1. Trang chủ
  2. » LUYỆN THI QUỐC GIA PEN-C

Sức khỏe tâm thần và một số yếu tố liên quan của người bệnh điều trị METHADONE tại trung tâm y tế thành phố Bắc Giang năm 2019.

90 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những yếu tố liên quan đến đặc điểm của người bệnh trong thời gian tiến hành điều trị được đưa vào nghiên cứu, yếu tố uống rượu bia và sử dụng ma túy trong một tháng qua của đối tượn[r]

Trang 1

LÊ THỊ DUNG

SỨC KHỎE TÂM THẦN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ METHADONE TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ BẮC GIANG NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

Hà Nội – 2019

Trang 2

KHOA KHOA HỌC SỨC KHỎE

BỘ MÔN Y TẾ CÔNG CỘNG

LÊ THỊ DUNG

SỨC KHỎE TÂM THẦN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ METHADONE TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ BẮC GIANG NĂM 2019

Chuyên ngành : Y TẾ CÔNG CỘNG

Mã số : 8720701

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Lê Anh Tuấn

Hà Nội – 2019

Trang 3

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn: Ban Giám hiệu trường Đại học Thăng Long, Ban Giám đốc Trung tâm Y tế thành phố Bắc Giang, Phòng sau đại học và Quản lý khoa học Trường Đại học Thăng Long, Bộ môn Y tế Công cộng Trường Đại học Thăng Long, đã giúp

đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn đến TS Lê Anh Tuấn, nghiên cứu viên Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, luôn tận tâm dạy bảo, giúp đỡ tôi tận tình chu đáo trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng, tổ điều trị methadone Trung tâm Y tế thành phố Bắc Giang, đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu tại Tổ

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn, tình cảm yêu thương sâu sắc đến cha mẹ, gia đình và bạn bè đã động viên, khích lệ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tôi xin ghi nhận và chân thành cảm ơn những tình cảm và công lao ấy

Hà Nội, tháng 12 năm 2019

Học viên

Lê Thị Dung

Trang 4

-*** -

LỜI CAM ĐOAN

Kính gửi: - Ban Giám hiệu trường Đại học Thăng Long,

- Phòng Sau đại học và Quản lý khoa học,

- Bộ môn Y tế Công cộng

Tôi là: Lê Thị Dung Sinh ngày: 11/12/1985

Chuyên ngành: Y tế Công cộng Mã học viên: C01134

Là học viên cao học, hình thức đào tạo tập trung, thời gian 2017 - 2019 Tôi xin cam đoan đã thực hiện quá trình làm luận văn tốt nghiệp một cách khoa học, chính xác và trung thực

Các kết quả, số liệu có trong luận văn này đều có thật, thu được trong quá trình nghiên cứu của tôi và chưa đăng tải trên bất kỳ tài liệu khoa học nào

Hà Nội, tháng 12 năm 2019

Học viên

Lê Thị Dung

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số khái niệm cơ bản 3

1.1.1 Chất ma túy 3

1.1.2 Nghiện ma túy 3

1.1.3 Methadone và điều trị methadone 4

1.2 Thực trạng sử dụng ma túy và hậu quả 4

1.2.1 Thực trạng nghiện chích ma túy 4

1.2.2 Hậu quả của sử dụng ma túy 5

1.3 Chương trình giảm hại và chương trình methadone 6

1.4 Sức khỏe tâm thần của người bệnh MMT và các yếu tố liên quan 8

1.4.1 SKTT của người bệnh MMT ở Việt Nam 8

1.4.2 Một số nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của người bệnh MMT 12

1.5 Thông tin về địa bàn nghiên cứu 12

1.6 Khung lý thuyết nghiên cứu về SKTT và các yếu tố liên quan 13

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 15

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 15

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 15

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 15

2.2 Phương pháp nghiên cứu 16

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 16

2.2.2 Cỡ mẫu 16

2.3 Phương pháp thu thập thông tin 16

2.3.1 Công cụ 16

2.3.2 Kỹ thuật 16

2.3.3 Quy trình và sơ đồ nghiên cứu 16

2.4 Biến số, chỉ số nghiên cứu và các tiêu chí đánh giá 18

2.4.1 Biến số và chỉ số nghiên cứu 18

2.4.2 Tiêu chí đánh giá 20

2.5 Phân tích và xử lý số liệu 20

Trang 6

2.7 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 21

2.8 Hạn chế của đề tài 21

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22

3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA NGƯỜI BỆNH 22

3.1.1 Một số đặc điểm nhân khẩu học 22

3.1.2 Sử dụng rượu, bia, thuốc lá, ma túy 24

3.1.3 Điều trị methadone của người bệnh 26

3.2 Sức khỏe tâm thần của người bệnh điều trị methadone 28

3.3 Một số yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm thần của người bệnh 31

3.3.1 Mối liên quan về tình trạng trầm cảm của người bệnh 31

3.3.2 Mối liên quan đến tình trạng lo âu của người bệnh 37

3.3.3 Mối liên quan về tình trạng căng thẳng của người bệnh 43

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 49

4.1 Thực trạng sức khỏe tâm thần của người bệnh điều trị methadone 49

4.1.1 Một số đặc điểm chung của người bệnh MMT 49

4.1.2 Vấn đề sử dụng rượu bia, thuốc lá, ma túy của người bệnh 51

4.1.3 Thực trạng sức khỏe tâm thần của người bệnh 52

4.2 Các yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm thần của người bệnh điều trị methadone 52

4.2.1 Các yếu tố liên quan đến tình trạng trầm cảm của người bệnh 52

4.2.2 Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu của người bệnh 56

4.2.3 Các yếu tố liên quan đến tình trạng căng thẳng của người bệnh 59

4.2.4 Các yếu tố từ phía cung cấp dịch vụ điều trị methadone 63

KẾT LUẬN 64

KHUYẾN NGHỊ 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

CDTP: Chất dạng thuốc phiện

CSĐT: Cơ sở điều trị

DASS: Thang đánh giá trầm cảm, lo âu, căng thẳng

(Depression Anxiety Stress Scales) ĐTNC: Đối tượng nghiên cứu

ĐTV: Điều tra viên

MMT: Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone

(Methadone Mainternance Treatment) NCMT: Nghiện chích ma túy

SKTT: Sức khỏe tâm thần

MLQ: Mối liên quan

Tp.: Thành phố

TTYT: Trung tâm y tế

UNODC: Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm Liên hợp quốc

(United Nations Office on Drugs and Crime) WHO: Tổ chức y tế thế giới

(World Health Organization)

Trang 8

Bảng 2.1 Tổng hợp các chỉ số, biến số 18

Bảng 2.2 Thang điểm đánh giá mức độ trầm cảm, lo âu, căng thẳng 20

Bảng 3.1 Thông tin chung của người bệnh 22

Bảng 3.2 Thực trạng sử dụng rượu, bia, thuốc lá 24

Bảng 3.3 Thực trạng sử dụng ma túy của người bệnh 25

Bảng 3.4 Thời gian điều trị trung bình methadone của người bệnh 26

Bảng 3.5 Thời gian, sự hài lòng, mức độ tuân thủ của người bệnh 27

Bảng 3.6 Thực trạng SKTT của người bệnh 28

Bảng 3.7 Phân loại trầm cảm, lo âu, căng thẳng và cả ba của người bệnh 28

Bảng 3.8 Các yếu tố về đặc điểm nhân khẩu học liên quan đến trầm cảm 31

Bảng 3.9 Các yếu tố về đặc điểm điều trị liên quan đến trầm cảm 32

Bảng 3.10 Các yếu tố về khả năng tiếp cận cơ sở điều trị liên quan đến tình trạng trầm cảm của người bệnh 33

Bảng 3.11 Các yếu tố về khả năng chuyên môn của cơ sở điều trị liên quan đến trầm cảm của người bệnh 34

Bảng 3.12 Các yếu tố khác của cơ sở điều trị liên quan đến tình trạng trầm cảm của người bệnh 35

Bảng 3.13 Các yếu tố từ gia đình, cộng đồng liên quan đến trầm cảm 36

Bảng 3.14 Các yếu tố đặc điểm nhân khẩu học liên quan đến lo âu của người bệnh 37

Bảng 3.15 Các yếu tố đặc điểm điều trị liên quan đến lo âu của người bệnh 38

Bảng 3.16 Các yếu tố về khả năng tiếp cận cơ sở điều trị liên quan đến tình trạng lo âu của người bệnh 39

Bảng 3.17 Các yếu tố về cung cấp dịch vụ của cơ sở điều trị liên quan đến tình trạng lo âu của người bệnh 40

Bảng 3.18 Các yếu tố khác của cơ sở điều trị liên quan đến tình trạng lo âu của người bệnh 41

Bảng 3.19 Các yếu tố từ gia đình, cộng đồng liên quan đến lo âu 42

Bảng 3.20 Các yếu tố về đặc điểm nhân khẩu học liên quan đến tình trạng căng thẳng của người bệnh 43

Trang 9

căng thẳng của người bệnh 45 Bảng 3.23 Các yếu tố về khả năng cung cấp dịch vụ của cơ sở điều trị liên quan

đến tình trạng căng thẳng của người bệnh 46 Bảng 3.24 Các yếu tố khác của cơ sở điều trị liên quan đến tình trạng căng thẳng

của người bệnh 47 Bảng 3.25 Các yếu tố gia đình, cộng đồng liên quan đến tình trạng căng thẳng

của người bệnh 48

Trang 10

Biểu đồ 3.1: Thông tin mức thu nhập cá nhân của người bệnh 23

Biểu đồ 3.2: Mức độ trầm cảm của người bệnh 29

Biểu đồ 3.3: Mức độ lo âu của người bệnh 29

Biểu đồ 3.4: Mức độ căng thẳng của người bệnh 30

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sử dụng ma túy hiện nay đang là vấn đề mà cả xã hội quan tâm, nó len lỏi vào từng căn nhà, ngõ phố và không loại trừ người nào Ma túy xâm lấn như vũ bão trong cộng đồng người với tất cả các tầng lớp trong xã hội, với các lứa tuổi

và không loại trừ nam hay nữ Theo báo cáo của Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm Liên hợp quốc (UNODC), năm 2014 ước tính trên thế giới có khoảng 12,7 triệu người nghiện chích ma túy (NCMT) [36] Tại Châu Á, khoảng 25% đến 40% người nghiện chất gây nghiện bất hợp pháp và 60% người nghiện các chất dạng thuốc phiện [34] Tại Việt Nam tính đến ngày 15/11/2017, cả nước có khoảng 222.582 người nghiện chích ma túy có hồ sơ quản lý Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone (MMT) đã được triển khai ở

63 tỉnh, thành phố trên cả nước với 294 cơ sở điều trị, cung cấp dịch vụ cho 52.818 người bệnh [8]

Methadone là chương trình đã có từ nhiều thập kỷ gần đây, hiện được coi là phương pháp điều trị “tiêu chuẩn vàng” đối với người nghiện các chất dạng thuốc phiện, được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia đặc biệt là những quốc gia có thu nhập thấp và trung bình [35] Với mục đích giảm tác hại do nghiện các chất dạng thuốc phiện gây ra và giảm hoạt động phạm tội, giảm sự kỳ thị xã hội, chương trình điều trị chất dạng thuốc phiện bằng methadone hướng đến đối tượng là người nghiện chích ma túy Chương trình này được ghi nhận có hiệu quả tích cực trong việc giảm sử dụng ma túy và giảm nguy cơ lây nhiễm HIV, cải thiện tình trạng việc làm, cải thiện sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nghiện chích

ma túy [12], [31], [32], [35] Nghiện chất dạng thuốc phiện (CDTP) là một bệnh mạn tính, điều trị methadone là điều trị lâu dài, phức tạp, liên quan đến tình trạng thể chất, tâm lý, xã hội đa chiều, đặc biệt vấn đề sức khỏe tâm thần của người điều trị methadone cũng là một vấn đề mà xã hội chúng ta cần phải quan tâm và hỗ trợ [13] Tại Việt Nam cũng đã có những chuyên đề về sức khỏe tâm thần (SKTT) đối với người nghiện chích ma túy, ít nghiên cứu về rối loạn tâm thần trên người bệnh dùng methadone [2], [29]

Trang 12

Tại tỉnh Bắc Giang, tính đến ngày 26/7/2018, có 9 cơ sở điều trị (CSĐT) methadone được đặt tại các huyện/thành phố, đang quản lý điều trị cho 1.118 người bệnh, tổng số ca bệnh đã được điều trị bằng biện pháp này lên hơn 1.900 người [14] Tháng 11/2015 cơ sở điều trị methadone thuộc Trung tâm Y tế (TTYT) thành phố Bắc Giang (Tp Bắc Giang) được thành lập Tính đến hết tháng 5/2019 cơ sở đã điều trị lũy tích cho 335 người nghiện chích ma túy và hiện tại đang điều trị cho 170 người bệnh [10] Sức khỏe tâm thần của người bệnh là một trong các chỉ số phản ánh chất lượng dịch vụ và tác động của dịch vụ Đo lường sức khỏe tâm thần của người bệnh đang điều trị methadone ở đây là rất cần thiết, nghiên cứu sẽ là cơ sở góp phần nâng cao sức khỏe tâm thần cho người bệnh điều trị methadone Câu hỏi đặt ra là “Thực trạng sức khỏe tâm thần của người điều trị methadone ở đây như thế nào và yếu tố nào ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của họ?”

Để trả lời câu hỏi này, nghiên cứu “Sức khỏe tâm thần và một số yếu tố liên quan của người bệnh điều trị methadone tại Trung tâm y tế thành phố Bắc Giang năm 2019” được thực hiện với hai mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng sức khỏe tâm thần của người bệnh điều trị methadone tại Trung tâm y tế thành phố Bắc Giang năm 2019

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm thần của đối tượng nghiên cứu

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm cơ bản

Nghiện ma tuý là một rối loạn mạn tính, tái diễn, được biểu hiện bằng hành

vi bắt buộc phải tìm kiếm và sử dụng ma túy bất chấp những hậu quả bất lợi của việc sử dụng

1.1.2 Nghiện ma túy

Theo quyết định 3140/QĐ-BYT ngày 30/8/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế, người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma túy và bị lệ thuộc vào các chất này [1] Các triệu chứng của một người nghiện ma túy bao gồm:

a) Thèm muốn mạnh mẽ hoặc cảm thấy buộc phải sử dụng ma tuý nhóm Opiat b) Khó khăn trong việc kiểm tra thói quen sử dụng ma tuý nhóm Opiat như thời gian bắt đầu, kết thúc hoặc liều lượng sử dụng

c) Xuất hiện hội chứng cai ma tuý nhóm Opiat khi ngừng hoặc giảm đáng kể liều lượng ma tuý nhóm Opiat đang sử dụng hoặc phải dùng lại ma tuý nhóm Opiat để làm giảm nhẹ triệu chứng hoặc làm mất hội chứng cai ma tuý nhóm Opiat

d) Có khuynh hướng tăng liều để chấm dứt hậu quả do liều thấp gây ra

đ) Sao nhãng các thú vui, sở thích, công việc trước đây bằng việc tìm kiếm và sử dụng ma tuý nhóm Opiat

Trang 14

e) Tiếp tục sử dụng ma tuý nhóm Opiat mặc dù biết tác hại, thậm chí đã có bằng chứng rõ ràng về tác hại của ma tuý nhóm Opiat đối với bản thân gia đình và xã hội

1.1.3 Methadone và điều trị methadone

Methadone là một CDTP tổng hợp, có tác dụng dược lý tương tự như các CDTP khác (đồng vận) nhưng không gây nhiễm độc hệ thần kinh trung ương và không gây khoái cảm ở liều điều trị, có thời gian bán huỷ dài (trung bình là 24 giờ) nên chỉ cần sử dụng 1 lần trong 1 ngày là đủ để không xuất hiện hội chứng cai Methadone có độ dung nạp ổn định nên ít phải tăng liều khi điều trị lâu dài

Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc methadone là một điều trị lâu dài, có kiểm soát, giá thành rẻ, được sử dụng theo đường uống, dưới dạng siro nên giúp dự phòng các bệnh lây truyền qua đường máu như HIV, viêm gan B, C, đồng thời giúp người bệnh phục hồi chức năng tâm lý, xã hội, lao động và tái hoà nhập cộng đồng [1]

1.2 Thực trạng sử dụng ma túy và hậu quả

thêm gánh nặng về bệnh tật cho toàn cầu [4]

Theo báo cáo của Liên hợp quốc, trong năm 2014 số người nghiện ma túy đã tăng cao kỷ lục Theo báo cáo được công bố, trong năm 2014 thế giới có gần 250 triệu người trong độ tuổi từ 15-64 sử dụng ít nhất là một loại ma túy [6] Số người trên thế giới sử dụng các chất ma tuý ít nhất 1 lần trong năm 2016 là khoảng 275 triệu người, hay khoảng 5,6% dân số toàn cầu trong độ tuổi từ 15 đến 64 Báo cáo cho thấy rằng, việc sử dụng ma túy cao nhất trong số những người trẻ tuổi và trẻ từ

12 đến 17 tuổi có nguy cơ nghiêm trọng nhất [19]

Trang 15

Tại Châu Á, khoảng 25% đến 40% người nghiện chất gây nghiện bất hợp pháp

và 60% người nghiện các CDTP [34] Tại Việt Nam tính đến ngày 15/11/2017 cả nước có 222.582 người NCMT có hồ sơ quản lý, điều trị bằng MMT đã được triển khai ở 63 tỉnh, thành phố trên cả nước với 294 CSĐT, 52.818 người bệnh [8]

1.2.2 Hậu quả của sử dụng ma túy

Nghiện ma túy không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân, gia đình người nghiện mà còn ảnh hưởng lớn đến cộng đồng

Tác hại đối với cơ thể

Sử dụng ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng không chỉ tới hệ thần kinh của người dùng, mà còn làm tổn hại tới rất nhiều cơ quan khác trên cơ thể

- Đối với hệ hô hấp: Các chất ma túy kích thích hô hấp gây tăng số lượng thở trong thời gian ngắn, sau đó sẽ gây ức chế hô hấp, nhất là khi dùng quá liều Nhiều trường hợp ngưng thở nếu không cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong, đôi khi ngưng thở rất đột ngột

- Đối với hệ tim mạch: Các chất ma túy sẽ kích thích làm tăng nhịp tim, ảnh hưởng trực tiếp lên tim, gây co thắt mạch vành tạo nên cơn đau thắt ngực, nặng hơn có thể gây nhồi máu cơ tim

- Đối với hệ thần kinh: Ngoài tác dụng kích thích thần kinh giai đoạn đầu gây hưng phấn, sảng khoái, lệ thuộc thuốc…, cũng có thể gây các tai biến như: co giật, xuất huyết dưới nhện, đột quỵ

- Đối với hệ sinh dục: Người nghiện ma túy dẫn đến khả năng tình dục suy giảm, và vẫn kéo dài ngay cả khi ngưng dùng thuốc một thời gian khá lâu Thậm chí, nếu nam giới dùng ma túy trong thời gian dài sẽ dẫn đến bất lực Còn ở phụ nữ sẽ bị rối loạn chu kỳ kinh nguyệt, rong kinh, tăng tiết sữa bất thường và vô sinh

Tiêm chích ma tuý, dùng chung bơm kim tiêm không tiệt trùng, dẫn đến lây nhiễm viêm gan vi rut B, C, đặc biệt là HIV

Trang 16

Ảnh hưởng đến các mối quan hệ

Ma tuý làm huỷ hoại sức khoẻ, làm mất khả năng lao động, học tập, làm cho thần kinh người nghiện bị tổn hại Nghiện ma túy dễ dẫn đến thoái hoá nhân cách, rối loạn hành vi, lối sống buông thả, dễ vi phạm pháp luật Mất lòng tin với mọi người, dễ bị người khác lợi dụng, học tập giảm sút hoặc bỏ học, ảnh hưởng đến tương lai tiền đồ, nếu đã có việc làm thì dễ bị mất việc làm Bên cạnh đó, người nghiện ma túy còn mâu thuẫn và bất hoà với bạn bè, thầy cô giáo và gia đình Ma tuý còn gây tác hại lâu dài cho con cái, nòi giống: các chất ma tuý ảnh hưởng đến hệ thống hoocmon sinh sản, làm giảm khả năng sinh hoạt tình dục, ảnh hưởng đến quá trình phân bào hình thành các giao tử, tạo cơ hội cho các gien độc có điều kiện hoạt hoá, dẫn tới suy yếu nòi giống

Ảnh hưởng đến gia đình

Người nghiện ma túy làm tiêu hao tiền bạc của bản thân và gia đình Gây tổn thất về tình cảm Gia đình tốn thời gian, chi phí chăm sóc và điều trị các bệnh của người nghiện do ma tuý gây ra

Ảnh hưởng đến xã hội

Gây mất trật tự an toàn xã hội, gia tăng các tệ nạn xã hội: Lừa đảo, trộm cắp, giết người, mại dâm, băng nhóm Ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc Làm giảm sút sức lao động sản xuất trong xã hội [5]

Ngoài những hậu quả cho bản thân và cộng đồng, sử dụng ma túy còn gây nên những gánh nặng về sức khỏe tâm thần Ước tính khoảng 22,4% người sử dụng ma túy nhóm opiats ở Việt Nam bị trầm cảm [30] Người nghiện chích ma túy bị cộng đồng kỳ thị, khó khăn tìm kiếm việc làm trong khi họ thường là trụ cột chăm sóc gia đình [28]

1.3 Chương trình giảm hại và chương trình methadone

Can thiệp giảm hại đề cập đến các chính sách, chương trình và hoạt động nhằm mục đích giảm ảnh hưởng có hại về sức khỏe, xã hội và kinh tế của việc sử dụng các loại thuốc gây nghiện hợp pháp và bất hợp pháp Các biện pháp can thiệp giảm hại giúp con người giảm thiểu được tác hại đến sức khỏe, phòng ngừa tử vong

do quá liều và kết nối với các dịch vụ xã hội, y tế khác

Trang 17

Có 9 nội dung, chương trình trong can thiệp giảm hại bao gồm: (1) Chương trình bơm kim tiêm; (2) Điều trị thay thế nghiện các dạng thuốc phiện nhóm opiat; (3) Tư vấn và xét nghiệm HIV; (4) Điều trị ARV; (5) Phòng ngừa và điều trị bệnh lây truyền qua đường tình dục; (6) Phân phát bao cao su; (7) Truyền thông, giáo dục, cung cấp thông tin cho người nghiện chích ma túy và bạn tình; (8) Phòng ngừa, chẩn đoán, điều trị viêm gan; (9) Phòng ngừa, chẩn đoán, điều trị lao Can thiệp giảm hại mang lại hiệu quả trong phòng chống bệnh truyền nhiễm

và cải thiện sức khỏe, làm giảm nguy cơ bệnh tật cho người nghiện chích ma túy

và cộng đồng xã hội [3]

Chương trình methadone lần đầu tiên được đưa vào sử dụng tại Đức từ năm

1939, sử dụng với mục đích giảm đau trong Chiến tranh thế giới thứ 2 Năm 1964, tại New York, bác sỹ Maric Nyswnnder và Vincent Dole nghiên cứu về thuốc điều trị cho những người nghiện heroin, họ phát hiện ra MMT giúp người bệnh ngừng sử dụng heroin và hầu như không bị tăng liều khi dùng trong thời gian dài, do đó liệu pháp điều trị duy trì bằng thuốc methadone ra đời Sau đó MMT lần lượt được đưa vào sử dụng tại các quốc gia như Mỹ (1965), Hồng Kông (1972), Hà Lan (1980), Australia (1993), Trung Quốc (2004), Malaysia (2005), Đài Loan (2006), Việt Nam (2008) Tính đến nay đã có hơn 80 quốc gia triển khai chương trình điều trị nghiện các dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế MMT

Điều trị thay thế hay còn gọi là điều trị hỗ trợ bằng thuốc là việc sử dụng một loại thuốc tương tự nhưng gặp ít rủi ro hơn, kết hợp với liệu pháp tư vấn và hành vi

để điều trị toàn diện cho người sử dụng ma tuý Ước tính trên thế giới có khoảng 48,9 triệu người đang sử dụng các dạng thuốc phiện Các nghiên cứu chỉ ra rằng khi điều trị rối loạn nghiện ma túy, sự kết hợp giữa thuốc và liệu pháp hành vi là biện pháp điều trị hiệu quả và thành công nhất Điều trị thay thế triển khai ngoài cộng đồng tạo điều kiện về tâm lý, cho phép người bệnh có thể sinh hoạt cùng gia đình và hòa nhập với cộng đồng [3] Điều trị MMT có hiệu quả tích cực trong việc giảm sử dụng ma túy, giảm hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV, cải thiện tình trạng việc làm và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người NCMT [19], [32]

Trang 18

Tại Việt Nam, chương trình MMT thí điểm bắt đầu triển khai từ tháng 5/2008 với 06 trung tâm điều trị tại Hải Phòng và Hồ Chí Minh Tháng 9/2014, chương trình được triển khai tại 38 tỉnh, thành phố với hơn 120 CSĐT và điều trị cho 21.317 người bệnh [8] Đến hết năm 2015, đã có 57 tỉnh, thành phố triển khai chương trình với 239 cơ sở điều trị, nâng số người bệnh được điều trị lên 43.720 người [2]

Năm 2012, sau 04 năm triển khai điều trị MMT, tỷ lệ người bệnh sử dụng ma túy bất hợp pháp giảm đáng kể, chỉ còn 14% sau 24 tháng điều trị Tỷ lệ người bệnh

có biểu hiện trầm cảm từ 80% xuống còn 15% sau 12 tháng điều trị An ninh xã hội cũng đã được cải thiện đáng kể về trật tự an toàn xã hội ở khu vực có người nghiện tham gia điều trị Tỷ lệ người bệnh có hành vi, vi phạm pháp luật giảm từ 40% xuống 3% sau 9 tháng điều trị Các mâu thuẫn trong gia đình giảm rõ rệt khi người bệnh tham gia điều trị, từ 20% xuống còn 3,55% sau 9 tháng điều trị [11]

MMT sử dụng bằng đường uống nên điều trị thay thế nghiện CDTP bằng MMT là một trong những chương trình can thiệp giảm tác hại hiệu quả nhất trong

dự phòng lây nhiễm HIV cho người NCMT [3] Điều trị MMT không chỉ dự phòng lây nhiễm HIV trong nhóm người NCMT mà còn mang lại hiệu quả kinh tế [8]

1.4 Sức khỏe tâm thần của người bệnh MMT và các yếu tố liên quan

1.4.1 SKTT của người bệnh MMT ở Việt Nam

Sức khỏe tâm thần là một mức độ tâm lý hạnh phúc hoặc không có bệnh tâm thần Đó là "trạng thái tâm lý của một người đang hoạt động ở mức độ thỏa đáng về việc điều chỉnh cảm xúc và hành vi" Từ quan điểm của tâm lý học tích cực hoặc toàn diện, sức khỏe tâm thần có thể bao gồm khả năng của một cá nhân

để tận hưởng cuộc sống, tạo ra một sự cân bằng giữa các hoạt động cuộc sống và những nỗ lực để đạt được khả năng phục hồi tâm lý Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), sức khỏe tâm thần bao gồm "hạnh phúc chủ quan, khả năng tự nhận thức, tự chủ, năng lực, sự phụ thuộc giữa thế hệ, khả năng tự hiện thực hóa tiềm năng trí tuệ và tình cảm của một người" [33] WHO tiếp tục tuyên bố rằng hạnh phúc của một cá nhân được bao hàm trong việc thực hiện các khả năng của họ,

Trang 19

đối phó với những căng thẳng bình thường của cuộc sống, công việc sản xuất và các đóng góp cho cộng đồng của họ Sự khác biệt về văn hóa, đánh giá chủ quan

và các lý thuyết chuyên nghiệp khác nhau đều ảnh hưởng đến cách thức mà "sức khỏe tâm thần" được định nghĩa [33]

Sức khỏe tâm thần được xem là một bộ phận không thể tách rời trong định nghĩa về sức khỏe (xem WHO, 2001), trong đó sức khỏe tâm thần không chỉ là không bị mắc rối loạn tâm thần, mà còn bao hàm trạng thái thoải mái, sự tự tin vào năng lực bản thân, tính tự chủ, năng lực và khả năng nhận biết những tiềm

năng của bản thân

Một số các rối loạn sức khỏe tâm thần thường gặp nhất hiện nay bao gồm: rối loạn giấc ngủ, trầm cảm, lo âu, căng thẳng…

- Yếu tố di truyền: Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng có khoảng 46% các cặp song sinh cùng trứng sẽ cùng mắc trầm cảm Nếu bố mẹ mắc bệnh trầm cảm thì sau khi sinh con cái có nguy cơ mắc bệnh trầm cảm cao hơn bình thường

- Giới tính: các nghiên cứu cho thấy tỉ lệ phụ nữ mắc bệnh trầm cảm cao gấp 2 lần so với nam giới

- Do ảnh hưởng bởi một số bệnh: các bệnh như chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não, u não, sa sút trí tuệ cũng là nguyên nhân gây ra bệnh trầm cảm Những người mắc các bệnh lý nghiêm trọng như ung thư, đột quỵ, bệnh tim

- Yếu tố nội tiết: thay đổi chu kỳ kinh nguyệt, mang thai, sẩy thai, giai đoạn sau sinh, tiền mãn kinh hay mãn kinh cũng chính là nguyên nhân bệnh trầm cảm ở phụ nữ

- Những sự kiện chấn động: căng thẳng quá độ đến từ những sự kiện, những

Trang 20

biến động trong cuộc sống thường ngày, sự mất mát người thân, tranh cãi, áp lực trong công việc hay những mối quan hệ xấu với mọi người xung quanh

- Mất ngủ thường xuyên: ngủ quá ít sẽ làm ảnh hưởng đến các triệu chứng của trầm cảm Cần duy trì giờ ngủ và thức phù hợp, cả việc đi ngủ đúng giờ vào mỗi đêm

- Tâm lý bi quan: nghiên cứu cho thấy những người có tính cách bi quan có nhiều khả năng bị trầm cảm hơn những người sống lạc quan, vui vẻ và ưa

sự chia sẻ

- Yếu tố văn hoá - xã hội: những sang chấn tâm lý - xã hội đã góp phần làm tăng nguy cơ trầm cảm Tỷ lệ trầm cảm thường thấy tương đối cao ở người nghèo, dân tộc thiểu số và những người có nguồn trợ cấp xã hội ít ỏi

Lo âu

Lo âu là trạng thái cảm xúc chủ quan, thoáng qua hoặc dai dẳng (lo âu dai dẳng thường do đặc điểm nhân cách) khi con người phải đối đầu với một sự đe dọa, một công việc khó hoàn thành, thường thì các nguyên nhân này không có tính trực tiếp và cụ thể, mơ hồ, khó xác định, lo âu trở nên bệnh lý khi ta không kiểm soát được nó, lúc này lo âu gây rối loạn toàn bộ hành vi con người [9], [16], [17]

Có nhiều dạng rối loạn lo âu khác nhau, với các triệu chứng khác nhau Tuy nhiên, các dạng lo âu đều có một điểm chung: tình trạng lo âu xảy ra quá thường xuyên, thái quá, không tương xứng với tình hình hiện tại gây ảnh hưởng đến sinh hoạt và chất lượng cuộc sống Những biểu hiện của tình trạng lo âu quá mức hay còn gọi là rối loạn lo âu bao gồm: cảm thấy căng thẳng, lo lắng, bồn chồn; nhịp tim nhanh, thở nông, thở gấp; đổ mồ hôi nhiều, tay chân run; luôn cảm thấy mệt mỏi, yếu đuối; không tập trung, hay lơ đãng; biếng ăn, rối loạn tiêu hóa; mất ngủ, khó ngủ

Lạm dụng ma túy hoặc rượu có thể làm trầm trọng thêm rối loạn lo âu tổng quát: caffeine và nicotine, rượu và các chất ma túy tổng hợp cũng có thể

làm tăng sự lo lắng

Trang 21

Căng thẳng

Căng thẳng là một thuật ngữ tiếng Anh bắt nguồn từ chữ La tinh “stringi”,

có nghĩa là “bị kéo căng ra”, được dùng trong vật lý học để chỉ một sức nén mà vật liệu phải chịu đựng Đến thế kỷ thứ 17 từ ý nghĩa sức ép trên vật liệu căng thẳng được chuyển sang dùng cho người với ý nghĩa một sức ép hay một xâm phạm nào đó tác động vào con người gây ra một phản ứng căng thẳng [37] Hiện nay căng thẳng là một thuật ngữ được dùng rộng rãi, tuy nhiên mỗi tác giả sử dụng với những sắc thái khác nhau

Theo Hans Selye, căng thẳng là một hội chứng bao gồm những đáp ứng không đặc hiệu của cơ thể đối với kích thích từ môi trường bên ngoài [18]

Căng thẳng bình thường là một tình huống căng thẳng nhẹ, đối tượng chịu đựng được và phản ứng thích nghi tốt, đối tượng thu xếp được trạng thái cân bằng mới Căng thẳng trở nên bệnh lý khi tình thuống căng thẳng xuất hiện bất ngờ và quá mạnh hoặc không mạnh nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần vượt quá khả năng chịu đựng của đối tượng gây ra các rối loạn cơ thể, tâm thần và ứng xử [17]

Căng thẳng kéo dài: Căng thẳng kéo dài sẽ làm mất cân bằng tâm lý, gặp phải

chấn động mạnh về tâm lí như mất người thân hay gặp phải những chuyện quá sốc

Có nhiều nghiên cứu về người bệnh MMT trong những năm gần đây, tuy nhiên các nghiên cứu về SKTT thì chưa có nhiều Trong nghiên cứu của Nguyễn Thu Trang và cộng sự năm 2016, tỷ lệ người bệnh có nguy cơ rối loạn tâm thần nói chung và nguy cơ trầm cảm, lo âu và căng thẳng ở các mức độ khác nhau lần lượt là 25,2%, 40,0% và 21,5% [13] Trong nghiên cứu của Nguyễn Minh Tú và cộng sự

về mối liên quan giữa hoạt động thể lực với trầm cảm, lo âu và căng thẳng năm

2018, sử dụng thang đo hoạt động thể lực toàn cầu (GPAQ) và DASS -21 có tính tin cậy tỷ lệ có triệu chứng trầm cảm, lo âu và căng thẳng lần lượt là 23,5%, 35,8%, 23,8% [15] Nghiên cứu của Catherine Anne Esposito, et al (2009), ước tính khoảng 22,4 % người sử dụng ma túy nhóm opiats ở Việt Nam bị trầm cảm [30]

Trang 22

1.4.2 Một số nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của người bệnh MMT

Nghiên cứu của Nguyễn Thu Trang và cộng sự năm 2016, cho thấy việc sàng lọc rối loạn tâm thần bằng công cụ chuẩn hoá ở người bệnh MMT là rất cần thiết [8]; các chỉ số báo cáo SKTT có thể là chất lượng giấc ngủ và liều MMT Người bệnh có liều MMT trên 120 mg có nguy cơ rối loạn tâm thần cao hơn 2 lần so với người bệnh có liều dưới 60 mg (OR = 2,4; 95% CI = 1,1 - 5,5) [4]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ninh Huệ, Phạm Phương Thảo, Lê Minh Thuận năm 2018, nghiên cứu cho thấy người bệnh có rối loạn trầm cảm, lo âu và căng thẳng lần lượt là 22%, 22%, 14,1%, người bệnh bị cả ba rối loạn là 7,5% [27]

Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân, yếu tố điều trị MMT, yếu tố gia

đình/xã hội với vấn đề trầm cảm, lo âu, căng thẳng của người bệnh và các yếu tố về

mức độ hài lòng của người bệnh tới công tác cung cấp dịch vụ điều trị cai nghiện bằng methadone có mối liên quan với tình trạng trầm cảm, lo âu và căng thẳng của người bệnh Kết quả nghiên cứu của Hoàng Bình Yên tại Thanh Hóa năm 2014 và của Vũ Việt Hưng tiến hành năm 2010 ở Hà Nội cũng chỉ ra sự ảnh hưởng của các

yếu tố trên [26],[25]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ninh Huệ, Phạm Phương Thảo, Lê Minh Thuận năm 2018, cho thấy các yếu tố liên quan đến trầm cảm gồm: việc làm, tình trạng hôn nhân, kinh tế, nhận thức điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng methadone và sự quan tâm, hỗ trợ từ gia đình Các yếu tố liên quan đến lo âu gồm: Việc làm, hôn nhân, kinh tế, nhận thức điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng methadone và sự quan tâm, hỗ trợ từ gia đình Các yếu tố liên quan đến căng thẳng gồm: tình trạng nhiễm HIV/AIDS và đang điều trị ARV, nhận thức điều trị

thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng methadone [27]

1.5 Thông tin về địa bàn nghiên cứu

Bắc Giang là một tỉnh trung du thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam Thành phố Bắc Giang trước kia và nay được biết đến với vai trò là một trong những trung tâm lớn của vùng về công nghiệp đạm - hoá chất, công nghiệp may mặc, đồng thời là trung tâm phân phối, trung chuyển hàng hóa từ Trung Quốc cho miền Bắc, cũng là

Trang 23

nơi tập kết các sản phẩm nội địa xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc Thành phố Bắc Giang có 02 làng nghề truyền thống, một số cụm công nghiệp vừa và nhỏ gắn với hệ thống các khu, cụm công nghiệp lớn của tỉnh liền kề thành phố như: Quang Châu, Đình Trám, Vân Trung, Song Khê - Nội Hoàng đó là những thuận lợi cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội và đô thị Sự phát triển và lớn dần của nền kinh tế thành phố, cũng là mối e ngại của các nhà chức trách khi các tệ nạn xã hội phát triển theo, cụ thể tệ nạn ma túy và sử dụng các chất dạng thuốc phiện

Thành phố Bắc Giang nơi tập trung số người nghiện ma tuý cao nhất tỉnh, theo

số liệu của TTPC HIV/AIDS Bắc Giang tính đến 31/12/2014 toàn tỉnh có 1.434 người nghiện ma tuý Người sử dụng ma tuý có ở 16/16 xã, phường của thành phố, tập trung nhiều tại các phường, xã như: Trần Phú, Trần Nguyên Hãn, Thọ Xương Theo thống kê 2016, toàn tỉnh Bắc Giang có 186/230 xã có người nghiện ma túy; người nghiện có hồ sơ quản lý là 1.916 Người nghiện sử dụng Heroin có xu hướng giảm dần, tỷ lệ người sử dụng ma túy tổng hợp nhóm kích thích dạng Amphetamin ngày càng gia tăng, đến nay số sử dụng chiếm khoảng từ 40-45% Người nghiện ma túy tập trung nhiều nhất ở thành phố Bắc Giang [7] Trên địa bàn thành phố hiện có

03 cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện nằm trong các đơn vị y tế nhà nước CSĐT methadone thuộc Trung tâm Y tế thành phố Bắc Giang đi vào hoạt động điều trị MMT từ tháng 11/2015, cơ sở đã điều trị thay thế chất dạng thuốc phiện bằng MMT lũy tích cho 326 người NCMT (thực tế hiện đang điều trị tại cơ sở 170 người NCMT) [10]

1.6 Khung lý thuyết nghiên cứu về SKTT và các yếu tố liên quan

Qua tổng quan tài liệu từ các nghiên cứu và tham khảo các văn bản hướng dẫn điều trị methadone tại Việt Nam, khung lý thuyết được xây dựng với trọng tâm là rà soát các yếu tố liên quan đến vấn đề sức khỏe tâm thần (cụ thể là trầm cảm, lo âu, căng thẳng) của người bệnh điều trị methadone, xây dựng bộ công cụ phù hợp để có thể thu thập thông tin, đánh giá các yếu tố liên quan này

Trang 24

Hình 1.1 Khung lý thuyết các yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm thần của

người bệnh methadone

SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA NGƯỜI BỆNH METHADONE

Yếu tố từ cơ sở điều trị Methadone

- Trình độ, thái độ của nhân viên y tế

- Thuận tiện: thời gian mở cửa, khoảng

cách

- Quy trình, nội quy của cơ sở điều trị

- Hỗ trợ của NVYT, dịch vụ chuyển gửi

- Sự sẵn có của dịch vụ hỗ trợ liên quan

- Thông tin nhân khẩu học: Tuổi, giới,

tình trạng hôn nhân, học vấn, việc làm,

thu nhập…

- Tiền sử SDMT: thời gian, mức độ

dùng

- Sử dụng rượu, bia, thuốc lá, ma túy

- Điều trị Methadone: liều, thời gian,

kinh phí điều trị…

Trang 25

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Người bệnh đang điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone tại địa bàn nghiên cứu

Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Người bệnh đang điều trị methadone;

- Cả nam và nữ;

- Từ 18 tuổi trở lên;

- Tự nguyện tham gia nghiên cứu;

- Bệnh án có đủ một số thông tin cần thiết (thời gian bắt đầu điều trị, liều điều trị, số ngày không uống thuốc trong tháng theo phiếu vàng ký hàng

ngày…);

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Người bệnh không có mặt tại CSĐT trong thời gian nghiên cứu (khoảng

2 tuần);

- Người bệnh đã bỏ điều trị, ra khỏi chương trình, chuyển sang CSÐT khác, từ CSĐT khác đến uống nhờ, tạm thời tại thời điểm nghiên cứu

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại cơ sở điều trị methadone thuộc TTYT Tp Bắc Giang

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu từ tháng 2 đến tháng 12 năm 2019, trong đó:

− Giai đoạn chuẩn bị từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2019,

− Điều tra thực địa tháng 7 đến tháng 8 năm 2019,

− Làm sạch số liệu tháng 9 năm 2019

− Phân tích số liệu và viết báo cáo tháng 10 đến tháng 12 năm 2019

− Báo cáo tháng 12 năm 2019

Trang 26

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

2.2.2 Cỡ mẫu

Chọn mẫu toàn bộ người bệnh đang điều trị tại cơ sở nghiên cứu, cụ thể

nghiên cứu đã chọn được 170 người bệnh

2.3 Phương pháp thu thập thông tin

2.3.1 Công cụ

Công cụ thu thập thông tin

Bộ công cụ thu thập thông tin gồm có:

- Bộ câu hỏi phỏng vấn: Được thiết kế sẵn, phỏng vấn trực tiếp người bệnh, bao gồm các thông tin về đặc điểm nhân khẩu; tiền sử sử dụng ma túy, hành vi nguy cơ và hành vi dự phòng; quá trình điều trị methadone; điều trị các bệnh

kèm theo (Phụ lục 2: Bộ câu hỏi phỏng vấn người bệnh);

- Bản trích lục thông tin bệnh án: để thu thập một số thông tin quan trọng từ bệnh án điều trị của người bệnh, có thể là nhạy cảm hoặc khó nhớ khi phỏng

vấn người bệnh (Phụ lục 3: Bản thu thập thông tin bệnh án);

- Thang đo Dass – 21(được phát hành bởi quỹ tâm lý Úc): Thang đo mức độ

trầm cảm, lo âu và căng thẳng (Phụ lục 2: Bộ câu hỏi phỏng vấn người bệnh –

Từ G1 đến G21)

2.3.2 Kỹ thuật

- Bộ câu hỏi phỏng vấn người bệnh trực tiếp

- Bản thu thập thông tin bệnh án

2.3.3 Quy trình và sơ đồ nghiên cứu

2.3.3.1 Quy trình chọn mẫu

Bước 1: Trao đổi thông tin, đồng thuận với cơ sở nghiên cứu Giới thiệu mục đích, quy trình triển khai thu thập số liệu, đảm bảo không ảnh hưởng đến cơ sở và

Trang 27

người tham gia nghiên cứu Tiến hành chọn điều tra viên, tập huấn điều tra viên về quy trình nghiên cứu, phương pháp phỏng vấn, thu thập số liệu bệnh án…

Bước 2: Thu thập danh sách toàn bộ người bệnh đang điều trị tại cơ sở nghiên cứu, rà soát các thông tin sàng lọc tiêu chuẩn người bệnh để xác định số người bệnh

đủ tiêu chuẩn Kiểm tra tính kết nối giữa mã số của người bệnh ở danh sách và mã

số người bệnh ở bệnh án để đảm bảo tính kết nối phù hợp

Bước 3: Chọn toàn bộ người bệnh đủ điều kiện để phỏng vấn và thu thập thông tin bệnh án

Bước 4: Lập kế hoạch, phân công cán bộ mời, sắp xếp người bệnh, cán bộ phỏng vấn, cán bộ thu thập số liệu bệnh án Triển khai thu thập số liệu theo kế hoạch

2.3.3.2 Sơ đồ nghiên cứu

Lo âu Căng thẳng

Phân tích yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm thần của đối tượng nghiên cứu Trầm cảm

Người bệnh điều trị Methadone (đủ tiêu chuẩn tham gia)

Trang 28

2.4 Biến số, chỉ số nghiên cứu và các tiêu chí đánh giá

2.4.1 Biến số và chỉ số nghiên cứu

Bảng 2.1 Tổng hợp các chỉ số, biến số

TT Biến số Phân loại

Phương pháp thu

thập

A Thông tin chung

1 Nhóm tuổi Thứ bậc Tỷ lệ người bệnh phân theo nhóm tuổi

tự) Tỷ lệ người bệnh theo mức độ lo âu

11 Phân loại Nhị phân Tỷ lệ người bệnh có vấn đề về căng

Trang 29

thuộc

P, OR, CI95% giữa các yếu tố cá nhân (tuổi, giới, nghề nghiệp, thu nhập…) với vấn đề trầm cảm, lo âu,

căng thẳng của người bệnh

- Phiếu PV;

thuộc

- P, OR, CI95% giữa các yếu tố điều trị MMT (liều, thời gian, chi phí…) với vấn đề trầm cảm, lo âu,

căng thẳng của người bệnh

thuộc

- P, OR, CI95% giữa các yếu tố gia đình/xã hội (mối quan hệ, hỗ trợ, kỳ thị…) với vấn đề trầm cảm, lo âu,

căng thẳng của người bệnh

Trang 30

“trầm cảm”, “lo âu” và “căng thẳng” được tính bằng cách cộng điểm các đề mục thành phần, rồi nhân hệ số 2, đánh giá phân loại theo bảng sau:

Bảng 2.2 Thang điểm đánh giá mức độ trầm cảm, lo âu, căng thẳng

2.5 Phân tích và xử lý số liệu

Phiếu phỏng vấn, thu thập thông tin bệnh án sau khi hoàn thành đã được kiểm tra, làm sạch Số liệu đã được nhập bằng phần mềm EpiData 3.0 và phân tích kết quả bằng phần mềm SPSS 20.0

Áp dụng thống kê mô tả, sử dụng số lượng, tỷ lệ phần trăm, phân bố … để mô tả

Trang 31

thực trạng quần thể nghiên cứu Tỷ số chênh OR và khoảng tin cậy 95% được tính toán

để phân tích mối liên quan giữa các yếu tố và sức khỏe tâm thần của người bệnh

2.6 Sai số và biện pháp khắc phục sai số

2.6.1 Sai số

- Sai số nhớ lại (tiền sử sử dụng ma túy, tần suất sử dụng ma túy )

- Câu hỏi tế nhị, khó trả lời (sống chung bạn tình, quan hệ với gái mại dâm )

2.6.2 Biện pháp khắc phục

- Xây dựng, thử nghiệm, hoàn thiện bộ câu hỏi trước khi điều tra;

- Tập huấn kỹ cho điều tra viên;

- Giải thích rõ ràng, cụ thể mục đích, quy trình với người tham gia;

- Thu thập thông tin bệnh án để hỗ trợ cho thông tin phỏng vấn;

- Giám sát, hỗ trợ quá trình thu thập số liệu tại thực địa

2.7 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Người tham gia nghiên cứu được giải thích rõ ràng về mục đích, quy trình nghiên cứu Việc tham gia là hoàn toàn tự nguyện và có thể dừng lại hoặc từ chối

trả lời câu hỏi họ không muốn trả lời (Phụ lục: Bản cung cấp thông tin và thỏa

thuận tham gia nghiên cứu)

Tất cả biểu mẫu nghiên cứu đều sử dụng mã số để quản lý, kết nối số liệu, không thu thập thông tin xác định (tên, địa chỉ…) của người bệnh

Nghiên cứu được sự đồng ý của cơ sở điều trị methadone TTYT Tp Bắc Giang và được Hội đồng xét duyệt đề cương của Trường ĐH Thăng Long xem xét thông qua

Trang 32

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm chung của người bệnh

3.1.1 Một số đặc điểm nhân khẩu học

Bảng 3.1 Thông tin chung của người bệnh (n=170)

Trang 33

Trong 170 người bệnh tham gia tham gia nghiên cứu hầu hết là nam giới

(98,8%) và có độ tuổi trung bình là 43,91 (±8,30)

Về nghề nghiệp của người bệnh, nghề tự do chiếm tỷ lệ cao nhất (85,29%), tiếp đến là nhóm nghề buôn bán/kinh doanh (5,29%), nhóm nghề khác (4,12%) và nhóm thất nghiệp (3,53%), chiếm tỷ lệ thấp là nhóm công nhân/nông dân (1,76%)

Đa số người bệnh đều có trình độ học vấn ở mức THCS (46,47%) và Tiểu học (34,71%), tiếp đến là nhóm đối tượng có trình độ học vấn ở mức THPT (17,65%) và

tỷ lệ những người không biết chữ thấp hơn rõ rệt (1,18%)

Về tình trạng hôn nhân người bệnh góa/ly thân/ly dị chiếm tỷ lệ cao nhất (34,71%), thấp nhất là đối tượng độc thân (32,35%) và đối tượng đã kết hôn là 32,94%

Biểu đồ 3.1: Thông tin mức thu nhập cá nhân của người bệnh (n=170)

Từ biểu đồ ta có thể thấy gần 2/3 người bệnh có mức thu nhập trung bình từ dưới 5 triệu (60,59%) Người bệnh không có thu nhập là ít nhất (2,35%) Còn lại là người bệnh có mức thu nhập trung bình trên 5 triệu và dưới 3 triệu (lần lượt là 16,47% và 20,59%)

3-dưới 5 triệudưới 3 triệu

Trang 34

3.1.2 Sử dụng rượu, bia, thuốc lá, ma túy

Bảng 3.2 Thực trạng sử dụng rượu, bia, thuốc lá (n=170)

Trong tổng số 170 người bệnh tham gia nghiên cứu, những người hút thuốc

lá hàng ngày chiếm tới 65,3% Bên cạnh đó, vẫn có tới 24,7% số người hút thuốc lá vài tuần một lần Còn lại số người không hút thuốc lá và hút thuốc lá hàng tuần chiếm tỷ lệ lần lượt là 7,1% và 2,9%

Trang 35

Bảng 3.3 Thực trạng sử dụng ma túy của người bệnh (n=170)

Tỷ lệ người bệnh đã từng tiêm chích ma túy thì cao hơn so với không tiêm chích ma túy (người bệnh hút và hít ma túy), nhìn chung sự chênh lệch này khá lớn (72,35% và 27,65%)

Người bệnh tham gia nghiên cứu không sử dụng ma túy trong một tháng vừa qua có tỷ lệ khá lớn (51,18%) Bên cạnh đó, trong các đối tượng đã sử dụng ma túy trong 1 tháng qua thì nhóm sử dụng hơn 1 lần/ngày có tỷ lệ cao nhất (42,94%) Nhìn chung tỷ lệ 3 nhóm đối tượng sử dụng ma túy hàng ngày, hàng tuần và vài tuần một lần thì không có sự chênh lệch quá lớn (0,59%;1,76% và 3,53%)

Trang 36

3.1.3 Điều trị methadone của người bệnh

Bảng 3.4 Thời gian điều trị trung bình methadone của người bệnh (n=170)

Nhìn chung, tỷ lệ người bệnh điều trị methadone trong thời gian 1- dưới 3 năm

và 3 đến dưới 5 năm không có sự chênh lệch quá lớn (41,28% và 44,12%) Bên cạnh đó có 12,35% đối tượng điều trị dưới một năm và chỉ có 2,35% người tham gia điều trị methadone từ 5 năm trở lên

Đa số người bệnh đang điều trị trong giai đoạn ổn định liều điều trị methadone (80%) Chỉ có 20% người bệnh tham gia nghiên cứu đang trong giai đoạn khởi liều Liều lượng methadone điều trị trung bình của người bệnh là 53,37 mg (±39,3) Trong đó liều lượng điều trị nhỏ nhất là 5 mg và lớn nhất là 285 mg

Trang 37

Bảng 3.5 Thời gian, sự hài lòng, mức độ tuân thủ của người bệnh (n=170)

Có 170 đối tượng tham gia nghiên cứu Khoản kinh phí mà các đối tượng chi trả cho việc đi lại của một lần uống methadone trung bình là 10.150 đồng (± 5,78)

Đa số các đối tượng đánh giá việc điều trị methadone ở mức hài lòng chiếm tỷ lệ cao nhất với 80,00%, bên cạnh đó mức độ rất hài lòng của người bệnh có tỷ lệ thấp hơn với 11,18%, còn lại 8,82% người bệnh cảm thấy quá trình điều trị là bình thường Trong 170 đối tượng tham gia nghiên cứu, tỷ lệ những người tuân thủ điều trị methadone là 33,53% Ngược lại, có 66,47% người không tuân thủ điều trị trong 1 tháng qua

Trang 38

3.2 Sức khỏe tâm thần của người bệnh điều trị methadone

Có 156 người bệnh gặp ít nhất 1 vấn đề về sức khỏe tâm thần (chiếm 91,8%)

và 86 người bệnh gặp cả 3 vấn đề (chiếm 50,6%) Trong đó, tỷ lệ người bệnh mắc

lo âu là cao nhất (91,8%) và tỷ lệ mắc căng thẳng là thấp nhất (50,6%)

Bảng 3.7 Phân loại trầm cảm, lo âu, căng thẳng và cả ba của người bệnh

(n=170)

Yếu tố

Số lượng (n)

Tỷ lệ (%)

Số lượng (n)

Tỷ lệ (%)

Số lượng (n)

Tỷ lệ (%)

bị thì không có sự chênh lệnh không nhiều lần lượt là 50,59% và 49,41%

Trang 39

Biểu đồ 3.2: Mức độ trầm cảm của người bệnh (n=170)

Người bệnh tham gia điều trị methadone có vấn đề về trầm cảm chiếm tỷ lệ lớn, trong đó tỷ lệ những người bị trầm cảm ở mức độ vừa và rất nặng không có sự chênh nhau quá lớn (31,18% và 29,41%), có 14,71% người bị trầm cảm ở mức độ nặng

Biểu đồ 3.3: Mức độ lo âu của người bệnh (n=170)

Tỷ lệ người bệnh mắc vấn đề về lo âu ở mức độ vừa, nặng, rất nặng lần lượt

là 24,12%, 17,06% và 50,59% Còn lại là 3,53% và 4,71% người bị lo âu ở mức độ bình thường và nhẹ

Trang 40

Biểu đồ 3.4: Mức độ căng thẳng của người bệnh (n=170)

Vấn đề lo âu của người bệnh, tỷ lệ những người bình thường 32,35%, tỷ lệ người bị căng thẳng ở các mức độ nhẹ, vừa, nặng và rất nặng lần lượt là 17,06%, 16,47%, 17,65% và 16,47%

Ngày đăng: 11/03/2021, 00:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bắc Giang (2016). “Kết quả sau 3 năm thực hiện Đề án Đổi mới công tác cai nghiện”, Tạp chí lao động và xã hội online (10:50 AM 12/10/2016) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả sau 3 năm thực hiện Đề án Đổi mới công tác cai nghiện”
Tác giả: Bắc Giang
Năm: 2016
2. Báo Đời sống (2016). “Số người nghiện chích ma túy trên thế giới đã tăng lên mức kỷ lục” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số người nghiện chích ma túy trên thế giới đã tăng lên mức kỷ lục
Tác giả: Báo Đời sống
Năm: 2016
3. Bộ lao động TBXH (2013). “Đổi mới công tác cai nghiện ma túy ở Việt Nam đến năm 2020”. Tr 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới công tác cai nghiện ma túy ở Việt Nam đến năm 2020
Tác giả: Bộ lao động TBXH
Năm: 2013
4. Bộ VHTT & DL (2016). “Tác hại của ma túy đến bản thân và cộng đồng” Cổng thông tin điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác hại của ma túy đến bản thân và cộng đồng”
Tác giả: Bộ VHTT & DL
Năm: 2016
5. Bộ Y tế (2010), Quyết định 3140/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế về “Hướng dẫn điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2010
8. Cục phòng chống HIV/AIDS (2016), “Báo cáo Công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2015 và các nhiệm vụ trọng tâm năm 2016” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2015 và các nhiệm vụ trọng tâm năm 2016
Tác giả: Cục phòng chống HIV/AIDS
Năm: 2016
9. Cục phòng chống HIV/AIDS (2014), “Điều tra ban đầu bệnh nhân điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam năm 2014” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra ban đầu bệnh nhân điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam năm 2014
Tác giả: Cục phòng chống HIV/AIDS
Năm: 2014
11. Đại học y dược Huế (2006). "Giáo trình Tâm thần học, Giáo trình giảng dạy bác sĩ Đa khoa", Khoa tâm thần Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm thần học, Giáo trình giảng dạy bác sĩ Đa khoa
Tác giả: Đại học y dược Huế
Năm: 2006
13. Đào Thị Diệu Thúy, Trần Minh Hoàng, Đinh Thanh Thúy, Phạm Phương Mai, Lê Minh Giang (2018), “Trầm Cảm Ở Thành Viên Gia Đình Của Nam Tiêm Chích Ma Túy Nhiễm HIV Tại Hà Nội Năm 2016” Tạp chí nghiên cứu Y học 106(1), pg. 179-185 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trầm Cảm Ở Thành Viên Gia Đình Của Nam Tiêm Chích Ma Túy Nhiễm HIV Tại Hà Nội Năm 2016
Tác giả: Đào Thị Diệu Thúy, Trần Minh Hoàng, Đinh Thanh Thúy, Phạm Phương Mai, Lê Minh Giang
Năm: 2018
14. Đậu Thị Tuyết (2013).“Tình trạng Căng thẳng , lo âu, trầm cảm của cán bộ y tế khối lâm sàng bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, bệnh viện đa khoa 115 Nghệ An năm 2013 và một số yếu tố liên quan”. Thư viện đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng Căng thẳng , lo âu, trầm cảm của cán bộ y tế khối lâm sàng bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, bệnh viện đa khoa 115 Nghệ An năm 2013 và một số yếu tố liên quan”
Tác giả: Đậu Thị Tuyết
Năm: 2013
15. Hồ Quang Trung và cộng sự (2015). “Kết quả chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại tỉnh Phú Thọ năm 2015”.Tạp chí Y học dự phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại tỉnh Phú Thọ năm 2015”
Tác giả: Hồ Quang Trung và cộng sự
Năm: 2015
16. Hoàng Bình Yên và các cộng sự (2013), “Đánh giá một số kết quả điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại Thanh Hóa từ 5/2011 đến 5/2012”, Tạp chí truyền nhiễm Việt Nam số 3, trang 60-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Đánh giá một số kết quả điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại Thanh Hóa từ 5/2011 đến 5/2012”
Tác giả: Hoàng Bình Yên và các cộng sự
Năm: 2013
17. Lương Hữu Thông (2006), “Hỏi và đáp về bệnh căng thẳng ”, nhà xuất bản lao động Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi và đáp về bệnh căng thẳng
Tác giả: Lương Hữu Thông
Nhà XB: nhà xuất bản lao động Hà Nội
Năm: 2006
18. Nguyễn Minh Tú và cộng sự (2018). “Mối liên quan giữa hoạt động thể lực với trầm cảm, lo âu và căng thẳng ở sinh viên ngành y đa khoa trường đại học y dược Huế năm 2018” Tạp chí y học dự phòng. Tập 28, số 8, 2018, tr 64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối liên quan giữa hoạt động thể lực với trầm cảm, lo âu và căng thẳng ở sinh viên ngành y đa khoa trường đại học y dược Huế năm 2018”
Tác giả: Nguyễn Minh Tú và cộng sự
Năm: 2018
19. Nguyễn Thị Linh Huệ, Phạm Phương Thảo, Lê Minh Thuận (2018), “Trầm cảm, lo âu, căng thẳng và các yếu tố liên quan ở người bệnh đang điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng methadone”. Tạp chí nghiên cứu Y học TP. Hồ Chí Minh* Phụ bản tập 22*Số 1*2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trầm cảm, lo âu, căng thẳng và các yếu tố liên quan ở người bệnh đang điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng methadone”
Tác giả: Nguyễn Thị Linh Huệ, Phạm Phương Thảo, Lê Minh Thuận
Năm: 2018
20. Nguyễn Thu Trang và cộng sự (2016). “Nguy cơ rối loạn tâm thần ở người bệnh điều trị methadone và một số yếu tố liên quan”. Tạp chí nghiên cứu y học 99(1)-2016, tr 147-154 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguy cơ rối loạn tâm thần ở người bệnh điều trị methadone và một số yếu tố liên quan”
Tác giả: Nguyễn Thu Trang và cộng sự
Năm: 2016
21. Phạm Công Chính, Lâm Ngọc Tĩnh (2017). ầm ” Tạp chí Khoa học và Công nghệ, số 8, tr. 165 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ầm ”
Tác giả: Phạm Công Chính, Lâm Ngọc Tĩnh
Năm: 2017
22. Phạm Đức Mạnh (2014). “Điều tra ban đầu người bệnh điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam năm 2014”. Cục Phòng chống HIV/AIDS Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra ban đầu người bệnh điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam năm 2014”
Tác giả: Phạm Đức Mạnh
Năm: 2014
23. Phạm Thị Đào, Trần Thanh Thuỷ, Lê Thành Chung, Lê Quang Minh (2015). “Kiến thức, thái độ và thực trạng sử dụng các loại ma túy tổng hợp tại thành phố Đà Nẵng năm 2014”, Tạp chí Y học dự phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ và thực trạng sử dụng các loại ma túy tổng hợp tại thành phố Đà Nẵng năm 2014”
Tác giả: Phạm Thị Đào, Trần Thanh Thuỷ, Lê Thành Chung, Lê Quang Minh
Năm: 2015
24. Thanh Trà (26/07/2018). "Hơn 1,1 nghìn người bệnh điều trị nghiện bằng chất thay thế methadone", tiengchuong.vn/Ma-tuy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hơn 1,1 nghìn người bệnh điều trị nghiện bằng chất thay thế methadone

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w