Để xác định được mối liên quan giữa một số yếu tố và kiến thức, thực hành tiêm đầy đủ và đúng lịch vắc xin sởi cho trẻ dưới 2 tuổi của người mẹ, trong nghiên cứu này, chúng tôi đã thu th[r]
Trang 1i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
TRẦN NGỌC TUÂN
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH TIÊM VẮC XIN SỞI CỦA BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 2 TUỔI TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI NĂM 2020 VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Hà Nội 10/ 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
KHOA: KHOA HỌC SỨC KHỎE
YẾU TỐ LIÊN QUAN
Chuyên ngành: Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số: 8.72.07.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HỒ THỊ MINH LÝ
Trang 3hầu – Ho gà – Uốn ván – viêm gan B – viêm màng não mủ, viêm phổi do Haemophilus influenza týp B
rubella)
Liên Hiệp Quốc)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu, tôi xin trân trọng cảm
ơn tới:
- Ban Giám hiệu trường Đại học Thăng Long
- Phòng Sau đại học – Đại học Thăng Long
- Bộ môn Y tế công cộng – Đại học Thăng Long
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Hồ Thị Minh Lý, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo, các anh/ chị/ em đồng nghiệp nơi tôi công tác đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, làm việc và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè đã quan tâm động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Học viên
Trần Ngọc Tuân
Trang 5v
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Trần Ngọc Tuân
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, do chính bản thân tôi thực hiện, tất cả các số liệu trong luận văn này là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Nếu có điều gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Học viên
Trần Ngọc Tuân
Trang 6MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1.Bệnh sởi 3
1.1.1 Giới thiệu về bệnh sởi 3
1.1.2 Tình hình bệnh sởi 3
1.2 Vắc xin phòng bệnh sởi và lịch tiêm chủng 8
1.3.Một số nghiên cứu liên quan 14
1.4 Thông tin về địa bàn nghiên cứu 17
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1.Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
2.3 Thiết kế nghiên cứu 21
2.4.Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 21
2.5 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 23
2.6 Các biến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chí đánh giá 23
2.6.1 Các biến số, chỉ số nghiên cứu 24
2.6.2 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá: 31
2.7 Xử lý, phân tích số liệu 32
2.8 Sai số và cách khắc phục 33
2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 33
2.10 Các hạn chế của nghiên cứu: 34
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 35
3.1.1 Một số thông tin về trẻ 35
Trang 7vii
3.1.2 Một số thông tin về mẹ 36
3.1.3 Một số thông tin về tình trạng gia đình của trẻ 37
3.1.4 Một số thông tin về dịch vụ y tế 39
3.1.5 Thông tin, truyền thông 40
3.2 Kiến thức, thực hành tiêm đầy đủ và đúng lịch vắc xin sởi cho trẻ của mẹ 43
3.2.1 Kiến thức về tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch vắc xin sởi cho trẻ của mẹ 43
3.2.2 Thực hành của người mẹ về tiêm đầy đủ và đúng hạn vắc xin sởi cho trẻ 48
3.3 Một số yếu tố liên quan đến thực hành tiêm đầy đủ vắc xin sởi cho trẻ của người mẹ 50
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 57
4.1 Thực trạng kiến thức, thực hành của bà mẹ có con dưới 2 tuổi về tiêm đầy đủ, đúng lịch vắc xin sởi cho trẻ tại huyện Thường Tín năm 2020. 57
4.1.1 Thực trạng kiến thức của bà mẹ có con dưới 2 tuổi về tiêm đầy đủ và đúng lịch vắc xin sởi cho trẻ tại huyện Thường Tín năm 2020 57
4.1.2 Thực trạng thực hành của bà mẹ có con dưới 2 tuổi về tiêm đầy đủ và đúng lịch vắc xin sởi cho trẻ tại huyện Thường Tín năm 2020 63
4.2 Một số yếu tố liên quan đến thực hành tiêm đầy đủ và đúng lịch vắc xin sởi cho trẻ dưới 2 tuổi của đối tượng nghiên cứu. 67
KẾT LUẬN 76
1 Thực trạng kiến thức, thực hành của bà mẹ có con dưới 2 tuổi về tiêm đầy đủ, đúng lịch vắc xin sởi cho trẻ tại huyện Thường Tín năm 2020. 76
2 Một số yếu tố liên quan đến thực hành tiêm đầy đủ và đúng lịch vắc xin sởi cho trẻ dưới 2 của đối tượng nghiên cứu. 76
KHUYẾN NGHỊ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Lịch tiêm chủng của trẻ em trong chương trình TCMR 12
Bảng 1.1 Tỷ lệ tiêm chủng của từng loại vắc xin tại huyện Thường Tín năm 2018 18
Bảng 2.1 Bảng biến số và chỉ số nghiên cứu 24
Bảng 3.1 Thông tin về giới tính của trẻ 35
Bảng 3.2 Thông tin về tình trạng bệnh lý của trẻ 35
Bảng 3.3 Thông tin về thứ tự của trẻ trong gia đình 36
Bảng 3.4 Một số thông tin về tuổi, dân tộc, tình trạng hôn nhân của người mẹ 36 Bảng 3.5 Nghề nghiệp của người mẹ 37
Bảng 3.6 Trình độ học vấn của bà mẹ 37
Bảng 3.7 Số con trong gia đình 37
Bảng 3.8 Tình trạng cư trú và thu nhập bình quân gia đình của đối tượng nghiên cứu 38
Bảng 3.9 Tiền sử mắc sởi của người mẹ 38
Bảng 3.10 Người quyết định vấn đề tiêm chủng cho trẻ trong gia đình 39
Bảng 3.11 Điểm tiêm chủng gần nhất với đối tượng nghiên cứu 39
Bảng 3.12 Đưa trẻ đến tiêm ở điểm tiêm chủng gần nhất 40
Bảng 3.13 Nguồn thông tin về bệnh sởi người mẹ được tiếp cận 41
Bảng 3.14 Nguồn thông tin về tiêm phòng bệnh sởi và vắc xin người mẹ được tiếp cận 41
Bảng 3.15 Nguồn thông tin có ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định cho trẻ đi tiêm 42
Bảng 3.16 Các nội dung về tiêm chủng người mẹ tiếp cận được 42
Bảng 3.17 Kiến thức của bà mẹ về đường lây truyền bệnh sởi 43
Bảng 3.18 Kiến thức của bà mẹ về triệu chứng của bệnh sởi 43
Trang 9ix
Bảng 3.19 Kiến thức của bà mẹ về biến chứng của bệnh 44
Bảng 3.20 Kiến thức của bà mẹ về biện pháp phòng bệnh sởi chủ động 44
Bảng 3.21 Kiến thức của bà mẹ về số mũi, thời điểm tiêm phòng sởi 45
Bảng 3.22 Kiến thức của bà mẹ về loại vắc xin tiêm phòng sởi 45
Bảng 3.23 Kiến thức của bà mẹ về phản ứng phụ thường gặp sau tiêm phòng sởi 46
Bảng 3.24 Kiến thức của người mẹ về khả năng mắc bệnh sởi ở trẻ đã được tiêm một mũi sởi 46
Bảng 3.25 Đánh giá kiến thức của bà mẹ về tiêm chủng vắc xin sởi đầy đủ và đúng lịch cho trẻ 47
Bảng 3.26 Thực hành của bà mẹ về tiêm vắc xin sởi mũi một cho trẻ 48
Bảng 3.27 Thực hành tiêm vắc xin sởi mũi hai cho trẻ của người mẹ 49
Bảng 3.28 Mối liên quan giữa tuổi và kiến thức về tiêm vắc xin sởi đầy đủ và đúng lịch cho trẻ của người mẹ 50
Bảng 3.29 Mối liên quan giữa trình độ học vấn đến kiến thức tiêm đầy đủ và đúng lịch vắc xin sởi cho trẻ của người mẹ 51
Bảng 3.30 Mối liên quan giữa tiền sử mắc bệnh sởi đến kiến thức tiêm đầy đủ và đúng lịch vắc xin sởi cho trẻ của người mẹ 51
Bảng 3.31 Mối liên quan giữa người quyết định việc cho trẻ tiêm đến kiến thức tiêm đầy đủ và đúng lịch vắc xin sởi cho trẻ của người mẹ 51
Bảng 3.32 Mối liên quan giữa số con đến kiến thức tiêm đầy đủ và đúng lịch vắc xin sởi cho trẻ của người mẹ 52
Bảng 3.33 Mối liên quan giữa nghề nghiệp và kiến thức của người mẹ về tiêm vắc xin sởi đầy đủ, đúng lịch cho trẻ 52
Bảng 3.34 Mối liên quan giữa một số đặc điểm của trẻ và thực hành tiêm đầy đủ và đúng lịch vắc xin sởi cho trẻ của người mẹ 53
Trang 10Bảng 3.35 Mối liên quan giữa một số đặc điểm cá nhân đến thực hành tiêm đầy
đủ và đúng lịch vắc xin sởi cho trẻ của người mẹ 54 Bảng 3.36 Mối liên quan giữa số con, tiền sử mắc sởi, người quyết định tiêm chủng cho trẻ và thực hành tiêm vắc xin sởi đầy đủ, đúng lịch cho trẻ của người
mẹ 55 Bảng 3.37 Mối liên quan giữa tiếp cận dịch vụ y tế và thực hành tiêm vắc xin sởi đầy đủ và đúng lịch cho trẻ của người mẹ 56
Trang 11xi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Tình hình bệnh sởi tại Việt Nam từ năm 2008 – 2017 ………….5 Biểu đồ 1.2 Tình hình bệnh sởi tại Hà Nội từ năm 2000 – 2017 6 Biểu đồ 1.3 Phân bố ca mắc sởi trong năm 2017 theo tiền sử tiêm chủng 7 Biểu đồ 1.4 Tình hình bệnh sởi tại huyện Thường Tín 7 Biều đồ 1.5 Báo cáo toàn cầu về số ca mắc sởi và độ bao phủ 1 mũi vắc xin sởi giai đoạn 1980 – 2016 10 Biểu đồ 1.6 Số quốc gia áp dụng lịch tiêm sởi mũi 2 và độ bao phủ 2 mũi vắc xin sởi toàn cầu giai đoạn 2000 – 2016 11 Biểu đồ 1.7: Tỷ lệ tiêm vắc xin sởi và tỷ lệ mắc sởi tại Việt Nam, Giai đoạn 1984-2012 13 Biểu đồ 3.1 Đánh giá kiến thức của bà mẹ về bệnh sởi 44 Biểu đồ 3.2 Đánh giá kiến thức của bà mẹ về tiêm vắc xin phòng sởi 47 Biểu đồ 3.3 Đánh giá thực hành tiêm vắc xin phòng sởi đúng và đủ cho trẻ của người mẹ 50
Trang 12Tại Việt Nam, Chương trình Tiêm chủng mở rộng được chính thức triển khai từ năm 1985 với sáu mũi vắc xin cơ bản cho tất cả trẻ em dưới một tuổi, trong đó có vắc xin phòng bệnh sởi Từ đó đến nay, vắc xin sởi được triển khai tiêm chủng theo lịch cho trẻ với hai mũi vắc xin lúc 9 tháng và lúc 18 tháng tuổi Đồng thời triển khai các chiến dịch phòng bệnh sởi cho trẻ ở những vùng có nguy cơ cao và trên phạm vi toàn quốc [33]
Tổ chức Y tế khu vực Tây Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam, từ năm
2005 đã đưa ra mốc thời gian loại trừ sởi của Khu vực vào năm 2012 Do tình hình thực tế khó khăn nên mốc thời gian đã được dịch chuyển sang năm 2017 [23], tuy nhiên đến thời điểm hiện tại chúng ta vẫn chưa đạt được mục tiêu này Năm 2014 vụ dịch sởi tại Hà Nội đã làm 1.741 trường hợp mắc với 14 trường hợp tử vong Đến 2017, số mắc có xu hướng tăng so với 2 năm trước Tính đến ngày 12/11/2017 đã có 63 trường hợp mắc, 1 trường hợp tử vong, tăng
61 trường hợp mắc so với cùng kỳ năm 2016 (2/0) Trong 63 trường hợp mắc sởi tại Hà Nội năm 2017 có đến 85% trường hợp chưa được tiêm vắc xin và 14% mới được tiêm một mũi vắc xin sởi [27]
Tại huyện Thường Tín vụ dịch sởi năm 2014 cũng có tới 47 trường hợp mắc , phân bố tại 29/29 xã, thị trấn, trong đó có 02 trường hợp tử vong có liên
Trang 13có tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cao với các loại vắc xin qui định trong chương trình tiêm chủng mở rộng, trong đó tỷ lệ tiêm vắc xin sởi mũi 1 cho trẻ đủ 9 -12 tháng tuổi luôn đạt từ 98% - 99% Tuy nhiên do Thường Tín là huyện ngoại thành có điều kiện kinh tế khá nên tỷ lệ người dân đưa trẻ đi tiêm chủng dịch vụ ngày càng cao trong khi chưa có sự thống nhất giữa lịch tiêm chủng mở rộng (tiêm vắc xin sởi đơn lúc trẻ 9 tháng tuổi và tiêm vắc xin sởi – rubella khi trẻ đủ
18 tháng tuổi) và tiêm dịch vụ vắc xin sởi – quai bị - rubella (bắt đầu khi trẻ 12 tháng tuổi và nhắc lại một mũi sau 4 – 6 năm) nên nhiều trẻ mất cơ hội tiêm đủ hai mũi sởi sớm cho trẻ trước hai tuổi Việc tiêm chủng đầy đủ cho trẻ phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức và sự hiểu biết về bệnh cũng như vắc xin phòng bệnh của bố, mẹ và những người trực tiếp chăm sóc trẻ Do vậy chúng tôi thực hiện
nghiên cứu về “Kiến thức, thực hành tiêm vắc xin sởi của bà mẹ có con dưới 2 tuổi tại huyện Thường Tín, Hà Nội năm 2020 và một số yếu tố liên quan”
nhằm mong muốn đề xuất được những giải pháp nâng cao hơn nữa tỷ lệ tiêm đầy đủ và đặc biệt tỷ lệ tiêm đúng lịch vắc xin sởi, đưa ra những khuyến nghị phù hợp để tiến tới cùng Hà Nội loại trừ bệnh sởi trong thời gian sớm nhất
Mục tiêu nghiên cứu:
1 Đánh giá kiến thức, thực hành của bà mẹ có con dưới 2 tuổi về tiêm đầy
đủ, đúng lịch vắc xin sởi cho trẻ tại huyện Thường Tín, Hà Nội năm 2020
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành tiêm đầy đủ
và đúng lịch vắc xin sởi cho trẻ dưới 2 của đối tượng nghiên cứu
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Bệnh sởi
1.1.1 Giới thiệu về bệnh sởi
Sởi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút sởi gây ra Biểu hiện của bệnh bao gồm: sốt, phát ban và viêm long đường hô hấp, xuất hiện các hạt nhỏ màu trắng (Koplik) ở niêm mạc miệng Bệnh sởi có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm tai giữa, viêm phổi, tiêu chảy, khô loét giác mạc mắt, thậm chí có thể viêm não dễ dẫn đến tử vong, bệnh đặc biệt nghiêm trọng ở trẻ nhỏ, trẻ suy dinh dưỡng Bệnh sởi rất dễ lây lan và thường gây thành dịch Trước đây hầu hết trẻ em đều mắc sởi Việc triển khai rộng rãi tiêm vắc xin sởi trong nhiều năm đã khống chế thành công bệnh sởi
Tác nhân gây bệnh là vi rút sởi, là một loại vi rút ARN thuộc chi Morbilivirus, họ Paramyxoviridae Người là ổ chứa duy nhất Thời kỳ ủ bệnh kéo dài từ 7 – 18 ngày, trung bình 10 ngày Thời kỳ lây truyền từ 5 ngày trước cho tới 5 ngày sau phát ban Bệnh chủ yếu lây qua đường hô hấp do hít phải các dịch tiết mũi họng của bệnh nhân bắn ra được khuếch tán trong không khí hoặc tiếp xúc trực tiếp với chất tiết đường mũi họng của bệnh nhân Bệnh sởi có tốc
độ lây nhiễm rất cao, đặc biệt trong điều kiện sống khép kín thì hầu hết những người chưa có miễn dịch đều có thể bị mắc bệnh; miễn dịch có được sau mắc bệnh hoặc sau tiêm vắc xin bền vững; miễn dịch của mẹ truyền cho con có thể bảo vệ trẻ trong vòng 6 đến 9 tháng sau khi ra đời [2]
1.1.2 Tình hình bệnh sởi
Trên thế giới:
Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trước khi có vắc xin sởi (1963) trung bình mỗi năm có khoảng 2,6 triệu trường hợp tử vong sởi và trung bình cứ 2-3 năm lại xảy ra dịch lớn Giai đoạn 2000-2017, ước tính vắc xin sởi
Trang 154
đã ngăn ngừa được khoảng 21,1 triệu trường hợp tử vong do sởi và giảm 80%
từ 545.000 trường hợp ước tính của năm 2000 xuống còn 110.000 trường hợp vào năm 2017 trên toàn thế giới [22] Trước những thành tựu đạt được sau khi triển khai tiêm vắc xin sởi, Tổ chức Y tế thế giới đã đặt mục tiêu loại trừ bệnh sởi tại cả 5 khu vực trên thế giới vào năm 2020, nhiều quốc gia trên thế giới đã đạt hoặc đang từng bước thực hiện mục tiêu loại trừ bệnh sởi đã đề ra, tuy nhiên trên thực tế bệnh sởi đã tăng trở lại ở nhiều vùng trên thế giới, bao gồm
cả châu Âu, châu Phi, Bắc Mỹ và Nam Á từ năm 2008 tới nay với mức ảnh hưởng rộng khắp toàn cầu
Theo báo cáo của WHO đến ngày 30/9/2019, toàn cầu ghi nhận tổng cộng 423.963 trường hợp mắc sởi (bao gồm cả trường hợp sởi xác định bởi kết quả phòng xét nghiệm, lâm sàng và có liên quan dịch tễ học), tại tất cả các khu vực và vùng lãnh thổ Các khu vực mắc nhiều trong 9 tháng đầu năm 2019 bao gồm: khu vực Châu Phi (186.010 trường hợp), khu vực Châu Âu (97.527 trường hợp), khu vực Đông Nam Châu Á (67.604 trường hợp) và khu vực Tây Thái Bình Dương (49.396 trường hợp) Khu vực có số trường hợp mắc sởi thấp
là khu vực Châu Mỹ với 6.506 trường hợp sởi, tuy nhiên khu vực này chỉ công nhận những trường hợp mắc sởi được xác định bởi phòng xét nghiệm, do đó nếu xác định trường hợp sởi dựa trên cả 3 yếu tố như các khu vực khác thì số trường hợp mắc sởi được ghi nhận có thể sẽ lớn hơn nhiều So sánh với cùng kì năm 2018, số mắc sởi toàn cầu trong năm 2019 tăng 2,45 lần, trong đó khu vực Châu Phi tăng gấp 7,91 lần (188.010 trường hợp /23.753 trường hợp), khu vực Tây Thái Bình Dương tăng 2,69 lần (49.396 trường hợp /18.311 trường hợp) và khu vực Châu Âu tăng gần 2 lần (97.527 trường hợp /52.958 trường hợp)
Số mắc sởi tại Châu Phi tăng mạnh chủ yếu là do dịch sởi ở tại Madagascar kéo dài từ những tháng cuối năm 2018 sang năm 2019, cũng theo
số liệu thống kê của WHO, dịch sởi tại Madagascar bùng phát mạnh từ tháng
Trang 1611/2018 cho đến nay; chỉ tính riêng 9 tháng đầu năm 2019, Madagascar đã ghi nhận 127.520 trường hợp mắc sởi chiếm 67,8% tổng số trường hợp mắc sởi của cả Châu Phi Cũng theo số liệu thống kê của WHO, số mắc sởi tại khu vực Châu Âu tăng cao chủ yếu ở Ukraine Nếu tính cả năm 2018 số trường hợp mắc sởi ở nước này là trên 100.000 trường hợp, cao hơn cả số mắc của toàn khu vực Châu Âu trong năm 2019
Tại khu vực Tây Thái Bình Dương, Phillipines là nước có số trường hợp mắc sởi cao nhất, theo số liệu thống kê của WHO tính đến tháng 9 năm 2019,
số mắc sởi ở nước này là 39.129 trường hợp, chiếm 80% số trường hợp mắc sởi của toàn khu vực (gồm 37 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có Việt Nam)
Tại Việt Nam:
Biểu đồ 1.1 Tình hình bệnh sởi tại Việt Nam từ năm 2008 – 2017 [58]
Số ca mắc sởi tại Việt Nam trong 10 năm (từ 2008 – 2017) có giảm so với những năm trước đây, tuy nhiên diễn biến còn có những vụ dịch xảy ra với chu
kỳ khoảng 5 năm 1 lần Vụ dịch xảy ra gần đây nhất vào năm 2014, theo diễn biến tự nhiên của bệnh, nếu như lỗ hổng miễn dịch quần thể không được lấp
Trang 176
đầy bằng việc tiêm đầy đủ vắc xin sởi, rất có thể dịch sởi sẽ quay lại trong 1- 2
năm tới
Tại Việt Nam dịch sởi dịch sởi xuất hiện từ những tháng cuối năm của
năm 2018 tại một số tỉnh miền Bắc và miền Nam và lan rộng ra toàn quốc vào
năm 2019 Tính từ đầu năm 2019 đến hết tháng 10/2019, toàn quốc ghi nhận
trên 35.000 trường hợp sốt phát ban (SPB) nghi sởi, 03 trường hợp tử vong
(Hòa Bình, Sơn La và Hà Nam) và có gần 10.000 trường hợp sởi xác định bằng
kết quả xét nghiệm Bệnh sởi xuất hiện ở tất cả 63 tỉnh/thành phố trên cả nước,
trong đó có những tỉnh/thành có số trường hợp sốt phát ban/nghi sởi cao như
Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đắc Lắc [22]
Tại Hà Nội:
Biểu đồ 1.2 Tình hình bệnh sởi tại Hà Nội từ năm 2000 – 2017 [27]
Nằm trong bối cảnh chung của cả nước, tại Hà Nội, năm 2009 và năm
2014 là những năm xảy ra những vụ dịch sởi với số trường hợp mắc rất cao
(Biểu đồ 1.2) Năm 2017 số ca mắc có xu hướng tăng so với 2 năm trước
Năm 2018, Hà Nội có 571 trường hợp mắc sởi xác định, và 148 trường
hợp sốt phát ban không phải là sởi, kết quả cho thấy các yếu tố làm tăng khả
năng mắc sởi bao gồm các đối tượng không tiêm vắc xin phòng sởi [OR= 4,7
(2,7-7,2)]; tiêm chủng không đầy đủ [OR =3,7 (1,7-8,1)], tiếp xúc với trường
Trang 18hợp sốt phát ban nghi sởi trước đó [OR = 2,1 (1,2 -3,8)], có tiền sử nhập viện trước đó [OR = 6,5 (1,3-31,9)] và sinh sống tại khu vực nội thành (OR = 2,1 (1,01 – 4,6)][28] Để làm giảm nguy cơ mắc sởi cần phải tăng tỉ lệ tiêm chủng đầy đủ vắc xin sởi, phát hiện sớm các trường hợp nghi bệnh nhằm cách ly triệt
để và đặc biệt phải kiểm soát tốt lây chéo trong bệnh viện
Biểu đồ 1.3 Phân bố trường hợp mắc sởi trong năm 2017 theo tiền sử
tiêm chủng (n=63) [27]
Tại huyện Thường Tín:
Biểu đồ 1.4 Tình hình bệnh sởi tại huyện Thường Tín
Năm 2014 Thường Tín cũng là huyện có số trường hợp mắc sởi tăng vọt so với
Trang 198
toàn huyện không có trường hợp nào nhưng sang năm 2017 lại bắt đầu xuất hiện trở lại (1 trường hợp)
1.2 Vắc xin phòng bệnh sởi và lịch tiêm chủng
Vắc xin phòng bệnh sởi được phát triển vào những năm 1963 và nhanh chóng được thông qua Các chương trình tiêm chủng mở rộng do Chữ thập đỏ Hoa Kỳ, Tổ chức Liên hiệp quốc, Trung tâm Phòng chống và Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ (CDC), UNICEF và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra vào năm
2001 đã góp phần làm bệnh sởi trên toàn cầu và ở trẻ em giảm xuống còn 118.000 trường hợp vào năm 2008 [43]
Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới, trước khi có vắc xin sởi (1963) trung bình mỗi năm có khoảng 2,6 triệu trường hợp tử vong sởi và trung bình cứ 2-3 năm lại xảy ra dịch lớn Giai đoạn 2000-2017, ước tính vắc xin sởi đã ngăn ngừa được khoảng 21,1 triệu trường hợp tử vong do sởi và giảm 80% từ 545.000 trường hợp ước tính của năm 2000 xuống còn 110.000 trường hợp vào năm
2017 trên toàn thế giới Trước những thành tựu đạt được sau khi triển khai tiêm vắc xin sởi, Tổ chức Y tế thế giới đã đặt mục tiêu loại trừ bệnh sởi tại cả 5 khu vực trên thế giới vào năm 2020, nhiều quốc gia trên thế giới đã đạt hoặc đang từng bước thực hiện mục tiêu loại trừ bệnh sởi đã đề ra, tuy nhiên trên thực tế bệnh sởi đã tăng trở lại ở nhiều vùng trên thế giới, bao gồm cả châu Âu, châu Phi, Bắc Mỹ và Nam Á từ năm 2008 tới nay với mức ảnh hưởng rộng khắp toàn cầu [57]
Từ năm 2008, các chiến dịch tiêm vắc xin đã bị cắt giảm tài chính, làm cho bệnh truyền nhiễm tăng trở lại Theo WHO, mặc dù chi phí cho tiêm phòng sởi cho trẻ dưới 1 đô la Mỹ, dịch bệnh vẫn được báo cáo tại 30 quốc gia ở châu Phi cũng như tại Thái Lan, Bungari, Indonesia và Việt Nam Nước Anh cũng trải qua sự bùng phát của bệnh sau khi công bố bài báo vào năm 1998 một cách thiếu sót cho thấy có mối liên quan giữa vắc xin MMR và chứng tự kỷ Mặc dù
Trang 20sau đó bài báo và bằng y khoa của tác giả bị thu hồi, tình trạng tiêm chủng MMR của nước này vẫn chưa đạt được những kết quả như trước khi bài báo được công bố Các trường hợp mắc bệnh sởi đã tăng lên gấp 10 lần so với một thập niên trước đó [37]
Từ năm 1981, chương trình tiêm chủng mở rộng do WHO khuyến cáo tiêm một mũi vắc xin sởi đơn cho trẻ từ 9 tháng tuổi ở những quốc gia mà bệnh sởi là nguy cơ trong năm đầu đời [45] Chín tháng là độ tuổi thích hợp để vừa đảm bảo tính hiệu quả của vắc xin và ngăn chặn được những trường hợp mắc bệnh sớm [46]
Tuy nhiên, sau khi tiêm một liều, 85% trẻ chín tháng tuổi và chỉ khi tiêm liều thứ hai thì 95% trên mười hai tháng tuổi mới miễn nhiễm với bệnh sởi, do vậy đã có khuyến cáo tiêm hai mũi sởi cách nhau ít nhất một tháng để đảm bảo hiệu quả phòng bệnh [57] Hầu như tất cả những người không có miễn dịch sau một liều đơn đều đạt miễn dịch sau mũi thứ hai Tác dụng của vắc xin bệnh sởi kéo dài nhiều năm Khi tỷ lệ tiêm chủng trong vùng đạt trên 95% thì thường không còn bùng phát dịch nữa Tuy nhiên, dịch có thể tái phát nếu tỷ lệ tiêm chủng lại giảm [42]
Lịch tiêm chủng vắc xin sởi phụ thuộc vào cả dịch tễ học của từng địa phương, và các mục tiêu của chương trình cụ thể Lịch tiêm chủng sớm 2 mũi vắc xin sởi có thể phù hợp hơn đối với các khu vực có tỷ lệ lây truyền cao ở trẻ nhỏ Thông thường, liều đầu tiên được khuyến cáo tiêm khi trẻ 9 tháng khi kháng thể từ mẹ truyền cho trẻ đã suy yếu, liều thứ hai tốt nhất tiêm khoảng từ 6 tháng sau đó [41]
WHO khuyến cáo các quốc gia vẫn đang có bệnh sởi lưu hành áp dụng lịch tiêm sởi mũi 1 khi trẻ đủ 9 tháng và tiêm liều 2 khi trẻ 15-18 tháng tuổi Cung cấp lịch tiêm sởi mũi 2 cho trẻ em trong năm thứ hai của cuộc đời giảm tỷ lệ tích lũy trẻ nhạy cảm và nguy cơ bị bùng phát dịch, đảm bảo phòng bệnh sớm
Trang 2110
cho trẻ, làm chậm quá trình tích lũy số trẻ không có miễn dịch phòng bệnh và có thể chủng ngừa cùng các bệnh thông thường khác (ví dụ: vắc xin phòng bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván - DPT) Các quốc gia được khuyến khích đưa ra chính sách sàng lọc trẻ em trước khi đi học để bảo đảm rằng trẻ đã nhận được hai liều vắc xin sởi và bổ sung khi trẻ thiếu bất kỳ mũi vắc xin nào [56]
Vắc xin được dùng phổ biến hiện nay là vắc xin kết hợp 3 loại sởi – quai bị – rubella (MMR) CDC khuyến cáo trẻ em được tiêm hai liều vắcxin MMR, bắt đầu với liều đầu tiên từ 12 đến 15 tháng tuổi, và liều thứ hai từ 4 đến 6 tuổi Trẻ
vị thành niên và người lớn cũng được khuyến cáo nên được tiêm vắc xin MMR trong lịch sử tiêm chủng của mình [44] Các quốc gia phát triển như Châu Âu, Châu Úc cũng áp dụng lịch tiêm chủng sởi mũi 1 cho trẻ tương tự, tuy nhiên liều thứ hai trẻ được tiêm vắc xin MMRV (phòng bệnh sởi – quai bị – rubella – thủy đậu) khi trẻ 18 tháng
Biều đồ 1.5 Báo cáo toàn cầu về số ca mắc sởi và độ bao phủ 1 mũi vắc xin
sởi giai đoạn 1980 – 2016 [48]
Sau nhiều năm áp dụng lịch tiêm chủng sởi 1 mũi, nhiều quốc gia vẫn không thể loại trừ bệnh sởi, dù độ bao phủ với mũi 1 cao, hàng năm thế giới vẫn ghi nhận hàng trăm nghìn ca mắc, và việc tiêm mũi thứ 2 là cần thiết [52]
Trang 22Trên thế giới độ bao phủ mũi 2 vắc xin sởi vẫn còn thấp (khoảng 70%), chưa đạt mức khuyến cáo của WHO (trên 95%) để hướng đến mục tiêu loại trừ sởi [50]
Có thể nói chiến lược tiêm chủng sởi 2 mũi là rất đúng đắn để góp phẩn quyết định sự thành công cho mục tiêu loại trừ bệnh sởi Ngoài ra, việc này còn góp phần làm giảm chi phí trong công tác điều trị và phòng chống bệnh Một nghiên cứu tại nước Cộng hòa dân chủ Congo đã thiết lập mô hình ba chiến lược tiêm vắc xin và so sánh hiệu quả chi phí giữa các chiến lược với nhau trong giai đoạn giả định là 15 năm Kết quả cho thấy so với chiến lược 1 (chỉ MCV1), chiến lược 2 (MCV2 trong các chiến dịch bổ sung) sẽ ngăn ngừa được tổng cộng 5.808.750 trường hợp sởi, 156.836 ca tử vong do sởi và tiết kiệm
199 triệu đô la Mỹ
Biểu đồ 1.6 Số quốc gia áp dụng lịch tiêm sởi mũi 2 và độ bao phủ 2
mũi vắc xin sởi toàn cầu giai đoạn 2000 – 2016 [48]
So với chiến lược 1, chiến lược 3 (MCV2 trong tiêm chủng định kỳ) ngăn ngừa được tổng số 13.232.250 trường hợp sởi, 166.475 trường hợp tử vong do sởi và tiết kiệm 408 triệu đô la Mỹ [39]
Tại Việt Nam, Chương trình Tiêm chủng mở rộng (TCMR) bắt đầu được triển khai từ năm 1981 do Bộ Y tế khởi xướng với sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế
Trang 2312
thế giới và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc Chương trình có mục tiêu ban đầu là cung cấp dịch vụ tiêm chủng miễn phí cho trẻ em dưới 1 tuổi, bảo vệ trẻ khỏi mắc 6 loại bệnh truyền nhiễm phổ biến và gây tử vong cao như bệnh lao, bệnh bạch hầu, bệnh ho gà, bệnh uốn ván và bệnh sởi Sau một thời gian thí điểm, chương trình từng bước được mở rộng dần cả về địa bàn và đối tượng tiêm chủng Từ năm 1985 tới nay toàn bộ trẻ em dưới 1 tuổi trên toàn quốc đã có cơ hội được tiếp cận với Chương trình TCMR Sau khi có chủ trương đưa vắc xin mới phòng bệnh viêm phổi/viêm màng não mủ do vi khuẩn Haemophilus influenzae b (Hib) cũng như bổ sung các mũi tiêm nhắc của vắc xin sởi và vắc xin DPT vào chương trình, ngày 17/3/2010 Bộ Y tế có quyết định số 845/2010/QĐ-BYT thay đổi về lịch tiêm các vắc xin phòng bệnh viêm gan B, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, sởi và Hib (Bảng 1.1)
Bảng 1.1 Lịch tiêm chủng của trẻ em trong chương trình TCMR [1]
Trang 24Từ năm 2015, vắc xin sởi mũi 2 cho trẻ 18 tháng được thay thế bằng vắc xin sởi – rubella [5]
Hiện nay, chương trình TCMR tại Việt Nam sử dụng vắc xin sởi đơn cho trẻ
từ 9 tháng và vắc xin MR cho trẻ 18 tháng, ngoài ra dịch vụ tiêm chủng ngoài chương trình sử dụng vắc xin MMR Việc tiêm chủng mũi sởi đầu tiên cho trẻ lúc 9 tháng là vô cùng quan trọng Chính việc trì hoãn tiêm sởi cho trẻ 9 tháng tuổi làm cho số mắc trong độ tuổi này là đáng kể
Tỷ lệ mắc sởi của Việt Nam cũng liên tục giảm từ năm 1984 đến nay (từ 1.566,2/100.000 dân năm 1984 xuống 29,8/100.000 dân năm 2010, sau chiến dịch tiêm vắc xin sởi cho trẻ từ 1-5 tuổi trên toàn quốc cuối năm 2010 tỷ lệ mắc sởi tiếp tục giảm còn 8,6/100.000 năm 2011), đi cùng với tỷ lệ tăng dần của các mũi tiêm vắc xin sởi cho trẻ dưới 1 tuổi Liên tục trong 8 năm từ năm 2003, không ghi nhận ca tử vong do sởi trên toàn quốc
Biểu đồ 1.7 Tỷ lệ tiêm vắc xin sởi và tỷ lệ mắc sởi tại Việt Nam, giai
đoạn 1984-2012
Một nghiên cứu mô tả sử dụng thiết kế hồi cứu được thực hiện nhằm cung cấp thông tin về diễn biến và đặc điểm bệnh sởi trên toàn quốc trong các năm 2013-2014, kết quả cho thấy trong thời gian này, tại Việt Nam bệnh sởi tiếp tục
Trang 2514
diễn biến theo chu kỳ Dịch sởi lan truyền nhanh và xảy ra trên diện rộng với 17.000 ca mắc sởi trên toàn quốc Tỷ lệ mắc sởi trung bình hàng năm trong giai đoạn 2013-2014 là 9,35/100.000 dân Nhóm dưới 1 tuổi là nhóm có tỷ lệ mắc cao nhất (220,6/100.000 trẻ), tiếp theo là nhóm 1-4 tuổi (2/100.000 trẻ) trong năm 2014 Nhóm không tiêm chủng vắc xin sởi chiếm số ca mắc cao hơn 16,9 lần so với nhóm tiêm chủng đủ hai mũi [15]
Một nghiên cứu dịch tễ học mô tả đặc điểm tình hình bệnh sởi tại Hà Nội từ
2010 đến 2016 cho thấy trong 6 năm từ 2010 đến 2016 trên địa bàn thành phố
Hà Nội đã ghi nhận 1.820 trường hợp mắc sởi, 14 trường hợp tử vong trong đó năm 2014 ghi nhận số mắc cao nhất với 1.741 trường hợp chiếm 95,6% số trường hợp mắc cả 6 năm Nhóm tuổi chiếm tỷ lệ mắc cao là: Từ 15 tuổi trở lên chiếm 33,0%, dưới 1 tuổi là 32,4%, từ 1 đến 4 tuổi chiếm 25,4% Các nhóm khác chiếm tỷ lệ thấp (9,2%) Hầu hết các trường hợp mắc bệnh đều không được tiêm chủng hoặc tiêm chủng không đầy đủ (81,2%) [21]
1.3 Một số nghiên cứu liên quan
Trên thế giới
Việc chủng ngừa vắc xin sởi cho trẻ đã làm giảm đáng kể số ca mắc sởi trên toàn thế giới trong nhiều năm nay WHO khuyến cáo, cùng với việc giám sát phát hiện chặt chẽ các ca nghi ngờ, tiêm chủng là yếu tố quyết định để hướng tới mục tiêu loại trừ bệnh sởi Trong nhiều năm, số liệu này luôn được WHO quan tâm và thống kê, theo dõi một cách chặt chẽ Tuy nhiên tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ trong đó có vắc xin phòng sởi, dao động lớn ở các quốc gia khác nhau, điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó kiến thức và thực hành về tiêm chủng của các bà mẹ và người giám hộ trẻ đóng vai trò đặc biệt quan trọng
Tại Việt Nam
Trang 26Tại Việt Nam ít có những nghiên cứu tìm hiểu về thực trạng tiêm sởi riêng
lẻ và kiến thức của mẹ hoặc người chăm sóc trẻ về bệnh và cách phòng bệnh Tuy nhiên nhiều nghiên cứu về thực trạng tiêm chủng nói chung cũng chỉ ra rằng kiến thức của mẹ và gia đình trẻ cũng như một số yếu tố khác ảnh hưởng đến tình trạng tiêm chủng của trẻ
Nghiên cứu của Đinh Thị Diễm Thúy năm 2010 về kiến thức phòng ngừa bệnh sởi của thân nhân bệnh nhi tại khoa truyền nhiễm bệnh viện nhi đồng 2 cho thấy: trong 247 thân nhân của bệnh nhi sởi chỉ có 5,3% đối tượng được phỏng vấn có kiến thức chung đúng về bệnh sởi, trong đó chỉ có 2% trả lời đúng
về cách phòng bệnh Nghiên cứu cũng chỉ ra trong số 119 trẻ chưa được tiêm phòng sởi (48%) có đến 29,4% lý do là do cha mẹ quên, 13,4% là do cha mẹ bận việc không có thời gian đưa trẻ đi tiêm chủng Tuy nhiên nghiên cứu chưa phân tích các yếu tố liên quan giữa kiến thức về phòng ngừa bệnh và việc trẻ chưa được tiêm chủng [24]
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Cường và cộng sự năm 2012 tại tỉnh Sơn La cho thấy tỷ lệ trẻ được tiêm vắc xin sởi mũi 1 là 92,7% [6]
Nghiên cứu của Lê Hoảng Nam tại thành phố Ninh Bình năm 2012 cho thấy có 99,3% trẻ dưới 01 tuổi được tiêm vắc xin phòng sởi [18]
Nghiên cứu của Vũ Duy Kiên và cộng sự (2016) mô tả các xu hướng của
tỷ lệ bao phủ vắc xin sởi và mối liên hệ của họ với các đặc điểm kinh tế xã hội ở trẻ từ 12 đến 23 tháng tuổi ở Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2014 Dữ liệu được rút ra từ cuộc các cuộc điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ (MICS) tại Việt Nam trong năm 2000, 2006, 2011 và 2014 Những trẻ em thuộc các nhóm dân tộc thiểu số, có mẹ có trình độ học vấn thấp và thuộc nhóm nghèo nhất ít có khả năng được chủng ngừa sởi hơn nhóm trẻ em của các bà mẹ có trình độ học vấn cao hơn và thuộc về nhóm kinh tế xã hội giàu có nhất [40]
Trang 2716
Năm 2009, một nghiên cứu cắt ngang mô tả tiến hành trên 476 bà mẹ trong
60 cụm thuộc 12 xã, thị trấn huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau chỉ ra các yếu tố liên quan tới kết quả tiêm chủng như tuổi đời bà mẹ, nghề nghiệp, học vấn, kiến thức về mục đích tiêm chủng, lịch tiêm, phản ứng sau tiêm, thời gian tổ chức một đợt tiêm chủng, địa điểm tiêm chủng, các loại vắc xin cần tiêm; Thái độ về phản ứng sau tiêm chủng, sự thuận tiện của điểm tiêm, sự phục vụ của nhân viên y tế [16]
Nghiên cứu do một nhóm tác giả thuộc TTYT huyện Nam Đông – Thừa Thiên Huế năm 2011 sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 433 trẻ 1 tuổi và bà mẹ của các trẻ đó cho thấy 95,6% các bà mẹ đều biết lợi ích của việc tiêm chủng, nhưng số bà mẹ biết đúng số lần tiêm và biết đúng lịch tiêm chủng chỉ chiếm 24,7% và 28,4% Trong nghiên cứu này cũng xác định các yếu tố về con, trình độ học vấn, nghề nghiệp [7]
Một nghiên cứu khác thực hiện trên 600 bà mẹ có trẻ từ 12-23 tháng tuổi
và 120 nhân viên làm công tác tiêm chủng tại các trạm y tế xã ở Hà Tĩnh năm
2013 đã chỉ ra rằng: trình độ học vấn và nghề nghiệp của bà mẹ có ảnh hưởng đến việc tiêm chủng đầy đủ của trẻ [30]
Một nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu hồ sơ tiêm chủng đã được tiến hành trên toàn bộ 151 trẻ em từ 12 đến 23 tháng tuổi tại xã Bắc Sơn, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng từ 01/02/2015 đến 01/04/2015 nhằm xác định tỉ lệ tiêm chủng đầy đủ của trẻ và mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng tiêm chủng đầy đủ ở các trẻ trên Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra tỉ
lệ tiêm chủng đầy đủ tất cả các loại vắc-xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng là 84,8% Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ từng loại vắc-xin: viêm gan B mũi 0 chiếm 39,7%; lao đạt 98,7%; tiêm đủ 3 mũi DPT-VGB-Hib đạt 84,8%; uống đủ
3 lần OPV đạt 88,1%; sởi mũi 1 đạt 98% Yếu tố liên quan đến tình trạng tiêm
Trang 28chủng đầy đủ của trẻ là sự lo lắng của bà mẹ về tính an toàn của vắc-xin (OR = 27,78) [8]
Năm 2015, Nguyễn Thị Thanh Hương sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang dựa vào cách chọn mẫu 30 cụm, mỗi cụm 7 trẻ từ 12 đến 23 tháng tuổi theo hướng dẫn của WHO tại 17 xã, phường của thành phố Móng Cái, Quảng Ninh Mẫu nghiên cứu gồm 210 trẻ và có độ tuổi từ 12 tháng đến 23 tháng và bà
mẹ của các trẻ đó Kết quả cho thấy
tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ của trẻ đạt 65% Lý do trẻ không được tiêm chủng
đủ là do sợ tác dụng phụ chiếm 48%, trẻ ốm không đưa đi tiêm chiếm 33,3% Nghề nghiệp và trình độ học vấn của bà mẹ là một trong những yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành tiêm chủng cho trẻ [14]
Nghiên cứu của Phí Thị Hương Liên, Nguyễn Nhật Cảmvề Thực trạng tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch 8 loại vắc xin ở trẻ em dưới 1 tuổi và yếu tố liên quan tại khu vực thành thị thành phố Hà Nội, năm 2016 với đối tượng nghiên cứu là 634 trẻ từ 12 – 23 tháng tuổi đang sinh sống trên địa bàn khu vực nội thành và bà mẹ tương ứng với 634 trẻ này được chọn để phỏng vấn đã chỉ ra tỷ
lệ tiêm chủng đầy đủ cho từng loại vắc xin đạt cao ở những mũi đầu đời và thấp dần ở những mũi tiếp theo (Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin phòng bệnh lao đạt 99,31%; phòng bệnh DPT-Hib đạt 92,59%, phòng bệnh VGB đạt 86,28%; phòng bệnh bại liệt đạt 91,8% và phòng bệnh sởi đạt tỷ lệ thấp nhất (75,71%)
Tỷ lệ tiêm chủng đúng lịch vắc xin sởi đạt 68,54% Yếu tố liên quan đến tỷ lệ tiêm chủng đúng lịch là việc giữ sổ/phiếu tiêm chủng cá nhân của trẻ [17]
1.4 Thông tin về địa bàn nghiên cứu
Đặc điểm chung
Huyện Thường Tín nằm ở phía Nam Thủ đô Hà Nội, với dân số là 256.047 người, có 56.145 hộ, diện tích 127,3 km2
gồm 28 xã và 01 thị trấn Trình độ dân trí không đồng đều Huyện có hai trục đường xuyên Bắc Nam 1A và 1B chạy
Trang 2918
qua, phía Đông có sông Hồng, phía Tây có sông Nhuệ chạy dọc chiều dài của huyện
Mô hình bệnh tật
Do điều kiện địa lý, tình hình dân cư di biến động và vấn đề giải quyết ô nhiễm
vệ sinh môi trường còn gặp rất nhiều khó khăn cùng với tình hình thời tiết có nhiều biến đổi, tình trạng nóng lên toàn cầu nên nguy cơ xảy ra các loại dịch bệnh là rất cao và khó kiểm soát Đặc biệt là dịch: Tay chân miệng, Tiêu chảy cấp nguy hiểm, Sởi, Sốt xuất huyết, Zika, Cúm A/H5N1, cúm A/H1N1/pdm, MERS-CoV,… ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, sức khỏe người dân
Hiện nay bệnh nhiễm trùng vẫn chiếm tỷ lệ cao như viêm đường hô hấp, viêm phổi trẻ em, tiêu chảy, bệnh lao và HIV/AIDS,
Các bệnh không lây nhiễm cũng gia tăng như bệnh tim mạch (nhất là bệnh tăng huyết áp), đái tháo đường , các loại bệnh ung thư,…
Các tai nạn thương tích có xu hướng gia tăng, đặc biệt là tai nạn giao thông do trên địa bàn huyện có trục đường 1A, 1B và trục đường sắt Bắc – Nam chạy qua
Tình hình tiêm chủng trong năm qua
Bảng 1.1 Tỷ lệ tiêm chủng của từng loại vắc xin tại huyện Thường Tín
Trang 30Viêm não Nhật Bản 2 94,6%
Trường hợp tử vong sau tiêm chủng từ năm 2011 đến nay: Cho đến nay,
huyện Thường Tín có 01 trường hợp tử vong liên quan đến tiêm chủng Đó là trường hợp cháu T.T.H, sinh ngày 27/2/2016 Cháu được tiêm vắc xin Quinvaxem mũi 1 ngày 05/5/2016 Sau khi tiêm cháu được theo dõi 30 phút tại trạm y tế không có biểu hiện bất thường và được cho về Đến 16h chiều cùng ngày cháu có biểu hiện quấy khóc, tím tái khó thở được gia đình đưa lên viện Thường Tín, sau đó chuyển bệnh viện Xanh Pôn và đã tử vong tại đây
Sau khi bệnh nhân tử vong Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội phối hợp với Trung tâm Y tế huyện Thường Tín xem xét lại toàn bộ qui trình tiêm chủng tại TYT xã Nguyễn Trãi và đưa ra kết luận buổi tiêm chủng ngày 05/5/2016 đã được TYT thực hiện đúng qui trình và kết luận của hội đồng chuyên môn đánh giá phản ứng sau tiêm chủng của sở y tế là tử vong do sốc phản vệ trên cơ địa bệnh nhân có cơ tim thể giãn [26]
Những khó khăn trong công tác TCMR tại huyện: Cán bộ chuyên trách tiêm
chủng thường xuyên thay đổi, hỗ trợ chuyên trách tiêm chủng còn rất hạn chế Chưa có chế độ bảo hộ cho cán bộ trực tiếp tham gia tiêm chủng, kinh phí đầu
tư cho tiêm chủng còn thấp Chưa có qui định, sự thống nhất trong việc cập nhật, quản lý đối tượng tiêm chủng trên địa bàn toàn Thành phố [25]
Trang 31Cung cấp dịch vụ của cơ sở y tế:
Yếu tố văn hóa,
kinh tế, xã hội của
- Sự ủng hộ, phản đối của gia đình về tiêm chủng
Kiến thức
- Kiến thức về bệnh và biến chứng của bệnh sởi
- Kiến thức về vắc xin và lịch tiêm chủng sởi, lợi ích của tiêm chủng
- Kiến thức về các trường hợp tạm hoãn, chống chỉ định
- Kiến thức về phản ứng sau tiêm chủng
-
Trang 32CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Bà mẹ sinh sống tại các xã, thị trấn thuộc huyện Thường Tín có con từ 18 tháng tuổi đến dưới 24 tháng tuổi tính đến thời điểm điều tra
- Phiếu tiêm chủng của trẻ, sổ tiêm chủng cá nhân, sổ theo dõi tiêm chủng của TYT hoặc sổ ghi chép về kết quả tiêm vắc xin sởi của trẻ để hồi cứu số liệu
về lịch tiêm phòng sởi của trẻ
Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng:
- Có mặt tại địa phương vào thời điểm nghiên cứu
- Có khả năng tham gia trả lời phỏng vấn
- Đồng ý tham gia vào nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Điều kiện sức khỏe không thể trả lời phỏng vấn
- Không có mặt tại địa bàn vào thời điểm nghiên cứu hoặc điều tra viên tiếp cận trên 2 lần mà không gặp
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 4/2020 – tháng 8/2020
- Địa điểm nghiên cứu: Tại các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Thường Tín
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích kết hợp hồi cứu số liệu thứ cấp
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu:
Áp dụng công thức ước lượng 1 tỉ lệ trong nghiên cứu mô tả:
Trong đó:
Trang 33n: Cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu
Z1-α/2: Hệ số tin cậy với α =0, 05 thì Z1-αa/2=1,96 với độ tin cậy 95%
p: Là ước đoán tỉ lệ bà mẹ có thực hành cho trẻ tiêm đầy đủ và đúng lịch vắc xin sởi Lấy p = 0,497 (Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Yến năm 2017 tại quận Đống Đa, Hà Nội) [35]
d: Sai số mong muốn tuyệt đối so với p, chọn d = 0,07
Thay vào công thức, số mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu là 196 mẫu Dự phòng 30% mẫu, tổng số mẫu nghiên cứu là 255 trẻ Từ 255 trẻ được chọn, chúng tôi tiến hành chọn 255 bà mẹ tương ứng Trên thực tế có 250 bà mẹ tham gia vào nghiên cứu
Phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu đã áp dụng phương pháp phân tầng
Các bước tiến hành chọn mẫu gồm 2 giai đoạn:
Giai đoạn một: Lựa chọn các cụm:
Cách chọn cụm (đơn vị là tổ, thôn): Chọn 30 cụm
Liệt kê các tổ, thôn
+ Dùng bảng ngẫu nhiên chọn ra cụm đầu tiên có dân số >1 và < k + Chọn tiếp các cụm khác bằng cách lấy cụm trước + k, lập danh sách các cụm
Giai đoạn hai: Lựa chọn các hộ gia đình trong các cụm:
+ Lập danh sách toàn bộ trẻ từ 18 tháng tuổi đến dưới 24 tháng tuổi của mỗi cụm đã được chọn Chọn ngẫu nhiên đơn đến đủ 9 trẻ
+ Nếu không gặp được đối tượng phỏng vấn (người mẹ trực tiếp chăm sóc trẻ) trong lần đầu tiên, điều tra viên phải quay lại đến lần thứ ba mới dừng điều tra và không thay thế
Trang 342.5 Phương pháp
2.5.1 Công cụ thu thập và công cụ thu thập số liệu thông tin:
Sử dụng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn Bộ câu hỏi gồm các phần sau: (A) Thông tin chung (thông tin về trẻ và thông tin về bà mẹ; (B) Tình trạng gia đình; (C) Kiến thức của mẹ; (D) thực hành của bà mẹ; (E) Dịch vụ y tế
Bộ câu hỏi được xây dựng dưa trên quyết định số 4845/QĐ-BYT về việc ban hành “Hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh sởi, rubella” của Bộ Y tế [2]; quyết định số 845/QĐ-BYT về “Lịch tiêm các vắc xin phòng lao, viêm gan B, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, sởi, HIB trong dự án tiêm chủng mở rộng quốc gia” [1] và quyết định số 1830/QĐ-BYT về việc ban hành “Hướng dẫn giám sát, điều tra, phân tích nguyên nhân, phản ứng sau tiêm chủng” [3] Sau khi được hoàn thiện, bộ câu hỏi được gửi xin ý kiến chuyên gia, tiếp tục chỉnh sửa
và đưa vào thử nghiệm, chuẩn hoá trước khi đưa vào nghiên cứu chính thức
2.5.2 Phương pháp thu thập thông tin định lượng:
- Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn
2.5.3 Quá trình thu thập thông tin:
- Xây dựng và chuẩn hoá bộ công cụ
- Lên danh sách trẻ đáp ứng tiêu chuẩn, lựa chọn đưa vào nghiên cứu
- Điều tra viên là các cộng tác viên dân số đã được tập huấn về kỹ năng thu thập số liệu
- Điều tra viên đến các hộ gia đình của trẻ đã được chọn và tiến hành phỏng vấn trực tiếp bà mẹ của trẻ Nếu không gặp được đối tượng phỏng vấn trong lần đầu tiên, điều tra viên phải quay lại đến lần thức ba mới dừng điều tra và thay thế Các bà mẹ tham gia nghiên cứu được giới thiệu đầy đủ mục đích nghiên cứu
và được tư vấn về tiêm chủng nếu cần
2.6 Các biến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chí đánh giá
Trang 352.6.1 Các biến số, chỉ số nghiên cứu
- Nghiên cứu có 7 nhóm biến số, gồm:
+ Nhóm thông tin trẻ: có 7 biến số
+ Nhóm thông tin nhân khẩu học của mẹ: có 5 biến số
+ Nhóm truyền thông: có 4 biến số
Bảng 2.1 Bảng biến số và chỉ số nghiên cứu
loại
Phương pháp thu thập
Thông tin chung của trẻ
Bệnh mắc phải:
bệnh lý mắc sau khi
Tỷ lệ trẻ theo nhóm bệnh
Nhị
Trang 36trẻ sinh ra
Số lần ốm
trong năm qua
Được tính là số lần trẻ có vấn đề về sức khỏe phải sử dụng đến thuốc hoặc các biện pháp dân gian
Tỷ lệ trẻ theo số lần
Tỷ lệ trẻ theo số lần
phỏng vấn
Tỷ lệ theo nhóm tuổi Liên tục Phỏng vấn
khai sinh
Tỷ lệ theo dân tộc
Tỷ lệ theo trình độ học vấn
Thứ bậc Phỏng vấn
Tình trạng gia đình
Trang 37Tình trạng cư
trú
Tình trạng cư trú liên quan đến các vấn đề hộ khẩu thường trú và tạm trú
Tỷ lệ theo KT1, KT2, KT3, KT4
Danh mục
Tỷ lệ theo tình trạng
Danh mục
Phỏng vấn
Số con của bà
mẹ trẻ
Tổng số con có trong gia đình (tính
cả trẻ tử vong nếu có)
Tỷ lệ theo tình trạng kinh tế hộ gia đình
Tỷ lệ theo tình trạng mắc bệnh sởi
Mục tiêu 1 Kiến thức, thực hành tiêm vắc xin sởi đầy đủ,
đúng hạn cho trẻ của người mẹ
Kiến thức về tiêm vắc xin sởi đầy đủ, đúng hạn cho trẻ của
Trang 38người mẹ
Nghe về bệnh
sởi
Đã từng nghe hoặc chưa nghe về bệnh sởi
Tỷ lệ nhóm từng/chưa từng nghe
Tỷ lệ theo nhóm biết/không biết
Phân loại
Phân
Trang 39Biết thời điểm
tiêm vắc xin
sởi mũi 2
Xác định được thời điểm tiêm mũi 2 là lúc trẻ 18 tháng
xin sởi không
Dựa vào câu trả lời của đối tượng phỏng vấn và theo
sổ phiếu tiêm chủng
Tỷ lệ theo có/không
sổ phiếu tiêm chủng
Nhị phân
Phỏng vấn + hồi cứu
Tỷ lệ theo đúng lịch/không đúng lịch
Nhị phân
Phỏng vấn + hồi cứu
số liệu
Lý do tiêm
mũi cho trẻ
Lý do làm cho trẻ không được tiêm
Tỷ lệ theo
lý do
Danh
Trang 40Tỷ lệ theo loại hình
Định danh
Phỏng vấn + hồi cứu
sổ tại trạm hoặc phần mềm
Tỷ lệ theo nguồn
Tỷ lệ theo đúng lịch/không đúng lịch
Phỏng vấn + hồi cứu
Tỷ lệ theo loại hình
Định danh
Phỏng vấn + hồi cứu
sổ tại trạm hoặc phần mềm
Tỷ lệ theo nguồn
Tỷ lệ theo điểm
Định