1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.

108 44 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2013, Trịnh Thị Hương tiến hành nghiên cứu kiến thức về an toàn vệ sinh thực phẩm của người sản xuất, chế biến thực phẩm tại huyện Thiệu HoáThanh Hoá cho kết quả gười tham gia sản xu[r]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

PHẠM THỊ CHUNG- C01079

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI CHẾ BIẾN TẠI BẾP ĂN CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN CẦU GIẤY HÀ NỘI NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

Hà Nội, 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG KHOA: KHOA HỌC SỨC KHOẺ

BỘ MÔN: Y TẾ CÔNG CỘNG

PHẠM THỊ CHUNG

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI CHẾ BIẾN TẠI BẾP ĂN CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN CẦU GIẤY HÀ NỘI NĂM 2019

Trang 3

Với lòng biết ơn chân thành, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới GS.TS Phạm Duy Tường, người đã tận tình chỉ dạy và hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Xin cảm ơn sự giúp đỡ, tạo mọi điều kiện của Thủ trưởng đơn vị, các anh chị em đồng nghiệp đối với tôi trong suốt quá trình học tập

Sau cùng, xin gửi cảm ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình và bạn bè, là những người luôn ở bên động viên chia sẻ và ủng hộ tôi để tôi có thể hoàn thành luận văn một cách tốt nhất

Tác giả

Phạm Thị Chung

Trang 4

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả

Phạm Thị Chung

Trang 5

STT Phần viết tắt Phần viết đầy đủ

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Các khái niệm cơ bản 3

1.1.1 Thực phẩm, thực phẩm an toàn, vệ sinh an toàn thực phẩm, ô nhiễm thực phẩm 3

1.1.2 Kiến thức về lựa chọn thực phẩm an toàn 4

1.1.3 Ngộ độc thực phẩm 6

1.1.4 Bếp ăn tập thể và nguyên tắc 1 chiều trong chế biến thực phẩm 7

1.2 Vai trò của An toàn thực phẩm 8

1.2.1 Tầm quan trọng của vệ sinh an toàn thực phẩm đối với kinh tế và xã hội 8

1.2.2 Tầm quan trọng của vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sức khỏe 9

1.3 Một số nghiên cứu về kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến thực phẩm 11

1.3.1 Nghiên cứu trên thế giới 11

1.3.2 Nghiên cứu trong nước 13

1.4 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến thực phẩm 19

1.5 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu 21

1.6 Khung lý thuyết nghiên cứu 23

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 24

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.1.2.Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24

2.2 Phương pháp nghiên cứu 24

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 24

2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 24

2.3 Biến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá 25

2.3.1 Biến số và chỉ số trong nghiên cứu 25

Trang 7

2.4 Phương pháp thu thập thông tin 30

2.4.1 Công cụ thu thập 31

2.4.2 Các kỹ thuật thu thập thông tin 31

2.4.3 Quy trình thu thập thông tin 31

2.5 Phân tích và xử lý số liệu 31

2.6 Sai số và biện pháp khống chế sai số 32

2.6.1 Sai số nghiên cứu 32

2.6.2 Biện pháp khắc phục 32

2.7 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 32

2.8 Hạn chế của nghiên cứu 33

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

3.1.Kiến thức- thực hành của người chế biến thực phẩm về an toàn thực phẩm 34

3.2 Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của đối tương nghiên cứu36 3.2.1 Kiến thức về an toàn thực phẩm của đối tượng nghiên cứu 36

3.2.2 Thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến 46

3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến thực phẩm 50

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 55

4.1 Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn tập thể các trường tiểu học, quận Cầu Giấy năm 2019 55

4.1.1 Kiến thức về an toàn thực phẩm của đối tượng nghiên cứu 55

4.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến thực phẩm 63

KẾT LUẬN 67

1 Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn tập thể các trường tiểu học, quận Cầu Giấy năm 2019 67

2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của đối tượng nghiên cứu 67

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 9

Bảng 3.1.Tuổi của đối tượng nghiên cứu 34

Bảng 3.2.Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 34

Bảng 3.3 Phân bố ĐTNC theo trình độ chuyên môn, thời gian làm nghề và số lần tập huấn ATTP 35

Bảng 3.4 Khám sức khoẻ định kỳ của ĐTNC 36

Bảng 3.5 Kiến thức về thực phẩm an toàn của ĐTNC 36

Bảng 3.6 Đánh giá kiến thức về thực phẩm an toàn 37

Bảng 3.7 Kiến thức về lựa chọn thịt/ cá tươi đối tượng nghiên cứu 37

Bảng 3.8 Kiến thức về các thông tin trên nhãn sản phẩm của đối tượng nghiên cứu 38

Bảng 3.9 Đánh giá kiến thức về lựa chọn thực phẩm an toàn 38

Bảng 3.10 Kiến thức về các bệnh và triệu chứng mắc phải không được tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm của ĐTNC 39

Bảng 3.11 Các hành vi người chế biên không được phép làm khi đang chế biến 39

Bảng 3.12 Thời điểm người chế biến cần phải rửa tay 40

Bảng 3.13 Nguyên nhân ONTP trong quá trình chế biến 40

Bảng 3.14 Đánh giá kiến thức về chế biến TP an toàn của ĐTNC 41

Bảng 3.15 Kiến thức bảo quản TP trước và sau khi chế biến 41

Bảng 3.16 Kiến thức về loại côn trùng thường gây hại đối với TP 42

Bảng 3.17 Kiến thức thời gian sử dụng TP sau khi chế biến 42

Bảng 3.18 Kiến thức về nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm 43

Bảng 3.19 Kiến thức về xử trí khi ngộ độc thực phẩm của ĐTNC 44

Bảng 3.20 Kiến thức về lưu mẫu thực phẩm của ĐTNC 44

Bảng 3.21 Kiến thức về loại mẫu thực phẩm, bệnh phẩm cần lưu khi ngộ độc thực phẩm xảy ra của ĐTNC 45

Bảng 3.22 Đánh giá kiến thức về ngộ độc thực phẩm của ĐTNC 45

Bảng 3.23 Đánh giá kiến thức chung về ATTP của ĐTNC 45

Bảng 3.24 Thực hành vệ sinh cá nhân khi làm việc của ĐTNC 46

Trang 10

Bảng 3.26 Thực hành về rửa rau qủa tươi 47 Bảng 3.27 Nơi sơ chế thực phẩm (nhặt rau, thái thịt…) 47 Bảng 3.28 Thực hành bảo quản và chia thức ăn 47 Bảng 3.29 Thực hành lưu mẫu thực phẩm, nơi lưu mẫu, thời gian lưu mẫu 48 Bảng 3.30 Thực hành vệ sinh sau khi chế biến thực phẩm 48 Bảng 3.31 Thực hành về đựng rác và chất thải 49 Bảng 3.32 Mối liên quan giữa tuổi, giới của nhân viên nhà bếp và kiến thức về

an toàn thực phẩm 50 Bảng 3.33 Mối liên quan giữa trình độ học vấn, trình độ chuyên môn của nhân viên nhà bếp và kiến thức về an toàn thực phẩm 50 Bảng 3.34 Mối liên quan giữa kinh nghiệm làm việc của nhân viên nhà bếp với kiến thức về an toàn thực phẩm 51 Bảng 3.35 Mối liên quan giữa tập huấn kiến thức của nhân viên nhà bếp với kiến thức về an toàn thực phẩm 51 Bảng 3.36 Mối liên quan giữa nơi làm việc của nhân viên nhà bếp với kiến thức

về an toàn thực phẩm 52 Bảng 3.37 Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến 52 Bảng 3.38 Mối liên quan giữa thông tin chung của nhân viên nhà bếp với thực hành về an toàn thực phẩm 53

Trang 11

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1.Phân bố đối tượng theo giới tính……….34 Biểu đồ 3.2.Phân bố đối tượng theo trường………35 Biểu đồ 3.3 Đánh giá kiến thức về bảo quản TP của ĐTNC……… 42 Biểu đồ 3.4 Kiến thức về biểu hiện ngộ độc thực phẩm của ĐTNC………….43 Biểu đồ 3.5 Đánh giá thực hành chung về ATTP của ĐTNC………49

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, nhu cầu ăn bán trú tại các trường học ngày càng gia tăng, đặc biệt là tại các trường tiểu học Trong khi, ở giai đoạn này các

em học sinh chủ yếu ở lứa tuổi 6 đến 11 tuổi, đây là lứa tuổi rất dễ bị tổn thương

và nhạy cảm với các tác động về an toàn thực phẩm tới sức khoẻ Ngoài ra, việc

ăn uống của các em trong lứa tuổi này phụ thuộc hoàn toàn vào nhà trường Chính vì vậy, an toàn thực phẩm tại các trường học là vấn đề thời sự được quan tâm của không chỉ các bậc phụ huynh mà còn của toàn xã hội

Tại Việt Nam, theo thống kê báo cáo hàng năm của Cục An toàn thực phẩm - Bộ Y tế, cho biết giai đoạn 2013 - 2017, cả nước ghi nhận 862 vụ ngộ độc thực phẩm, làm khoảng 25.000 người mắc, trong đó hơn 22.000 người phải vào bệnh viện, 130 người chết Tính trung bình, mỗi năm có khoảng 5.000 người mắc và 26 người chết do ngộ độc thực phẩm [11] Năm 2018, cả nước xảy

ra 84 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 3.174 người bị ngộ độc, trong đó 11 người tử vong [47] Trên thực tế, số vụ ngộ độc thực phẩm còn có thể lớn hơn rất nhiều

so với báo cáo do công tác điều tra, thống kê chưa đầy đủ Điều này khẳng định ngộ độc thực phẩm vẫn còn phổ biến và diễn biến khá phức tạp Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng ngộ độc thực phẩm, một trong những nguyên nhân là do kiến thức, thái độ và thực hành an toàn thực phẩm của người chế biến không tốt Nghiên cứu của Đỗ Thị Tân tại các bếp ăn tập thể trường mầm non Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh cho thấy chỉ có 11,6% nhân viên chế biến có kiến thức đạt về an toàn thực phẩm [43] Nghiên cứu của Trần Thị Hải cho kết quả, tỷ lệ đối tượng có kiến thức và thực hành về an toàn thực phẩm đạt chưa cao với 50,5% đối tượng có kiến thức đạt, 61,5% đối tượng có thực hành đạt [19]

Quận Cầu Giấy là quận có tốc độ đô thị hóa nhanh, với tổng số 120 trường học đóng trên địa bàn trong đó có 24 Trường tiểu học với 22 bếp ăn tập thể Qua các đợt thanh kiểm tra an toàn thực phẩm, hầu hết các trường tiểu học trên địa bàn đều đạt các điều kiện vệ sinh cơ sở đối với bếp ăn tập thể Tuy

Trang 13

nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá kiến thức, thực hành của người chế biến được thực hiện trong các đợt thanh kiểm tra trên Vậy thực trạng kiến thức, thực hành của người chế biến tại các bếp ăn tại các trường tiểu học quận Cầu Giấy hiện nay như thế nào? Những yếu tố nào liên quan đến kiến thức, thực hành của người chế biến? Với mong muốn cung cấp cơ sở dữ liệu để định hướng công tác quản lý an toàn thực phẩm tại các bếp ăn tập thể thuộc các trường tiểu học trên địa bàn quận trong thời gian tới Từ đó góp phần ngăn ngừa các vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra tại các trường tiểu học Chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài “Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm và một số yếu

tố liên quan của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy, Hà Nội năm 2019 ” với hai mục tiêu nghiên cứu:

1 Đánh giá kiến thức, thực hành an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp

ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy, Hà Nội năm 2019

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành an toàn thực phẩm của đối tượng nghiên cứu

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Thực phẩm, thực phẩm an toàn, vệ sinh an toàn thực phẩm, ô nhiễm thực phẩm

Thực phẩm: là tất cả mọi thứ đồ ăn, thức uống ở dạng chế biến hoặc

chưa chế biến mà con người sử dụng hàng ngày để ăn, uống nhằm cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết để duy trì các chức năng sống của cơ thể, qua đó có thể sống và làm việc [6]

Thực phẩm được chia làm 4 nhóm sau:

− Nhóm thực phẩm giàu protein: bao gồm các thực phẩm có nguồn gốc động vật như thịt, cá, trứng, sữa và có nguồn gốc thực vật như đậu đỏ, đặc biệt

là đỗ tương

− Nhóm thực phẩm giàu lipid: gồm mỡ, bơ, dầu ăn và các hạt có dầu như vừng, lạc

− Nhóm thực phẩm giàu glucid: bao gồm gạo, mì, ngô, khoai, sắn

− Nhóm thực phẩm giàu vitamin và muối khoáng: bao gồm các loại rau, quả [5]

Thực phẩm an toàn: là thực phẩm không bị ô nhiễm các tác nhân sinh

học, hóa học, vật lý vượt quá quy định cho phép và không gây nguy hại tới sức khỏe người sử dụng Để đạt được mong muốn này người ta có thể thêm vào thực phẩm những chất bảo quản, là những chất có tính diệt khuẩn nhẹ, ức chế sự phát triển của vi khuẩn, nấm mốc, làm chậm hoặc ngừng quá trình lên men và các quá trình khác làm biến chất thực phẩm Các chất này được bổ sung trong quá trình chế biến, tồn trữ nhằm kéo dài thời gian bảo quản [4]

Vệ sinh an toàn thực phẩm: Vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) là

một phạm trù rộng được Ủy ban hợp tác chuyên gia của FAO/WHO định nghĩa:

“Là tất cả các điều kiện và biện pháp cần thiết được áp dụng trong quá trình tạo

ra thực phẩm (food system) từ sản xuất nguyên liệu đến sử dụng của con người

để đảm bảo sức khỏe” [60]

Trang 15

Ô nhiễm thực phẩm: Theo luật ATTP ô nhiễm thực phẩm là sự xuất hiện tác nhân làm ô nhiễm thực phẩm gây hại đến sức khỏe, tính mạnh con người

Ô nhiễm thực phẩm là tình trạng thực phẩm bị nhiễm các chất gây nguy hại cho con người hoặc do thực phẩm tự biến đổi làm mất tính chất ban đầu của thực phẩm và có thể gây nguy hại tới sức khỏe người sử dụng Bao gồm:

Nhiễm khuẩn thực phẩm: đề cập đến những hội chứng của một bệnh do sự

xuất hiện của các tác nhân lây nhiễm vi sinh vật có sẵn trong thực phẩm gây ra (vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng ) mà không có các độc tố được hình thành trước đó Các tác nhân vi sinh vật này có thể sinh sôi nảy nở ở trong ruột làm suy yếu sức khỏe và sản sinh ra độc tố ruột hoặc thâm nhập vào thành ruột hoặc lan truyền đến các cơ quan, hệ thống khác [51]

Bệnh truyền qua thực phẩm: là bệnh do ăn, uống thực phẩm bị nhiễm tác

nhân gây bệnh, biểu hiện một hội chứng mà nguyên nhân do ăn phải thức ăn bị

nhiễm các tác nhân gây bệnh, làm ảnh hưởng tới sức khỏe và cộng đồng Hiện tượng mẫn cảm cá nhân với một loại thức ăn xác định nào đó không được coi là bệnh truyền nhiễm qua thực phẩm [51]

1.1.2 Kiến thức về lựa chọn thực phẩm an toàn

Việc lựa chọn TP an toàn là một trong những cách đề phòng các bệnh do thực phẩm TP sử dụng hàng ngày phải đảm bảo các yêu cầu vệ sinh như sau:

− Phải được lấy từ các nguồn tin đáng tin cậy, có nguồn gốc rõ ràng

− Phải được kiểm tra các mối nguy hại vật lý, ô nhiễm hóa học trước khi mua

− Không được sử dụng các loại phụ gia thực phẩm, phẩm màu, chất ngọt tổng hợp không nằm trong danh mục được Bộ Y tế cho phép

− Không dùng thực phẩm ôi thiu, quá hạn sử dụng, có nguồn gốc bị bệnh để chế biến thức ăn

− Thực phẩm không được nhiễm bất kỳ chất độc hại nào cho sức khỏe, không được nhiễm trùng giun sán [30]

Trang 16

Tại cộng đồng, lựa chọn thực phẩm chủ yếu dựa vào tính chất cảm quan của chúng Mỗi loại thực phẩm có tính chất cảm quan khác nhau nên sẽ có cách lựa chọn khác nhau

Cách chọn thịt:

− Đối với thịt lợn: thịt mầu hồng tươi, mỡ trắng, trên phần bì không có

những lấm tấm đỏ, tím Không nên chọn thịt từ lợn được mổ ra quá nhỏ và quá

gầy, trên bì có những lấm chấm xuất huyết Cũng không nên mua thịt có các biểu hiện sau: thịt mầu đỏ thẫm hoặc xám, có nhiều chất keo nhầy, mỡ vàng cắt

ra có nhiều nước, khi ngửi có mùi hôi khét hoặc mùi của thuốc kháng sinh, cắt

ngang phần thịt nạc hoặc lưỡi có những ấu trùng sán màu trắng to bằng hạt gạo

− Thịt bò: thịt bò tốt thường dính tay, mềm, thớ thịt mịn và nhỏ, mỡ mầu vàng thẫm hay vàng nhạt, không có mùi lạ, cắt ngang thớ không thấy ấu trùng

sán

− Đối với thịt gia cầm (gà, vit, ngan, ngỗng): Khi chọn gia cầm sống chọn những con khỏe, nhanh nhẹn, lông mượt, chân khô, hậu môn không ướt Khi chọn gia cầm đã làm long phải chọn những con có đầy đủ cả đầu, da kín và lành lặn Mầu sắc tự nhiên từ trắng ngà đến vàng tươi, không có vết bẩn, mốc, không

có mùi lạ, không có phẩm màu [30]

Cách chọn cá:

− Khi chọn mua cá, tốt nhất là là chọn những con cá vẫn còn sống

− Trường hợp cá chết, những bộ phận chính để phân biệt cá còn tươi hay đã ươn là mắt, miệng, mang, hoa khế, vảy, bụng và hậu môn

+ Nên chọn những con còn nguyên vẹn; không bị tróc vẩy (nếu cá có vẩy), da đầy đủ (nếu là loại cá không có vẩy); thịt rắn có đàn hồi (dùng ngón tay

ấn vào cá thì để lại vết lõm nhưng vết lõm đó không còn khi nhấc ngón tay ra)

+ Mắt cá trong suốt, miệng ngậm cứng, mang mầu đỏ tươi, dán chặt xuống hoa khế, không có nhớt và không có mùi hôi

+ Vẩy cá tươi, oánh ánh, dính chặt vào thân cá

Trang 17

+ Bụng bình thường, không phình to, hậu môn thụt sâu và trắng nhạt [30]

+ Chỉ tiêu chất lượng chủ yếu

+ Ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, thời hạn bảo quản

+ Xuất xứ của hàng hóa

− Nên mua ở các cửa hàng có tín nhiệm: quen thuộc, siêu thị … những nơi chấp hành đầy đủ các điều kiện kinh doanh thực phẩm vệ sinh an toàn

− Không nên mua:

+ Ở những của hàng, quán hàng, bụi,bẩn, ẩm ướt, nóng, nắng

+ Ở những nơi bày bán lẫn lộn tạp chất, hóa chất, sản phẩm có mùi như xà phòng, bột giặt, mỹ phẩm …

− Với nước giải khát, hoa quả, trái cây, sữa … không mua ở những nơi không có phương tiện bảo quản lạnh, những nơi bày bán dưới nắng, nóng, ẩm ướt, bụi bẩn, khói, hơi, khí, gần xăng, dầu, sơn, hóa chất trừ sâu …[30]

1.1.3 Ngộ độc thực phẩm

Ngộ độc thực phẩm theo Luật An toàn thực phẩm là “ tình trạng bệnh lý

do hấp thụ thực phẩm bị ô nhiễm hoặc có chứa chất độc” [53]

Trang 18

Theo định nghĩa của WHO thì “Ngộ độc thực phẩm là tình trạng bệnh lý cấp tính xảy ra do ăn, uống phải thực phẩm bị nhiễm mầm bệnh hoặc chứa các độc tố vi sinh vật hoặc thức ăn có chứa các chất độc hại tồn tại trong quá trình chế biến và bảo quản thực phẩm”

Có hai loại ngộ độc thực phẩm là ngộ độc thực phẩm cấp tính và ngộ độc thực phẩm mạn tính

Ngộ độc thực phẩm cấp tính: xảy ra đột ngột do ăn phải thức ăn có chứa

chất độc, biểu hiện bằng những triệu chứng dạ dày- ruột( nôn, ỉa chảy…) và những triệu chứng khác tùy theo đặc điểm của từng loại ngộ độc thực phẩm( tê liệt thần kinh, co giật, rối loạn hô hấp, tuần hoàn, vận động ) tác nhân gây ngộ độc có thể là chất độc hóa học (hóa chất bảo vệ thực vật ), chất độc tự nhiên

có sẵn trong thực phẩm( một số loại thực vật, động vật), do vi sinh vật( vi khuẩn, virus, ký sinh trùng) và do thức ăn bị biến chất

Ngộ độc thực phẩm mạn tính: Thường do ăn phải các thức ăn bị nhiễm

các mầm bệnh hoặc hóa chất hóa học liên tục trong thời gian dài

Ngộ độc mạn tính thường không có các dấu hiệu rõ ràng sau khi ăn phải các thức ăn bị ô nhiễm, nhưng chất độc có trong thức ăn này sẽ tích luỹ ở những

bộ phận trong cơ thể, gây ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa các chất, rối loạn hấp thụ gây nên suy nhược, mệt mỏi kéo dài hay các bệnh mạn tính khác, cũng

có khi các chất độc gây biến đổi các tế bào và gây ung thư [53]

1.1.4 Bếp ăn tập thể và nguyên tắc 1 chiều trong chế biến thực phẩm Bếp ăn tập thể (BĂTT): Là cơ sở chế biến, nấu nướng phục vụ cho một

tập thể cùng ăn tại chỗ hoặc ở một nơi khác [53]

Đảm bảo quy trình chế biến, nấu nướng theo nguyên tắc 1 chiều:

nguyên liệu xuất kho sau khi sơ chế, làm sạch chuyển vào khu vực bếp nấu chín, sau đó thực phẩm chín ra phòng chia đồ ăn và tới tay người sử dụng Trong quy trình một chiều không có sự quay lại của thực phẩm chín vào khu vực đồ sống

để trách sự lây nhiễm chéo giữa nguyên liệu và thành phẩm [51] [53]

Trang 19

1.2 Vai trò của An toàn thực phẩm

1.2.1 Tầm quan trọng của vệ sinh an toàn thực phẩm đối với kinh tế và xã hội

Đối với nước ta cũng như nhiều nước đang phát triển, lương thực thực phẩm là một sản phẩm chiến lược, ngoài ý nghĩa kinh tế, còn có ý nghĩa chính trị, xã hội và đời sống rất quan trọng

Vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường thương mại quốc tế Thực phẩm không những cần được sản xuất, chế biến, bảo quản, phòng tránh sự ô nhiễm các loại vi sinh vật mà còn không được chứa các chất hóa học tổng hợp hay tự nhiên vượt quá mức quy định cho phép của tiêu chuẩn quốc tế và quốc gia, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng

Những thiệt hại khi không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm gây nên các hậu quả rất khác nhau, từ bệnh cấp tính, mạn tính đến tử vong Các thiệt hại chính do các bệnh gây ra do thực phẩm đối với cá nhân là những thiệt hại cho chi phí khám chữa bệnh, phụ hồi sức khỏe, các chi phí do phải chăm sóc người bệnh, sự mất thu nhập do phải nghỉ làm

Đối với nhà máy, nơi sản xuất thực phẩm đó là những chi phí cho thu hồi lưu giữ sản phẩm, hủy hoặc loại bộ sản phẩm, những thệt hại do mất nguồn lợi nhuận do thông tin quảng cáo… Thiệt hại lớn nhất là mất lòng tin ở người tiêu dùng và các thiệt hại khác do phải điều tra khảo sát, phân tích, kiểm tra độc hại, giải quyết hậu quả và mất nguồn thu

Ảnh hưởng trên phạm vi quốc tế làm mất danh tiếng của thực phẩm an toàn và giảm số lượng nhập khẩu, mất nguồn sản xuất

Theo báo cáo của WHO năm 2006, dịch cúm gia cầm H5N1 đã gây tổn thất nghiêm trọng về kinh tế Tại Pháp, đã có 40 nước từ chối không nhập khẩu sản phẩm thịt gà từ nước này, gây thiệt hại 48 triệu USD/tháng Tại Đức, thiệt hại về cúm gia cầm nên tới 140 triệu euro Tại hai nước Ý và Mỹ, chi phí để phòng chống bệnh này lần lượt là 100 triệu euro và 3,8 tỷ USD

Năm 2001, toàn EU chi 1 tỷ USD cho biện pháp phòng chống bệnh lở mồm long móng [59]

Trang 20

Tại Việt Nam, theo thống kê tại Báo cáo Giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 5 về việc thực hiện chính sách pháp luật về quản

lý chất lượng VSATTP giai đoạn 2004 – 2008 cho thấy chỉ riêng chi phí dùng cho điều tra NĐTP trung bình giai đoạn 2004 -2006 là 13,97 triệu đồng/tỉnh/năm, giai đoạn 2007 – 2008 là 26,1 triệu đồng/tỉnh/năm [52]

Cũng trong giai đoạn 2004 – 2008, theo báo cáo của Chính Phủ thì kinh phí đầu tư cho công tác quản lý VSATTP là 329 tỷ đồng [9]

1.2.2 Tầm quan trọng của vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sức khỏe

Dân gian có câu “Bệnh tòng khẩu nhập, họa tòng khẩu xuất” tức là bệnh

từ miệng vào và họa từ miệng ra Đó cũng là một câu nói để chỉ vai trò của ăn uống đối với sức khỏe Mỗi người chúng ta từ khi sinh ra đến khi mất đi trải qua một quá trình phải cung cấp dưỡng chất, thực phẩm hàng ngày để duy trì sự sống và phát triển của cơ thể Nhưng nếu thực phẩm không đảm bảo vệ sinh, thực phẩm bị ô nhiễm bởi các mối nguy thì đó cũng là nguyên nhân gây ra các bệnh lây truyền qua đường thực phẩm và ngộ độc thực phẩm; ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của con người Không một thực phẩm nào được coi là có giá trị dinh dưỡng nếu nó không đảm bảo An toàn thực phẩm “An toàn thực phẩm để bảo vệ cuộc sống tốt hơn” và ai cũng biết rằng sức khỏe là vốn quý nhất của cuộc sống con người

Thức ăn chứa các chất độc hoặc bị nhiễm trùng trong toàn bộ quá trình nuôi trồng, đánh bắt, thu hoạch và chế biến, bảo quản thực phẩm sẽ là nguồn truyền mầm bệnh vi khuẩn, ký sinh trùng gây nên những hậu quả cho sức khỏe với các bệnh cảnh và mức độ tổn hại khác nhau: từ tiêu chảy, ngộ độc đến các bệnh dịch truyền nhiễm liên quan đến thực phẩm và các bệnh mạn tính và cả ung thư [3] Muốn bảo vệ sức khoẻ cho toàn dân, duy trì phát triển giống nòi phải có một thị trường thực phẩm đảm bảo chất lượng và an toàn [13]

Tại phiên họp lần thứ 53 của Đại hội đồng Y tế thế giới vào tháng 5 năm

2000 đã thông qua Nghị quyết “WHO và các nước thành viên công nhận ATTP

là một nhiệm vụ quan trọng đối với sức khoẻ cộng đồng” Nghị quyết này kêu gọi WHO xây dung dựng một chiến lược toàn cầu nhằm làm giảm gánh nặng

Trang 21

các bệnh do thực phẩm gây ra WHO cam kết làm sao cho tất cả mọi người có được sức khoẻ tốt hơn và công nhận ATTP là một vấn đề sức khoẻ cộng đồng

ưu tiên trên toàn cầu [14] [64]

Theo Tổ chức Y tế Thế giới ước tính các bệnh tiêu chảy liên quan đến thực phẩm và nước uống giết chết 2,2 triệu người mỗi năm, trong đó có 1,9 triệu trẻ em [28]

Ngay cả ở các nước phát triển vẫn có tới 30% dân số hàng năm bị mắc các bệnh truyền qua thực phẩm Tại Mỹ hàng năm cũng có tới 9,4 triệu lượt người mắc; 55.961 người phải nằm viện và 1.351 ca tử vong Hàng năm Hà Lan có 4,5 triệu người mắc bệnh đường ruột; 300.000 đến 750.000 ca mắc mới ngộ độc thức ăn, tử vong từ 20 - 200 người dẫn tới mất khoảng 1000 - 4000 DALYs Lượng mất này tương đương với mất do AIDS hoặc viêm màng não do vi khuẩn Một kết quả khác tương tự cho thấy dị ứng gây ra do thực phẩm nhiễm chất hóa học cũng gây mất khoảng 1000 DALYs [58]

Năm 2008, tại Trung Quốc xảy ra an toàn thực phẩm về sữa, trong đó sữa

và sữa bột trẻ em đã bị lẫn hóa chất melamine Vụ bê bối này đã ảnh hưởng đến nhiều nước khác bởi các sản phẩm chứa sữa nhiễm bẩn nhập từ Trung Quốc Đến ngày 22 tháng 9, người ta đã thống kê được gần 53.000 trẻ em đã bị bệnh, hơn 12.800 trẻ phải nằm viện, và 4 trẻ bị chết, với nguyên nhân là sỏi thận và suy thận [35] Chất hóa học đã được trộn vào sữa để làm cho sữa có vẻ có độ đạm cao hơn Trong một vụ khác, sữa chất lượng kém đã gây ra cái chết do suy dinh dưỡng của 13 trẻ sơ sinh tại Trung Quốc năm 2004 [62]

Tháng 7/2015,một số người tiêu dùng ở bang Minnesota và Wisconsin của Mỹ đã bị ngộ độc sau khi ăn phải thịt gà từ Hãng Barber Foods Ngay lập tức, công ty thực phẩm của Ba Lan Barber Foods đã phải gấp rút thu hồi hơn

770 tấn thịt gà do có nguy cơ bị nhiễm độc khuẩn salmonella Những sản phẩm

bị thu hồi gồm thịt gà sống, thịt gà đông lạnh và cả những thực phẩm từ thịt gà

đã được chế biến sẵn Nhiễm salmonella có thể gây rối loạn tiêu hóa, sốt, người

có khả năng miễn dịch yếu có thể gặp tình trạng nặng hơn và có thể tử vong [39]

Trang 22

Theo Báo cáo công bố tại Geneva của WHO năm 2015, gần một phần ba (30%) tất cả các ca tử vong do các bệnh từ ngộ độc thực phẩm nằm ở trẻ em dưới 5 tuổi Ước tính đầu tiên về gánh nặng trên toàn cầu của các bệnh do thực phẩm cho thấy mỗi năm cứ 10 người thì có 1 người bị bệnh từ ăn thực phẩm bị ô nhiễm và dẫn đến 420 000 người chết, trẻ em dưới 5 tuổi có nguy cơ đặc biệt cao với 125.000 trẻ em chết vì các bệnh do thực phẩm mỗi năm Các khu vực châu Phi và Đông Nam Á là các khu vực có gánh nặng cao nhất với các bệnh do thực phẩm Báo cáo ước tính gánh nặng của các bệnh do thực phẩm gây ra bởi

31 tác nhân - vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, các độc tố, hóa chất và chỉ ra rằng mỗi năm có đến 600 triệu người, tương đương gần 1 trong 10 người trên thế giới, bị bệnh sau khi tiêu thụ thực phẩm bị ô nhiễm [65]

Ở các nước đang phát triển, gánh nặng bệnh tật do bệnh truyền qua thực phẩm còn trầm trọng hơn nhiều Tuy nhiên, thường ở các nước nghèo các tài liệu, báo cáo, nghiên cứu về lĩnh vực này thường không đầy đủ [64],[66]

Thực phẩm không những tác động trực tiếp, thường xuyên đối với sức khỏe con người mà còn tác động đến quá trình điều hòa gen, ảnh hưởng đến giống nòi dân tộc Nhật Bản là quốc gia đã rất thành công trong việc “Cải tạo giống nòi” thông qua chương trình kiểm soát ATTP Trong 20 năm từ 1957 đến

1977 nhờ áp dụng chương trình kiểm soát này mà chiều cao của người Nhật trưởng thành đã tăng 4,3cm ở nam và 2,7 cm ở nữ trong khi quy luật chung chỉ

là 2cm [12]

1.3 Một số nghiên cứu về kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến thực phẩm

1.3.1 Nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu của NorrakiahAbdullah Sani năm 2014 trên 112 người chế biến cho thấy đối tượng có điểm số tốt (19,68 ± 3,87) về kiến thức vệ sinh cá nhân, bệnh truyền qua thực phẩm và kiểm soát nhiệt độ của thực phẩm Phần lớn cho thấy kiến thức kém về mầm bệnh liên quan đến các tác nhân gây bệnh cũng như nhiệt độ quan trọng để lưu trữ thực phẩm ăn liền; đối với thái độ (89,26 ± 8,66) đối với việc chế biến thực phẩm an toàn và thực hành (90,02 ± 8,23), đặc

Trang 23

biệt ĐTNc có thực hành tốt trong rửa tay thích hợp, sử dụng găng tay trong chế biến thực phẩm và phòng ngừa các nguy cơ thực phẩm Khoảng 73,2% số người được hỏi không tham gia bất kỳ khóa đào tạo nào liên quan đến an toàn thực phẩm [63]

Nghiên cứu của Hanson Kunadu trên 278 người chế biến thực phẩm (56,8% bệnh viện, 30,9% trường học và 12,3% dịch vụ thực phẩm trong tù Những người trả lời đạt ≥70% số điểm tối đa có thể được có đủ kiến thức và thực hành và thái độ tích cực Kết quả cho thấy, hầu hết ĐTNC không có đủ kiến thức và thực hành về an toàn thực phẩm với điểm số tương ứng là 20,99 ± 7,64 (46%) và 9,35 ± 5,62 (52%) Thái độ đối với an toàn thực phẩm nói chung

là tiêu cực nhưng với điểm trung bình tương đối cao hơn là 12,64 ± 3,06 (63%) Các lĩnh vực quan tâm nhất là 1) Thiếu kiến thức về các nguồn gây ô nhiễm / ô nhiễm chéo và nhiệt độ giữ thích hợp cho thực phẩm 2) Thực hành kém bao gồm nhiều chu kỳ đóng băng cho thực phẩm đông lạnh và 3) Rửa tay không thường xuyên trong quá trình chuẩn bị thực phẩm sau khi ho hoặc hắt hơi [61]

Nghiên cứu của Nasser AbdulatifAl-Shabib cho thấy những người chế biến thực phẩm có thực hành tốt đối với thực phẩm và vệ sinh cá nhân Thái độ cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm, thái độ của người chế biến thực phẩm là thuận lợi với tổng điểm trung bình là 80,76 ± 18,02

và tổng điểm trung bình là 2,69 Có mối tương quan giữa kiến thức với thái độ (r

= 0,371, p <0,05), kiến thức với đào tạo (r = 0,707, p <0,05), kiến thức với vệ sinh cá nhân (r = 0,303, p <0,05), đào tạo với cá nhân vệ sinh (r = 0,174, p

<0,05) và thái độ với vệ sinh cá nhân (r = 0,173, p <0,05) Mặc dù các mối tương quan này là có ý nghĩa nhưng mối tương quan không mạnh lắm [54]

Nghiên cứu của Sufen liu và cộng sự nhằm xác định các yếu tố nguy cơ gây ra dịch bệnh từ thực phẩm ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, nghiên cứu đã đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) về an toàn thực phẩm ở những người chế biến thực phẩm ở khu vực nghỉ mát ven biển có tỷ lệ mắc bệnh từ thực phẩm cao ổ dịch từ Vibrio parahaemolyticus KAP của 171 người chế biến thực phẩm từ 22 cơ sở thực phẩm, trong đó có bảy cơ sở thực phẩm đã xảy ra

Trang 24

dịch bệnh và 15 cơ sở dịch bệnh đã không xảy ra Kết quả cho thấy phần lớn những người được hỏi không biết thời gian lưu trữ tối đa ở nhiệt độ phòng và tác nhân phổ biến nhất của bệnh truyền qua thực phẩm trong hải sản Hầu hết các thái độ của người trả lời về an toàn thực phẩm và đào tạo là tích cực Khi được hỏi về các thực hành được thực hiện, khoảng 1/5 số người được hỏi cho biết họ

có các hộp đựng thực phẩm (sống và chín) ở các mức độ khác nhau Có sự khác biệt đáng kể giữa các cơ sở thực phẩm khác nhau, độ tuổi khác nhau và thời gian đào tạo khác nhau [56]

Nghiên cứu của Jessica Alfonso cho thấy 75,0% đối tượng có kiến thức cao về an toàn thực phẩm, 72,5% đối tượng có kiến thức tốt về ATTP Về thực hành: Về vệ sinh cá nhân, các nhân viên chế biến thực phẩm đã đạt điểm rất cao

về việc rửa tay bằng nước và xà phòng trước khi chuẩn bị thức ăn, sau khi đi vệ sinh, trước khi ăn, sau khi xử lý thịt sống và sau khi đi vệ sinh có điểm số trung bình lần lượt là 4,95, 4,93, 4,9, 4,82 và 4,9 Ngoài ra, họ đạt điểm rất cao trong việc làm khô tay sau khi rửa bằng khăn có điểm trung bình 4,9 [57]

Nghiên cứu của Fortune Akabanda cho thấy đa số những người chế biến thực phẩm là từ 41-50 tuổi (39,1%) Tỷ lệ nữ tham gia nghiên cứu là 76,6% Kết quả nghiên cứu cho thấy, những người chế biến thực phẩm có kiến thức về các quy trình vệ sinh, quy trình chế biến Hầu hết tất cả những người chế biến thực phẩm đều nhận thức được vai trò quan trọng của các biện pháp vệ sinh chung tại nơi làm việc, như rửa tay (98,7% câu trả lời đúng), sử dụng găng tay (77,9%), vệ sinh dụng cụ / dụng cụ đúng cách (86,4%) ) và sử dụng chất tẩy rửa (72,8%) Về các bệnh lây truyền, kết quả chỉ ra rằng 76,2% người chế biến thực phẩm không biết rằng Salmonella là mầm bệnh truyền qua thực phẩm và 70,6% không biết rằng viêm gan A là mầm bệnh truyền qua thực phẩm Tuy nhiên, 81,7% người chế biến đồng ý rằng bệnh thương hàn được truyền qua thực phẩm và 87,7% đồng ý rằng tiêu chảy ra máu được truyền qua thực phẩm Kiểm tra phân tích hồi quy logistic bốn mô hình cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p

<0,05), đối với các mô hình trong đó biến giải thích là mức độ giáo dục [55]

1.3.2 Nghiên cứu trong nước

Trang 25

Năm 2009, Đỗ Thị Thu Trang và Tô Gia Kiên tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang trên toàn bộ 300 nhân viên trực tiếp chế biến thực phẩm ở 86 bếp ăn tập thể trường học tại huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh Kết quả có 29% nhân viên chế biến thực phẩm có kiến thức chung đúng, 59% thực hành chung đúng về vệ sinh an toàn thực phẩm [48]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích San năm 2011 tại các trường mầm non quận Cầu Giấy, Hà Nội cho thấy có 54,4% nhân viên có thực hành đúng, trong

đó có đến 73% nhân viên không đội mũ khi chế biến thực phẩm [41]

Năm 2011, nghiên cứu của Nguyễn Thùy Dương tại 12 trường mầm non,

47 nhân viên nhà bếp và 68 cô giáo của quận Tây Hồ - Hà Nội theo phương pháp cắt ngang mô tả có phân tích cho thấy tỷ lệ nhân viên nhà bếp đạt yêu cầu

về kiến thức không cao (63,8%), đặc biệt là thực hành vệ sinh cá nhân, vệ sinh dụng cụ, vệ sinh bảo quản thực phẩm của nhân viên nhà bếp rất kém 100% nhân viên nhà bếp không đội mũ, đeo găng tay khi chia thức ăn, 29,4% nhân viên nhà bếp còn để móng tay dài; 66,7% bát, thìa còn dính tinh bột [17]

Nghiên cứu của Trương Thị Lan Hương tại Thành phố Huế (2011) cho thấy 84,5% nhân viên phục vụ có kiến thức được đánh giá đạt về vệ sinh an toàn thực phẩm [25]

Năm 2012 Nghiên cứu của Nguyễn Phương Học năm 2012 tại 53 BATT trường mầm non huyện Tiên Du, Bắc Ninh cho thấy tỷ lệ kiến thức chung đạt của người chế biến là 66% và thực hành là 56,6% [21]

Năm 2013, nghiên cứu của Trần Nhật Nam tiến hành đánh giá việc thực hiện các quy định về ATTP và kiến thức, thực hành của người chế biến thực phẩm tại BĂTT các trường mầm non quận Ba Đình, Hà Nội năn 2013 trên 218 nhân viên chế biến thực phẩm của các trường Mầm non cho thấy tỷ lệ đạt về kiến thức là 74,8% [37]

Dương Thị Hương nghiên cứu mô tả cắt ngang, điều tra kiến thức và thực hành vệ sinh bàn tay của người chế biến thực phẩm tại 36 bếp ăn tập thể trên địa bàn huyện Ninh Giang, Hải Dương từ tháng 2 đến tháng 10 năm 2013 cho thấy

Trang 26

tùy từng tình huống hoạt động mà tỷ lệ kiến thức đúng về rửa tay là 36,7% đến 95,8% [24]

Năm 2013, Trịnh Thị Hương tiến hành nghiên cứu kiến thức về an toàn vệ sinh thực phẩm của người sản xuất, chế biến thực phẩm tại huyện Thiệu Hoá-Thanh Hoá cho kết quả gười tham gia sản xuất và chế biến thực phẩm có kiến thức về nguyên nhân gây ô nhiễm thực phẩm, cách phòng chống ngộ độc thực phẩm còn hạn chế: rửa tay trước khi chế biến và sau khi đi vệ sinh 77,2%, thực hiện quy trình chế biến một chiều 34,4%, không mắc các bệnh lây truyền qua thực phẩm 43,2%, trả lời đúng tất cả các cách phòng chống ngộ độc thực phẩm 31,6% và 15,3% các đối tượng trả lời đúng tất cả các nguyên nhân gây ô nhiễm thực phẩm Kiến thức về khám sức khoẻ định kỳ để phát hiện bệnh cho cá nhân

là 84,2%, phòng bệnh cho người khác 6,5% và không có lợi ích gì 9,3% [26]

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Nêu cho kết quả tỷ lệ nhân viên tại các BATT có kiến thức chung đúng về VSATTP là 22% và thực hành chung đúng

về VSATTP là 36,7% Không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa các đặc tính nền với kiến thức VSATTP trừ tuổi và trình độ học vấn Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thực hành chung đúng về VSATTP với giới, thời gian làm việc nhưng không có sự liên quan với tuổi, dân tộc và học vấn Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức về vệ sinh dụng cụ, tác nhân gây ô nhiễm thực phẩm và ngộ độc thực phẩm với thực hành chung đúng về VSATTP nhưng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức về

vệ sinh cơ sở, vệ sinh chế biến bảo quản thực phẩm với thực hành chung đúng

về VSATTP Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức chung đúng

về VSATTP với thực hành chung đúng về VSATTP [38]

Cũng trong năm 2013, Đỗ Thị Tân và cộng sự tiến hành nghiên cứu tại 24 trường mầm non trên quận 1, thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 2-7/2013 Tổng cộng có 95 nhân viên CBTP được khảo sát trong nghiên cứu này Tỷ lệ nhân viên có kiến thức đúng về ATTP chỉ đạt 11,6% Trong đó, một số kiến thức có tỷ lệ trả lời đúng rất thấp là kiến thức về giữ gìn vệ sinh cá nhân trong CBTP, kiến thức về kiểm nghiệm nguồn nước và kiến thức về ngộ độc thực

Trang 27

phẩm Ngược lại với kiến thức, tỷ lệ nhân viên có thực hành rất cao (≥ 90%) Tuy nhiên vẫn còn một tỷ lệ nhỏ nhân viên chưa thực hành mang khẩu trang (10,5%), găng tay (22,1%) trong khi CBTP [43]

Lê Bảo Nguyên tại Hải Phòng cho thấy tỷ lệ những người có kiến thức đúng về lựa chọn thực phẩm tươi an toàn của người phục vụ trong các bếp ăn tập thể đạt trên 90% còn tỷ lệ có kiến thức nhận biết cách sử dụng phụ gia thực phẩm đạt trên 80%, người chế biến thực phẩm nhận biết được các dấu hiệu của ngộ độc thực phẩm về thời gian xuất hiện sau khi ăn < 48 giờ, có các triệu chứng buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy nhiều lần, dấu hiệu hôn mê co giật Tỷ lệ nhận biết tất cả 4 nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm cùng chiếm tỷ lệ 100%; Tỷ lệ đối tượng nắm rõ qui trình thiết kế bếp ăn một chiều, dụng cụ lưu mẫu thức ăn, nắm bắt đầy đủ 12 tiêu chí đạt 100%; 100% các đối tượng nắm được việc phải khám sức khỏe trước khi vào làm việc và hiểu biết được tất cả các quy định về sức khỏe khi mắc một số bệnh truyền nhiễm: Lao phổi, bệnh đường tiêu hóa, ngoài da thì sẽ không được làm việc đạt 100%, 100% họ cho biết phải nghỉ làm để điều trị cho khỏi mới tiếp tục công việc [40]

Tác giả Hứa Khắc Sương Linh tiến hành nghiên cứu phỏng vấn kiến thức

và quan sát thực hành NVCD tại 26 trường mầm non trên địa bàn quận 11, thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 5-8/2013 với 97 đối tượng cho thấy tỷ lệ NVCD có kiến thức chung đúng về “Năm chìa khoá cho an toàn thực phẩm” chiếm 53%, trong đó tỷ lệ trả lời đúng thấp nhất là nội dung kiến thức về dung nước sạch và thực phẩm tươi sạch Tỷ lệ nhân viên có thực hành đúng khá cao chiếm 88,3% [33]

Nghiên cứu của Huỳnh Công Bình năm 2014 cho kết quả có 01 bếp ăn tập thể không đạt các điều kiện về VSATTP, trong đó nội dung không đạt là bếp ăn không được thiết kế và tổ chức theo nguyên tắc một chiều Tỷ lệ nhân viên có kiến thức đúng là 26,3%, thực hành đúng là 89,5% Những người có trình độ cấp

3 trở lên có kiến thức đúng về VSATTP cao hơn người có trình độ từ cấp 1 trở xuống Những người có tuổi nghề trên 5-10 năm có kiến thức đúng và thực hành đúng cao hơn người chỉ mới vào làm dưới 1 năm Những người làm công tác sơ

Trang 28

chế, nấu nướng hoặc quản lý bếp có kiến thức đúng và thực hành đúng về VSATTP cao hơn người làm công tác phục vụ, các sự khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê với p<0,05[1]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mười và cộng sự cho thấy chỉ có 28,2% BATT đạt các điều kiện về VSATTP Tỷ lệ nhân viên chế biến có kiến thức đúng về VSATTP là 22,5% Các nội dung kiến thức phần lớn người chế biến sai gồm kiến thức về vệ sinh cá nhân, vệ sinh trong chế biến, phân chia và bảo quản thực phẩm, vệ sinh trong khu vực chế biến và lưu mẫu Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những bếp ăn hợp đồng nấu có tỷ lệ đạt quy định về điều kiện con người cao hơn bếp tự tổ chức nấu Có mối liên quan giữa kiến thức vệ sinh trong khu vực chế biến với giới tính, thời gian làm việc tại bếp và thời gian làm việc trong nghề (với p<0,05) Trong đó, nam có kiến thức đúng cao hơn nữ Người chế biến làm việc tại BATT khảo sát ≥ 3 năm có kiến thức đúng cao hơn người làm dưới 1 năm Những người có thời gian làm việc trong nghề ≥ 5 năm có kiến thức đúng cao hơn người làm dưới 5 năm Ngoài ra, có mối liên quan giữa kiến thức lưu mẫu thức ăn với nhóm tuổi, thời gian làm việc trong nghề và tập huấn kiến thức VSATTP (với p<0,05) Những người có độ tuổi từ 35 trở lên có kiến thức đúng về lưu mẫu cao hơn người dưới 35 tuổi Người đã từng tham gia tập huấn có kiến thức đúng cao hơn người chưa từng tham gia tập huấn [35]

Nghiên cứu của Đào Thị Thanh Thuỷ năm 2015cho thấy tỷ lệ người chế biến có kiến thức đúng là 72,7% trong đó tỷ lệ người chế biến biết được tác hạ của thực phẩm ô nhiễm gây bệnh mãn tính là 70,5%, người chế biến có thực hành đúng là 63,6% Trong đó người chế biến chưa tham gia tập huấn kiến thức

là 19,7%, có 36,4% người chế biến chưa khám sức khoẻ định kỳ [45]

Nghiên cứu của Dư Nguyễn Đại Nam [36] Nghiên cứu cắt ngang tiến hành trên cán bộ quản lý bếp ăn tập thể trường học cho thấy: Cán bộ quản lý bếp

ăn có kiến thức chưa đầy đủ về an toàn thực phẩm (ATTP), các kiến thức khảo sát có tỷ lệ đúng còn thấp: về các điều kiện đảm bảo ATTP (75,6%), sử dụng nguồn nước (38,4%), khám sức khỏe (69,7%), các bệnh không được phép tiếp xúc với thực phẩm (61,1%), kiểm soát nguồn nguyên liệu thực phẩm (78,9%),

Trang 29

lưu mẫu thực phẩm (83,3%) Có 93,9% người quản lý trả lời đúng 4 nguyên nhân cơ bản gây ra ngộ độc thực phẩm (NĐTP), nhưng các kiến thức đúng về yếu tố liên quan đến NĐTP chưa cao: về các nguy cơ gây NĐTP (83,3%), các triệu chứng mắc phải khi bị NĐTP (80,5%) Nghiên cứu cũng cho thấy người quản lý bếp ăn tập thể có kiến thức đúng chiếm tỷ lệ cao về cấp giấy chứng nhận

cơ sở đủ điều kiện ATTP (100%), sử dụng phụ gia thực phẩm (92,8%)

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Đạt năm 2015 cho thấy tỷ lệ BATT đạt chuẩn chung về ATVSTP là 13,9%, trong đó đạt yêu cầu về Hồ sơ pháp lý là 50,0%, vệ sinh cơ sở vật chất là 16,7%, vệ sinh đối với dụng cụ sơ chế, chế biến

là 25,0%, vệ sinh nhân viên chế biến đạt 50,0%, vệ sinh thực phẩm là 61,1% Tỷ

lệ người quản lý bếp ăn có kiến thức và thực hành chung đúng về an toàn thực phẩm đạt lần lượt là 52,8% và 55,6% Có mối liên quan giữa kiến thức chung đúng, loại hình bếp ăn và quy mô bếp ăn với thực hành chung đúng về ATVSTP của người quản lý Vì vậy, cần tăng cường hơn nữa công tác thanh, kiểm tra ATVSTP tại các BATT, đặc biệt là tại các bếp có loại hình tự nấu hoặc quy mô nhỏ (<500 suất/ngày) Biên soạn các tài liệu tập huấn phù hợp với từng loại đối tượng, thành lập các đội tự quản kiểm tra công tác đảm bảo ATVSTP ngay tại các cơ sở [15]

Nghiên cứu của Nguyễn Công Hùng ở Hà Nội (2016) cho thấy rằng 69,9% người chế biến có kiến thức đạt; 65,2% người chế biến có thực hành đạt trong đó vệ sinh cá nhận đạt 74,4%; Thực hành bàn tay tốt đạt 70%, thực hành chế biến tốt đạt 75,7%, thực hành bảo quản tốt 53,3%, thực hành vận chuyển, phân phối thực phẩm tốt đạt 78,4% [23]

Nghiên cứu của Nguyễn Viết Điện cho thấy tỷ lệ BATT đạt các điều kiện

vệ sinh ATTP là 12,5%;đạt an toàn về vi sinh đối với thức ăn đã chế biến là 41,7% Tỷ lệ nhân viên chế biến đạt kiến thức chung đúng về ATTP là 4,1%, đạt thực hành chung đúng là 11,0% Những nhân viên có trình độ học vấn càng cao thì càng có kiến thức đúng về ATTP hơn những người có trình độ học vấn thấp (OR=2.15; KTC 95% (1,16-3,98)) [16]

Trang 30

Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình năm 2016 [2] cho kết quả 82,8% ĐTNC có kiến thức đúng về ATTP, tuy nhiên tỷ lệ người chế biến biết về bệnh khi mắc không được tiếp xúc với thực phẩm (viêm đường hô hấp cấp tính 62,7%); tác hại của của thực phẩm không an toàn (gây bạn mãn tính, suy gan, thận 32,1%) Về thực hành: 81,3% người có thực hành đúng về ATTP Tỷ lệ người chế biến chưa khám sức khoẻ định kỳ hàng năm chiếm tới 23,9%; che đậy thức ăn chín không đúng (33,6%)

Nghiên cứu của Lưu Quốc Toản năm 2017 cho kết quả tỷ lệ các bếp ăn tập thể đạt yêu cầu các điều kiện an toàn thực phẩm là 56,2% Tỷ lệ nhân viên nhà bếp có thực hành đúng về an toàn thực phẩm là 69,1% Trong nghiên cứu, nhân viên nhà bếp tại bếp ăn có phục vụ cán bộ văn phòng có thực hành đúng về

an toàn thực phẩm tốt hơn nhân viên nhà bếp làm việc tại các bếp ăn chỉ phục vụ đối tượng là công nhân (p<0,05) Từ kết quả nghiên cứu cho thấy cần tăng cường giám sát chặt chẽ việc duy trì các điều kiện an toàn thực phẩm của bếp ăn tập thể vì hầu hết các bếp ăn tập thể trong nghiên cứu đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm [46]

Nghiên cứu của Trần Thị Hải năm 2018 tại Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ đối tượng có kiến thức và thực hành về an toàn thực phẩm đạt chưa cao: 50,5% đối tượng có kiến thức đạt, 61,5% đối tượng có thực hành đạt [19]

Nghiên cứu của Trần Hữu Thọ năm 2018 cho thấy kiến thức ATTP của người chế biến tại BATT trong nghiên cứu chưa cao 67,5% Trong đó, kiến thức chung về ATTP và kiến thức quy định pháp luật về ATTP của NCB đều đạt tỷ lệ 67,5% Nhóm kiến thức về chọn thực phẩm và bảo quản thực phẩm đạt tỷ lệ thấp nhất (54,8%) Về thực hành ATTP, các ĐTNC có tỷ lệ đạt thực hành tương đối cao 88,1% Trong đó nhóm thực hành của NCB ATTP về vệ sinh bếp, rác thải của NCB đạt cao (96,8%) và nhóm thực hành vệ sinh cá nhân của NCB đạt

tỷ lệ thấp nhất 55,6% [44]

1.4 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến thực phẩm

Trang 31

Nghiên cứu của Đỗ Thị Tân và cộng sự tìm được một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành về ATTP của người chế biến như sau: Nhân viên có tuổi nghề từ 1-5 năm thực hành đúng về ATTP chỉ bằng 0,5 lần so với nhân viên

có tuổi nghề dưới 1 năm Nhân viên có kiến thức đúng về NĐTP có khả năng thực hành đúng về ATTP cao gấp 1,7 lần so với nhân viên có kiến thức không đúng Nhân viên có kiến thức đúng chung về ATTP có khả năng thực hành đúng

về ATTP cao gấp 1,7 lần so với nhân viên có kiến thức không đúng [43]

Nghiên cứu của Đỗ Thị Thu Trang năm 2009 tìm được yếu tố đến kiến thức và thực hành là trình độ học vấn và tập huấn kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm [48]

Nghiên cứu của Trương Thị Lan Hương cho thấy Người chế biến có tuổi nghề dưới 10 năm thấp hơn 3,2 lần người có tuổi nghề trên 10 năm về điểm điểm kiến thức chung Người có tuổi nghề trên 10 năm có kiến thức về ATTP đạt cao gấp 4,4 lần so với những người có tuổi nghề dưới 1 năm [25]

Nghiên cứu tại các trường mầm non trên địa bàn quận 11, thành phố Hồ Chí Minh tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức với thời gian làm việc, giữa thực hành với loại hình hoạt động của trường, giữa kiến thức chung với thực hành [33]

Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình cho thấy những người chế biến từ 40 tuổi trở xuống có kiến thức về ATTP đạt cao gấp 9,7 lần so với những người trên 40 tuổi, OR=9,7; p,0,05 Những người chế biến có thời gian công tác trên 5 năm có kiến thức về ATTP đạt cao gấp 8,3 lần so với những người có thời gian công tác từ 5 năm trở xuống, OR=8,3, p<0,05 Những người chế biến từ 40 tuổi trở xuống có thực hành về ATTP đạt cao gấp 5,4 lần so với những người trên 40 tuổi, OR=5,4, p<0,05 [2]

Nghiên cứu của Trần Thị Hải tìm thấy một số yếu tố liên quan đến kiến thức an toàn thực phẩm: Kiến thức đạt ở đối tượng có trình độ học vấn trên THPT cao gấp 3,50 lần (95%CI: 1,06-13,34) so với đối tượng dưới THPT; được đào tạo về chuyên môn nấu ăn có kiến thức cao gấp 3,49 lần (95%CI: 1,59-7,69)

so với nhóm không được đào tạo, mối liên quan có ý nghĩa thống kê với p<0,05

Trang 32

Nghiên cứu cũng tìm thấy một số yếu tố liên quan đến thực hành an toàn thực phẩm: Thực hành về an toàn thực phẩm đạt ở đối tượng được đào tạo chuyên môn về nấu ăn cao gấp 4,27 lần (95%CI: 1,74-10,66) so với nhóm có không được đào tạo; Đối tượng có thời gian làm việc trong BĂTT 5-10 năm cao gấp 6,50 lần (95%CI: 1,28-33,03) so với nhóm làm dưới 01 năm; đối tượng có kiến thức chung về an toàn thực phẩm cao gấp 3,75 lần (95%CI: 1,54-9,31) so với nhóm có kiến thức chưa đạt, mối liên quan có ý nghĩa thống kê với p<0,05 [19]

1.5 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu

Quận Cầu Giấy được thành lập theo Nghị định số 74-CP ngày 22/11/1996 của Chính Phủ và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/9/1997; phía Đông giáp quận Đống Đa và quận Ba Đình, phía Tây giáp hai quận NamTừ Liêm và Bắc Từ Liêm, phía Nam giáp quận Thanh Xuân và phía Bắc giáp quận Tây Hồ Khi mới thành lập Quận Cầu Giấy có 7 đơn vị hành chính bao gồm toàn bộ diện tích đất tự nhiên và dân số của 4 thị trấn: Cầu Giấy, Nghĩa Đô, Nghĩa Tân, Mai Dịch và 3 xã: Dịch Vọng, Yên Hòa, Trung Hòa thuộc huyện Từ Liêm; diện tích đất tự nhiên của Quận là 1.210,07ha, với 82.900 người Ngày 05/01/2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 02/2005/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính, phường Dịch Vọng Hậu được thành lập trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính và dân số của hai phường Quan Hoa và Dịch Vọng, từ ngày 01/4/2005, phường Dịch Vọng Hậu chính thức đi vào hoạt động Từ đó đến nay quận có 8 phường: Phường Dịch Vọng, phường Mai Dịch, phường Nghĩa Đô, phường Nghĩa Tân, phường Quan Hoa, phường Trung Hòa, phường Yên Hòa, phường Dịch Vọng Hậu.Tính đến tháng 01/2018 dân số của Quận là 269.637 ngườiQuận Cầu Giấy là quận có tốc độ đô thị hóa nhanh, với tổng số 120 trường học đóng trên địa bàn trong đó có 24 Trường tiểu học với 22 bếp ăn tập thể

Trang 34

1.6 Khung lý thuyết nghiên cứu

- Thời gian công tác

KIẾN THỨC ATTP CỦA NGƯỜI CHẾ BIẾN

- Kiến thức về an toàn thực phẩm, ngộ độc thực phẩm, ô nhiễm thực phẩm

- Kiến thức về vệ sinh trong khâu chế biến, bảo quản thực phẩm

- Kiến thức về vệ sinh nơi chế biến, thu gom, xử lý rác, chất thải

- Thông tin, giáo dục,

truyền thông về ATTP

THỰC HÀNH ATTP CỦA NGƯỜI CHẾ BIẾN

- Trang bị bảo hộ lao động

- Vệ sinh cá nhân (rửa tay, cắt móng tay, đeo trang sức…)

- Thực hành trong lựa chọn, chế biến, sử dụng và bảo quản thực phẩm

- Thực hành giữ vệ sinh nơi chế biến, xử lý thu gom rác

Trang 35

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu : Người chế biến thực phẩm tại bếp ăn tập thể các

trường tiểu học quận Cầu Giấy, Hà Nội

- Tiêu chuẩn lựa chọn

+ Người chế biến thực phẩm tại bếp ăn tập thể các trường tiểu học quận Cầu Giấy có tổ chức nấu ăn

+ Đối tượng tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu

+ Đối tượng có khả năng giao tiếp và trả lời bình thường

- Tiêu chuẩn loại trừ

+ Người chế biến thực phẩm tại các trường tiểu học có tổ chức ăn bán trú cho học sinh nhưng không nấu tại trường mà nhập suất ăn sẵn từ nơi khác

+ Người không tình nguyện tham gia vào nghiên cứu

+ Người không có khả năng giao tiếp

2.1.2.Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu từ tháng 03/2019 đến tháng 06/2019

- Địa điểm nghiên cứu : Tất cả các trường tiểu học có tổ chức nấu ăn bán trú

cho học sinh trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

- Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

Chọn toàn bộ người chế biến thực phẩm tại các bếp ăn tập thể trường tiểu học có tổ chức nấu ăn bán trú trên địa bàn quận Cầu Giấy Trên địa bàn quận có tổng số 22 trường tiểu học đáp ứng có tổ chức nấu ăn bán trú với tổng số 238 người chế biến thực phẩm

Trang 36

2.3 Biến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá

2.3.1 Biến số và chỉ số trong nghiên cứu

Bảng 2.1 Bảng biến số, chỉ số

thu thập THÔNG TIN CHUNG

Tuổi Tỷ lệ/ số lượng ĐTNC theo nhóm tuổi

sơ cấp, sơ cấp, trung cấp, trên trung cấp nấu ăn)

Trang 37

TP không an toàn nguyên nhân gây ra TP không an toàn Tác hại của TP

không an toàn

Tỷ lệ/ số lượng ĐTNC trả lời đúng về tác hại của TP không an toàn

Đánh giá kiến thức

về TPAT

Tỷ lệ/ số lượng ĐTNC có kiến thức đạt

về TPAT

1.2 Kiến thức về lựa chon thực phẩm

Kiểm tra các tiêu

chí về nhãn khi

mua, sử dụng các

TP có nhãn

Tỷ lệ/ số lượng ĐTNC trả lời đúng về tiêu chí nhãn khi mua, sử dụng thực phẩm

Cách chọn thịt, tươi Tỷ lệ/ số lượng ĐTNC trả lời đúng về

cách chọn thịt tươi

Cách chọn cá tươi Tỷ lệ/ số lượng ĐTNC trả lời đúng về

cách chọn thịt cá tươi Đánh giá kiến thức

Thời điểm rửa tay Tỷ lệ/ số lượng ĐTNC trả lời đúng về

thời điểm rửa tay

Trang 38

các khâu của quá

trình chế biến có thể

làm cho thực phẩm

bị ô nhiễm

Tỷ lệ/ số lượng ĐTNC trả lời đúng các khâu của quá trình chế biến có thể làm cho TP bị ô nhiễm

Bảo quản thực phẩm

khi chưa chế biến

Tỷ lệ / số lượng ĐTNC kể đúng cách bảo quản thực phẩm khi chưa chế biến

Bảo quản thực phẩm

khi đã chế biến

nhưng chưa sử dụng

Tỷ lệ / số lượng ĐTNC kể đúng cách bảo quản thực phẩm khi đã chế biến nhưng chưa sử dụng

Biểu hiện của

NĐTP

Tỷ lệ/ số lượng ĐTNC trả lời đúng các biểu hiện của NĐTP

Xử trí khi có ngộ Tỷ lệ/ số lượng ĐTNC trả lời đúng cách

Trang 39

Yêu cầu của mẫu

lưu

Tỷ lệ/ số lượng ĐTNC trả lời đúng các yêu cầu của mẫu lưu

Thời gian lưu mẫu Tỷ lệ/ số lượng ĐTNC trả lời đúng thời

gian lưu mẫu Đánh giá kiến thức

2 Thực hành về ATTP

Sử dụng trang phục

khi chế biến TP

Tỷ lệ/ số lượng ĐTNC có sử dụng đúng trang phục khi chế biến thực phẩm

Phỏng vấn & quan sát

Móng tay Tỷ lệ/ số lượng ĐTNC có tình trạng

móng tay đã cắt ngắn

Phỏng vấn

& quan sát Đeo trang sức trong

khi chế biến thức ăn

Tỷ lệ/ số lượng ĐTNC không đeo trang sức khi chế biến TP

Phỏng vấn Quan sát

Rửa tay Tỷ lệ/ số lượng ĐTNC có thực hành rửa

tay đúng

Phỏng vấn Quan sát Thực hiện quy trình

chế biến thực phẩm

Tỷ lệ/ số lượng ĐTNC có thực hành đúng quy trình chế biến TP

Trang 40

Phỏng vấn

Cách bảo quản thức

ăn sau khi nấu chín

Tỷ lệ/ số lượng ĐTNC thực hành bảo quản thực phẩm sau khi nấu chín đúng

Phỏng vấn

Thực hiện chia thức

ăn cho trẻ

Tỷ lệ/ số lượng ĐTNC thực hành chia thức ăn cho trẻ đúng

Phỏng vấn

Lưu mẫu TP Tỷ lệ/ số lượng ĐTNC có lưu mẫu thực

phẩm

Phỏng vấn

Nơi lưu mẫu TP Tỷ lệ/ số lượng ĐTNC có thực hành về

nơi lưu mẫu thực phẩm đúng

Ngày đăng: 11/03/2021, 00:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Bảng biến số, chỉ số - Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.
Bảng 2.1. Bảng biến số, chỉ số (Trang 36)
Bảng 3.2.Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu (n=238) - Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.
Bảng 3.2. Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu (n=238) (Trang 45)
Bảng 3.1.Tuổi của đối tượng nghiên cứu (n=238) - Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.
Bảng 3.1. Tuổi của đối tượng nghiên cứu (n=238) (Trang 45)
Bảng 3.4. Khám sức khoẻ định kỳ của ĐTNC (n=238) - Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.
Bảng 3.4. Khám sức khoẻ định kỳ của ĐTNC (n=238) (Trang 47)
Bảng 3.6. Đánh giá kiến thức về thực phẩm an toàn (n=238) Đánh giá kiến thức về thực phẩm an toàn Số lượng  Tỷ lệ %  - Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.
Bảng 3.6. Đánh giá kiến thức về thực phẩm an toàn (n=238) Đánh giá kiến thức về thực phẩm an toàn Số lượng Tỷ lệ % (Trang 48)
Bảng 3.8. Kiến thức về các thông tin trên nhãn sản phẩm của đối tượng nghiên cứu (n =238)  - Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.
Bảng 3.8. Kiến thức về các thông tin trên nhãn sản phẩm của đối tượng nghiên cứu (n =238) (Trang 49)
Bảng 3.10. Kiến thức về các bệnh và triệu chứng mắc phải không được tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm của ĐTNC (n =238)  - Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.
Bảng 3.10. Kiến thức về các bệnh và triệu chứng mắc phải không được tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm của ĐTNC (n =238) (Trang 50)
Bảng 3.12. Thời điểm người chế biến cần phải rửa tay (n=238) - Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.
Bảng 3.12. Thời điểm người chế biến cần phải rửa tay (n=238) (Trang 51)
Bảng 3.13. Nguyên nhân ONTP trong quá trình chế biến (n=238) ONTP trong quá trình chế biến Số lượng  Tỷ lệ %  Quá trình chế biến có thể làm cho TP ô nhiễm  - Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.
Bảng 3.13. Nguyên nhân ONTP trong quá trình chế biến (n=238) ONTP trong quá trình chế biến Số lượng Tỷ lệ % Quá trình chế biến có thể làm cho TP ô nhiễm (Trang 51)
Bảng 3.14. Đánh giá kiến thức về chế biến TP an toàn của ĐTNC (n=238) Kiến thức về chế biến TP an toàn Số lượng Tỷ lệ %  - Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.
Bảng 3.14. Đánh giá kiến thức về chế biến TP an toàn của ĐTNC (n=238) Kiến thức về chế biến TP an toàn Số lượng Tỷ lệ % (Trang 52)
Bảng 3.18. Kiến thức về nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm (n=238) Kiến thức về nguyên nhân gây ngộ độc Số lượng  Tỷ lệ %  - Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.
Bảng 3.18. Kiến thức về nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm (n=238) Kiến thức về nguyên nhân gây ngộ độc Số lượng Tỷ lệ % (Trang 54)
3.2.1.5. Kiến thức về ngộ độc thực phẩm của đối tượng nghiên cứu - Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.
3.2.1.5. Kiến thức về ngộ độc thực phẩm của đối tượng nghiên cứu (Trang 54)
Bảng 3.19. Kiến thức về xử trí khi ngộ độc thực phẩm của ĐTNC (n=238) Kiến thức về xử trí NĐTP Số lượng Tỷ lệ %  - Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.
Bảng 3.19. Kiến thức về xử trí khi ngộ độc thực phẩm của ĐTNC (n=238) Kiến thức về xử trí NĐTP Số lượng Tỷ lệ % (Trang 55)
Bảng 3.21. Kiến thức về loại mẫu thực phẩm, bệnh phẩm cần lưu khi ngộ độc thực phẩm xảy ra của ĐTNC (n =238)  - Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.
Bảng 3.21. Kiến thức về loại mẫu thực phẩm, bệnh phẩm cần lưu khi ngộ độc thực phẩm xảy ra của ĐTNC (n =238) (Trang 56)
Bảng 3.24. Thực hành vệ sinh cá nhân khi làm việc của ĐTNC (n=238) - Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.
Bảng 3.24. Thực hành vệ sinh cá nhân khi làm việc của ĐTNC (n=238) (Trang 57)
Bảng 3.27. Nơi sơ chế thực phẩm (nhặt rau, thái thịt…) (n=238) - Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.
Bảng 3.27. Nơi sơ chế thực phẩm (nhặt rau, thái thịt…) (n=238) (Trang 58)
Bảng 3.30. Thực hành vệ sinh sau khi chế biến thực phẩm (n=238) - Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.
Bảng 3.30. Thực hành vệ sinh sau khi chế biến thực phẩm (n=238) (Trang 59)
Bảng 3.29. Thực hành lưu mẫu thực phẩm, nơi lưu mẫu, thời gian lưu mẫu (n =238)  - Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.
Bảng 3.29. Thực hành lưu mẫu thực phẩm, nơi lưu mẫu, thời gian lưu mẫu (n =238) (Trang 59)
Bảng 3.32. Mối liên quan giữa tuổi, giới của nhân viên nhà bếp và kiến thức về an toàn thực phẩm (n =238)  - Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.
Bảng 3.32. Mối liên quan giữa tuổi, giới của nhân viên nhà bếp và kiến thức về an toàn thực phẩm (n =238) (Trang 61)
Bảng 3.33. Mối liên quan giữa trình độ học vấn, trình độ chuyên môn của nhân viên nhà bếp và kiến thức về an toàn thực phẩm (n =238)  - Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.
Bảng 3.33. Mối liên quan giữa trình độ học vấn, trình độ chuyên môn của nhân viên nhà bếp và kiến thức về an toàn thực phẩm (n =238) (Trang 61)
Bảng 3.35. Mối liên quan giữa tập huấn kiến thức của nhân viên nhà bếp với kiến thức về an toàn thực phẩm (n =238)  - Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.
Bảng 3.35. Mối liên quan giữa tập huấn kiến thức của nhân viên nhà bếp với kiến thức về an toàn thực phẩm (n =238) (Trang 62)
Bảng 3.34. Mối liên quan giữa kinh nghiệm làm việc của nhân viên nhà bếp với kiến thức về an toàn thực phẩm (n =238)  - Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.
Bảng 3.34. Mối liên quan giữa kinh nghiệm làm việc của nhân viên nhà bếp với kiến thức về an toàn thực phẩm (n =238) (Trang 62)
Bảng 3.36. Mối liên quan giữa nơi làm việc của nhân viên nhà bếp với kiến thức về an toàn thực phẩm (n =238)  - Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.
Bảng 3.36. Mối liên quan giữa nơi làm việc của nhân viên nhà bếp với kiến thức về an toàn thực phẩm (n =238) (Trang 63)
Bảng 3.38. Mối liên quan giữa thông tin chung của nhân viên nhà bếp với thực hành về an toàn thực phẩm (n =238)  - Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn các trường tiểu học quận Cầu Giấy Hà Nội năm 2019.
Bảng 3.38. Mối liên quan giữa thông tin chung của nhân viên nhà bếp với thực hành về an toàn thực phẩm (n =238) (Trang 64)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w