có liên quan đến việc sinh con thứ 3 cho thấy mối liên quan giữa việc sinh con thứ 3 trở lên với các yếu tố như: trình độ học vấn; nghề nghiệp của đối tượng; nghề nghiệp của chồng đố[r]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
TRẦN NGỌC TRÁNG
THỰC TRẠNG SINH CON THỨ 3 TRỞ LÊN CỦA CÁC
CẶP VỢ CHỒNG TẠI HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI NĂM 2019
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI, 11/2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS ĐÀO XUÂN VINH
HÀ NỘI, 11/2019
Trang 3vi
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 3
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 3
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 3
2.2 Phương pháp nghiên cứu 3
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 3
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 3
2.2.2.1 Cỡ mẫu 3
2.2.2.2 Phương pháp chọn mẫu 4
2.3 Biến số nghiên cứu 4
2.4 Phương pháp thu thập thông tin 4
2.5 Phương pháp phân tích số liệu 4
2.6 Sai số và biện pháp khắc phục 5
2.6.1 Sai số 5
2.6.2 Các biện pháp khắc phục khó khăn và hạn chế sai số 5
2.7 Đạo đức nghiên cứu 5
2.8 Hạn chế của nghiên cứu 6
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 7
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 7
3.2 Thực trạng sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu 11
3.3 Một số yếu tố liên quan đến việc sinh con thứ 3 của đối tượng nghiên cứu 16
3.3.1 Nhóm yếu tố cá nhân của vợ, chồng đối tượng nghiên cứu 16
3.3.2 Nhóm yếu tố từ phía gia đình 24
3.3.3 Nhóm yếu tố tiếp cận, sử dụng dịch vụ DS – KHHGĐ và pháp lệnh dân số 25
KẾT LUẬN 30
Trang 51
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo số liệu thống kê, dân số thế giới tại thời điểm hiện tại là gần 7,7
tỷ người, dân số tăng nhanh gây ra nhiều khó khăn trong việc bảo vệ môi trường, duy trì chất lượng dân số, tình trạng nghèo đói và sự phát triển chung của nhiều quốc gia Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác dân số
và kế hoạch hóa gia đình, xem công tác này là một nội dung quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu ở nước ta, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi người dân, mỗi gia đình và toàn xã hội
Việt Nam là một trong những quốc gia sớm thực hiện công tác KHHGĐ Năm 1961, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 216/CP, đây là văn bản pháp quy đầu tiên của Việt Nam về công tác DS-KHHGĐ và mang đậm tính nhân văn “ Vì sức khoẻ của người mẹ, vì hạnh phúc hoà thuận của gia đình và để cho việc nuôi dạy con cái được chu đáo, việc sinh đẻ của nhân dân cần được hướng dẫn một cách thích hợp” Để kỷ niệm và đánh dấu sự kiện này, ngày 19/5/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 326, lấy ngày 26/12 hàng năm làm Ngày Dân số Việt Nam [8]
DS-Theo tổng điều tra dân số và nhà ở 01/04/2009, Việt Nam có 85,847 triệu người, tăng 9,522 triệu so với tổng điều tra dân số 01/04/1999 [33] Ngày 1/11/2013 Việt Nam đón chào công dân thứ 90 triệu người Số dân tăng thêm hằng năm của nước ta từ mức 0,9 - 1,2 triệu người Chương trình dân số Việt Nam đã có bước ngoặt quan trọng, chuyển hướng từ mục tiêu tập trung vào giảm số dân sang chất lượng dân số, từ nội dung KHHGĐ hạn hẹp sang sức khoẻ sinh sản toàn diện hơn [16]
Tuy đã đạt mức sinh thay thế, nhưng ở Việt Nam một số địa phương mức sinh có thể tăng trở lại, nguyên nhân là do phong tục tập quán, tư tưởng muốn có đông con, phải có con trai để nối dõi, trọng nam khinh nữ… còn rất nặng nề của người dân trong xã hội; số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tiếp tục
Trang 62 tăng nhanh, sẽ đạt cực đại vào năm 2020-2025; năm 2012 còn 26/63 tỉnh, thành phố chưa đạt mức sinh thay thế tập trung vào Tây Nguyên, Bắc trung bộ
và duyên hải miền Trung và Trung du miền núi phía bắc Điều đáng nói là số phụ nữ sinh con thứ 3 hiện nay không chỉ có đối tượng nông dân mà còn đang tăng ở đối tượng công chức nhà nước, lao động tự do [4], [31]
Theo báo cáo Dân số kế hoạch hóa gia đình huyện Mỹ Đức năm 2018, tổng số trẻ được sinh ra là 2.992 trẻ, trong đó 336 trẻ là con thứ 3 trở lên Tỷ
lệ sinh con thứ 3 trở lên của tỉnh năm 2018 là 11,23% cao so với cả nước, với tình hình trên nếu không có giải pháp kịp thời nhằm khống chế tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên tại địa bàn huyện có thể sẽ gây ra những ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa phương và đặc biệt ảnh hưởng lớn đến cuộc sống người dân nơi đây [36]
Trước những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Thực trạng sinh con thứ 3 trở lên của các cặp vợ chồng tại huyện Mỹ Đức, Hà Nội năm 2019 và một số yếu tố liên quan
1 Mô tả thực trạng sinh con thứ 3 trở lên của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại huyện Mỹ Đức, Hà Nội năm 2019
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực trạng sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu
Trang 73
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các bà mẹ ở độ tuổi từ 15- 49 tại huyện Mỹ Đức, Hà Nội
* Tiêu chuẩn lựa chọn
- Các bà mẹ có con từ 15 – 49 tuổi đồng ý tham gia nghiên cứu
- Không phân biệt nghề nghiệp, trình độ học vấn
- Có khả năng giao tiếp và trả lời phỏng vấn
* Tiêu chuẩn loại trừ
- Các bà mẹ không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Các bà mẹ không đạt các tiêu chuẩn lựa chọn trên
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 03/2019 đến tháng 10/2019
- Địa điểm: huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Trang 84 [36]
d: Sai số cho phép = 0,01
Áp dụng công thức ta có:
Vậy cỡ mẫu tối thiểu cần thiết cho nghiên cứu này là 1976 đối tượng nghiên cứu, trong quá trình nghiên cứu chung tôi lấy tròn 1980 đối tượng nghiên cứu
2.2.2.2 Phương pháp chọn mẫu
Địa bàn huyện có 22 xã thị trấn, tổng số 1980 đối tượng nghiên cứu được lấy với số lượng như nhau ở 22 xã Mỗi xã chọn ngẫu nhiên 90 đối tượng
đủ điều kiện tham gia nghiên cứu
90 đối tượng của từng xã được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn dựa vào danh sách bà mẹ được cung cấp bởi phòng Dân số
2.3 Biến số nghiên cứu
2.4 Phương pháp thu thập thông tin
Lập danh sách những bà mẹ đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu theo tiêu chí chọn mẫu
Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu bằng bộ công cụ được thiết
kế sẵn (phụ lục 1 trang 46)
Người thu thập: bản thân học viên và các cán bộ chuyên trách dân số tại địa phương là người trực tiếp thu thập số liệu Học viên tiến hành phỏng vấn thử bộ câu hỏi nếu có thiếu sót sẽ được bổ sung và chỉnh sửa kịp thời
2.5 Phương pháp phân tích số liệu
- Kiểm tra lại thông tin ở các phiếu, xử lý các phiếu ghi sai thông tin
- Nhập số liệu vào máy vi tính bằng phần mềm Epidata 3.1, phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0
- Phân tích số liệu dựa vào các test thống kê mô tả tính tỷ lệ %, trung bình, giá trị lớn nhất, nhỏ nhất…được áp dụng để mô tả các biến số Xác định mối liên quan giữa các biến bằng các test thống kê phân tích, dựa vào các chỉ số p, OR,
Trang 95 CI95%
2.6 Sai số và biện pháp khắc phục
2.6.1 Sai số
- Đối tượng nghiên cứu có khả năng trả lời sai so với thông tin thực do tâm lý
lo ngại
- Sai số nhớ lại ho ặc không nhớ chính xác hay không hiểu câu hỏi
- Điều tra viên khi phỏng vấn không diễn đạt hết ý của bộ câu hỏi làm người trả lời không tr ả lời đúng mục đích nghiên cứu
2.6.2 Các biện pháp khắc phục khó khăn và hạn chế sai số
- Hướng dẫn trả lời cụ thể, chi tiết ngay sau khi bắt đầu phỏng vấn Trực tiếp giải thích khi đối tượng điều tra có yêu cầu
- Nghiên cứu tiến hành trên toàn bộ bà mẹ đã có con thứ 3 trở lên tại địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu cố gắng sắp xếp thời gian tiến hành các phương pháp thu thập thông tin một cách linh hoạt, đảm bảo trong khoảng thời gian hợp lý nhất cho đối tượng nghiên cứu và nghiên cứu viên
- Tổ chức điều tra thử 20 bộ câu hỏi trên cả và chứng để làm sáng tỏ bộ câu hỏi và phát hiện vấn đề cần sửa chữa
- Trước khi tiến hành khảo sát, nghiên cứu viên đọc và giải thích rõ ràng cho đối tượng về mục tiêu, cách thức tiến hành nghiên cứu, quyền lợi được đảm bảo bí mật thông tin của đối tượng để đối tượng hoàn toàn yên tâm tham gia nghiên cứu
- Các nghiên cứu viên sắp xếp phỏng vấn đối tượng một cách độc lập Không phỏng vấn đối tượng tại nơi công cộng, nơi đông người
- Làm sạch và mã hóa số liệu trước khi phân tích
2.7 Đạo đức nghiên cứu
- Tuân thủ quy trình xét duyệt của Hội đồng đạo đức, thông qua quy trình xét duyệt đạo đức của Trường Đại học Thăng Long
- Gặp gỡ trao đổi mục đích và nội dung của nghiên cứu với đối tượng nghiên
Trang 106 cứu nhằm giúp họ hiểu và tham gia tự nguyện vào nghiên cứu
- Đối tượng điều tra có thể từ chối trả lời phỏng vấn, chỉ điều tra những đối tượng tự nguyện tham gia (không bắt buộc đối tượng trả lời hết các câu hỏi nếu đối tượng không muốn)
- Thông tin và ý kiến cá nhân c ủa các đối tượng nghiên cứu được giữ bí mật, chỉ sử dụng để tổng hợp, phân tích đưa ra nhận định chung
- Số liệu nghiên cứu được thông báo lại cho các bên liên quan nhằm giúp các
cơ quan chức năng có thêm thông tin trong việc giải quyết các vấn đề có liên quan đến chính sách dân số
- Những thông tin thu được chỉ phục vụ cho nghiên cứu và các mục đích nhằm thực hiện và cải thiện chính sách dân số
2.8 Hạn chế của nghiên cứu
- Nghiên cứu có những hạn chế của một nghiên cứu cắt ngang là sai số nhớ lại
Do khai thác thông tin của đối tượng nghiên cứu trước quá trình mang thai và sinh đẻ nên ĐTNC phải nhớ lại những thông tin cách thời gian thu thập số liệu cũng khá dài (khoảng hơn 1 năm) điều này ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu
- Nghiên cứu chỉ tiến hành trên bà mẹ, nên những khía cạnh liên quan đến gia đình và người chồng được các bà mẹ trả lời theo hướng chủ quan theo suy nghĩ của đối tượng, tác giả không kiểm tra chéo thông tin này với người chồng hoặc người trong gia đình
- Nghiên cứu về hành vi sinh con thứ 3 của người vợ nên chưa khai thác được các khía cạnh có ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 của người chồng
- Quy mô nghiên cứu nhỏ so với dân số học, chưa đánh giá kỹ các đặc điểm riêng về văn hóa – xã hội tại địa bàn nghiên cứu Cần nghiên cứu định tính để làm rõ các đặc điểm này
- Thời gian và nguồn lực hạn chế, vì vậy chỉ tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Mỹ Đức Kết quả nghiên cứu chỉ mang tính đại diện cho địa bàn nghiên cứu, chỉ là số liệu tham khảo, không cho phép suy rộng ra cho địa phương khác
Trang 11CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Phân nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu (n=1980)
Tuổi của đối tượng nghiên cứu tập chung chủ yếu trong nhóm tuổi từ
30 đến 40 tuổi Trong đó nhóm từ 30-35 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (44,2%) và nhóm trên 40 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất (12,8%)
Biểu đồ 3.1 Dân tộc của đối tượng nghiên cứu (n=1980)
Phần lớn đối tượng nghiên cứu là dân tộc kinh (91,8%), bên cạnh đó
có khoảng 8,2% đối tượng nghiên cứu thuộc các dân tộc khác
91,8 8,2
Trang 12Biểu đồ 3.2 Tôn giáo của đối tượng nghiên cứu (n=1980)
Đối tượng nghiên cứu không theo tôn giáo chiếm 87,6%), bên cạnh đó
có khoảng 12,4% đối tượng nghiên cứu theo một số tôn giáo
Bảng 3.2 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu (n=1980)
87,6 12,4
Trang 13Bảng 3.3 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu (n=1980)
Bảng 3.4 Trình độ học vấn của người chồng đối tượng nghiên cứu
(n=1980) Trình độ học vấn người chồng Số lượng Tỷ lệ (%)
Bảng 3.5 Nghề nghiệp của chồng đối tượng nghiên cứu (n=1980) Nghề nghiệp của người chồng Số lượng Tỷ lệ (%)
Trang 14Biểu đồ 3.3 Độ tuổi kết hôn của đối tượng nghiên cứu (n=1980)
Hầu hết đối tượng nghiên cứu bắt đầu kết hôn từ 18 tuổi trở lên (97,3%), chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ (2,7%) đối tượng nghiên cứu kết hôn khi chưa
đủ 18 tuổi
97,3 2,7
Trang 15Biểu đồ 3.4 Tình trạng kinh tế của đối tượng nghiên cứu (n=1980)
Tình trạng kinh tế của đối tượng nghiên cứu khá tốt, hầu hết đối tượng
có kinh tế từ mức trung bình trở lên (93,9%), chỉ có khoảng 6,1% đối tượng nghiên cứu tình trạng kinh tế gia đình khó khăn
3.2 Thực trạng sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.6 Thực trạng sinh con thứ ba của đối tượng nghiên cứu (n=1980)
Trang 16Trong tổng số 267 đối tượng nghiên cứu sinh con thứ 3 trở lên, chiếm
tỷ lệ cao nhất là nhóm 30-35 tuổi (49,8%) và nhóm có tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên thấp nhất là nhóm dưới 30 tuổi (6,0%)
Bảng 3.8 Số con đã sinh của đối tượng sinh con thứ 3 trở lên (n=267)
Bảng 3.9 Giới tính của các con hiện tại đang sống (n=1980)
Trang 17trẻ nữ sinh ra cao hơn so với trẻ nam Tỷ lệ này thay đổi từ những trẻ sinh ra thứ 3 trở lên, tỷ lệ trẻ nam (53,8%) sinh ra nhiều hơn trẻ nữ (46,2%)
Bảng 3.10 Tình trạng sức khỏe của các con hiện tại đang sống (n=1980)
Bảng 3.11 Tình trạng giới tính của trẻ trước lần sinh thứ 3 trở lên (n=267)
Tình trạng giới tính của trẻ Số lượng Tỷ lệ (%)
Trang 18cùng giới tính chiếm tỷ lệ khá cao, trong đó có 58,4% đối tượng sinh con thứ 3 khi 2 trẻ sinh trước đây đều là con gái và 25,1% sinh con thứ 3 khi 2 trẻ trước đây là con trai Bên cạnh đó có khoảng 16,5% đối tượng nghiên cứu vẫn tiếp tục sinh con thứ 3 khi trước đó 2 con đã có cả nam và nữ
Bảng 3.12 Tình trạng sinh con ngoài ý muốn của đối tượng nghiên cứu
Trang 19Bảng 3.13 Lý do sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu (n=267)
Lý do sinh con thứ 3 Số lượng Tỷ lệ (%)
Chọn năm đẹp để sinh con theo quan niệm 5 1,9
Hai lý do chính trong việc sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu là mong muốn có nhiều con (73,4%) và muốn gia đình có nếp có tẻ (70,4%) Bên cạnh đó cũng có 1 tỷ lệ nhỏ đối tượng chịu sức ép của xã hội (3,4%) và sinh con vì có thai ngoài ý muốn (10,5%)
Bảng 3.14 Người quyết định chính trong việc sinh con thứ 3 trở lên
Trang 20đến từ cá nhân người chồng (24,3%) hoặc một tỷ lệ rất nhỏ do bố mẹ chống quyết định (1,2%)
Bảng 3.15 Người gây áp lực trong việc sinh con thứ 3 trở lên (n=267)
3.3 Một số yếu tố liên quan đến việc sinh con thứ 3 của đối tượng nghiên cứu
3.3.1 Nhóm yếu tố cá nhân của vợ, chồng đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa dân tộc với việc sinh con thứ 3 trở lên của
đối tượng nghiên cứu (n=1980) Dân tộc Sinh con thứ
3 trở lên
Chỉ sinh 2 con
(0,65 – 1,68) 0,8
(13,0)
141 (87,0) Kết quả chưa chỉ ra được mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa yếu
tố dân tộc và tình trạng sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu (p>0,05)
Trang 21Bảng 3.17 Mối liên quan giữa tôn giáo với việc sinh con thứ 3 trở lên
của đối tượng nghiên cứu (n=1980)
Tôn giáo Sinh con thứ
3 trở lên
Chỉ sinh 2 con
217 (88,6)
0,8 (0,53 – 1,22) 0,3 Không tôn giáo 239
(13,8)
1496 (86,2)
Kết quả chưa chỉ ra được mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa yếu
tố tôn giáo và tình trạng sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu (p>0,05)
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa trình độ học vấn với việc sinh con thứ 3
trở lên của đối tượng nghiên cứu (n=1980)
7,4 (4,8 – 11,5) 0,001