đến việc sinh viên có quan hệ tình dục trước hôn nhân chủ yếu do người yếu đòi hỏi 71,5% [3]; Một nghiên cứu năm 2015 nhằm xác định tỷ lệ quan hệ tình dục trước hôn nhân và các yếu tố li[r]
Trang 1-
TRẦN THỊ THANH TUYỀN
THỰC TRẠNG QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG BÁCH KHOA NAM SÀI GÒN,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Hà Nội – Năm 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG - KHOA: KHOA HỌC SỨC KHỎE
BỘ MÔN: Y TẾ CÔNG CỘNG
TRẦN THỊ THANH TUYỀN – C01411
THỰC TRẠNG QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG BÁCH KHOA NAM SÀI GÒN,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2020
Chuyên ngành: Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số: 8.72.07.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM VĂN HẬU
Hà Nội – Năm 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của Thầy Cô, bạn bè, Ban giám hiệu, lãnh đạo khoa và sinh viên tại trường nghiên cứu
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn:
Ban Giám hiệu, phòng Sau đại học, Bộ môn Y tế công cộng trường Đại học Thăng Long và quý thầy cô cũng như đồng nghiệp tại Bệnh viện Nam Anh
đã truyền đạt, hỗ trợ cho tôi những kiến thức bổ ích, cơ sở vật chất trong suốt hai năm học vừa qua
Ban Giám hiệu, Lãnh đạo Khoa Y Dược, Phòng công tác chính trị học sinh – sinh viên và sinh viên Khoa Y Dược, Trường Cao Đẳng Bách Khoa Nam Sài Gòn đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới:
Tiến sĩ Phạm Văn Hậu - người thầy đã dìu dắt, giúp đỡ, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ trong hội đồng khoa học thông qua đề cương và bảo vệ luận văn đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và sinh viên của tôi đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thiện luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2020
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, do chính bản thân tôi thực hiện, tất cả số liệu trong luận văn này là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu có điều gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà nội, ngày 10 tháng 10 năm 2020
Người viết cam đoan
Trần Thị Thanh Tuyền
Trang 5MỤC LỤC
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 THỰC TRẠNG QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC………3
1.1.1 Một số khái niệm……… 3
1.1.1.1 Khái niệm sức khỏe sinh sản 3
1.1.1.2 Khái niệm về bệnh lây truyền qua đường tình dục 3
1.1.1.3 Khái niệm về quan hệ tình dục an toàn 5
1.1.2 Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân trên thế giới……… 6
1.1.3 Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân ở Việt Nam…………8
1.2 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC……….……… …………8
1.2.1 Một số yếu tố liên quan đến quan hệ tình dục trước hôn nhân trên thế giới……….8
1.2.2 Một số yếu tố liên quan đến quan hệ tình dục trước hôn nhân tại Việt Nam……….13
1.3 GIỚI THIỆU ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU………18
1.4 KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU……… 20
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 21
2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU………… 21
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu……….21
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu……… 21
Trang 62.1.3 Thời gian nghiên cứu……….22
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……….22
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu………22
2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu……… 22
2.3 CÁC BIẾN SỐ VÀ CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU………23
2.3.1 Bảng biến số và chỉ số nghiên cứu……….23
2.3.2 Tiêu chí đánh giá………30
2.4 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN………31
+ Công cụ thu thập thông tin……….….31
+ Các kỹ thuật thu thập thông tin……… 31
+ Quy trình thu thập thông tin và Sơ đồ nghiên cứu……… 32
2.5 PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU……….33
2.6 SAI SỐ VÀ CÁC BIỆN PHÁP KHỐNG CHẾ SAI SỐ……… 34
2.6.1 Sai số……….……….34
2.6.2 Biện pháp khắc phục……….……….34
2.7 VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU……… 35
2.8 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI……… 35
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU……… 36
3.2 THỰC TRẠNG TỶ LỆ VỀ QHTD TRƯỚC HÔN NHÂN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG BÁCH KHOA NAM SÀI GÒN, NĂM 2020……….39
3.2.1 Tỷ lệ quan hệ tình dục trước hôn nhân……… 39
3.2.2 Thực trạng tỷ lệ sinh viên có quan hệ tình dục trước hôn nhân theo năm học, hệ đào tạo và tuổi quan hệ tình dục lần đầu trung bình…… 40
Trang 73.2.3 Đặc điểm tuổi quan hệ tình dục lần đầu trung bình………41 3.2.4 Một số đặc điểm của nhóm quan hệ tình dục trước hôn nhân… 43 3.2.5 Một số đặc điểm liên quan đến sức khỏe sinh sản……….43 3.3 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN QHTD TRƯỚC HÔN NHÂN 44 3.3.1 Một số yếu tố nhân khẩu học liên quan đến QHTD trước hôn
nhân……….443.3.2 Một số yếu tố kiến thức liên quan đến QHTD trước hôn nhân… 48 3.3.3 Một số yếu tố hành vi cuộc sống liên quan đến QHTD trước hôn nhân………50 3.3.4 Một số yếu tố liên quan đến QHTD trước hôn nhân trong phân tích hồi quy logistics đa biến……… 54
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 58
4.1 THỰC TRẠNG TỶ LỆ VỀ QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG BÁCH KHOA NAM SÀI GÒN, NĂM 2020……… 58 4.1.1 Thực trạng tỷ lệ về quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn, năm 2020……… 58 4.1.2 Đặc điểm quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn, năm 2020……… 63 4.1.3 Đặc điểm liên quan đến sức khỏe sinh sản của quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn, năm 2020……….…64 4.2 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU……….………66 4.2.1 Một số yếu tố nhân khẩu học liên quan đến quan hệ tình dục trước hôn nhân……… 66
Trang 84.2.2 Một số yếu tố kiến thức liên quan đến quan hệ tình dục trước hôn
nhân……….67
4.2.3 Một số yếu tố hành vi cuộc sống liên quan đến quan hệ tình dục trước hôn nhân……….68
4.2.4 Một số yếu tố chung liên quan đến quan hệ tình dục trước hôn nhân……….69
KẾT LUẬN 73
1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU……… 73
2.THỰC TRẠNG TỶ LỆ QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG BÁCH KHOA NAM SÀI GÒN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2020……….…73
3 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG BÁCH KHOA NAM SÀI GÒN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH………73
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1 Phiếu khảo sát tình hình sức khỏe sinh sản
PHỤ LỤC 2 Tóm tắt thông tin đối tượng nghiên cứu
PHỤ LỤC 3 Lệnh R và kết quả phân tích số liệu luận văn tốt nghiệp………
Trang 9HIV/AIDS Human immunodeficiency virus/
Acquired Immuno Deficiency Syndrome
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
HPV Human Papilloma Virus Tác nhân phổ biến của bệnh lây
truyền qua đường tình dục KAP Knowledge – Attitude – Practice Kiến thức, thái độ và thực hành
STDs Sexually Transmitted Diseases Bệnh lây truyền qua đường tình dục STI Sexually Transmissible
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng sinh viên khoa Y Dược năm 2020 (Tính đến 01.01.2020)
……….23
Bảng 2.2 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 23
Bảng 3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu về giới (n= 388) 36
Bảng 3.2 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu về tuổi (n= 388) 36
Bảng 3.3 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu về năm học (n= 388) 37
Bảng 3.4 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu về nơi cư trú (n= 388) 37
Bảng 3.5 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu về hệ đào tạo (n = 388)…… 37
Bảng 3.6 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu về kết quả học tập (n= 388) 38
Bảng 3.7 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu về tôn giáo (n= 388) 38
Bảng 3.8 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu về tôn giáo (n= 388) 39
Bảng 3.9 Phân bố QHTD trước hôn nhân theo năm học và hệ đào tạo ở sinh viên 40
Bảng 3.10 Đặc điểm tuổi quan hệ tình dục lần đầu trung bình (n= 155) ……41
Bảng 3.11 Đặc điểm của nhóm có quan hệ tình dục trước hôn nhân (n= 155) 43
Bảng 3.12 Đặc điểm liên quan đến sức khỏe sinh sản (n= 155) 43
Bảng 3.13 Các yếu tố nhân khẩu học liên quan đến QHTD trước hôn nhân trong phân tích đơn biến 44
Bảng 3.14 Các yếu tố nhân khẩu học liên quan đến QHTD trước hôn nhân trong phân tích đa biến 46
Bảng 3.15 Các yếu tố kiến thức liên quan đến QHTD trước hôn nhân trong phân tích đơn biến 48
Bảng 3.16 Các yếu tố kiến thức liên quan đến QHTD trước hôn nhân trong phân tích đa biến 49
Trang 11Bảng 3.17 Các yếu tố hành vi cuộc sống liên quan đến QHTD trước hôn nhân trong phân tích đơn biến 51Bảng 3.18 Các yếu tố hành vi cuộc sống liên quan đến QHTD trước hôn nhân
trong phân tích đa biến 52
Bảng 3.19 Các yếu tố liên quan đến QHTD trước hôn nhân trong phân tích hồi quy logistics đơn biến………54
Bảng 3.20 Các yếu tố liên quan đến QHTD trước hôn nhân trong phân tích hồi quy logistics đa biến……… 56
Trang 12DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 3.1 Tỷ lệ quan hệ tình dục trước hôn nhân (n=388) 39Hình 3.2 Đặc điểm tuổi quan hệ tình dục lần đầu trung bình 41Hình 3.3 Tỷ số chênh và KTC 95% của các yếu tố kiến thức liên quan đến QHTD THN 50Hình 3.4 Tỷ số chênh và KTC 95% của các yếu tố hành vi cuộc sống liên quan đến QHTD trước hôn nhân 52
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Quan hệ tình dục trước hôn nhân là hoạt động tình dục được thực hiện bởi những người trước khi họ kết hôn [27] Hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân đang là vấn đề sức khỏe được nhiều người quan tâm do hành vi này thường không an toàn Theo WHO thì đây là yếu tố nguy cơ đứng hàng thứ hai ở các nước nghèo dẫn đến HIV/AIDS, các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs), mang thai ngoài ý muốn [8]
Khảo sát năm 2001 của UNICEF tại 10 trong số 12 quốc gia phát triển
có sẵn dữ liệu, hơn hai phần ba thanh niên đã có quan hệ tình dục khi còn ở tuổi thiếu niên Tại Đan Mạch, Phần Lan, Đức, Iceland, Na Uy, Vương quốc Anh
và Hoa Kỳ, tỷ lệ này là hơn 80% Ở Úc, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ, khoảng 25% thanh niên 15 tuổi và 50% thanh niên 17 tuổi có quan hệ tình dục [46]
Năm 2016 một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện từ tháng 1 đến tháng
3 trên 604 sinh viên của Trường Đại học Debre Berhan, Ethiopia bằng kỹ thuật lấy mẫu nhiều giai đoạn với phương pháp định lượng và định lượng hỗn hợp Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy logistic để xác định các yếu tố liên quan đến thực hành tình dục trước hôn nhân Kết quả ghi nhận tỷ lệ có quan hệ tình dục trước hôn nhân là 54,3% [20] Tại Việt Nam, khảo sát về quan hệ tình dục trước hôn nhân vào năm 2015 trên 405 sinh viên Trường Đại học Nội Vụ
Hà Nội ghi nhận là 23,7%, ở nam là 35%, nữ là 20,9% [12]
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung khoảng 96 trường đại học, cao đẳng, vì vậy, số lượng sinh viên sống và học tập tại thành phố là rất lớn Đây cũng là nơi có sự phát triển mạnh mẽ về văn hóa, kinh tế và xã hội Giới trẻ ngày nay gồm thanh niên có xu hướng quan hệ tình dục trước hôn nhân ngày càng gia tăng bao gồm sinh viên và được xem là hiện tượng mới do thay đổi trong quan niệm và hành vi về tình yêu, tình dục trong xã hội hiện đại [5]
Trang 14Trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn, là Trường công lập trực thuộc Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh, là một trong những cơ sở nghề nghiệp đào tạo uy tín và chất lượng với đội ngũ giảng viên có trình độ cao, cơ sở vật chất mới đầy đủ, phòng học khang trang, hiện đại đáp ứng nhu cầu học tập nhằm cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Thành phố và
cả nước [15] Sinh viên của Trường tương lai sẽ là những cán bộ y tế, giáo viên mầm non, kế toán,… những viên chức, công chức có trình độ trong xã hội Chính vì thế, sức khỏe của sinh viên là một điều rất quan trọng và rất cần được quan tâm Nếu sinh viên không được giáo dục đầy đủ về giới tính, an toàn tình dục và sức khỏe sinh sản thì các nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục và mang thai ngoài ý muốn dẫn đến tình trạng nạo, phá thai sẽ tăng cao Hậu quả là sinh viên không chỉ bị ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe mà còn mất đi cơ hội học hành khiến con đường phát triển tương lai bị hạn hẹp Tuy nhiên chưa thấy một nghiên cứu nào liên quan đến kiến thức, thực hành về quan hệ tình dục trước hôn nhân ở những sinh viên tại Trường này
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, đề tài: ‘Thực trạng quan hệ tình dục
trước hôn nhân và một số yếu tố liên quan của sinh viên Trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020”, được triển khai
nhằm mô tả được thực trạng tỷ lệ về quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn năm 2020 như thế nào? Cũng như tìm hiểu và phân tích một số yếu tố nào liên quan đến quan hệ tình dục
trước hôn nhân của sinh viên trong nhà Trường?
Mục tiêu nghiên cứu
1 Mô tả thực trạng tỷ lệ về quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn năm 2020
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên khoa Y Dược trường cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 THỰC TRẠNG QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm sức khỏe sinh sản
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) sức khỏe sinh sản (SKSS) là trạng thái khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và hòa hợp xã hội về tất cả các phương diện liên quan đến hệ thống sinh sản trong suốt các giai đoạn của cuộc đời Tài liệu tổng quan chăm sóc SKSS là một tập hợp các phương pháp, kỹ thuật và dịch
vụ nhằm giúp cho con người có tình trạng SKSS khỏe mạnh thông qua việc phòng chống và giải quyết những vấn đề liên quan đến SKSS Điều này cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục với mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống và mối quan hệ giữa con người với con người mà không chỉ dừng lại ở chăm sóc
y tế và tư vấn một cách đơn thuần cho việc sinh sản và những nhiễm trùng qua
đường tình dục Sức khỏe sinh sản không chỉ nói đến các vấn đề về giới tính,
sức khỏe, văn hóa tính dục, tình dục mà thực chất nó chỉ là “một bộ phận của sức khỏe con người nói chung” [49]
1.1.1.2 Khái niệm về bệnh lây truyền qua đường tình dục
Bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) còn gọi là bệnh hoa liễu, hay nhiễm trùng lây qua đường tình dục là bệnh có xác suất truyền từ người sang người thông qua các hành vi tình dục, bao gồm cả giao hợp âm đạo, quan
hệ tình dục (QHTD) bằng miệng hay hậu môn [26]
Nguyên nhân [28]
+ Bệnh do vi khuẩn
• Hạ cam mềm (Haemophilus ducreyi)
Trang 16• Chlamydia (Chlamydia trachomatis)
• U hạt bẹn (Klebsiella granulomatis)
• Bệnh lậu (Neisseria gonorrhoeae)
• Giang mai (Treponema pallidum)
• U mềm lây (Molluscum contagiosum)
có khoảng 376 triệu ca nhiễm mới với 1 trong 4 STI: chlamydia, lậu, giang mai
và trichomonas và ước tính có hơn 500 triệu người bị nhiễm virus herpes
Trang 17simplex ở bộ phận sinh dục và hơn 290 triệu phụ nữ bị nhiễm vi rút u nhú ở người (HPV)
Phần lớn các STI không có triệu chứng hoặc chỉ có các triệu chứng nhẹ có thể không được công nhận là STI Các bệnh lây truyền qua đường tình dục như HSV loại 2 và giang mai có thể làm tăng nguy cơ nhiễm HIV Khoảng 988 000 phụ nữ mang thai bị nhiễm giang mai trong năm 2016, dẫn đến hơn 350 000 kết quả sinh nở bất lợi, bao gồm 200 000 thai chết lưu và tử vong ở trẻ sơ sinh Trong một số trường hợp, STI có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe sinh sản ngoài tác động tức thời của bản thân bệnh nhiễm trùng như
vô sinh hoặc lây truyền từ mẹ sang con [48]
1.1.1.3 Khái niệm về quan hệ tình dục an toàn
Quan hệ tình dục an toàn là hình thức quan hệ tình dục bảo vệ bản thân
và bạn tình khỏi các bệnh lây truyền qua đường tình dục và mang thai ngoài ý muốn do không có sự tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch tiết âm đạo và tinh dịch Quan hệ tình dục an toàn là biết sử dụng bao cao su đúng cách và điều này chỉ thật sự hiệu quả khi cả 2 người đều đồng ý và cùng thực hiện QHTD an toàn giúp khỏe mạnh và thậm chí có thể làm cho tình dục tốt hơn [30] QHTD an toàn được hiểu ở nhiều góc độ như STD / STI có thể lây truyền từ người này sang người khác qua giao hợp qua đường âm đạo, giao hợp hậu môn và giao hợp bằng miệng và để giảm nguy cơ / ngăn cản khỏi bị lây nhiễm cần phải sử dụng biện pháp tự bảo vệ mình như có thể sử dụng bao cao su, bao cao su cho phụ nữ hoặc màng chắn bảo vệ miệng trong khi tham gia hoạt động tình dục Một cách khác để quan hệ tình dục an toàn là phải được xét nghiệm và nhận thức về sức khỏe tình dục của bạn và hành động để tự điều trị chính mình như yêu cầu bạn tình của bạn được xét nghiệm trước khi tham gia vào hoạt động
Trang 18tình dục Hãy nhớ rằng ngay cả một cuộc quan hệ tình dục không được bảo vệ cũng đủ để lây nhiễm hoặc mang thai
Thực hiện tình dục an toàn trở nên phổ biến vào cuối thập niên
1980 trong bối cảnh của đại dịch HIV/AIDS và thúc đẩy tình dục an toàn là một trong những mục tiêu của giáo dục giới tính Tình dục an toàn được coi là một chiếc lược nhằm giảm nguy cơ và giảm nguy cơ gây hậu quả xấu mà không phải đồng nghĩa với tuyệt đối như một người nhiễm HIV quan hệ tình dục với người không nhiễm HIV khi mang bao cao su so với khi không mang bao cao
su, nguy cơ lây nhiễm giảm còn 1/4 hay 1/5, nhưng vẫn không thể triệt tiêu hết rủi ro
1.1.2 Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân trên thế giới
Theo Quỹ dân số Liên hợp quốc, hiện nay trên thế giới có khoảng 1/5 dân số thuộc lứa tuổi vị thành niên (VTN), như vậy hiện đang có khoảng hơn 1
tỷ người đang ở tuổi VTN, 80% hiện đang sống tại các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ La Tinh Những nước có nền kinh tế kém phát triển thì dân số càng trẻ, tỷ lệ tuổi VTN càng cao, chiếm tới trên 40% dân số [16]
Vị thành niên/thanh niên (VTN&TN) hiện nay có xu hướng QHTD sớm hơn trước đây Cụ thể trong một cuộc khảo sát hợp tác được thực hiện vào năm 2006 - 2007 ở khu vực thành thị và nông thôn Hà Nội, Thượng Hải và Đài Bắc, 16.554 người tham gia chưa kết hôn ở độ tuổi 15-24 đã được tuyển chọn trong nghiên cứu vị thành niên và thanh thiếu niên châu Á ba thành phố, với 6.204, 6.023 và 4.327 người trả lời từ mỗi thành phố, tương ứng Tất cả thanh thiếu niên được thực hiện các cuộc phỏng vấn trực tiếp, kết hợp với tự phỏng vấn với sự trợ giúp của máy tính cho các câu hỏi nhạy cảm Thang điểm về thái
độ vai trò giới cho cả người trả lời nam và nữ đã được phát triển và áp dụng để phân tích dữ liệu của chúng tôi Hồi quy đa biến được sử dụng để phân tích mối
Trang 19quan hệ giữa thái độ vai trò giới tính và quan hệ tình dục Những người được hỏi ở mỗi thành phố có thái độ đồng ý quan hệ tình dục trước hôn nhân nhiều hơn so với nữ giới, với cả nam và nữ thể hiện sự đồng tình nhiều hơn đối với các hành vi tình dục trước hôn nhân của nam giới Các chàng trai cũng thể hiện thái độ truyền thống hơn đối với vai trò giới (bỏ qua sự bất bình đẳng lớn hơn)
so với các cô gái ở mỗi thành phố Thái độ và vai trò giới của thanh thiếu niên đối với quan hệ tình dục trước hôn nhân thay đổi đáng kể ở ba thành phố, trong
đó người Việt Nam truyền thống nhất, người Đài Bắc ít truyền thống nhất và thanh thiếu niên ở Thượng Hải ở giữa Một mối liên hệ tiêu cực giữa vai trò giới truyền thống chỉ được tìm thấy giữa các cô gái ở Thượng Hải và Đài Bắc Ở Thượng Hải, phụ nữ trả lời có thái độ về giới tính truyền thống có nhiều khả năng thực hiện tiêu chuẩn kép so với nam so với quan hệ tình dục trước hôn nhân nữ (tỷ số chênh [OR] = 1,18) Mối quan hệ này cũng được áp dụng cho thái độ của cả nữ và nam ở Đài Bắc (OR = 1,20 và OR = 1,22) [51] Tại Nepal, năm 2013 theo nghiên cứu về tình dục và SKSS của VTN&TN: có 51% thanh niên nữ và 40,1% thanh niên nam từ 15 đến 24 tuổi đã QHTD [36]; đến năm
2018 một nghiên cứu cắt ngang mô tả dựa trên tổ chức Một câu hỏi có cấu trúc trong một phong bì còn niêm phong đã được phân phối trong số tất cả đối tượng nghiên cứu đồng ý của 522 vị thành niên trung học cơ sở cao hơn sinh viên Kết quả ghi nhận 24,6% số người được hỏi đã QHTD THN [18]
Còn đối với học sinh vị thành niên ở các trường trung học và dự bị thị trấn Debre-Markos, tây bắc Ethiopia, năm 2017: một kết quả khác nghiên cứu
về QHTD trước hôn nhân từ 624 thanh thiếu niên được chọn, tổng cộng 600, thanh thiếu niên từ 10 đến 19 tuổi đã hoàn thành bảng câu hỏi trong khi 24 thanh niên từ chối tham gia nghiên cứu, cho tỷ lệ trả lời là 96,15% Ba trăm tư (50,7%) số người được hỏi là nữ Tuổi trung bình là 17,31 tuổi Độ tuổi tối thiểu và tối đa lần lượt là 15 và 18 tuổi [23]
Trang 201.1.3 Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân ở Việt Nam
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thành Luân và Trương Phi Hùng (2010) trên số liệu thu thập từ 184 nam và 214 nữ Trường Đại Học Mở cho thấy số sinh viên đã QHTD lần lượt ở nam là 39,67% và ở nữ là 19,62% Trong
đó QHTD trước 18 tuổi là 14,29% ở nữ và 23,29% ở nam [9] Nghiên cứu trên
402 học sinh được chọn ngẫu nhiên phân tầng tại Trường Trung học phổ thông Nguyễn Hiền - Quận 11 - Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2012 thì tỉ lệ học sinh tham gia nghiên cứu đã từng QHTD chiếm 12% [4]
Đến năm 2015, một nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ quan hệ tình dục trước hôn nhân và các yếu tố liên quan tiếp theo đã được thực hiện trên 405 sinh viên Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội, với thiết kế cắt ngang có phân tích,
sử dụng bộ câu hỏi tự điền khuyết danh Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ QHTD trước hôn nhân là 23,7%, ở nam là 35%, nữ là 20,9% [12]
Như vậy, các dữ liệu nghiên cứu cho thấy được thực trạng QHTD trước hôn nhân trên thế giới và trong nước ngày càng gia tăng liên quan về giới, nhóm tuổi và cư trú [9], [12],[18],[23], [36], [51]
1.2 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
1.2.1 Một số yếu tố liên quan đến quan hệ tình dục trước hôn nhân trên thế giới
Trong năm 2008, ước tính có khoảng 110 triệu STI phổ biến ở phụ nữ và nam giới ở Hoa Kỳ Trong số này, hơn 20% các ca nhiễm trùng (22,1 triệu) là
ở phụ nữ và nam giới từ 15 đến 24 tuổi Khoảng 19,7 triệu ca nhiễm trùng qua đường tình dục xảy ra ở Hoa Kỳ trong năm 2008; gần 50% (9,8 triệu) là bởi phụ nữ trẻ và nam giới từ 15 đến 24 tuổi Nhiễm trùng papillomavirus ở người,
Trang 21nhiều trong số đó không có triệu chứng và không gây bệnh, chiếm phần lớn cả nhiễm trùng phổ biến [43]
Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trong số 826 học sinh ở trường
từ tháng 12 - 2011 đến tháng 1 - 2012 tại thị trấn Shendi với kỹ thuật lấy mẫu nhiều tầng đã được sử dụng để chọn đối tượng tham gia nghiên cứu Kết quả cho thấy 19% trong số những đối tượng tham gia báo cáo đã có quan hệ tình dục trước hôn nhân, trong đó 91 (22,7%) là nam và 66 (15,5%) là nữ Tuổi trung bình (SD) ở lần quan hệ tình dục đầu tiên là 16,48 (1,59) đối với nam và 15,89 (1,68) đối với nữ Hơn ba phần tư thanh niên trong trường hoạt động tình dục có quan hệ tình dục trước hôn nhân trước khi kỷ niệm sinh nhật lần thứ 18 của họ Lớn hơn 20 tuổi (AOR = 3,67; 95% CI = 1,98 - 6,82), sống với bạn bè hoặc người thân (AOR = 2,47; 95% CI = 1,46 - 4,16), sống một mình (không
có sự kiểm soát của cha mẹ (AOR = 2,51; 95 % CI = 1,38 - 4,55) và xem phim khiêu dâm (AOR = 1,73; 95% CI = 1,18 – 2,53) được tìm thấy có liên quan
đáng kể đến thực hành tình dục trước hôn nhân [25]
Các yếu tố liên quan đến tránh thai và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, một cuộc khảo sát cắt ngang năm 2014 đã được thực hiện trong số
500 sinh viên của Trường Cao đẳng Thương mại KPB Hinduja từ tháng 12 năm
2012 đến tháng 3 năm 2013 theo Nghiên cứu Báo cáo Quan sát về Dịch tễ học (STROBE) Kết quả tuổi trung bình là 18,6 ± 1,6 tuổi, 46% người tham gia là
nữ Tổng điểm kiến thức liên quan đến giới tính của nam và nữ lần lượt là 8,2
± 1,2 và 6,2 ± 2,4 (p <0,0001) 84% nam và 72% nữ không đồng ý rằng nên
giữ gìn trinh tiết cho đến khi kết hôn Quan hệ tình dục trước hôn nhân được báo cáo là có 48% nam và 18% nữ Trong số những người có quan hệ tình dục trước hôn nhân, 68% nam và tất cả nữ có quan hệ tình dục trước hôn nhân với một bạn tình và 21% nam giới và 12% nữ giới đã sử dụng một biện pháp tránh thai khi quan hệ tình dục 87% nam và 82% nữ không đồng ý rằng giáo
Trang 22dục giới tính ở trường trung học sẽ gây ra sự gia tăng quan hệ trước hôn nhân 40% nam giới và 13% nữ giới cho rằng kiểm soát mức sinh chủ yếu là
trách nhiệm của phụ nữ 14% nam và 21% nữ (p = 0,2) báo cáo bị ép QHTD
[38]
Tại Jamnagar trong số các sinh viên đại học nam (18-24 tuổi) Tổng cộng
có 450 sinh viên được chọn ngẫu nhiên từ ba trường đại học Jamnagar Kết quả: trong số 450 người tham gia có 49,11% ở độ tuổi từ 18-20 Trong số các đối tượng nghiên cứu có 13,78% đã quan hệ tình dục trước hôn nhân Ở những sinh viên có tiền sử quan hệ tình dục trước hôn nhân, các bạn tình khác nhau là bạn gái (95,16%), gái mại dâm (14,5%), đồng tính luyến ái (6,45%) và nhiều bạn tình (33,88%) Trong số các sinh viên, 62,9% đã sử dụng bao cao su khi QHTD Ba phần năm trong số những người đã quan hệ tình dục trước hôn nhân
và tuổi QHTD lần đầu là ở độ tuổi 16-20 [31] Còn tại Trung Quốc, một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện đối với sinh viên đại học ở 49 trường đại học trên
7 thành phố ở Trung Quốc từ tháng 9 năm 2007 đến tháng 1 năm 2008 Chúng tôi đã phân phát 74.800 bảng câu hỏi, trong đó 69.842 được trả lại Trong bài báo này, dữ liệu từ 35.383 nữ sinh viên đại học chưa lập gia đình đã được phân tích Tỷ lệ quan hệ tình dục ở nữ sinh viên đại học chưa lập gia đình là 10,2% Tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn ở những sinh viên đại học nữ đã quan hệ tình dục THN là 31,8% Trong số các sinh viên có tiền sử mang thai có 53,5% trải qua hai hay nhiều lần mang thai 28,3% sinh viên có quan hệ tình dục báo cáo rằng họ luôn áp dụng các biện pháp tránh thai và trong số 82,9% chọn sử dụng bao cao su Phần lớn (83,9%) sinh viên có tiền sử mang thai ngoài ý muốn đã chọn để chấm dứt mang thai bằng phẫu thuật phá thai hoặc uống thuốc chấm dứt thai kỳ Trình độ kiến thức tránh thai của những sinh viên trải qua mang thai ngoài ý muốn thấp hơn những người không có tiền sử mang thai ngoài ý muốn Tại đây, khoảng một phần ba sinh viên nữ chưa kết hôn đã quan
Trang 23hệ tình dục THN đều có thai ngoài ý muốn Một loạt các phương pháp tránh thai được áp dụng, nhưng tần suất sử dụng biện pháp tránh thai thấp Hầu hết các sinh viên nữ chưa lập gia đình có tiền sử mang thai ngoài ý muốn sẽ chọn chấm dứt thai kỳ bằng phá thai bằng phẫu thuật Sinh viên đại học, đặc biệt là những người có tiền sử mang thai ngoài ý muốn, họ đều thiếu kiến thức về tránh thai và kiến thức về sức khỏe sinh sản [47]
Ở Ethiopia, đánh giá mối quan hệ giữa tỷ lệ lưu hành HIV theo khu vực
và một loạt các yếu tố rủi ro trong các khảo sát Sức khỏe Nhân khẩu học năm
2005 và 2011 Mối tương quan của Pearson đã được sử dụng để đánh giá mối quan hệ giữa tỷ lệ lưu hành HIV và từng biến số Kết quả có mối liên quan chặt chẽ giữa tỷ lệ lưu hành HIV và ba dấu hiệu rủi ro tình dục: số người bạn đời
trung bình (nam: r = 0,87; p <0,001; nữ: r = 0,60; p = 0,05); báo cáo quan hệ tình dục với người chưa kết hôn (nam: r = 0,92; p < 0,001, nữ r = 0,93;
p < 0,001); và quan hệ tình dục trước hôn nhân [35], một cuộc khảo sát cắt
ngang khác năm 2016 sử dụng bảng câu hỏi giả định, có cấu trúc đã được thực hiện trên tổng số 704 sinh viên đại học chính quy của Đại học Wollega từ tháng
2 đến tháng 3 năm 2014 Kết quả sinh viên Đại học Wollega có QHTD trước hôn nhân trong 12 tháng qua là 28,4%; 55,5% trong số họ không sử dụng bao cao su thường xuyên [41]
Năm 2018, tại Nepal, kết quả những người được hỏi đã thảo luận về vấn
đề tình dục với bạn bè có nguy cơ quan hệ tình dục trước hôn nhân cao gấp 2,62 lần so với những người không có Những người được hỏi có khả năng quan hệ tình dục trước hôn nhân cao gấp 8 lần so với nữ giới Những người được hỏi tiếp xúc với nội dung khiêu dâm cho biết khả năng quan hệ tình dục trước hôn nhân cao gấp 9 lần [18]; Ở Jakarta, nghiên cứu định lượng với thiết kế cắt ngang Dân số của nghiên cứu này bao gồm các học sinh từ một trường trung học Một kỹ thuật lấy mẫu có chủ đích đã được sử dụng, dẫn đến
Trang 24việc lựa chọn 253 sinh viên làm mẫu Một thang đo giao tiếp giữa phụ huynh
và vị thành niên đã được áp dụng Kết quả cho thấy 59,3% thanh thiếu niên được nghiên cứu có nguy cơ quan hệ tình dục trước hôn nhân [50]
Năm 2019 nghiên cứu cắt ngang dựa vào cộng đồng được thực hiện giữa
500 cô gái vị thành niên đang đi học trong khu vực thực hành tại Trung tâm đào tạo y tế đô thị, Tripuri, thuộc Đại học Y chính phủ, Patiala (Punjab) Một cuộc khảo sát với bảng câu hỏi bán cấu trúc đã được thực hiện để thu thập thông tin về đặc điểm nhân khẩu học, kiến thức và nhận thức về tình dục an toàn Kết quả chỉ có 39,71% nữ nhận thức được rằng tuổi kết hôn hợp pháp của nữ ở Ấn
Độ là 18 tuổi Khoảng 22% nữ giới nói rằng họ thích quan hệ tình dục trước hôn nhân và phần lớn trong số họ, thuộc về các gia đình hạt nhân Khoảng 38,4% nữ biết rằng bao cao su là phương pháp tránh thai an toàn nhất nhưng là lựa chọn ưu tiên của phương pháp tránh thai trong số nữ dùng bao cao su (24,40%), thuốc uống thai hàng tháng (20,20%) và thuốc ngừa thai khẩn cấp (19,60%) [20]
Cũng vào năm 2019, để đánh giá mức độ phổ biến và nguyên nhân của quan hệ tình dục trước hôn nhân và sử dụng bao cao su giữa các nhân viên chăm sóc sức khỏe thực tập sinh tại các tổ chức chăm sóc sức khỏe được lựa chọn tại bang Enugu, Nigeria và để giải quyết vấn đề cho những thách thức được xác định Tổng cộng có 362 người được hỏi (309 người chưa lập gia đình)
từ bốn cơ sở đào tạo chăm sóc sức khỏe đã tham gia nghiên cứu Trong số những người được hỏi chưa kết hôn có 141 (45,8%) đã quan hệ tình dục Quan hệ tình dục trước hôn nhân phổ biến hơn theo nhóm tuổi (r = 0,78;
p < 0,05) Quan hệ tình dục trước hôn nhân phổ biến hơn ở nam giới và thực
tập sinh điều dưỡng (p < 0,005) Mặc dù kiến thức về sử dụng bao cao su còn
cao, nhưng sử dụng thực tế còn kém (20,1%), với tỷ lệ thấp nhất ở phụ nữ, Công giáo và nhóm tuổi 30 - 35 tuổi Tỷ lệ tránh thai thấp và giảm sự hài lòng
Trang 25khi quan hệ tình dục được trích dẫn là yếu tố chính chịu trách nhiệm cho việc
sử dụng phương pháp tránh thai kém Sử dụng các thuật ngữ không cụ thể như
" quan hệ tình dục thông thường " và "quan hệ tình dục thường xuyên" cản trở nhất quán, sử dụng bao cao su đúng cách [40]
Quan hệ tình dục sớm khi thiếu các kiến thức về SKSS làm cho các VTN&TN gặp nhiều các nguy cơ như: có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai và mắc STDs Nghiên cứu cho thấy có trên 20% VTN từ 15- 19 tuổi tại vùng Sahara châu Phi và Đông Nam Á có tiền sử mang thai, hơn 10% vị thành niên đang mang thai ngoài ý muốn tại Congo, Madagascar, Mozambique và Zambia
là QHTD trước hôn nhân [33]
1.2.2 Một số yếu tố liên quan đến quan hệ tình dục trước hôn nhân tại Việt Nam
Nghiên cứu của tác giả Hồ Ngọc Điệp vào năm 2001 cho thấy nữ vị thành niên trẻ tuổi, độc thân, có chí hướng học tập, có nghề nghiệp, có cơ hội thăng tiến mà có thai ngoài ý muốn sẽ chọn biện pháp phá thai Một nghiên cứu có kết quả tương tự tại Thành phố Hồ Chí Minh khảo sát học sinh cấp 3 cho thấy 48,3% học sinh đồng ý với quan điểm nếu lỡ có thai ngoài ý muốn thì sẽ phá thai, các vị thành niên dường như xem phá thai là một biện pháp tránh thai ở lứa tuổi mình [2]; Cùng quan điểm đó, năm 2004 nghiên cứu của Huỳnh Nguyễn Khánh Trang chỉ ra rằng giải pháp mà chính bản thân các em học sinh
và gia đình chọn lựa khi biết có thai là phá thai Các lý do đưa ra là: thứ nhất các em còn quá trẻ, còn lệ thuộc kinh tế gia đình chưa có khả năng nuôi con; thứ hai thường sau khi biết các em có thai bạn tình của các em thường không
có ý định tiến đến hôn nhân và yếu tố pháp luật cũng không tán thành những cuộc hôn nhân ở tuổi vị thành niên [14]
Trang 26Còn theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thành Luân và Trương Phi Hùng năm 2010 cho thấy nam, nữ đã có QHTD thì kiến thức đúng về STDs là 8,22%, 21,43% Trường hợp của nữ và của nam có thai ngoài ý muốn là 26,19%, 28,77% 11,90% nữ và 24,66% nam mắc STDs Có sự liên quan giữa hoàn cảnh sống và kiến thức đúng về STDs với nhóm đối tượng đã QHTD [9] Kết quả cũng phù hợp với nghiên cứu “Kiến thức về sức khỏe sinh sản của phụ
nữ 15 - 24 tuổi tại Thành Phố Hồ Chí Minh” năm 2010 cho thấy có 93,2% phụ
nữ 15 – 24 tuổi có kiến thức đúng về các bệnh lây truyền qua đường tình dục Kiến thức đúng về thai sản có sự khác biệt rõ giữa các nội dung (chiếm tỉ lệ từ 14,3% đến 82,1%) Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy có 88,6% đối tượng có
nhu cầu tiếp nhận thêm thông tin về sức khỏe sinh sản [6]
Nghiên cứu năm 2012 trên 402 học sinh được chọn ngẫu nhiên phân tầng tại trường Trung học phổ thông Nguyễn Hiền - Quận 11 – Thành Phố Hồ Chí Minh cho thấy tỉ lệ học sinh có kiến thức đúng là 51% Đa số học sinh có thái
độ phù hợp, thái độ chung về STIs phù hợp (94%), thái độ chung về biện pháp tránh thai phù hợp (71%), tuy nhiên tỉ lệ học sinh đồng tình với quan hệ tình dục trước hôn nhân chiếm tỉ lệ cao (47%) Trong số học sinh có thực hành quan
hệ tình dục thì tỉ lệ học sinh có thực hành đúng về sử dụng biện pháp phòng ngừa STIs và biện pháp tránh thai không cao, tỉ lệ tương ứng là 35% và 43%
Đa số học sinh mong muốn tiếp nhận thông tin về STIs và biện pháp tránh thai (82%) [4]
Ngoài ra còn có các yếu tố liên quan khác như: nghiên cứu của Nguyễn
Thị Lê Thảo và cs năm 2008 cho thấy một số yếu tố dẫn đến hành vi QHTD trước hôn nhân ở nữ công nhân quận Bình Tân, Hồ Chí Minh như: có kiến thức thấp về SKSS, chưa tiếp cận được các dịch vụ SKSS, đặc biệt là thái độ xem chuyện QHTD trước hôn nhân là bình thường; yếu tố khách quan như sống
Trang 27chung trước hôn nhân, chỉ có hai người nơi vắng vẻ, hoàn cảnh xa gia đình nên
ít được sự quan tâm và chia sẻ từ người thân, thái độ phản đối gay gắt của người xung quanh dẫn đến việc che dấu hành vi tình dục, tự đưa ra quyết định thiếu chín chắn [10]
Nghiên cứu ở một trường Đại học của tỉnh Hải Dương bằng thiết kế mô
tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính, phỏng vấn tự điền 471 sinh viên, phỏng vấn sâu 12 sinh viên và cán bộ nhà trường Kết quả cho thấy tỷ lệ sinh viên ủng hộ việc bạn gái và bạn trai không nên QHTD trước hôn nhân khá cao với tỷ lệ lần lượt là 63,3% và 55,4% Tuy nhiên, vẫn có đến 65,1% sinh viên chấp nhận QHTD trước hôn nhân nếu hai người đã ăn hỏi hoặc đính hôn; 58,6% sinh viên chấp nhận QHTD trước hôn nhân nếu cả hai đều muốn Có hai quan điểm khác nhau của sinh viên về vấn đề QHTD là quan điểm truyền thống, coi trọng giá trị trinh tiết, không ủng hộ QHTD trước hôn nhân và quan điểm hiện đại, không quá coi trọng giá trị trinh tiết Nhiều sinh viên cho rằng việc QHTD trước hôn nhân là vấn đề riêng tư của mỗi cá nhân và việc quyết định có QHTD hay không là tùy quan điểm của mỗi người Đáng lưu ý là còn nhiều sinh viên chưa có quan điểm tích cực về tình dục an toàn [11]; Liên quan đến nhận thức của sinh viên về thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân năm 2011
Địa điểm sinh viên quan hệ tình dục trước hôn nhân chiếm tỉ lệ cao nhất
là nhà nghỉ, khách sạn (82,1%) Ngoài ra, còn có những địa điểm khác như: nơi
ở của bạn bè, nơi ở của người bạn trai, bạn gái, quán cà phê, vũ trường mà nhất
là đối với SV ở trọ được xem là dễ xảy ra vấn đề QHTD mà nhất là QHTD không an toàn
Biểu hiện nhu cầu của quan hệ tình dục trước hôn nhân thì 65,2% sinh viên cho rằng để thoả mãn như cầu giới tính của con người Như vậy, sinh viên cho rằng quan hệ tình dục trước hôn nhân do nhu cầu sinh lí Hoàn cảnh dẫn
Trang 28đến việc sinh viên có quan hệ tình dục trước hôn nhân chủ yếu do người yếu đòi hỏi (71,5%) [3]; Một nghiên cứu năm 2015 nhằm xác định tỷ lệ quan hệ tình dục trước hôn nhân và các yếu tố liên quan đã được thực hiện trên 405 sinh viên Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội, sinh viên có quan điểm cởi mở về QHTD trước hôn nhân, đã từng xem phim khiêu dâm, có sử dụng rượu bia hoặc chất gây nghiện, từng vui chơi tại các quán bar hoặc hộp đêm, có bạn bè có QHTD trước hôn nhân có khả năng QHTD THN cao hơn Những sinh viên có bố mẹ sống cùng nhau, có bố mẹ thường xuyên chia sẻ với con cái về vấn đề tình yêu, giới tính, sức khỏe sinh sản có khả năng QHTD THN thấp hơn [12]; Một kết quả từ nghiên cứu khác năm 2010 có 39,4% thanh thiếu niên chưa từng nghe qua thuật ngữ "sức khỏe sinh sản", 65,8% thanh thiếu niên có nhu cầu được tư vấn về Giới tính và sức khỏe sinh sản Hơn 1/2 thanh thiếu niên mong muốn
được giáo dục giới tính trong nhà trường (56,2%) [7]
Năm 2019, bối cảnh với xu hướng gia tăng tình dục ở thanh niên Việt Nam trong những năm gần đây, những lo ngại đã được đặt ra về vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân và hậu quả sức khỏe tiềm ẩn của nó Để ngăn ngừa hậu quả như vậy và tăng cường sức khỏe hơn nữa, sự hiểu biết sâu sắc về các yếu
tố ảnh hưởng đến những người trẻ tuổi quan hệ tình dục trước hôn nhân sẽ có giá trị Mục tiêu tạo ra một lý thuyết có căn cứ giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến việc quan hệ tình dục trước hôn nhân ở thanh niên Việt Nam Đối tượng người Việt Nam từ 18 - 24 tuổi đã tự nguyện quan hệ tình dục trước hôn nhân (n = 18) Phương pháp nghiên cứu được thực hiện bằng cách sử dụng phương pháp lý thuyết có căn cứ của Glaser Lấy mẫu có chủ đích và lý thuyết đã được
sử dụng Mười cuộc phỏng vấn sâu và ba cuộc thảo luận nhóm tập trung bổ sung đã được thực hiện Các cuộc phỏng vấn được ghi âm và ghi lại nguyên văn Phân tích dữ liệu liên quan bằng cách sử dụng phương pháp so sánh không đổi và mã hóa mở và lý thuyết Lấy mẫu, thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu
Trang 29xảy ra đồng thời cho đến khi đạt được độ bão hòa lý thuyết Kết quả lý thuyết
có căn cứ được xây dựng xoay quanh sáu chủ đề mới nổi: (a) mong muốn là
"nguyên nhân trực tiếp"; (b) người hướng dẫn; (c) thay đổi xã hội; (d) phương tiện truyền thông; (e) ngang hàng và (f) vắng mặt gia đình Bốn chủ đề sau là
"nguyên nhân gián tiếp" ảnh hưởng thông qua mong muốn và người hướng dẫn Kết luận Nghiên cứu đã đóng góp một lý thuyết có căn cứ xác định các yếu tố và mô tả các mối quan hệ của chúng một cách toàn diện Nó gợi ý cần một nguồn thông tin đáng tin cậy để được thiết kế phù hợp với giới trẻ Ngoài
ra, sự kỳ thị khi nói về tình dục cần phải được giảm bớt để cho phép các cuộc thảo luận cởi mở hơn về tình dục và sức khỏe tình dục [32]
* Như vậy, qua việc tổng kết các nghiên cứu đã cho thấy: Sinh viên hiện
nay có xu hướng QHTD trước hôn nhân sớm hơn trước đây trong khi kiến thức của học sinh – sinh viên về QHTD nói riêng cũng như SKSS nói chung vẫn còn nhiều hạn chế Sinh viên có thái độ tích cực hơn trong việc QHTD trước hôn nhân an toàn Tuy nhiên, kiến thức của SV thường tốt hơn thực hành của họ
Tỷ lệ sinh viên sử dụng các biện pháp tránh thai khi QHTD chưa cao, vẫn còn
nhiều em sinh viên không sử dụng bao cao su khi QHTD [4], [7], [20]
Việt Nam thực hiện chương trình “đổi mới” và thành tựu khi nền kinh tế phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa ảnh hưởng đến nhiều góc độ khác nhau của cuộc sống trong đó quan hệ tình dục trước hôn nhân Đây là một vấn đề mà các bạn trẻ ngày nay để ý đến và thấy hầu hết các bạn cùng trang lứa với mình đều có bạn gái, bạn trai và họ đều có quan hệ trước hôn nhân hay là sống thử Qua các nghiên cứu ta thấy được QHTD trước hôn nhân dựa trên các yếu tố liên quan là có kiến thức thấp về SKSS, thông tin về tình dục vị thành niên và thanh niên hầu như không có và việc thảo luận về tình dục thường bị cấm kỵ Nhiều người lớn còn nghĩ việc đưa giáo dục sức khỏe sinh sản cho thanh thiếu
Trang 30niên vào chương trình học sẽ khiến lớp trẻ có quan hệ tình dục sớm hơn và nhiều hơn Tuy nhiên, hàng loạt nghiên cứu cho thấy “thanh thiếu niên đã có quan hệ tình dục chấp nhận thực hiện những hành vi tình dục an toàn hơn, cũng như lớp trẻ đã bắt đầu quan hệ tình dục muộn hơn hoặc giảm bớt hoạt động tình
dục nói chung” [1]; xem chuyện QHTD trước hôn nhân là bình thường, còn
nhiều sinh viên chưa có quan điểm tích cực về tình dục an toàn, xem phim khiêu dâm và uống rượu bia Do đó, cần chấp nhận các quan điểm khác nhau của sinh viên về QHTD trước hôn nhân và tăng cường hiểu biết cho sinh viên, trang bị kiến thức về quan hệ tình dục nói riêng cũng như sức khỏe sinh sản nói chung, điều chỉnh hành vi để SV có kiến thức và thực hành đúng về QHTD an toàn hỗ trợ cho sinh viên khi họ quyết định có QHTD trước hôn nhân [8], [10], [12]
1.3 GIỚI THIỆU ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn là một trường công lập trực thuộc Ủy ban nhân dân TP HCM, trụ sở chính tại 47 Cao Lỗ, phường 4, Quận
8, đào tạo hơn 20 ngành nghề từ trung cấp đến cao đẳng
Hình Trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn Nguồn: https://namsaigon.edu.vn/thu-vien-hinh-anh/
Trang 31Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh
tế - xã hội trong và ngoài nước
Với cán bộ - giảng viên - nhân viên: Năng động – Sáng tạo – Gắn kết Với người học: Nhạy bén – Sẵn sàng – Gắng sức
Khoa Y Dược của Trường Cao Đẳng Bách Khoa Nam Sài Gòn được thành lập từ ngày 14 tháng 8 năm 2009 tuyển sinh đào tạo xét tuyển học sinh
đã tốt nghiệp trung học phổ thông – Tú tài:
Đào tạo hệ Trung cấp: Ngành Điều Dưỡng, Dược Sỹ Trung Cấp, Y Sỹ Đào tạo hệ Cao đẳng: Ngành Điều Dưỡng, Dược Sỹ
Đào tạo hệ Cao đẳng liên thông: Ngành Điều Dưỡng, Dược Sỹ
Đào tạo hệ Sơ cấp: Sơ cấp cứu
Đào tạo hệ ngắn hạn: Chăm sóc người cao tuổi theo kỹ thuật Kaigo Nhật Bản, Kỹ thuật chăm sóc mẹ và bé sau sinh, Kỹ năng bán hàng nhà thuốc
Về giáo viên (GV), từ 5 GV năm 2009, đến nay 2019 có 25 GV (tăng gấp 5 lần), hầu hết đều có nghiệp vụ sư phạm giảng dạy Cao đẳng – Đại học, trong đó có 20% GV có trình độ thạc sỹ, CKI, 68% GV có trình độ Đại học Y Khoa, 12% đang học nâng cao
Về cơ sở vật chất, phòng học khang trang, hiện đại Hàng năm đều được đầu tư trang thiết bị mới, mô hình đồ dùng dạy và học, chưa tính thư viện điện
tử và các phòng học ngoại ngữ và tin học
Đặc biệt do trường công lập, nên Khoa Y Dược đã được hỗ trợ tích cực của hầu hết các bệnh viện Thành phố và Quận huyện tại TP HCM, cụ thể đã liên kết đào tạo đến 30 bệnh viện và 1 Công ty Dược làm cơ sở thực tập cho học sinh - sinh viên cả 3 ngành học ĐD, Y Sĩ và Dược sĩ
Nhằm đáp ứng kịp thời xu thế phát triển của xã hội, đáp ứng nhu cầu việc làm của học sinh - sinh viên Khoa Y Dược không ngừng nâng cao kiến thức chuyên môn, đi đầu trong việc tổ chức hội thảo kiến thức chuyên môn, giúp
Trang 32học sinh cập nhật kiến thức mới, thức vững vàng sau tốt nghiệp Bên cạnh mặt chuyên môn, Khoa Y Dược Trường Cao Đẳng Bách Khoa Nam Sài Gòn đã và đang xúc tiến cùng với nhà trường nâng cấp trường lên Trường Đại Học, nâng tầm chuyên môn nền tảng kiến thức giúp học sinh - sinh viên tiến xa hơn trong học tập, đáp ứng xu thế phát triển của xã hội trong thời kì hội nhập [15]
1.4 KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
- Thực trạng tỷ lệ QHTD trước hôn nhân ở SV
+ Tỷ lệ QHTD trước hôn nhân
+ Tỷ lệ QHTD trước hôn nhân theo giới, theo năm học, theo hệ
đào tạo và tuổi QHTD lần đầu trung bình
+ Đặc điểm của nhóm có QHTD trước hôn nhân
+ Đặc điểm liên quan đến sức khỏe sinh sản
- Một số yếu tố liên quan đến QHTD trước hôn nhân ở SV
+ Một số yếu tố nhân khẩu học của SV
+ Một số yếu tố kiến thức về sức khỏe sinh sản của SV
+ Một số yếu tố hành vi cuộc sống về quan hệ tình dục của SV
+ Một số yếu tố liên quan đến QHTD trước hôn nhân trong phân tích hồi quy logistics đa biến
Trang 33CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Sinh viên chưa lập gia đình không phân biệt nam, nữ đang theo học (niên khóa 2018 – 2019 và 2019 – 2020) tại Khoa Y Dược của Trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn, năm 2020
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn
Địa chỉ: 47 Cao Lỗ, phường 4, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh
(Vị trí Trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn trên google map)
Trang 342.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 1 năm 2020 đến tháng 6 năm 2020
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp cắt ngang mô tả
Phương pháp hồi quy logistic đa biến
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Dịch tễ học cắt ngang mô tả có phân tích
Sử dụng phiếu điều tra cá nhân online
Trong đó: - n : cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu
- P : Tỷ lệ ước đoán biến số nghiên cứu Để đạt cỡ mẫu lớn nhất Nghiên cứu chọn p = 0,5
Trang 35Lấy danh sách sinh viên chưa lập gia đình, thỏa mãn các tiêu chí tuyển chọn và đồng ý tham gia nghiên cứu của Khoa Y Dược, Trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn đang học ở học kỳ 2, năm 2019 - 2020 để điều tra, khảo sát thu thập số liệu Tổng số có 388 SV chính thức được đưa vào danh sách nghiên cứu và phân tích kết quả
Bảng 2.1 Số lượng sinh viên khoa Y Dược năm 2020 (Tính đến 01.01.2020) STT Tên lớp Chính quy Liên thông
2.3 CÁC BIẾN SỐ VÀ CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU
2.3.1 Bảng biến số và chỉ số nghiên cứu
Bảng 2.2 Các biến số và chỉ số nghiên cứu
Biến số Phân loại
biến số Chỉ số của biến
Phương pháp thu thập
Bộ câu hỏi online
- Nhóm Tuổi - Biến định
lượng
- Tỷ lệ % các nhóm tuổi (nhóm tuổi >
20, nhóm tuổi <
20)
Trang 36- Cư trú - Biến định
danh
- Tỷ lệ % thành thị/ nông thôn
- Năm học - Biến định
danh
- Tỷ lệ % SV năm 1/ năm 2
- Hệ đào tạo - Biến định
danh
- Tỷ lệ % SV liên thông/
- Sống cùng ai lúc đi học
- Biến định danh
- Tỷ lệ % SV ở trọ/ nhà gia đình, nhà người thân
Bộ câu hỏi online
- Nhóm Tuổi
- Biến định lượng
- Tỷ lệ % có QHTD THN theo nhóm tuổi
Trang 37- Năm học - Biến thứ
tự
- Tỷ lệ % % có QHTD THN ở
SV năm 2/ SV năm 1
- Hệ đào tạo - Biến định
danh
- Tỷ lệ % % có QHTD THN ở
SV hệ liên thông/ SV chính quy
- Thành tích - Biến nhị
phân
- Tỷ lệ % % có QHTD THN ở
SV có thành tích > TB/ SV
SV có tôn giáo/ không tôn giáo
- Sống cùng ai lúc đi học
- Biến định danh
- Tỷ lệ % QHTD THN ở
SV ở trọ/ nhà gia đình, nhà
Trang 38người thân
-Tuổi quan hệ lần đầu
- Biến định lượng - Tuổi SV
- Có thai ngoài
ý muốn, nạo phá thai
- Biến định lượng
- Tỷ lệ % SV có thai ngoài ý muốn
- Nạo phá thai
- Biến định lượng
- Tỷ lệ % SV nạo phá thai
- Số đối tác QHTD
- Biến định lượng
- Tỷ lệ % SV QHTD với 1 người/
> 1 người
- Mắc STDs (Lậu; Giang mai; HIV; Sùi mào gà)
- Biến định lượng
- Tỷ lệ % SV mắc STDs
- Nhóm Tuổi - Biến định
lượng
- Yếu tố nhóm tuổi có hay không liên quan đến QHTD
Trang 39- Tính OR (KTC 95%)
- Cư trú - Biến định
danh
- Yếu tố cư trú
ở thành thị hay nông thôn có hay không liên quan đến QHTD THN
- Năm học - Biến thứ
tự
- Yếu tố năm học là năm 1 hay năm 2 có hay không liên quan đến QHTD THN
- Hệ đào tạo - Biến định
danh
- Yếu tố hệ đào tạo là liên thông hay chính quy
có hay không liên quan đến QHTD THN
- Thành tích - Biến nhị
phân
- Yếu tố thành tích là có kết quả học tập >
TB hay ≤ TB có hay không liên quan đến QHTD THN
Trang 40- Tôn giáo - Biến định
danh
- Yếu tố tôn giáo có hay không liên quan đến QHTD THN
- Sống cùng ai lúc đi học
- Biến định danh
- Yếu tố nơi ở hiện tại là sống
ở trọ/ hay nhà gia đình/nhà người thân có hay không liên quan đến QHTD THN -Áp lực cuộc
sống (QH xã hội, QH gia đình, học tập,
QH tình yêu)
-Biến nhị phân
- Yếu tố áp lực cuộc sống có hay không liên quan đến QHTD THN
- Số nguồn thông tin tìm hiểu SKSS/
SKTD
- Biến thứ
tự
- Yếu tố có hay không liên đến QHTD THN đối với SV tìm hiểu về QHTD
≥ 3 nguồn thông tin/ tìm hiểu về QHTD
≤ 3 nguồn