Một số yếu tố liên quan sử dụng, lạm dụng rượu bia Các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam đã tìm thấy mối liên quan chặt chẽ giữa hành vi uống rượu ở các mức độ khác nhau với các yếu[r]
Trang 1LÝ HOÀNG
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG RƯỢU BIA
Ở NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ THUẬN AN, BÌNH DƯƠNG
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI – 2020
Trang 3trung thực và tôi chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Nếu có gì sai sót, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Họ tên học viên
LÝ HOÀNG
Trang 4sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu các thầy cô, đồng nghiệp và các anh chị học viên Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo Sau đại học trường Đại học Thăng Long đã chỉ bảo cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
và hoàn thiện và bảo vệ luận văn này
Ban Giám đốc TTYT TP Thuận An – nơi tôi công tác và thu thập số liệu đã tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa học cũng như luận văn
Hướng dẫn khoa học TS.BS Nguyễn Minh Quân đã hướng dẫn và chỉ bảo tôi rất nhiều để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô trong hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những ý kiến đống góp quý báu giúp luận văn của tôi thêm hoàn thiện
Xin chân thành cảm ơn tới tất cả các đồng nghiệp đang công tác tại Trung Tâm Y Tế TP Thuận An–đã đồng ý tham gia vào nghiên cứu này của tôi
Xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè trong lớp CH YTCC, gia đình, đồng nghiệp!
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Lý Hoàng
Trang 5AUDIT Alcohol Use Disorders Indentification Test (Phép kiểm
đánh giá rối loạn sử dụng rượu bia)
IARC Tổ chức Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (International
Agency for Research on Cancer
WHO Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)
Trang 6TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1.Một số khái niệm 3
1.1.1 Khái niệm rượu bia 3
1.1.2 Đơn vị cồn tiêu chuẩn 4
1.1.3 Lạm dụng rượu bia 4
1.2.Mức độ nguy cơ trong sử dụng rượu bia theo AUDIT [40], 5
1.3.Tác hại của việc sử dụng rượu bia 7
1.3.1 Tác hại đến sức khỏe 7
1.3.2 Tai nạn, thương tích 10
1.3.3 Vấn đề xã hội 12
1.3.4 Gánh nặng kinh tế 13
1.3.5 Nghiên cứu về sử dụng rượu bia ở nhân viên y tế trên thế giới 14
1.4.Tình hình sử dụng rượu bia và các nghiên cứu về rượu bia tại Việt Nam 15 1.4.1 Tình hình sử dụng rượu bia tại Việt Nam 15
1.4.2 Nghiên cứu sử dụng rượu bia ở nhân viên y tế tại Việt Nam 19
1.5.Một số yếu tố liên quan sử dụng, lạm dụng rượu bia 20
1.6.Một số giải pháp giảm sử dụng, lạm dụng rượu bia trên thế giới và Việt Nam 23 1.6.1 Một số giải pháp giảm sử dụng, lạm dụng rượu bia trên thế giới 23 1.7.Giới thiệu khái quát địa điểm nghiên cứu 24
1.8.Khung lý thuyết nghiên cứu 25
CHƯƠNG 2 25
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 26
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 26
Trang 72.2.3 Kỹ thuật chọn mẫu 27
2.3 Biến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá 27
2.3.1 Biển số, chỉ số nghiên cứu, các biến số và chỉ số nghiên cứu 27
2.3.2 Các chỉ số và tiêu chí đánh giá 35
2.4 Phương pháp thu thập thông tin 35
2.4.1 Công cụ thu thập thông tin 35
2.4.2 Kỹ thuật thu thập thông tin 35
2.5 Phân tích và xử lý số liệu 36
2.6 Sai số và biện pháp khống chế sai số 36
2.6.1 Sai số 37
2.6.2 Biện pháp hạn chế sai số 37
2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 38
2.8 Hạn chế của nghiên cứu 38
CHƯƠNG 3 39
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
3.1.Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 39
3.2.Thực trạng sử dụng rượu bia 40
3.3.Mối liên quan giữa sử dụng rượu bia chưa hợp lí và các đặc tính của đối tượng nghiên cứu 45
3.3.1 Mối liên quan giữa sử dụng rượu bia với đặc tính mẫu 45
Độc thân 46
3.3.2 Mối liên quan giữa sử dụng rượu bia chưa hợp lí với một số hành vi và tình trạng sức khỏe 48
3.4.Phân tích đa biến các yếu tố liên quan đến sử dụng rượu bia chưa hợp lí 49 CHƯƠNG 4 51
BÀN LUẬN 51
Trang 84.1.2 Tần suất uống rượu bia trong 12 tháng qua 53
4.2 Một số yếu tố liên quan đến SDRB chưa hợp lý của nhân viên y tế tại trung tâm y tế thành phố Thuận An 58
KẾT LUẬN 63
KHUYẾN NGHỊ 64
PHỤ LỤC 1 70
PHỤ LỤC 2 72
Trang 9Bảng 2.1 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 27
Bảng 3.1 Đặc tính dân số xã hội của nhân viên y tế (n=390) 39
Bảng 3.2 Đặc tính dân số xã hội của nhân viên y tế (n=390) 40
Bảng 3.3 Tuổi sử dụng rượu bia lần đầu của nhân viên y tế (n=390) 40
Bảng 3.4 Tần suất và mức độ sử dụng rượu bia (n=390) 41
Tính chung trong tất cả nhân viên y tế tham gia nghiên cứu, người uống rượu/bia41 Những người có uống rượu/bia trong 12 tháng qua thường uống 5-6 ĐVR trong 1 lần uống (14,1%) Có 65,4% đối tượng cho biết chỉ uống 1-2 ĐVR trong một lần uống, trong khi tỷ lệ người uống từ 10 ĐVR trở lên /lần là 1,3% 41
Lấy ngưỡng uống quá chén là khi số ĐVR/lần uống bằng hoặc lớn hơn 6, uống quá chén trong 1 năm vừa qua Cụ thể hơn, 15,9% trả lời có uống quá chén hằng tháng và 0,8% có uống quá chén hằng ngày hoặc gần như hằng ngày 42
Bảng 3.5 Đã từng sử dụng rượu bia trước đây ở nhân viên y tế (n=390) 42
Bảng 3.6 Hành vi sử dụng rượu bia của nhân viên y tế (n=262) 42
Bảng 3.7 Tình trạng hút thuốc lá, thể lực và mắc bệnh mạn tính của nhân viên y tế (n=390) 43
Bảng 3.8: Đặc điểm sử dụng rượu bia (n=390) 44
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa SDRB chưa hợp lí và đặc tính của nhân viên y tế (n=390) 45
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa SDRB chưa hợp lí và đặc tính của nhân viên y tế (n=390) 46
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa sử dụng rượu bia và đặc tính của đối tượng nghiên cứu (n=390) 47
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa sử dụng rượu bia chưa hợp lí và tình trạng sức khỏe của nhân viên y tế (n=390) 48
Bảng 3.13 Các yếu tố liên quan với sử dụng rượu bia chưa hợp lí đã hiệu chỉnh cho các biến số gây nhiễu và tương tác (phân tích đa biến) (n=390) 49
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Sử dụng rượu bia là một thói quen mang văn hoá truyền thống tại nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam Sử dụng rượu bia với mức độ hợp lý có thể đem lại cho con người cảm giác hưng phấn, khoan khoái, lưu thông huyết mạch Song rượu bia lại là chất ức chế thần kinh trung ương, gây nghiện vì vậy người sử dụng rất dễ bị lệ thuộc với mức độ dung nạp ngày càng nhiều dẫn đến tình trạng lạm dụng rượu bia Khoảng hai tỷ người trên thế giới tiêu thụ đồ uống có cồn và gần 76,3 triệu người có khả năng mắc rối loạn sử dụng rượu bia Theo ước tình của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ở các nước Đông Nam Á có 1/4 đến 1/3 nam giới uống rượu [49], [44] xu hướng ngày càng tăng ở phụ nữ Ở Ấn Độ, số người sử dụng rượu ước tính năm 2005 là 62,5 triệu, với 17,4% trong số họ (10,6 triệu) là người dùng phụ thuộc và 20-30% nhập viện là do các vấn đề liên quan đến rượu [45], [41] Lạm dụng rượu bia gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sức khoẻ cộng đồng và trật tự an toàn
xã hội [19], [29] Rượu bia là nguyên nhân gây ra hơn 230 loại bệnh tật và tình trạng thương tích là nguy cơ gây ra những vấn đề sức khỏe như rối loạn tâm-thần kinh, hành vi, bao gồm rối loạn sử dụng rượu bia (AUD), các bệnh không lây nhiễm, thương tích do bạo lực và tai nạn giao thông Một số bệnh/ thương tích chính do sử dụng rượu bia: Bệnh tim mạch, bệnh tiêu hóa/ rối loạn tiêu hóa, ung thư, thương tích, rối loạn sử dụng rượu bia (AUD) [37], [42], [48], [63], [45]
Việt Nam hiện được đánh giá là quốc gia được ước tính có mức tiêu thụ rượu bia cao ở Đông Nam Á, xếp thứ hai chỉ sau Thái Lan Ở Việt Nam, quá trình đổi mới và phát triển nền kinh tế trong những năm qua đã giúp cho đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao Xu hướng sử dụng rượu bia và các loại đồ uống có cồn khác trong sinh hoạt hàng ngày, trong những dịp lễ hội, trong quan hệ công việc đang ngày càng gia tăng Nếu như năm 2010 có
Trang 1270% nam và 6% nữ giới trên 15 tuổi có uống rượu bia trong 30 ngày qua thì sau 5 năm, đến năm 2015 tỷ lệ này đã tăng lên tương ứng là 80,3% ở nam giới
và 11,6% ở nữ giới và có xu hướng trẻ hóa tuổi sử dụng rượu bia Việt Nam đang phải đối mặt với sự gia tăng ngày càng trầm trọng của các bệnh không lây nhiễm WHO ước tính năm 2016 cả nước ghi nhận 549.000 trường hợp tử vong do mọi nguyên nhân, trong đó tử vong do bệnh không lây nhiễm chiếm tới 77% Tử vong do bệnh tim mạch đứng hàng đầu với 31%, tiếp theo là ung thư 19%, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 6% và đái tháo đường 4% [32] Rượu bia là một trong bốn yếu tố nguy cơ chủ yếu của bệnh không lây nhiễm nói trên Rượu bia là 1 trong 3 nguyên nhân chính làm gia tăng tỷ lệ tai nạn giao thông ở nam giới từ 15-49 tuổi tại Việt Nam Tổng số vụ tai nạn giao thông liên quan tới rượu bia chiếm 32,4% ở nam giới và 19,6% ở nữ giới [66], [67]
Trung tâm y tế thành phố Thuận An gồm 4 phòng chức năng, 4 khoa phòng thuộc khối dự phòng và 14 khoa lâm sàng cận lâm sàng và 10 phòng khám/trạm y tế trực thuộc với tổng số 402 nhân viên y tế Tìm hiểu tổng quan chưa tìm thấy nghiên cứu về tỷ lệ sử dụng rượu bia trên đối tượng nhân viên y
tế tại Việt Nam, theo đánh giá chủ quan nhân viên y tế là đối tượng có kiến thức về tác hại của lạm dụng rượu bia lên sức khỏe nên tỷ lệ lạm dụng rượu bia sẽ thấp? Tuy nhiên một số nghiên cứu trên đối tượng sinh viên thuộc các trường Đại học Y Dược cho thấy tỷ lệ sử dụng rượu bia ở sinh viên khá cao từ 57% đếb 75% Do đó chúng tôi quyết định thực hiện nghiên cứu đề tài “Thực trạng sử dụng rượu bia ở nhân viên y tế tại trung tâm y tế thành phố Thuận
An, Bình Dương và một số yếu tố liên quan năm 2020” với 2 mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng sử dụng rượu bia ở nhân viên y tế tại Trung tâm Y tế thành phố Thuận An, Bình Dương năm 2020
Trang 132 Phân tích một số yếu tố liên quan đến sử dụng rượu bia không hợp lý của của nhân viên y tế tại trung tâm y tế thành phố Thuận An, Bình Dương
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm rượu bia
- Rượu là đồ uống có cồn thực phẩm, được sản xuất từ quá trình lên men
từ một hoặc hỗn hợp của các loại nguyên liệu chủ yếu gồm tinh bột của ngũ cốc, dịch đường của cây, hoa, củ, quả hoặc là đồ uống được pha chế
từ cồn thực phẩm [33]
- Bia là đồ uống có cồn thực phẩm, được sản xuất từ quá trình lên men từ
hỗn hợp của các loại nguyên liệu chủ yếu gồm mạch nha (malt), đại mạch, nấm men bia, hoa bia (hoa houblon), nước…[33]
- Phân loại rượu bia
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) rượu bia đươc phân loại theo nồng
đô ̣ cồn và đươc chia làm loai là bia, rượu vang và rượu mạnh [32]
• Bia: là loại đồ uống lên men, được làm từ nguyên liệu chính là đại mạch, nước, hoa bia và men Độ cồn của bia phổ biến từ 4%-6%
• Rượu vang: được sản xuất từ quá trình lên men các loại trái cây (chủ yếu là nho), thường có độ cồn từ 10%-14% [32]
• Rượu mạnh: được sản xuất từ quá trình lên men và chưng cất nguyên liệu như mía, củ cải đường, khoai tây, ngô, lúa mạch, lúa mì và các loại ngũ cốc khác Rượu mạnh thường có độ cồn trên 35% [32]
Trang 141.1.2 Đơn vị cồn tiêu chuẩn
Đơn vị rượu là đơn vị đo lường dùng để quy đổi rượu bia và đồ uống có cồn khác với nồng độ khác nhau Tai Việt Nam 1 đơn vị rượu tương đương 10 gram cồn nguyên chất chứa trong dung dịch uống Như vậy, 1 đơn vị rươu tương đương với 2/3 chai bia 500ml hoặc một lon bia 330 ml (5%) hoăc bằng
1 cốc bia hơi 330ml hoăc bằng 1 ly rượu vang 100 ml (13,5%) hoăc bằng 1 chén rượu mạnh 30 ml (40-43%)
Hình 1: Minh họa 1 đơn vị cồn đối với các loại bia, rượu vang, rượu mạnh
1.1.3 Lạm dụng rượu bia
Lạm dụng rượu bia (LDRB) là việc sử dụng rượu bia (SDRB) với mức
độ không thích hợp dẫn đến việc biến đổi chức năng hoặc xuất hiện một dấu hiệu về lâm sàng theo Hướng dẫn chẩn đoán và thống kê rối loạn tâm thần
Trang 15Mỹ Nữ uống quá 2 đơn vị rượu/ngày hoặc 14 đơn vị rượu/tuần; nam quá 3 đơn vị rượu/ngày hoặc 21 đơn vị rượu/tuần; người 65 tuổi quá 2 đơn vị rượu/ngày hoặc 14 đơn vị rượu/tuần và một hoặc một số dấu hiệu theo Hướng dẫn chẩn đoán và thống kê rối loạn tâm thần Mỹ được coi là LDRB [16]
Là việc SDRB và đồ uống có cồn khác với mức độ, liều lượng, đối tượng không thích hợp dẫn đến sự biến đổi về chức năng của cơ thể hoặc xuất hiện dấu hiệu về lâm sàng ảnh hưởng có hại đến sức khỏe người sử dụng (trẻ
em, phụ nữ mang thai hoặc đang nuôi con bằng sữa mẹ SDRB và đồ uống có cồn khác; người từ 60 tuổi trở lên uống hơn 14 đơn vị rượu/tuần, hơn 2 đơn vị rượu/ngày, hơn 1/2 đơn vị rượu/giờ; người dưới 60 tuổi uống trên 21 đơn vị rượu/tuần, hơn 3 đơn vị rượu/ngày, hơn 1 đơn vị rượu/giờ) hoặc SDRB và
đồ uống có cồn khác trong trường hợp pháp luật nghiêm cấm [11]
1.2 Mức độ nguy cơ trong sử dụng rượu bia theo AUDIT [40],
Theo Bảng phân loại DMS.IV (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders) của Hiệp hội Tâm thần Mỹ, rối loạn do sử dụng đồ uống có cồn được chia làm 2 mức độ: Lạm dụng (alcohol abuse) và phụ thuộc rượu bia (Alcohol dependence)
Trong tài liệu này, để áp dụng cho can thiệp cộng đồng, việc đánh giá nguy cơ do sử dụng rượu bia dựa theo hướng dẫn trong bộ công cụ sàng lọc AUDIT Bộ câu hỏi được WHO thiết kế năm 1982 với mục đích phát hiện sớm các vấn đề liên quan tới sử dụng rượu bia và phù hợp với tất cả các nước trên thế giới kể cả các nước phát triển và đang phát triển Quá trình xây dựng
bộ công cụ Phép kiểm đánh giá rối loạn sử dụng rượu bia (AUDIT) thực hiện nhiều giai đoạn, bởi nhiều nhà nghiên cứu trên nhiều quốc gia vùng lãnh thổ
Từ khi được khuyến cáo sử dụng, nhiều nghiên cứu đã cho thấy công cụ này
có nhiều giá trị ứng dụng và là công cụ sàng lọc các vấn đề liên quan đến sử dụng rượu tốt nhất ở các cơ sở chăm sóc y tế ban đầu [80] Hiện tại, Bộ Y tế
Trang 16cũng áp dụng AUDIT để hướng dẫn Sàng lọc và can thiệp giảm tác hại do SDRB từ năm 2013
AUDIT là bộ câu hỏi với 10 câu đơn giản, ngắn gọn và được chia thành
3 phần bao gồm:
- Phần 1: gồm 3 câu hỏi thu thập bằng chứng về sử dụng rượu bia đến mức
có hại
- Phần 2: gồm 3 câu hỏi thu thập bằng chứng về phụ thuộc rượu bia
- Phần 3: gồm 4 câu hỏi thu thập bằng chứng về sử dụng rượu bia đến mức nguy hiểm
Trong tài liệu này, để áp dụng cho can thiệp cộng đồng, việc đánh giá nguy cơ do SDRB dựa theo hướng dẫn trong bộ công cụ sàng lọc AUDIT Có
4 mức độ nguy cơ trong SDRB, bao gồm:
a) Sử dụng rượu bia hợp lý, nguy cơ thấp: Lý tưởng nhất vẫn là không nên uống rượu bia; nếu đã uống chỉ nên giữ ở mức không quá 2 đơn vị rượu/ngày đối với nam giới và không quá 1 đơn vị rượu/ngày đối với nữ giới Với mức độ dung nạp này, những hậu quả của rượu bia đối với sức khoẻ thường ở mức tối thiểu, tương ứng với mức
b) Sử dụng rượu bia ở mức nguy cơ (Hazardous use of alcohol) Là việc sử dụng rượu bia ở mức độ dẫn đến nguy cơ gây hại cho người uống Những người này mặc dù chưa chịu những tác hại về sức khỏe do rượu/bia gây ra nhưng họ có nguy cơ mắc các bệnh mạn tính như: ung thư, tim mạch, v.v hoặc nguy cơ chấn thương, bạo lực hay hành vi liên quan đến pháp luật, giảm khả năng làm việc, và gặp phải các vấn đề xã hội do tình trạng nhiễm độc rượu, bia cấp tính gây nên, tương ứng với mức từ 8-15 điểm
c) Sử dụng rượu bia ở mức có hại (Harmful use of alcohol) Là việc sử dụng rượu bia ở mức gây ra các tổn hại về sức khỏe Những tổn hại này có thể
Trang 17về thể chất (tổn thương gan, suy chức năng gan, tim mạch, v.v.) hay tâm thần (trầm cảm, loạn thần, v.v.) hoặc các hậu quả xã hội khác (tai nạn thương tích, bạo lực, giảm khả năng làm việc, v.v.), tương ứng với mức
từ 9-16 điểm
d) Phụ thuộc/nghiện rượu bia Là tình trạng lệ thuộc vào rượu bia được đặc trưng bởi sự thèm muốn (nhu cầu uống mãnh liệt), mất kiểm soát (không thể ngừng uống mặc dù rất muốn dừng), tăng mức độ dung nạp, ảnh hưởng đến thể chất, tương ứng với mức từ 20 điểm trở lên
Năm 1992, nghiện rượu bia được liệt kê vào nhóm rối loạn hành vi và tâm thần do sử dụng các chất tác động tâm thần với những tiêu chí nhận diện thuộc mục F10.2 trong ICD-10
- Thèm muốn mãnh liệt hoặc cảm thấy bắt buộc phải sử dụng
- Khó khăn trong việc kiểm soát tập tính sử dụng: thời gian bắt đầu, thời gian kết thúc, mức sử dụng
- Xuất hiện hội chứng cai khi ngừng sử dụng hoặc giảm liều - Tăng mức
1.3 Tác hại của việc sử dụng rượu bia
1.3.1 Tác hại đến sức khỏe
Rượu bia là nguyên nhân gây ra hơn 230 loại bệnh tật và tình trạng thương tích và thậm chí tử vong [37] Rượu bia là chất hướng thần với những
Trang 18đặc tính gây ra sự lệ thuộc Uống rượu bia có liên quan đến nguy cơ gây ra những vẫn đề sức khỏe như rối loạn tâm – thần kinh, hành vi, bao gồm rối loạn sử dụng rượu bia (AUD), các bệnh không lây nhiễm chính, thương tích
do bạo lực và tai nạn giao thông [50], [60] Một nghiên cứu khác tiến hành tại Anh cho thấy nguy cơ tử vong ở những người uống so với người không uống Uống nhẹ đến trung bình (1,5-29,9g mỗi ngày) làm giảm nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch, uống rượu nặng có liên quan với tăng nguy cơ tử vong do các nguyên nhân khác, đặc biệt là ung thư vú và xơ gan Lợi ích liên quan đến việc uống nhẹ đến trung bình là rõ ràng nhất ở những phụ nữ có các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch vành và những người từ 50 tuổi trở lên [83] Khoảng nửa triệu người trên thế giới chết vì ung thư gan mỗi năm Uống nhiều rượu có thể gây ra bệnh xơ ung thư gan và tử vong [17] Tỷ lệ tử vong liên quan đến rượu được nghiên cứu thường xuyên hơn so với tỷ lệ mắc bệnh liên quan đến rượu Một nghiên cứu tại Mỹ của Micheal và cộng sự cho thấy nguyên nhân tử vong liên quan đến uống rượu là xơ gan và nghiện rượu, ung thư miệng, thực quản, họng, thanh quản, và kết hợp gan, ung thư vú ở phụ nữ, chấn thương và nguyên nhân bên ngoài khác ở nam giới Tỷ lệ tử vong từ bệnh ung thư vú cao hơn 30% trong số phụ nữ cho biết có sử dụng ít nhất một thức uống có cồn hàng ngày hơn những người không uống Tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân tăng lên cùng với việc uống rượu nặng hơn, đặc biệt là ở người trưởng thành dưới 60 tuổi có nguy cơ mắc bệnh tim mạch [83]
Theo nghiên cứu của tác giả Trần Thiện Thuần thực hiện trên 2000 người dân TP.HCM từ 25 đến 64 tuổi, nghiên cứu về hành vi và những yếu tố liên quan đến tăng huyết áp ở người lớn tại TP.HCM Tỷ lệ lạm dụng thức uống có rượu giữa các nhóm huyết áp cao, tăng cholesterol huyết thanh, đường huyết cao và những nhóm bình thường tương ứng có ý nghĩa thống kê Lạm dụng thức uống có cồn gây tăng huyết áp sẽ tăng gấp 1,6 lần so với
Trang 19người bình thường và gây cholesterol cao sẽ tăng gấp 1,5 lần so với người bình thường [6]
Một số bệnh /thương tích chính do sử dụng rượu bia:
- Bệnh tim mạch: Sử dụng rượu bia tăng nguy cơ gây ra các bệnh lý tim mạch như: đột quỵ, suy tim, cao huyết áp và phình động mạch chủ [30]
- Bệnh tiêu hóa/rối loạn tiêu hóa: Tiêu thụ rượu quá mức gây tổn thương gan, xơ gan, làm trầm trọng các tổn thương do virus viêm gan C, viêm tụy cấp tính và mãn tính [30]
- Ung thư: Tổ chức Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) xếp rượu bia vào nhóm chất gây ung thư Sử dụng rượu bia là nguyên nhân liên quan tới: Ung thư khoang miệng, vòm họng, thanh quản, thực quản, đại-trực tràng, gan, mật và ung thư vú [30], [48]
- Thương tích: Một tỷ lệ lớn gánh nặng bệnh tật do sử dụng rượu bia phát sinh từ những thương tích không chủ ý và cố ý, gồm tai nạn giao thông, bạo lực và tự tử, các thương tích gây tử vong liên quan đến rượu bia xuất hiện nhiều ở nhóm tuổi tương đối trẻ Rượu bia được xác định là nguyên nhân chính gây ra tai nạn giao thông Trong năm 2016, tử vong do tai nạn giao thông liên quan tới rượu bia chiếm 41% tổng số ca tử vong do thương tích có liên quan đến rượu bia [30]
- Rối loạn sử dụng rượu bia (AUD): Rối loạn sử dụng rượu bia là một bệnh mạn tính của não bộ với các đặc trưng: người bệnh cảm thấy bắt buộc phải
sử dụng rượu bia, không kiểm soát được lượng uống và rơi vào tâm trạng tiêu cực khi không sử dụng Năm 2016, trên thế giới 283 triệu người từ 15 tuổi trở lên (chiếm 5.1% người trưởng thành) bị rối loạn sử dụng rượu bia [32], [36]
- Ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần: SDRB dẫn đến lao động kém, kết quả học tập giảm, loạn nhân cách chống đối xã hội, trầm cảm trong giới trẻ
Trang 20Bằng chứng nghiên cứu ủng hộ ý tưởng rằng có một tích cực mối liên hệ giữa việc uống rượu và trầm cảm trong giới trẻ Những người trẻ tuổi được chẩn đoán là mắc các chứng rối loạn tâm thần nặng (rối loạn lo âu, trầm cảm rối loạn nhân cách chống đối xã hội) cũng thường được chẩn đoán là
có vấn đề lạm dụng chất, bao gồm cả lạm dụng rượu [74]
1.3.2 Tai nạn, thương tích
Rối loạn sử dụng rượu bia là một bệnh mạn tính của não bộ với các đặc trưng: người bệnh cảm thấy bắt buộc phải sử dụng rượu bia, không kiểm soát được lượng uống và rơi vào tâm trạng tiêu cực khi không sử dụng Năm 2016, trên thế giới 283 triệu người từ 15 tuổi trở lên (chiếm 5.1% người trưởng thành) bị rối loạn sử dụng rượu bia [52]
Ở nhiều quốc gia có thu nhập cao, khoảng 20% số lái xe bị chấn thương nghiêm trọng gây tử vong đều có nồng độ cồn trong máu vượt quá giới hạn cho phép (nghĩa là ở phía trên của giới hạn theo quy định của pháp luật) Các nghiên cứu tại các nước có thu nhập thấp đã chỉ ra rằng nồng độ cồn trong máu của những lái xe bị chấn thương nghiêm trọng dẫn đến tử vong là ở trong khoảng giữa 33% và 69% [14]
Theo một nghiên cứu tại Mỹ đã ước tính hơn 1.400 học sinh tuổi từ 18 đến 24 tử vong trong năm 1998 vì chấn thương không chủ ý liên quan đến rượu, trong đó có tai nạn xe cơ giới Theo kết quả khảo sát trong năm 1999, hơn 2 triệu trong số 8 triệu sinh viên đại học ở Hoa Kỳ lái xe dưới ảnh hưởng của rượu và hơn 3 triệu người lái xe khi đã uống rượu [75]
Mức độ thường xuyên của việc uống rượu bia trong khi lái xe có sự khác nhau giữa các quốc gia, nhưng dù ở đâu thì đó cũng là một nguy cơ rất lớn gây ra các vụ tai nạn giao thông đường bộ Phạm vi ảnh hưởng của rượu bia đến tai nạn giao thông đường bộ cũng khác nhau giữa các quốc gia, và do
đó việc so sánh trực tiếp giữa các quốc gia là việc làm khó khăn [14] Có một
Trang 21liên kết mạnh mẽ giữa việc sử dụng rượu và tội phạm, đó là điều hiển nhiên trong tất cả các nước châu Âu [81] Tội phạm liên quan đến rượu có liên quan đến một loạt các hành vi phạm tội xã hội, trong đó có các hành vi chống đối
xã hội, gây phiền toái xã hội, phá hoại, say rượu lái xe, cướp, tội phạm tình dục, hành hung và giết người Uống rượu dẫn đến nguy cơ gia tăng các cá nhân vừa là thủ phạm và nạn nhân tội phạm bạo lực Nghiên cứu ở các quốc gia minh hoạ thêm mối quan hệ giữa rượu và tội phạm Ví dụ, tại Vương quốc Anh (Scotland) năm 2010 và 2011, rượu là một yếu tố được biết đến trong hơn hai phần ba số vụ giết người (69%), nơi tình trạng uống của các bị cáo đã được biết đến [67]
Tại Viêt Nam tình trạng tai nạn giao thông có liên quan đến rươu bia đang chiếm tỉ lê ̣cao 60% số vụ tai nan giao thông có nguyên nhân từ sử dụng rượu bia [24] Rượu bia là một trong 3 nguyên nhân chính làm gia tăng tỷ lệ tai nạn giao thông ở nam giới độ tuổi 15-49 chiếm gần 15% số trường hơp tử vong do thương tích đường bô liên quan đến sử dụng rượu bia [64] Số vụ tai nạn giao thông do người tham gia giao thông có SDRB đang ngày càng gia tăng và trở thành một vấn đề bức xúc của nhiều địa phương hiện nay Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Tâm tìm hiểu tỷ lệ tai nạn giao thông sau khi uống rượu trên bệnh nhân nam nhập viện sau giao thông chấn thương
đã được phỏng vấn và đo nồng độ cồn trong máu của họ Kết quả cho thấy có 57,5% bệnh nhân tai nạn giao thông nam đã có nồng độ cồn trong máu vượt quá giới hạn pháp lý (0.08g/100ml) và 45,6% là trên 0,15g/100ml [83] Từ những dữ liệu trên chỉ ra rằng một tỷ lệ nạn nhân tai nạn nam có nồng độ cồn trong máu cao hơn nhiều so với giới hạn pháp lý, và xác nhận rằng nguy cơ chấn thương sau một chức năng liều đáp ứng Đây là một điều cần lưu ý và cần có chương trình truyền thông, chính sách xử phạt nghiêm khắc đối với hành vi tham gia giao thông khi đã uống rượu bia [89]
Trang 221.3.3 Vấn đề xã hội
Ngoài những tác hại đối với sức khỏe, rượu bia còn là căn nguyên của nhiều vấn đề xã hội nghiêm trọng khác như: bạo lực, mất trật tự an toàn xã hội, tội phạm, phân hóa xã hội [52], [55]:
Hung hãn, bạo lực và tội phạm
Khi nồng đồ cồn trong máu đến mức 0.05%, người uống rượu bia có xu hướng trở nên hung hãn, và nồng độ cồn trong máu càng cao thì mức hung hãn càng tăng [17], [58] Rượu bia là nguyên nhân dẫn đến: 88.000 trường hợp thiệt mạng trong các vụ bạo lực do người uống rượu bia gây ra năm 2016 trên toàn thế giới [32] 47% vụ bạo lực giữa các cá nhân tại Anh và 63% tại Scotland 33% vụ bạo lực gia đình tại Ấn Độ và 51% tại Nigeria [56]
Đối với các hành vi phạm tội, 19% vụ án hình sự, 11% hành vi chống đối xã hội tại Bắc Ireland có liên quan tới sử dụng rượu bia [32] Năm 2008 tại Thái Lan, 40% số vụ tội phạm làdo thanh niên/người trẻ tuổi sử dụng rượu bia gây ra [53] Tội phạm và gây rối trật tự công cộng: Các vụ tội phạm và gây rối trật tự công cộng do có SDRB cũng đang có xu hướng gia tăng SDRB ở nước
ta hiện đang có xu hướng ngày càng tăng là do sự ảnh hưởng cộng hưởng của một số nhân tố chủ yếu như: tập quán, chuẩn mực văn hoá; mức sống được cải thiện, nhu cầu giao tiếp xã hội ngày càng tăng, sự gia tăng nhanh của thị trường sản xuất và cung ứng rượu bia, các hoạt động quảng cáo và tiếp thị rượu, bia ngày càng mở rộng [9]
Hình sự: Theo Cục Kiểm toán Rượu Scotland, khoảng 70% các vụ tấn công có liên quan đến rượu [14] Ngoài ra, 50% tù nhân được báo cáo là say rượu tại thời điểm hành vi phạm tội của họ, cũng như 75% người phạm tội trẻ tuổi (từ 13 đến 26) [85] Trong một nghiên cứu khác, 50% tù nhân bị giam giữ vì tội phạm bạo lực tin rằng rượu là một yếu tố góp phần trong hành vi phạm tội của họ [86] Điều tra tội phạm năm 2000 của Anh, trích dẫn của
Trang 23Viện Rượu Studies11 tìm thấy 40% nạn nhân của bạo lực tin rằng kẻ tấn công
họ là dưới ảnh hưởng của rượu Tỷ lệ thấp hơn cho trấn lột (17%) so với nơi
mà bạo lực toàn bộ tội phạm [92] Cả hai nghiên cứu ở Úc và ở nước ngoài ủng hộ giả thuyết rằng có một mối quan hệ giữa rượu và hành vi phạm tội hình sự Năm 1968 Bartholomew cho thấy 59% tù nhân Victoria đã uống rượu trước khi phạm tội mà họ bị buộc tội Bartholomew lặp đi lặp lại nghiên cứu này vào năm 1983 và nhận thấy tỷ lệ đã tăng lên đến 81% [90] Phục hồi
và quản lý người phạm tội người lạm dụng rượu đã được chứng minh là cực
kỳ khó khăn Mặc dù biện pháp trừng phạt truyền thống và tù giam ngày nặng, nhưng số người phạm tội tiếp tục tăng [92]
Suy giảm chức năng xã hội
Sử dụng rượu bia có thể ảnh hưởng tới các chức năng xã hội của người uống: giảm khả năng lao động, học tập, ảnh hưởng vai trò làm chồng, làm cha trong gia đình; phá hỏng các mối quan hệ xã hội và tăng nguy cơ phạm tội Báo cáo của WHO cho thấy rượu bia là nguyên nhân của 15-20% các trường hợp vắng mặt và 40% tai nạn nơi làm việc ở Ấn Độ 30% các trường hợp vắng mặt và tai nạn nơi làm việc ở Costa Rica là do người lao động bị phụ thuộc rượu bia [32]
1.3.4 Gánh nặng kinh tế
Hàng loạt tổn thất kinh tế liên quan tới sử dụng rượu bia Ở góc độ gia đình, thành viên hộ gia đình sử dụng rượu bia có thể gây thiệt hại lớn về tài chính, và làm cho tình trạng đói nghèo trở nên trầm trọng [35], [59] Uống rượu bia đã gây ra những phí tổn về kinh tế cho người sử dụng, gia đình họ và toàn xã hội Lạm dụng và nghiện rượu làm tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh tật, tai nạn thương tích và ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, xã hội Theo WHO năm 2005, lạm dụng rượu 4% gánh nặng bệnh tật toàn cầu Chi phí để giải quyết các hậu quả do rượu gây ra ở Anh và Nhật Bản khoảng 6 tỷ USD/năm,
Trang 24ở Mỹ con số này là 190 tỷ USD/năm Ở Việt Nam chi phí cho rượu hàng năm vào khoảng 6.000 tỷ đồng [9]
Trên phương diện xã hội, thiệt hại kinh tế do sử dụng rượu bia bao gồm gánh nặng cung cấp dịch vụ để giải quyết các hậu quả liên quan của các ngành phụ trách phúc lợi xã hội, y tế và tư pháp Ước tính phí tổn xã hội của việc sử dụng rượu bia đã được nghiên cứu ở nhiều quốc gia trên thế giới Phí tổn xã hội bao gồm các chi phí thành phần sau [43]
• Chi phí trực tiếp: chi phí chăm sóc và điều trị bệnh tật và chấn thương liên quan tới rượu bia, thiệt hại tài sản do tai nạn giao thông và các loại tai nạn khác, chi thực thi pháp luật và các dịch vụ pháp lý
• Chi phí gián tiếp: năng suất lao động bị giảm do người lao động vắng mặt vì
ốm đau hoặc phải giải quyết hậu quả liên quan tới rượu bia hoặc người lao động vẫn làm việc nhưng hiệu suất giảm do bị bệnh tật liên quan năng suất lao động mất đi do người lao động tử vong sớm vì bệnh tật hoặc chấn thương liên quan tới rượu bia
• Chi phí vô hình: chất lượng cuộc sống suy giảm, đau khổ, chịu đựng về tinh thần liên quan đến rượu bia
1.3.5 Nghiên cứu về sử dụng rượu bia ở nhân viên y tế trên thế giới
Một nghiên cứu chung về tỷ lệ sử dụng rượu bia trên các bác sĩ của Judith Rosta chỉ ra rằng có khoảng 94% bác sĩ Hoa Kỳ đã uống rượu trong năm qua, 80-85% bác sĩ Na Uy đã uống nhiều hơn một lần hàng tháng trong năm qua và 93% bác sĩ Phần Lan đã uống hơn 1g cồn trong tuần qua Tại Phần Lan, có 16% bác sĩ tiêu thụ rượu ở mức cao (>200g cồn mỗi tuần) Tại
Na Uy, tỷ lệ bác sĩ sử dụng rượu bia ở mức có hại cho sức khỏe theo thang đo AUDIT từ 6 trở lên tăng từ 12,2% lên 16,5% từ năm 1993 đến năm 2000 Tại Hoa Kỳ tỷ lệ bác sĩ có vấn đề lạm dụng rượu hoặc phụ thuộc rượu là 6% Một
số yếu tố liên quan đến tỷ lệ sử dụng rượu bia là giới và tuổi, cụ thể bác sĩ
Trang 25nam có tỷ lệ sử dụng rượu bia cao hơn bác sĩ nữ, tuổi càng cao tỷ lệ sử dụng càng nhiều [46]
1.4 Tình hình sử dụng rượu bia và các nghiên cứu về rượu bia tại Việt Nam
1.4.1 Tình hình sử dụng rượu bia tại Việt Nam
Theo nghiên cứu mới công bố của Tạp chí y khoa Lancet về tình trạng
sử dụng đồ uống có cồn tại 189 quốc gia và vùng lãnh thổ giai đoạn 1990 -
2017 cho thấy, tỷ trọng tiêu thụ bia rượu trên toàn cầu đang có xu hướng tăng nhanh, nhất là ở các quốc gia có thu nhập thấp, trung bình như Việt Nam, Ấn Độ Theo báo cáo này, tổng lượng tiêu thụ rượu bia trên toàn cầu mỗi năm từ
21 tỉ lít năm 1990 đã lên 35,7 tỉ lít vào 2017, tương đương tăng 70%
Tại khu vực Đông Nam Á, lượng tiêu thụ rượu đã tăng 34% trong vòng
7 năm (2010 - 2017) Đáng chú ý, ở giai đoạn này, Việt Nam là quốc gia có tốc độ tăng tiêu thụ rượu lớn nhất thế giới, gần 90% kể từ năm 2010, gấp khoảng 2,5 lần tốc độ tiêu thụ của Ấn Độ (37,2%) Năm 2017, bình quân mỗi người Việt uống gần 9 lít đồ uống có cồn, con số này tại Ấn Độ là 5,9 lít; Nhật Bản là 7,9 lít [51], [39]
Trong một báo cáo công bố năm 2018, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng đánh giá mức tiêu thụ rượu bia của người Việt ở bậc cao so với các quốc gia khác trong khu vực Ước tính, trung bình mỗi người Việt trên 15 tuổi tiêu thụ 8,3 lít cồn nguyên chất trong một năm, nhiều hơn người Trung Quốc và gấp 4 lần người Singapore [65]
Đối tượng sống ở ngoại thành TP.HCM có mức tiêu thụ rượu bia là 56% thấp hơn so với thành thị có mức tiêu thụ 61% theo nghiên cứu của tác giả Trần Thiện Thuần [6]
Trang 26Tây Bắc và Đông Bắc có tỷ lệ SDRB trong thanh thiếu niên cao nhất ở
cả hai cuộc điều tra Theo điều tra Vị Thành niên và thanh niên Việt Nam lần
2 cho thấy 2 vùng này có tới 90% thanh thiếu niên nam đã từng uống hết một cốc hay vại bia hoặcmột chén hay một ly rượu, trong khi các vùng khác là 75% Tỷ lệ nữ SDRB so với các vùng khác cũng cao hơn đáng kể, Tây Bắc là 63%, Đông Bắc là 49% so với trung bình cả nước là khoảng gần 40% [2], [8]
Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Văn Sơn khảo sát mức độ nghiện rượu bia ở nam sinh viên và người trưởng thành trẻ tuổi nam tại thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) Kết quả khảo sát cho thấy có 37,9% được khảo sát thuộc mức độ “SDRB một cách bình thường”, 21,3% “có xu hướng lạm dụng rượu bia”, 20,2% “nghiện nhẹ”, 16,0% “nghiện vừa” và 4,6% “nghiện nặng” Như vậy, tỷ lệ phần trăm khách thể khảo sát giảm dần khi mức độ nghiện tăng dần Tuy nhiên, đây vẫn là những con số đáng quan tâm bởi hậu quả và tính nghiêm trọng của các mức độ nghiện đối với chủ thể SDRB và những người xung quanh [20]
Trên cơ sở kết quả điều tra tình dục và sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên Hà Nội 2006, với tổng số đối tượng tham gia trong mẫu khảo sát này là 6.363 thanh thiếu niên Khi so sánh tương quan giữa nam và nữ, cho thấy tình trạng SDRB không chỉ diễn ra ở nam giới mà ngay cả một số bạn nữ cũng coi việc uống rượu như là thứ "gia vị" không thể thiếu được trong các buổi gặp gỡ, liên hoan với chúng bạn… mà mình tham gia Tỷ lệ nam và nữ
đã từng SDRB là 33,5% ở nam và 15,5% ở nữ, cho thấy nam đã từng SDRB cao gấp 2 lần so với nữ [13]
Đối tượng thường hay sử dụng rượu cũng rất đa dạng, có đủ các thành phần từ nông dân, công nhân, bộ đội, trí thức Theo một kết quả điều tra cho thấy có khoảng 50% nông dân, 25% những người thất nghiệp và 20% những người làm trong ngành dịch vụ có SDRB Người sống trong gia đình có điều
Trang 27kiện sống cao hơn có tỷ lệ SDRB cũng như tỷ lệ đã từng say rượu bia cao hơn, điều này đúng cho cả hai giới nam và nữ Phân tích số liệu ở 2 cuộc điều tra cho thấy việc gia đình có người nghiện rượu hay không hầu như không ảnh hưởng đến việc sử dụng hay say rượu bia của đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên ảnh hưởng của việc bị bạn bè rủ rê hoặc ép buộc SDRB lại rất rõ [2], [8]
Tình hình sản xuất, lưu thông và tiêu thụ rượu bia ở Việt Nam liên tục
gia tăng trong những năm gần đây Việt Nam hiện vẫn giữ vị trí thứ nhất về
tiêu thụ bia ở khu vực Đông Nam Á, vị trí thứ ba ở châu Á và nằm trong danh sách 25 quốc gia uống bia nhiều nhất thế giới trong những năm qua Tỷ lệ sử dụng rượu (ít nhất là 1 lần/tuần) tại các địa bàn nghiên cứu là 33,5% Tỷ lệ sử dụng rượu trong nhóm nam là 64%, cao hơn so với số liệu điều tra về tình hình SDRB tại 12 quốc gia đang phát triển (50%) và thấp hơn so với tỷ lệ sử dụng rượu của nam giới trong khu vực Tây Thái Bình Dương là 84% Tỷ lệ lạm dụng rượu (theo quy chuẩn của WHO) là 18%, lạm dụng bia là 5% và có
sự khác nhau rõ nét giữa các nhóm dân cư, theo giới tính, trình độ học vấn và nghề nghiệp Lý do của việc SDRB chủ yếu là do sự tác động của bạn Tuổi bắt đầu SDRB trung bình là 24 và có sự chênh lệch đáng kể giữa các vùng, các khu vực So với thế giới tuổi bắt đầu uống rượu ở nước ta muộn hơn song hiện đang có xu hướng trẻ hoá rất rõ nét Vậy hiện nay tuổi lần đầu SDRB là bao nhiêu?
Rượu bia nếu sử dụng quá sớm sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của người sử dụng, nhiều nghiên cứu cho thấy SDRB quá sớm thì nguy cơ sau này trở thành người nghiên rượu bia càng cao, bên cạnh đó, những trẻ vị thành niên SDRB có nguy cơ cao bị các chấn thương không chủ đích như tai nạn giao thông, bỏng, đuối nước, tuổi lần đầu SDRB bị ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa xã hội [7]
Trang 28Trong số 87,2% người có SDRB (1998) thì có 25% uống rượu từ tuổi
18 Kết quả điều tra nam thanh, thiếu niên tại một số quận và huyện tại Hà Nội của Trần Thị Thanh Loan cho thấy có 67,4% đã từng SDRB Tuổi trung bình lần đầu SDRB là 18 tuổi Điều đáng lưu ý là ở độ tuổi 15 và 16, tỷ lệ nam thanh thiếu niên đã từng SDRB cũng không nhỏ (12,6% và 11,5%) [13] Cần có nghiên cứu tiếp theo về xác định tuổi lần đầu, tỷ lệ sử dụng, lạm dụng rượu bia và các yếu tố liên quan để xây dựng biện pháp can thiệp phù hợp
Qua khảo sát 425 học sinh trường trung học phổ thông Đồng Xoài, thị
xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, tuổi trung bình uống rượu bia lần đầu của học sinh là 15,1; tuổi uống lần đầu nhỏ nhất là 10 và lớn nhất là 18 tuổi Có thể thấy tuổi uống rượu bia lần đầu của học sinh là khá thấp [12] Điều này là rất đáng lo ngại vì nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng người SDRB trước tuổi 15 thì khả năng phụ thuộc rượu cao gấp 4 lần người bắt đầu uống rượu ở tuổi 21 [91] Nghiên cứu của Hà Thị Thuận được thực hiện tại trường trung học cơ
sở, trung học phổ thông Lương Hòa, Bến Lức, Long An tìm mối liên quan giữa mức độ trải nghiệm bất lợi thời thơ ấu này với hành vi hiện SDRB ở nam học sinh, có 400 nam học sinh đồng ý tham gia nghiên cứu Trong tổng số
101 nam học sinh nhớ tuổi lần đầu tiên uống hết 1 ly rượu bia thì tuổi trung bình lần đầu tiên uống hết 1 ly rượu bia là 13,45 ± 2,33 Tuổi uống lần đầu uống hết 1 ly rượu bia nhỏ nhất là 9 tuổi và lớn nhất là 17 tuổi [18] Đây là một con số đáng báo động đối với ngành giáo dục và y tế hiện nay
Loại rượu: Đa số những người sử dụng rượu thường uống rượu nấu thủ công 95,7%, những người sử dụng bia thường uống bia nhà máy 87,9% Trong số này bia của các hãng trung ương chiếm >40% còn lại là bia địa phương Địa điểm uống rượu bia chủ yếu là tại nhà và tại lễ tiệc; uống tại quán, nhà hàng, khách sạn >11% Thời điểm uống rượu chủ yếu vào buổi tối, song đáng chú ý vẫn còn một tỷ lệ đáng kể uống vào buổi sáng và buổi
Trang 29trưa Cần có nghiên cứu tiếp theo về xác định tuổi lần đầu, tỷ lệ sử dụng, LDRB và các yếu tố liên quan để xây dựng biện pháp can thiệp phù hợp [25] Mức độ sử dụng rượu trung bình khá cao, bình quân 6,4 đơn vị/ngày và 26,1 đơn vị/tuần; vượt khá xa ngưỡng sử dụng rượu an toàn theo quy định của WHO.Theo thống kê của WHO, loại đồ uống có cồn được người Việt Nam sử dụng thì bia chiếm tỷ lệ cao nhất với 97%, rượu mạnh chiến 2%, rượu vang và các loại rượu khác chiếm 1% Tuy nhiên, trên thực tế còn một số lượng lớn rượu nấu thủ công từ hộ gia đình không thống kê được, đây cũng là điều cần quan tâm lưu ý trong SDRB của người Việt Nam [22]
1.4.2 Nghiên cứu sử dụng rượu bia ở nhân viên y tế tại Việt Nam
Tại Việt Nam cũng có một số nghiên cứu liên quan đến tỷ lệ sử dụng rượu bia, tuy nhiên chưa tìm thấy nghiên cứu thực hiện trên nhân viên y tế Qua nghiên cứu y văn tìm thấy một số nghiên cứu thực hiện trên đối tượng sinh viên học tại các trường đại học y dược cho thấy tỷ lệ sử dụng rượu bia ở sinh viên đại học y dược khá cao khoảng từ 57%-75% [26], [30], [61] Nghiên cứu cắt ngang của Phạm Bích Diệp và cộng sự vào năm 2010 tiến hành trên
619 sinh viên 2 trường đại học Y Hà Nội và Y Thái Nguyên cho thấy 65,5% sinh viên có sử dụng rượu bia, trong khi đó việc sử dụng rượu bia liên quan đến các vấn dề sức khỏe chiếm 12,5% và có mối liên hệ giữa việc sử dụng rượu bia với giới tính, người trong gia đình, người trong gia đình và bạn cùng phòng sử dụng rượu bia [57] Nghiên cứu khác của Phạm Bích Diệp và cộng
sự xem xét tỷ lệ và yếu tố nguy cơ tác hại liên quan tới rượu bia trong sinh viên đại học Y Hà Nội năm 2013 tiến hành trên 1216 sinh viên từ năm 1 đến năm 6, kết quả cho thấy có khoảng 57,5% sinh viên có sử dụng rượu bia, tỷ lệ
sử dụng rượu bia ở nữ sinh viên là 37,7% và ở nam sinh viên là 77,2% [61] Một nghiên cứu của Lê Trần Tuấn Anh và cộng sự thực hiện năm 2015 trên
388 sinh viên chuyên ngành bác sĩ đa khoa tại trường Đại học Y Dược Hải
Trang 30Phòng cho kết quả 75,8% sinh viên đã từng uống rượu bịa và 27,9% sinh viên lạm dụng rượu bia Tỷ lệ từng say rượu bia ở nam sinh viên cao hơn nữ 62,4% so với 36,4% [26]
1.5 Một số yếu tố liên quan sử dụng, lạm dụng rượu bia
Các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam đã tìm thấy mối liên quan chặt chẽ giữa hành vi uống rượu ở các mức độ khác nhau với các yếu tố như tuổi, giới, trình độ học vấn, ảnh hưởng, sự lôi kéo của bạn bè và người thân
trong gia đình
Giới tính
Một nghiên cứu cắt ngang về giới trong sử dụng rượu bia tại 16 quần thể nghiên cứu của 10 bang của nước Mỹ cũng đã phát hiện nam giới uống rượu với mức độ khá nhiều, với tần suất cao và có khả năng bị các tác động
có hại do rượu hơn nữ giới [71], [77], [72] Sự khác biệt khá mạnh về khía cạnh giới còn được thể hiện khá rõ ở các nước khu vực châu Âu, Đông Nam
Á, các nước theo đạo Hồi Và ở Việt Nam, tỷ lệ nam giới uống rượu, mức độ
uống và tần suất uống cao hơn nữ rất nhiều [3], [9], [28], [31]
Một thực tế đáng lo ngại nhất ở nước này là số người mới uống rượu lần đầu chủ yếu là thanh niên, khoảng 260.000 người mỗi năm [82] Các báo cáo gần đây, cho thấy Thái Lan đứng thứ 5 trên thế giới về việc tiêu thụ rượu Trong năm 2001, tỷ lệ những người nghiện rượu ở Thái Lan là 19,5% ở nam giới và 4,1% ở nữ giới Người ta ước tính rằng, mỗi người dân ở Thái Lan tiêu thụ từ 5,5 - 7,5 lít rượu mỗi năm và con số này ngày càng gia tăng Vì vậy, các chuyên gia ở Thái Lan, đang ngày càng quan tâm đến trẻ em sống trong gia đình hoặc có bạn bè uống rượu một cách thường xuyên [87] Tuổi lần đầu SDRB bị ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa xã hội Trẻ em trai có tỷ lệ SDRB ở lứa tuổi nhỏ cao hơn trẻ gái trong các nghiên cứu thực hiện trên thế
giới [7]
Trang 31Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Văn Sơn khảo sát mức độ nghiện rượu bia ở nam sinh viên và người trưởng thành trẻ tuổi nam tại thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) Kết quả khảo sát cho thấy có 37,9% được khảo sát thuộc mức độ “SDRB một cách bình thường”, 21,3% “có xu hướng lạm dụng rượu bia”, 20,2% “nghiện nhẹ”, 16,0% “nghiện vừa” và 4,6% “nghiện nặng” Như vậy, tỷ lệ phần trăm khách thể khảo sát giảm dần khi mức độ nghiện tăng dần Tuy nhiên, đây vẫn là những con số đáng quan tâm bởi hậu quả và tính nghiêm trọng của các mức độ nghiện đối với chủ thể SDRB và những người xung quanh [20]
Trên cơ sở kết quả điều tra tình dục và sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên Hà Nội 2006, với tổng số đối tượng tham gia trong mẫu khảo sát này là 6.363 thanh thiếu niên Khi so sánh tương quan giữa nam và nữ, cho thấy tình trạng SDRB không chỉ diễn ra ở nam giới mà ngay cả một số bạn nữ cũng coi việc uống rượu như là thứ "gia vị" không thể thiếu được trong các buổi gặp gỡ, liên hoan với chúng bạn… mà mình tham gia Tỷ lệ nam và nữ
đã từng SDRB là 33,5% ở nam và 15,5% ở nữ, cho thấy nam đã từng SDRB cao gấp 2 lần so với nữ [15]
Tuổi sử dụng rượu bia
Tuổi cũng ảnh hưởng khá rõ tới mô hình uống rượu bia Ở Việt Nam và các nước khác trên thế giới đã chứng minh ở độ tuổi từ 25-44 mức độ sử dụng rượu bia cũng như tần suất uống rượu bia tăng lên khá nhanh theo chiều tăng của tuổi, nhưng đến tuổi từ 45 trở đi thì có xu hướng giảm nhẹ, cho đến tuổi
60 trở đi thì mức độ giảm rất đáng kể [3], [70], [73]
Việc sử dụng rượu ở lứa tuổi càng trẻ càng làm tăng nguy cơ chấn thương gây tử vong và không tử vong Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sử dụng rượu trước khi 15 tuổi thì khả năng phụ thuộc rượu cao gấp 4 lần người bắt đầu uống rượu ở tuổi 21 [88] Hậu quả khác của việc sử dụng rượu sớm
Trang 32trên làm tăng hành vi nguy cơ tình dục, kết quả học tập kém, và tăng nguy cơ
tự tử và giết người…[62]
Ở Mỹ, tuổi trung bình đầu tiên sử dụng rượu là 13,1 Trong số những người trẻ được khảo sát vào năm 1997 và 1998 ở 23 quốc gia châu Âu, ở hầu hết các quốc gia báo cáo là có hơn một nửa ở độ tuổi 11 từng nếm thử rượu và hầu như không có sự phân biệt giữa giới tính trong việc sử dung rượu Tuy nhiên, việc bắt đầu sử dụng rượu vào độ tuổi 13 ở nam cao hơn nữ Theo báo cáo của Brazil vào năm 1998, ở trẻ em đường phố có 33% trẻ ở độ tuổi 9-11 tuổi, 77% trẻ ở 15-18 tuổi sử dụng nhiều rượu [84]
Rượu bia nếu sử dụng quá sớm sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của người sử dụng, nhiều nghiên cứu cho thấy SDRB quá sớm thì nguy cơ sau này trở thành người nghiên rượu bia càng cao, bên cạnh đó, những trẻ vị thành niên SDRB có nguy cơ cao bị các chấn thương không chủ đích như tai nạn giao thông, bỏng, đuối nước, tuổi lần đầu SDRB bị ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa xã hội [7]
Trong số 87,2% người có SDRB (1998) thì có 25% uống rượu từ tuổi
18 Kết quả điều tra nam thanh, thiếu niên tại một số quận và huyện tại Hà Nội của Trần Thị Thanh Loan cho thấy có 67,4% đã từng SDRB Tuổi trung bình lần đầu SDRB là 18 tuổi Điều đáng lưu ý là ở độ tuổi 15 và 16, tỷ lệ nam thanh thiếu niên đã từng SDRB cũng không nhỏ (12,6% và 11,5%) [15] Cần có nghiên cứu tiếp theo về xác định tuổi lần đầu, tỷ lệ sử dụng, lạm dụng rượu bia và các yếu tố liên quan để xây dựng biện pháp can thiệp phù hợp
Hút thuốc lá
Một cuộc khảo sát của người điều trị chứng nghiện rượu và nghiện ma túy tiết lộ rằng 222 đối tượng trong 845 đối tượng đã chết trong khoảng thời gian 12 năm, một phần ba các ca tử vong là do các nguyên nhân liên quan đến rượu, và một nửa có liên quan đến hút thuốc lá
Trang 33Khoảng 80 đến 95% người nghiện rượu hút thuốc lá, tỷ lệ đó là cao hơn
so với trong dân số nói chung 3 lần Khoảng 70% người nghiện rượu là nghiện thuốc lá (tức là, hút thuốc nhiều hơn một gói thuốc lá mỗi ngày), so với 10% của dân số nói chung [38] Uống rượu ảnh hưởng đến hút thuốc lá nhiều hơn ảnh hưởng của hút thuốc lá đến uống rượu Tuy nhiên, những người hút thuốc khả năng tiêu thụ rượu bằng 1,32 lần người không hút thuốc[69] Hút thuốc lá và sử dụng quá nhiều rượu là yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch và ung thư phổi và một số dạng ung thư khác
Một số yếu tố khác
Đối tượng thường hay sử dụng rượu cũng rất đa dạng, có đủ các thành phần từ nông dân, công nhân, bộ đội, trí thức Theo một kết quả điều tra cho thấy có khoảng 50% nông dân, 25% những người thất nghiệp và 20% những người làm trong ngành dịch vụ có SDRB Người sống trong gia đình có điều kiện sống cao hơn có tỷ lệ SDRB cũng như tỷ lệ đã từng say rượu bia cao hơn, điều này đúng cho cả hai giới nam và nữ Phân tích số liệu ở 2 cuộc điều tra cho thấy việc gia đình có người nghiện rượu hay không hầu như không ảnh hưởng đến việc sử dụng hay say rượu bia của đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên ảnh hưởng của việc bị bạn bè rủ rê hoặc ép buộc SDRB lại rất rõ [2], [8]
1.6 Một số giải pháp giảm sử dụng, lạm dụng rượu bia trên thế giới và Việt Nam
1.6.1 Một số giải pháp giảm sử dụng, lạm dụng rượu bia trên thế
Trang 34pháp tiếp cận hiệu quả nhất nhằm ngăn chặn và giảm sử dụng rượu và các tác hại do sử dụng rượu Truyền thông giáo dục sức khỏe nhằm thay đổi hành vi
có hại của cộng đồng cũng được áp dụng và các dự án hành động, can thiệp cộng đồng nhằm làm giảm tác hại của sử dụng rượu và tăng thực thi pháp luật trên đối tượng không được phép mua rượu như vị thành niên, có nồng độ cồn trong máu vượt mức cho phép khi lái xe
1.7 Giới thiệu khái quát địa điểm nghiên cứu
Bình Dương là tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Bình Dương gồm 09 đơn vị hành chính cấp huyện: thành phố Thủ Dầu Một, thành phố Dĩ An, thành phố Thuận An, thị xã Bến Cát, thị xã Tân Uyên và các huyện Bàu Bàng, Bắc Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo Về mặt kinh tế, Bình Dương đã biến vùng đất thuần nông, khô cằn, kém hiệu quả trở thành những khu, cụm công nghiệp trọng điểm của cả nước Đến nay, toàn tỉnh có 28 khu công nghiệp và 8 cụm công nghiệp, với tổng diện tích khoảng 10.000 ha Năm 2020, chỉ số cán bộ y tế/vạn dân là 55 trong đó
có 30 bác sĩ
Trung tâm Y tế thị xã Thuận An bao gồm công tác y tế dự phòng; Dân
số KHHGĐ; Bệnh viện hạng II với 05 phòng chức năng, 18 khoa, 6 phòng khám đa khoa khu vực và 10 Trạm Y tế xã y tế
Hoạt động khám chữa bệnh: Tổng số lần khám bệnh 152.615 lần, đạt 25,44% kế hoạch, giảm 33,69% so với cùng kỳ Tổng số người điều trị nội trú: 7368 đạt 24,56% kế hoạch, giảm 39,1% so với cùng kỳ năm 2019 Công suất sử dụng giường bệnh là 52% Tổng số người điều trị ngoại trú: 8785 đạt 23,74% kế hoạch, giảm 51,49% so với cùng kỳ
Trang 35Y tế dự phòng: Chương trình mục tiêu y tế quốc gia được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt gồm: Chương trình y tế, Chương trình Vệ sinh an toàn thực phẩm, Chương trình Phòng chống HIV/AIDS, Chương trình Dân số và
kế hoạch hoá gia đình đạt trên 50% kế hoạch
Về nhân lực Tổng số CBVC, người lao động hiện có: 402 người TTYT xây dựng đề án vị trí việc làm từ đầu năm, quy hoạch đồng bộ các chức danh làm việc Tiến tới Trình đề án thông qua Sở Y tế và lãnh đạo tỉnh xin thực hiện tử chủ nguồn nhân lực đối với khối bệnh viện TTYT thực hiện chế độ thu hút nhân sự là bác sỹ theo Nghị quyết 05 Tạo điều kiện tốt nhất cho các Bác sỹ học tập nâng cao trình độ chuyên môn Ký hợp đồng ngắn hạn cho các
vị trí chuyên môn theo khương vùng để phục vụ công tác tại TTYT Trong thời gian chờ thi tuyển viên chức theo Nghị định 161/2018/NĐ-CP do Sở Nội
vụ tổ chức
1.8 Khung lý thuyết nghiên cứu
Tỷ lệ sử dụng rượu bia
- Chuyên môn
Các yếu tố khác:
- Tuổi lần đầu SDRB
- Lý do SDRB
- Hút thuốc lá
……
Trang 36CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhân viên y tế đang làm việc tại Trung tâm y tế thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương trong thời gian nghiên cứu
Tiêu chí chọn vào
Nhân viên y tế đang làm việc tại trung tâm đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chí loại ra
Nhân viên y tế nghỉ sinh
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Trung tâm Y tế thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 12/2019 đến tháng 6/2020
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu: Cỡ mẫu được tính theo công thức ước tính một tỷ lệ trong
nghiên cứu mô tả:
n = Z2(1 – α/2)
p (1 – p)
d2Trong đó:
Trang 37n là cỡ mẫu tối thiểu nghiên cứu
p: ước đoán tỷ lệ sử dụng rượu bia trong nghiên cứu của Lê Thị Diễm Trinh là 51,5% [31]
d: sai số cho phép (d = 0,05)
Với các tham số trên cỡ mẫu tính được là 368 người Trên thực tế có tất
cả 390 đối tượng được đưa vào nghiên cứu
2.2.3 Kỹ thuật chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện: Do cỡ mẫu cần thu thập là 368 người trong khi tổng số nhân viên y tế thỏa mãn tiêu chí đưa vào tại Trung tâm y tế thành phố Thuận An là 402 người, chênh lệch không nhiều so với cỡ mẫu cần thu thập
Do đó, khi thực hiện thu thập thông tin, chúng tôi tiến hành trên toàn bộ nhân viên y tế thỏa mãn các tiêu chí đưa vào Tuy nhiên trên thực tế có 12 nhân viên đang đi học chuyên môn tại các trường, nghỉ thai sản,… nên tổng số mẫu thu được là 390 mẫu
2.3 Biến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá
2.3.1 Biển số, chỉ số nghiên cứu, các biến số và chỉ số nghiên cứu
Bảng 2.1 Các biến số và chỉ số nghiên cứu
STT Biến số Định nghĩa biến số Chỉ số Phân loại
biến số
Phương pháp thu thập
Đặc điểm dân số xã hội
1 Giới tính Gồm 2 giá trị: Nam,
Trang 38cách lấy 2020 trừ đi năm sinh (Năm sinh được lấy theo chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân, hoặc bằng lái xe)
3 Nhóm
tuổi
Được phân nhóm dựa trên biến tuổi, là biến thứ tự gồm có 3 giá: <
30 tuổi; 30- 40 tuổi và
> 40 tuổi
Tỷ lệ các nhóm tuổi Thứ tự
4 Dân tộc
Gồm 4 giá trị:
Kinh Hoa Khmer Khác
Tỷ lệ các nhóm:
Kinh, Hoa, Khmer, Khác
Tỷ lệ các vùng nông thôn –thành thị
Có vợ/ chồng: là những người đang sống chung với vợ
Tỷ lệ giữa các loại tình trạng hôn nhân
Danh định Phát vấn
Trang 39hoặc chồng và đã đăng ký kết hôn, được pháp luật và xã hội thừa nhận
Có bạn tình: là những người đang sống chung với người yêu và không đăng ký kết hôn
Ly hôn/ ly thân: là những người đã lập gia đình nhưng hiện không còn sống chung với vợ hoặc chồng vì đã ly hôn hoặc ly thân
Góa: là những người có vợ hoặc chồng đã mất
7 Chuyên
môn
Gồm 7 giá trị:
Bác sĩ Điều dưỡng
Hộ sinh Hành chính văn phòng
Hộ lí, kĩ thuật viên
Tỷ lệ các nhóm chuyên môn
Danh định Phát vấn
Trang 40Khác (tài xế, bảo vệ…)
8 Kinh tế
Mức thu nhập bình quân tháng của gia đình gồm 3 giá trị:
<6000000 6000000-
8000000
>8000000
Tỷ lệ các nhóm thu nhập
≥4 lần/tuần
Tỷ lệ các nhóm tần suất
vị rượu
Thứ tự Phát vấn