Tác giả: Trịnh Yên Bình
Năm: 2013
12. Đại học y Hà Nội (2005). Bài giảng Y học cổ truyền, , Nhà xuất bản Y học, tập 1. tr. 1- 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Y học cổ truyền
Tác giả: Đại học y Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2005
13. Nguyễn Minh Hà (2011), “Định hướng công tác thừa kế và nghiên cứu khoa học nhằm phát triển y dược học cổ truyền trong giai đoạn mới”, Tạp chí Y Dược học cổ truyền Quân sự, 1(1), tr.4-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Định hướng công tác thừa kế và nghiên cứu khoa học nhằm phát triển y dược học cổ truyền trong giai đoạn mới”
Tác giả: Nguyễn Minh Hà
Năm: 2011
14. Học viện y học cổ truyền Việt Nam (2008). Nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực y dược cổ truyền Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực y dược cổ truyền Việt Nam
Tác giả: Học viện y học cổ truyền Việt Nam
Năm: 2008
15. Phạm Vũ Khánh, Hoàng Thị Hoa Lý, Trần Đức Tuấn, Nguyễn Thành Trung. Nghiên cứu thực trạng sử dụng thuốc YHCT của người dân tỉnh Qảng Ninh. 2011. Y học thực hành (865) – số 4/2013. Tr. 14 -17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng sử dụng thuốc" YHCT "của" người dân tỉnh Qảng Ninh." 2011
16. Trần Văn Khanh (2006). Thực trạng sử dụng y học cổ truyền của người dân tỉnh Hà Tây năm 2006, Luận văn thạc sĩ y học, trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sử dụng y học cổ truyền của người dân tỉnh Hà Tây năm 2006
Tác giả: Trần Văn Khanh
Năm: 2006
17. Hoàng Thị Hoa Lý (2006). Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực và sử dụng thuốc Y học Cổ truyền ở một số địa phương tại tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sỹ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực và sử dụng thuốc Y học Cổ truyền ở một số địa phương tại tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Hoàng Thị Hoa Lý
Năm: 2006
18. Trần Chí Liêm và CS (2012). “Đánh giá 10 năm triển khai thực hiện chỉ thị 06-CT/TW và đề xuất giải pháp củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở trong thời gian tới”, Tạp chí Chính sách Y tế, số 10, tr.12-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá 10 năm triển khai thực hiện chỉ thị 06-CT/TW và đề xuất giải pháp củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở trong thời gian tới”
Tác giả: Trần Chí Liêm và CS
Năm: 2012
19. Nguyễn Thị Oanh (2007). Đánh giá thực trạng sử dụng Y học cổ truyền tại 8 trạm Y tế, phường đạt chuẩn quốc gia của Thành phố Thanh Hóa năm 2007, Luận văn Thạc sỹ y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng sử dụng Y học cổ truyền tại 8 trạm Y tế, phường đạt chuẩn quốc gia của Thành phố Thanh Hóa năm 2007
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Năm: 2007
1. Ban Bí thư Trung ương. Báo cáo tổng kết 10 năm (4/2018). Thực hiện Chỉ thị 24-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương về phát triển nền Đông y Việt Nam và Hội Đông y Việt Nam trong tình hình mới Khác
4. Bộ Y tế và Nhóm đối tác Y tế (2010). Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2010 - Hệ thống y tế Việt Nam trước thềm kế hoạch 5 năm 2011-2015 Khác
6. Bộ Y tế và Nhóm đối tác Y tế (2011). Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2011- Nâng cao năng lực quản lý, đổi mới tài chính y tế để thực hiện kế hoạch 5 năm ngành y tế, 2011–2015 Khác
7. Bộ Y tế và Nhóm đối tác Y tế (2013). Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2013 - Hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân Khác
9. Chỉ thị số 25/1999/CT-TTg (8/1999). Về việc đẩy mạnh công tác Y, Dược học cổ truyền Khác
10. Chỉ thị Số: 24-CT/TW (04/2008). Phát triển nền Đông y và Hội Đông y Việt Nam Khác
20. Hải Thượng Lãn Ông và tác phẩm Lãn Ông Tâm Lĩnh. Nhà xuất bản Y Học, 2005 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w