Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp của người bệnh ngoại trú khoa Khám bệnh, bệnh viện Bạch Mai Sau khi sử dụng mô hình hồi quy Logistic để hạn chế tác động của c[r]
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
-
Lê M ỹ Dung – Mã học viên: C00682
TH ỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP
VÀ M ỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH
NGO ẠI TRÚ TẠI KHOA KHÁM BỆNH
B ỆNH VIỆN BẠCH MAI, NĂM 2018
Trang 2M Ở ĐẦU
Là một bệnh không lây nhiễm phổ biến nhất trong cộng đồng với
tỷ lệ mắc ở người lớn khoảng 25%-35% và được mệnh danh là “kẻ giết người thầm lặng”, trong những năm gần đây, tăng huyết áp (THA) đã trở thành nguyên nhân gây bệnh tật và tử vong hàng đầu trên phạm vi toàn cầu Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm trên toàn thế giới có khoảng 7 triệu người tử vong
do THA; và dự kiến đến năm 2025, toàn thế giới có khoảng 1,56 tỷ người bị THA Tại Việt Nam, theo Hội tim mạch học Việt Nam, năm
2016 có khoảng 48% người Việt Nam trưởng thành mắc bệnh THA, đây là mức báo động đỏ so với năm 2000 (khoảng 16,3%) và năm
2009 (khoảng 25,4%)
Theo Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát bệnh tật (CDC) của
Mỹ, năm 2013, tỷ lệ tuân thủ điều trị trên thế giới chỉ đạt từ 20-30% Tại Việt Nam, Tổng quan các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị ở người bệnh khác nhau giữa các nghiên cứu và dao động từ 21% đến 44,8%, trong đó, thấp hơn ở người bệnh ngoại trú
Những thông tin trên cho thấy tình trạng không tuân thủ điều trị THA ở người bệnh nói chung và người bệnh điều trị ngoại trú là một vấn đề rất đáng lo ngại và cần có những can thiệp kịp thời Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về “Thực trạng tuân thủ điều trị tăng
huyết áp và một số yếu tố liên quan của người bệnh ngoại trú tại Khoa Khám bệnh, bệnh viện Bạch Mai, năm 2018” với các mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh, bệnh viện Bạch Mai năm 2018
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh, bệnh
viện Bạch Mai năm 2018
C ấu trúc của luận án:
Luận án gồm 72 trang (không kể tài liệu tham khảo và phụ lục)
với 19 bảng, 02 hình và 10 biểu đồ, được chia thành các phần: Đặt
vấn đề 02 trang; Tổng quan 19 trang; Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 08 trang; Kết quả nghiên cứu 24 trang; Bàn luận 16 trang; Kết luận 01 trang và Khuyến nghị 02 trang Luận án có 85 tài
liệu tham khảo: 49 tài liệu tiếng Việt và 36 tài liệu tiếng Anh
Trang 3N ỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Đại cương về tăng huyết áp
1.1.1 Khái niệm và phân loại
1.1.1.1 Khái niệm huyết áp và tăng huyết áp
Huy ết áp là áp lực của máu lên thành động mạch Huyết áp tâm thu (huyết
áp tối đa) là trị số huyết áp lớn nhất trong một chu kỳ hoạt động tim, đo được ở thì tâm thu Huyết áp tâm trương (huyết áp tối thiểu) là trị số huyế áp nhỏ nhất trong một chu kỳ hoạt động tim, đo được ở thì tâm trương [8]
Tăng huyết áp: Theo WHO, một người được cho là bị THA khi có một
trong hai hoặc cả hai trị số: Huyết áp tối đa (huyết áp tâm thu) ≥ 140mmHg và/hoặc huyết áp tối thiểu (huyết áp tâm trương) ≥ 90mmHg Trị số được tính trung bình cộng của ít nhất 2 lần đo liên tiếp với cách đo chuẩn [81]
1.1.1.2 Phân lo ại huyết áp
Phân loại theo nguyên nhân tìm được gồm 2 nhóm: THA nguyên phát (hay THA vô căn) và THA thứ phát
- Nhóm THA nguyên phát (Bảng 1.1)
B ảng 1.1 Phân loại huyết áp theo WHO (2003)
Phân lo ại Huy ết áp tâm thu
(mmHg) Huy ết áp tâm trương
(Nguồn: World Health Organization (2003), "2003 World Health Organization (WHO)/ International Society of Hypertention (ISH) statement and management
of hypertention", Journal of hypertention 21(11), tr 1983-1992.)
- Với nhóm THA thứ phát: nhiều nguyên nhân dẫn đến THA đã được biết đến như hẹp động mạch chủ, bệnh mạch máu thận, suy thận, hội chứng cường Aldosterol, u tủy thượng thận [1]
1.1.2 Cơ chế bệnh sinh, biến chứng và một số yếu tố nguy cơ
1.1.2.1 Cơ chế bệnh sinh
Huyết áp động mạch được điều hòa bởi cơ chế thần kinh và cơ chế thể dịch Sự thay đổi, tác động của hai cơ chế này làm thay đổi huyết áp [5]
Trang 41.1.2.2 Biến chứng hoặc các tổn thương cơ quan đích do tăng huyết áp
Một số biến chứng thường gặp ở người bệnh bị THA [8]:
- Nhồi máu cơ tim, cơn đau thắt ngực
- Phì đại thất trái, suy tim
- Bệnh mạch máu ngoại vi
- Xuất huyết hoặc xuất tiết võng mạc, phù gai thị
- Protein niệu, tăng creatinin huyết thanh, suy thận
- Đột quỵ, thiểu máu não thoáng qua, sa sút trí tuệ, hẹp động mạch cảnh
1.1.2.3 Một số yếu tố nguy cơ liên quan đến tăng huyết áp
của trường đại học Framingham cho thấy tỷ lệ tiến triển thành THA trong
4 năm là 50% ở nhóm 65 tuổi trở lên và có huyết áp ở mức 139mmHg/ 85-89mmHg; 26% ở những người có huyết áp trong khoảng 120-129mmHg/ 80-84mmHg [55], [75]
130-Thừa cân, béo phì: Theo nghiên cứu của Joses và cộng sự, những
người có BMI lớn hơn 30 có nguy cơ bị THA cao gấp 4 lần so với người
có BMI dưới 25 [74]
Gi ới tính:Có một số ít nghiên cứu tìm thấy sự khác biệt về tỷ lệ THA
theo giới tính Theo các nghiên cứu này, trong nhóm người trưởng thành, nam bị THA nhiều hơn nữ [40]
Yếu tố gia đình: Những người có bố, mẹ hoặc anh, chị, em bị THA
thì có nhiều khả năng bị THA hơn những người khác [40]
Căng thẳng thần kinh, sang chấn tâm lý: Khi bị căng thẳng tâm thần
kinh, hệ thần kinh giao cảm tăng cường hoạt động giải phóng adrenalin
và nor-adrenalin làm tim tăng co bóp, nhịp tim nhanh hơn, động mạch co nhỏ lại và làm tăng huyết áp [6]
Ăn nhiều muối (ăn mặn) làm tăng nguy cơ THA và tăng nguy cơ đột quỵ ở người THA: Thử nghiệm TONE (The Trial of Nonpharmacologic
Interventions in the Elderly) cho thấy nếu giảm bớt muối ăn khoảng 0,04g/ngày, thì giảm một nửa nguy cơ THA [64]
Lười vận động, lạm dụng rượu bia, hút thuốc là những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc THA: Bảng phân tầng các yếu tố nguy cơ liên quan
đến bệnh tim mạch và huyết áp của Châu Âu cho thấy lười vận động; lạm
dụng rượu bia và hút thuốc lá là những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc các
bệnh mạch vành trên các người bệnh có mức huyết áp tưởng chừng như bình thường; đồng thời những yếu tố này cũng làm gia tăng mức độ cảnh báo ở những người có ngưỡng huyết áp ở mức tiền THA [50]
Trang 51.1.3 Nguyên tắc điều trị tăng huyết áp
Nguyên t ắc chung [46]:
- Tăng huyết áp là bệnh mạn tính nên cần theo dõi đều, điều trị đúng
và đủ hàng ngày, điều trị lâu dài
- Mục tiêu điều trị là đạt “huyết áp mục tiêu” và giảm tối đa “nguy cơ tim mạch” “Huyết áp mục tiêu” cần đạt là <140/90mmHg và thấp hơn nữa nếu người bệnh vẫn dung nạp được Nếu nguy cơ tim mạch
từ cao đến rất cao thì huyết áp mục tiêu cần đạt là <130/80mmHg Khi điều trị đã đạt huyết áp mục tiêu, cần tiếp tục duy trì phác đồ điều trị lâu dài kèm theo việc theo dõi chặt chẽ, định kỳ để điều chỉnh kịp thời
- Điều trị cần hết sức tích cực ở người bệnh đã có tổn thương cơ quan đích
- Không nên hạ huyết áp quá nhanh để tránh biến chứng thiếu máu ở các cơ quan đích, trừ tình huống cấp cứu
Các biện pháp tích cực thay đổi lối sống trong điều trị THA [24], [45], [59]:
- Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng:
- Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối cơ thể (BMI) từ 18,5 đến 22,9
- Cố gắng duy trì vòng bụng dưới 90cm ở nam và dưới 80cm ở nữ
- Hạn chế uống rượu, bia: số lượng ít hơn 3 cốc chuẩn/ngày (nam), ít hơn 2 cốc chuẩn/ngày (nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần (nam), ít hơn
9 cốc chuẩn/tuần (nữ) Một cốc chuẩn chứa 10g ethanol tương đương với 330ml bia hoặc 120ml rượu vang, hoặc 30ml rượu mạnh
- Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào
- Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: tập thể dục, đi bộ hoặc vận động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30-60 phút mỗi ngày
- Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh; cần chú ý đến việc thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý
- Tránh bị lạnh đột ngột
1.1.4 Đánh giá tuân thủ điều trị tăng huyết áp
Theo WHO, “Tuân thủ điều trị là mức độ mà người bệnh thực hiện theo các hướng dẫn được đưa ra cho phương pháp điều trị” [84] Theo Ranial và Morisky, “Tuân thủ điều trị là mức độ hành vi của người bệnh đối với việc uống thuốc, theo đuổi chế độ ăn kiêng, và/hoặc thay đổi lối
sống tương ứng với khuyến cáo của nhân viên y tế” [54]
Tại Việt Nam, thang đo Morisky cũng là bộ công cụ được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu đánh giá tuân thủ điều trị THA [14], [17],
Trang 6[20], [49] Vì vậy, trong nghiên cứu này, chúng tôi tham khảo thang đo Morisky để xây dựng bộ câu hỏi đánh giá “tuân thủ điều trị” với 6 khía cạnh: (1) tuân thủ chế độ dùng thuốc, (2) tuân thủ chế độ ăn, (3) tuân thủ
chế độ sinh hoạt, luyện tập thể lực, (4) tuân thủ không hút thuốc lá/ thuốc lào; (5) giảm uống rượu/bia, (6) tuân thủ việc theo dõi chỉ số huyết áp (đo, ghi lại chỉ số huyết áp và đi khám định kỳ)
1.2 Tình hình t ăng huyết áp trên thế giới và tại Việt Nam
1.2.1 Tình hình tăng huyết áp trên thế giới
Theo ước tính của WHO, mỗi năm trên toàn thế giới có khoảng 7 triệu người tử vong do THA; và dự kiến đến năm 2025, toàn thế giới sẽ
có khoảng 1,56 tỷ người bị THA [69] THA là nguyên nhân tử vong của
ít nhất 45% trường hợp tử vong do bệnh tim mạch, và của 51% trường hợp tử vong do đột quỵ [84]
Một nghiên cứu tổng quan 135 tài liệu, nghiên cứu về THA tại 90 nước trên toàn thế giới của Katherine T Mills và cộng sự (2016) cho thấy: trong năm 2010, 31,1% người trưởng thành trên thế giới bị THA (tương ứng khoảng 1,39 tỷ người), 28,5% ở các nước có thu nhập cao và 31,5% ở các nước có thu nhập thấp và trung bình Từ năm 2000 đến năm
2010, tỷ lệ hiện mắc THA của nhóm người trưởng thành giảm 2,6% ở các nước có thu nhập cao nhưng lại tăng 7,7% ở các nước có thu nhập thấp và trung bình Trong cùng thời kỳ này, nghiên cứu ghi nhận sự gia tăng đáng kể ở các nước có thu nhập cao về tỷ lệ có nhận thức đúng về THA (từ 58,2% năm 2000 lên 67,0% năm 2010), về tỷ lệ được điều trị THA (từ 44,5% lên 55,6%) và tỷ lệ kiểm soát được huyết áp (từ 17,9% lên 28,4%) Trong khi đó những tỷ lệ này ở các nước có thu nhập thấp và trung bình chỉ tăng nhẹ, thậm chí còn giảm: với tỷ lệ nhận thức tăng 32,3% đến 37,9%; tỷ lệ được điều trị tăng từ 24,9% lên 29,0% và tỷ lệ kiểm soát được huyết áp giảm từ 8,4% xuống còn 7,7% [79]
1.2.2 Tình hình tăng huyết áp tại Việt Nam
Tỷ lệ THA tại Việt Nam tăng nhanh kể từ khảo sát trên diện rộng đầu tiên năm 1992 do Viện Tim mạch – Bệnh viện Bạch Mai thực hiện, khi
đó tỷ lệ mắc ở người trưởng thành miền Bắc chỉ khoảng vài phần trăm [26] Năm 2011, nghiên cứu của Hà Anh Đức trên 2368 người từ 25 tuổi
trở lên tại Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ THA là 23%, trong đó có sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ, giữa các nhóm tuổi và cao hơn
ở nhóm thừa cân béo phì [56]
Trang 7Theo thống kê năm 2015 của Hội Tim mạch học Việt Nam, trên 5.454 người trưởng thành (từ 25 tuổi trở lên) trong quần thể 44 triệu người tại 8 tỉnh thành trên toàn quốc mắc THA Kết quả cho thấy có 47,3% người (20,8 triệu người) bị THA Đặc biệt, trong những người bị THA, có 39,1% (8,1 triệu người) không được phát hiện bị THA; có 7,2% (0,9 triệu người) bị THA không được điều trị; có 69,0% (8,1% triệu người) bị THA chưa kiểm soát được [48] Và theo điều tra mới nhất năm
2016 của Hội, có khoảng 48% người trưởng thành mắc bệnh THA, đây là mức báo động đỏ so với năm 2000 (khoảng 16,3%) và năm 2009 (khoảng 25,4%) [47], [48]
Chương trình phòng chống tăng huyết áp Quốc gia
Từ năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia giai đoạn 2012-2015 trong đó có Chương trình phòng chống tăng huyết áp, nhằm mục tiêu tăng 50% số người bệnh được quản
lý và điều trị THA thông qua các hoạt động can thiệp cụ thể gồm: truyền thông nâng cao nhận thức của người dân về THA; tăng cường việc phát hiện thông qua sàng lọc sớm, đào tạo cán bộ y tế tuyến cơ sở và đưa công tác hỗ trợ điều trị và quản lý ngoại trú về tuyến cơ sở
Mô hình quản lý và điều trị ngoại trú tại bệnh viện
Tại nhiều bệnh viện tuyến Trung ương và tuyến tỉnh hiện nay đang thực hiện mô hình quản lý và điều trị ngoại trú cho người bệnh, các bệnh viện này không thực hiện khám sàng lọc mà nguồn người bệnh đầu vào
là do người bệnh tự đến, thường có thể từ các khoa Lão khoa, các khoa khác khi đi khám những bệnh tật khác nhau hoặc tự đến sau khi có kết
quả khám phát hiện ở một tuyến khác Người bệnh được khám và làm các xét nghiệm nhằm chẩn đoán xác định giai đoạn cũng như mức độ cần điều trị và kê đơn, chi phí khám thường được tính dựa theo chế độ bảo hiểm hiện hành Theo một số nghiên cứu, có hơn 60% người bệnh bỏ điều trị sau 6 tháng và còn thiếu những đánh giá trên quy mô rộng về tỷ
lệ bỏ điều trị nhóm người bệnh ngoại trú [10], [29], [42]
1.3 Nghiên c ứu tuân thủ điều trị tăng huyết áp trên thế giới và
Vi ệt Nam
1.3.1 Nghiên cứu tuân thủ điều trị tăng huyết áp trên thế giới
Nghiên cứu của Pauline E Osamor ở Nigeria năm 2011 cho thấy không có sự khác biệt tuân thủ điều trị thuốc giữa nam và nữ người bệnh nhưng tình trạng hôn nhân lại có mối liên quan có ý nghĩa [70]
Trang 8Nghiên cứu của Krzesinski J và cộng sự tại Brussels - Bỉ, năm
2011, cho biết duy trì tương tác giữa thầy thuốc và người bệnh là một điều kiện có tính chất quyết định sự tuân thủ điều trị THA Chi phí điều
trị cũng có ảnh hưởng đến tuân thủ thuốc ở người bệnh Bên cạnh đó, người bệnh có lối sống tích cực và có ít nguy cơ có hại cho sức khỏe cũng hỗ trợ người bệnh tuân thủ điều trị tốt hơn [62]
Nghiên cứu của Manal Ibrahim Hanafi Mahmoud năm 2012 cho biết
tỷ lệ tuân thủ điều trị THA chung là 35,1% Người bệnh kém tuân thủ nhất là đối với việc tập thể dục Giới, thu nhập thấp, trình độ văn hóa, tình trạng công việc, thói quen hút thuốc ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ [60]
Nghiên cứu của Nandini Natarajan năm 2013 cho thấy có 77% người bệnh tuân thủ dùng thuốc Những người bệnh tập thể dục đều đặn và thực hiện chế độ ăn lành mạnh, giảm muối có mối liên quan đơn biến với điểm tuân thủ điều trị cao [68]
1.3.2 Nghiên cứu tuân thủ điều trị tăng huyết áp tại Việt Nam
Nghiên cứu của Đinh Văn Thành và Lương Ngọc Khuê năm 2011 ở người từ 18 tuổi trở lên tại huyện Yên Dũng và huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang cho thấy: có 63,08% người mắc THA đã dùng thuốc, trong đó, dùng đủ thuốc là 16,67% và chưa đủ thuốc là 46,41% Tỉ lệ người mắc THA đã được đo huyết áp là 72,46% [43]
Nghiên cứu của Nguyễn Minh Phương năm 2011 ở người bệnh THA
từ 25 đến 60 tuổi tại 4 phường thành phố Hà Nội cho thấy: 44,8% có thực hành đạt về tuân thủ điều trị THA; 34% theo dõi huyết áp thường xuyên; 67,2% uống thuốc điều trị THA nhưng chỉ có 43,6% là uống thuốc đầy đủ; 36% tuân thủ chế độ ăn uống; 66,4% đã hạn chế ruợu/bia, 64% thực hiện chế độ sinh hoạt, nghỉ ngơi đạt yêu cầu và 62,8% thường xuyên luyện tập
thể dục Kết quả phân tích mô hình quy logistic cho thấy giới tính, kiến thức về THA có liên quan đến tuân thủ điều trị THA [37], [38]
Kết quả nghiên cửu cắt ngang của Nguyễn Thị Hải Yến năm 2012 về tuân thủ chế độ ăn ở 260 người bệnh THA khám và điều trị ngoại trú tại
bệnh viện E cho thấy: tỷ lệ tuân thủ chế độ ăn là 40,4% Phân tích bằng
mô hình hồi quy logistic đa biến chỉ ra kiến thức về bệnh và chế độ điều
trị, việc giải thích của NVYT về THA và những nguy cơ là hai yếu tố có liên quan có ý nghĩa thống kê đến tuân thủ chế độ ăn [49]
Nghiên cứu của Đỗ Thị Bích Hạnh năm 2013 trên 380 người bệnh THA điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước cho thấy: 51,1% người bệnh có kiến thức đạt về bệnh và chế độ điều trị THA;
Trang 933,4% người bệnh đạt về tuân thủ điều trị chung (đạt từ 4 trong tổng số 6
nội dung trở lên) Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị THA cao hơn ở các nhóm người bệnh: có thời gian điều trị trên 1 năm, thuộc nhóm trên 60 tuổi và nhóm có kiến thức đạt [17]
1.4 M ột số thông tin về địa bàn nghiên cứu
Bệnh viện Bạch Mai được thành lập năm 1911, tiền thân là Nhà thương Cống Vọng chuyên thu nhận và điều trị người bệnh truyền nhiễm
Từ năm 1975 đến nay: đất nước thống nhất, Bệnh viện Bạch Mai đảm nhiệm trọng trách khám chữa bệnh tuyến cuối của ngành y tế [4]
Khoa Khám bệnh của bệnh viện Bạch Mai có 120 NVYT gồm: 33 bác sỹ (01 Phó giáo sư, 05 Tiến sỹ, 01 Bác sỹ chuyên khoa II, 24 Thạc sỹ
và 02 Bác sỹ chuyên khoa I), 83 điều dưỡng và 04 hộ lý Bên cạnh đó, Khoa có 21 nhân viên hợp đồng Trung bình mỗi năm khoa Khám Bệnh khám, điều trị ngoại trú cho 550.000 lượt người Người bệnh THA thuộc Chương trình quản lý THA được quản lý và điều trị ngoại trú tại Khoa năm 2017 là 5.824 người, tăng so với năm 2016 (4.956 người) [3]
1.5 Khung lý thuy ết nghiên cứu
Khung lý thuyết được xây dựng dựa trên tổng quan tài liệu về tuân thủ điều trị THA và các yếu tố nguy cơ, yếu tố ảnh hưởng/ liên quan đến tuân thủ điều trị THA Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu sẽ không đề cập đến nhóm yếu tố về dịch vụ điều trị THA ngoại trú
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Đối tượng nghiên cứu
Người bệnh điều trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh, bệnh viện
Bạch Mai năm 2018 đủ 18 tuổi trở lên; được chẩn đoán mắc THA vô căn (nguyên phát), không có biến chứng nặng do THA; được quản lý
và điều trị trong Chương trình quản lý tăng huyết áp
1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu: Từ tháng 04 đến tháng 08
năm 2018 tại Khoa Khám bệnh, bệnh viện Bạch Mai
1.3 Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang có phân tích
1.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
1.4.1 Cỡ mẫu
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng 1 tỷ lệ trong nghiên
cứu mô tả cắt ngang với độ tin cậy α = 0,05; ước lượng tỷ lệ tuân thủ điều trị THA p = 0,334 (the nghiên cứu của Đỗ Thị Bích Hạnh tại
bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước năm 2013) [17]; sai số chấp nhận được của ước lượng d = 0,05 (5,0%) Thay các giá trị vào công thức
Trang 10tính được n = 342 người Dự phòng khoảng 10% đối tượng bỏ cuộc
hoặc phiếu thu trống trên 50% thông tin, nên số lượng mẫu cần thu thập là 376 (lấy tròn là 380) Thực tế, có 380 người bệnh thoả mãn tiêu chí lựa chọn đã tham gia nghiên cứu (đạt 100% mẫu dự kiến)
1.4.2 Phương pháp chọn mẫu
Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện để tiếp cận và phỏng vấn người bệnh Bất kỳ người bệnh nào đến khám cũng được nhóm điều tra viên (ĐTV) tiếp cận và mời tham gia phỏng vấn Quá trình chọn mẫu diễn ra liên tục, trong tất cả các ngày trong tuần (trừ chủ nhật) cho đén khi đủ cỡ mẫu và đã không có sự trùng lặp người bệnh tới khám lại trong thời gian thu thập số liệu
1.5 Biến số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá
Bi ến số: các nhóm biến số chính trong nghiên cứu gồm:
- Nhóm bi ến số về thông tin chung của người bệnh: đặc điểm
nhân khẩu học, tiền sử THA của gia đình và bản thân, BMI, chỉ số huyết áp của bản thân, tham gia sinh hoạt câu lạc bộ người THA của bệnh viện
THA; kiến thức về tuân thủ điều trị THA
- Nhóm biến số về thực hành tuân thủ điều trị THA của người bệnh: tuân thủ chế độ dùng thuốc, tuân thủ chế độ ăn, tuân thủ chế
độ sinh hoạt, luyện tập thể lực, tuân thủ không hút thuốc lá/ thuốc lào; giảm uống rượu/bia, tuân thủ việc theo dõi chỉ số huyết áp (đo, ghi lại chỉ số huyết áp và đi khám định kỳ)
Một số tiêu chuẩn đánh giá sử dụng trong nghiên cứu:
- Đánh giá kiến thức về bệnh THA và chế độ điều trị THA: Có
16 câu hỏi đánh giá kiến thức tổng hợp về bệnh THA và chế độ điều trị THA bao gồm 11 nội dung kiến thức Mỗi nội dung kiến thức có điểm tối đa là 01 điểm Điểm cho mỗi lựa chọn đúng được tính bằng
1 điểm chia cho tổng số lựa chọn đúng của nội dung kiến thức đó Người bệnh được đánh giá là có kiến thức “Đạt” nếu tống điểm đạt
từ 7 điểm trở lên, dưới 7 điểm là “Chưa đạt”
- Đánh giá thực hành tuân thủ điều trị THA của người bệnh: Có
47 câu hỏi để đánh giá thủ điều trị THA của người bệnh trong vòng 1 tháng qua gồm 06 nhóm thực hành Thực hành tuân thủ điều trị THA chung của người bệnh được đánh giá là “Tuân thủ điều trị” nếu được đánh giá là “Tuân thủ” tại 5 nhóm thực hành chế độ điều trị trở lên
Trang 111.6 Phương pháp thu thập số liệu
- Công c ụ thu thập số liệu: là bộ phiếu phỏng vấn có cấu trúc
được thiết kế sẵn trên cơ sở tham khảo bộ công cụ của các nghiên
cứu trước đó [2], [17], [20], [37] và các quy định hiện hành của Bộ Y
tế về điều trị THA
- T ổ chức thu thập số liệu: Nhóm ĐTV gồm nghiên cứu viên
chính và 04 sinh viên điều dưỡng đang thực tập tại Bệnh viện Bạch Mai, nhưng không thực tập trực tiếp tại Khoa Khám bệnh ĐTV trong ngày phỏng vấn không mặc áo blu và đã được tập huấn về nội dung và kỹ năng phỏng vấn người bệnh Nhóm ĐTV tiến hành phỏng vấn trực tiếp người bệnh THA đồng ý tham gia nghiên cứu Cuộc phỏng vấn được tiến hành sau khi người bệnh hoàn thành quy trình khám và lấy thuốc, mỗi cuộc phỏng vấn khoảng 15 - 20 phút diễn ra tại một phòng riêng được bố trí gần địa điểm lĩnh thuốc
1.7 Xử lý và phân tích số liệu
Nghiên cứu sử dụng phần mềm Epidata 3.1 để nhập liệu và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0
1.8 Sai số có thể và biện pháp khắc phục sai số
Để khắc phục sai số trong thu thập số liệu, nghiên cứu đã thử nghiệm phiếu phỏng vấn và tập huấn ĐTV trước khi thu thập số liệu
Có thể có sai số nhớ lại và người bệnh không trả lời trung thực
Để khắc phục, nghiên cứu chỉ tìm hiểu về thực hành tuân thủ điều trị của người bệnh trong 1 tháng trước thời điểm nghiên cứu, ĐTV không mặc áo blu, địa điểm phỏng vấn được bố trí tại một phòng riêng và cam kết thực hiện đầy đủ các quy định về bảo mật thông tin
Để hạn chế sai sót trong nhập liệu, những điều kiện ràng buộc được sử dụng với phần mềm nhập liệu Epidata 3.1 và 10% số phiếu được nhập lại để kiểm tra tính chính xác
1.9 Đạo đức nghiên cứu
- Nghiên cứu tuân thủ và đảm bảo tất cả các quy trình về đạo đức nghiên cứu Đề tài nghiên cứu nhận được sự ủng hộ của Lãnh đạo
Bệnh viện và Lãnh đạo Khoa Khám bệnh, bệnh viện Bạch Mai
- Nghiên cứu chỉ tiến hành phỏng vấn đối với người bệnh đồng ý
tự nguyện tham gia nghiên cứu Quá trình phỏng vấn không gây bất
kỳ tổn hại nào cho người tham gia và không làm ảnh hưởng đến quá trình điều trị trong tương lai của người bệnh Thông tin cá nhân của
Trang 12người bệnh tham gia nghiên cứu được bảo mật, mã hóa và chỉ phục
vụ mục tiêu nghiên cứu
1.10 Hạn chế của nghiên cứu
- Nghiên cứu có thể có sai số không thể loại bỏ hoàn toàn 100%
- Nghiên cứu chưa thể đánh giá sự ảnh hưởng của yếu tố văn hoá; yếu tố tương tác giữa NVYT và người bệnh và chưa đề cập đến đối tượng là người bệnh không thuộc Chương trình quản lý tăng huyết áp
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thực trạng tuân thủ điều trị tăng huyết áp của người bệnh ngo ại trú khoa Khám bệnh, bệnh viện Bạch Mai
3.1.1 Một số thông tin chung về người bệnh tăng huyết áp
B ảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh (n=380)
Tu ổi Trung bình ± Độ lệch chuẩn Khoảng tuổi 65,18 ± 7,79 32-80 Nhóm tu ổi ≤ 60 tuổ>60 tuổi i 282 98 25,8 74,2 Giới tính Nam Nữ 188 192 49,5 50,5 Trình độ
h ọc vấn Dưới PTTH Từ PTTH trở lên 118 262 31,1 68,9
Ngh ề
nghi ệp
Công nhân/ Công chức, viên chức/
gia đình SSống cùng với gia đình ống một mình 365 15 96,1 3,9
Nơi ở Nông thôn Thành thị 171 209 45,0 55,0
Bảng 3.1 cho thấy tuổi trung bình của 380 người bệnh THA tham gia nghiên cứu là khoảng 65 tuổi, có 74,2% người bệnh trên 60 tuổi