1. Trang chủ
  2. » Văn bán pháp quy

Stress, trầm cảm, lo âu và một số yếu tố liên quan đến điều dưỡng viên các khoa lâm sàng, bệnh viện Nhi Trung ương năm 2019.

23 158 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 766,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Chỉ nghiên cứu về stress, trầm cảm, lo âu của điều dưỡng trong phạm vi Bệnh viện Nhi trung ươngnên kết quả nghiên cứu chỉ phản ánh được thực trạng cùng một số yếu tố liên quan đến s[r]

Trang 1

-

Nguyễn Thị Minh Huyền- C01103

STRESS, TRẦM CẢM, LO ÂU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN

CÁC KHOA LÂM SÀNG, BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: Y TẾ CÔNG CỘNG

Hà Nội, năm 2019

Trang 2

-

Nguyễn Thị Minh Huyền

STRESS, TRẦM CẢM, LO ÂU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN

CÁC KHOA LÂM SÀNG, BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: Y TẾ CÔNG CỘNG

Mã số: 8.72.07.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Nguyễn Bạch Ngọc

Hà Nội, năm 2019

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện nhất về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật (theo Tổ chức Y tế Thế giới)[39][40] Định nghĩa này

là chủ đề của nhiều cuộc tranh cãi, đặc biệt thiếu giá trị hoạt động và vì vấn đề được tạo ra bởi từ "toàn diện", nên đây vẫn là vấn đề còn tranh luận.[22][29] Các định nghĩa khác cũng đã được đưa ra, trong số đó định nghĩa gần đây nhất là mối quan hệ giữa sức khỏe và sự thỏa mãn các nhu cầu cá nhân[21] Các hệ thống phân loại như Phân loại quốc tế về Gia đình của WHO, bao gồm Hệ thống phân loại quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe (ICF) và Phân loại quốc tế về Bệnh tật (ICD), thường được sử dụng để định nghĩa và để đo đạc các thành phần của sức khỏe Như vậy chỉ cần thiết 1 trong 3 yếu tố trên thì được coi là thiếu sức khỏe, là tình trạng bệnh tật

Ngày nay, trong các mối quan tâm đến sức khỏe thìtình trạng stress do nghề nghiệp đang là một vấn

đề được quan tâm toàn cầu, và là mối đe dọa nguy hiểm nhất của thế kỷ XXI Trong khi tại các quốc gia đang phát triển (trong đó có Việt Nam) các bệnh có nền tảng tâm lý đang có xu hướng phát triển nhanh chóng Đến năm 2030 – theo đánh giá của WHO – trầm cảm có thể trở thành vấn đề sức khỏe lớn nhất, vượt qua cả các bệnh hệ tim-mạch và AIDS

Trong các đối tượng lao động hiện nay, nhân viên y tế, đặc biệt là các nhân viên ở các khoa lâm sàng, tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân làm việc trong môi trường có nguy cơ stress rất cao với nhiều lý do như: làm việc quá tải, yếu tố an ninh trong bệnh viện, ý thức của người khám bệnh Tác giả Demiral và đồng nghiệp năm 2000 đã nghiên cứu trên 300 bác sĩ ở các chuyên khoa khác nhau và tìm thấy tỷ lệ chung

về trầm cảm và lo âu là 18,9 % và 27,4% ở các bác sĩ[24]

Nghiên cứu của tác giả Lương Quốc Hùng tại bệnh viện E năm 2018 cho biết tỷ lệ bị stress của nhân viên điều dưỡng khối lâm sàng bệnh viện E năm 2018 là 24,3% Mức độ stress của nhân viên điều dưỡng khối lâm sàng bệnh viện E năm 2018 lần lượt là 12,3% mức độ nhẹ, 6,5% mức độ vừa, 4,5% mức

độ nặng và 1% mức độ rất nặng [4]

Nghiên cứu stress của nhân viên y tế, đặc biệt đó là điều dưỡng đang trực tiếp làm việc tại bệnh viện Nhi, nơi mà môi trường làm việc luôn căng thẳng, đi kèm nhiều những rủi ro từ đặc thùcông việc đang được quan tâm rất lớn Bệnh viện Nhi trung ương là một bệnh viện đặc thù và là 1 trong 3 bệnh viện hàng đầu khu vực trong lĩnh vực nhi khoa nhưng còn rất ít nghiên cứu đánh giá tình trạng stress của điều dưỡng Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài: “Thực trạng Stress, trầm cảm, lo âu và một số yếu tố liên quan của điều dưỡng tại Bệnh viện Nhi trung ương năm 2019” nhằm hai mục tiêu như sau:

1 Mô tả thực trạng stress, trầm cảm và lo âucủa điều dưỡng viên của các khoa lâm sàng tại Bệnh viện Nhi trung ương năm 2019

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến stress của các đối tượng nghiên cứu

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm rối loạn căng thẳng (stress)

Theo tâm lý học giải thích thì đây là một cảm giác căng thẳng và dồn ép Áp lực với cường độ thấp có thể là một điều tốt và thậm chí có lợi ích trong công việc và sức khỏe Stress tích cực giúp tăng hiệu suất vận động thể thao Nó cũng có vai trò trong động lực, thích nghi và phản ứng với môi trường xung quanh [18] Tuy nhiên với một lượng áp lực quá nhiều có thể dẫn đến nhiều vấn đề đối với cơ thể và điều đó có thể cực

kì có hại

Stress - một thuật ngữ phổ biến nhưng cũng thường xuyên bị hiểu nhầm nhất Người ta thường nghĩ rằng có những tình huống mà bản chất của nó đã khó tránh khỏi căng thẳng do sự cạnh tranh cao đòi hỏi khả năng xử lý tốt

Như vậy, “Áp lực thể chất và tâm lý”là những nhân tố tạo sức ép cho con người trong quá trình sống, tác động lên cơ thể, làm cho con người có những căng thẳng về mặt tâm lý, gây cản trở hoạt động, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người Có thể hiểu khái quát áp lực thể chất và tâm lý như là những nhân

tố gây sức ép cho cá nhân, tạo ra những thay đổi trên thực thể và căng thẳng về mặt tâm lý

1.2 Những hậu quả của stress

Nhiều tài liệu nghiên cứu đã chỉ ra stress ảnh hưởng đến cơ thể theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực tùy theo từng đối tượng, tính chất, mức độ khác nhau

 Tích cực: Ở giai đoạn đầu, stress có lợi cho hệ miễn dịch, giúp con người thích nghi với những thay đổi của môi trường, tăng sự sáng tạo, tăng khả năng cảnh giác, tạo sự hưng phấn,tạo sự tập trung và tăng động lực làm việc, từ đó tăng năng lực phán đoán, ý chí và tính chiến đấu của con người [23]

 Tiêu cực: Theo đích tác động thì stress ảnh hưởng tiêu cực đến con người về cả hai mặt là thực thể (sinh lý) và tâm thần (tâm lý) [1]

 Rối loạn thể chất: Bệnh tim mạch, huyết áp,đường tiêu hóa, bệnh cơ xương khớp, vv…

 Rối loạn tâm lý [1]: rối loạn tâm thần, suy giảm chức năng nhận thức; sốc và mất phương hướng; bị phá

vỡ quan hệ xã hội; Burn Out Syndrome (Hiện tượng kiệt sức); tai nạn thương tích

Trang 5

1.3 Những nguyên nhân gây stress và những yếu tố liên quan

1.3.1 Nguyên nhân khách quan

 Stress do môi trường sinh thái [1]:

 Do rối loạn chu kỳ thời gian sinh học

 Do suy giảm khả năng thích ứng với môi trường

 Do những tác nhân vật lý như tiếng ồn, hóa chất, sự đông đúc, không gian chật chội, ô nhiễm, nóng bức, thay đổi nơi cư trú

 Stress do môi trường xã hội [1]: Mối quan hệ xã hội ít ổn định, nghèo khổ, quyền hạn thấp kém; những vấn đề của toàn cầu hóa, quá tải dân số, gia tăng tội phạm, suy thoái kinh tế, thất nghiệp, sự phân phối các dịch vụ xã hội, sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, sự quá tải thông tin, những biến động xã hội, vv…

 Stress do những mối quan hệ giữa các cá nhân [1]: Bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, tình yêu, vợ chồng, con cái, vv…

 Stress do nghề nghiệp [1]: Những thay đổi, biến động trong cuộc sống; nhiều vai trò, trách nhiệm; điều kiện, môi trường, thời gian lao động; tính chất, yêu cầu của công việc; vấn đề thu nhập; quan hệ trong lao động, công việc; sự phát triển nghề nghiệp; chế độ chính sách, cơ cấu tổ chức quản lý không phù hợp 1.3.2 Nguyên nhân chủ quan

Một số nghiên cứu đã nhìn nhận căng thẳng là hậu quả do ảnh hưởng của những thay đổi hoặc những sự kiện quan trọng trong cuộc sống[3] [8]

 Những điều phiền toái, tích lũy những ấm ức kéo dài, hụt hẫng thường dẫn đến tình trạng căng thẳng hơn những sự kiện gây choáng váng mạnh

 Tình trạng bệnh lý thực thể từ trước hoặc mới phát sinh gây tác động đến tâm lý [1]

 Sự thiếu ý thức về khả năng kiểm soát bản thân

 Không chắc chắn về tương lai hay những sự kiện không thể dự đoán

Những nhân viên y tế chưa sẵn sàng đối mặt với việc lãnh đạo quản lý có thể cắt giảm công việc và ranh giới nghề hiện có [34]

 Ít có quyền quyết định những việc của bản thân

 Cảm giác hẫng hụt khi bị cản trở các nhu cầu

1.4 Giới thiệu về công cụ đo lường stress,trầm cảm, lo âu trong nghiên cứu

1.4.1 Thang điểm đánh giá Trầm cảm - Lo âu - Căng thẳng (DASS 21)

Thang DASS 21 gồm có 21 tiểu mục chia thành 3 nhóm, mỗi nhóm gồm 7 tiểu mục, mỗi tiểu mục

mô tả về một triệu chứng thực thể hoặc tinh thần Trong đó, phần DASS - Trầm cảm bao gồm các tiểu mục tập trung vào trạng thái tâm lý và lòng tự trọng; phần DASS - Lo âu là các tiểu mục về trạng thái tâm

lý, cảm nhận về sự hoang mang, sợ hãi; phần DASS - Căng thẳng tâm lý bao gồm các tiểu mục về sự căng

Trang 6

thẳng, tức giận Điểm cho mỗi tiểu mục là từ 0 đến 3 điểm, tùy mức độ và thời gian xuất hiện triệu chứng Sau khi cộng tổng điểm của từng nhóm 7 tiểu mục, kết quả thu được nhân với 2 rồi đối chiếu với bảng, sẽ biết tình trạng stress, lo âu, trầm cảm ở mức độ bình thường, nhẹ, vừa, nặng, rất nặng Điểm số tổng từ 0-

14 điểm cho thấy đối tượng không có tình trạng căng thẳng; từ 15-18 điểm cho thấy đối tượng có căng thẳng nhẹ; từ 19-25 điểm là căng thẳng mức độ vừa; 26-33 điểm là căng thẳng mức độ nặng và từ 34 điểm trở lên là căng thẳng ở mức độ rất nặng

Cách tính điểm của thang đo DASS 21

Lovibond S.H & Lovibond P.F (1995) Manual for the Depression Anxiety & Stress Scales”,

Psychology Foundation, Sydney[33]

Thang đo DASS 21 đã được Viện sức khỏe tâm thần quốc gia biên dịch, Bộ Y tế ban hành kèm theo Quyết định số 331/QĐ-BYT ngày 02/01/2016 của Bộ Y tế, đã được áp dụng trong nhiều nghiên cứu về sức khỏe tâm thần và thử nghiệm trên một số đối tượng khác nhau Thang đo DASS 21 đã được nhiều nghiên cứu đánh giá về tính giá trị và độ tin cậy, khẳng định là có thể áp dụng tại Việt Nam, không có sự khác biệt về mặt văn hóa Bộ công cụ này ngắn gọn, dễ sử dụng, có độ nhạy cao nên được lựa chọn làm công cụ nghiên cứu chính trong đề tài của chúng tôi

1.4.2 Thang đo Brief Job Stress Questionnaire - BJSQ

 Bộ câu hỏi đánh giá stress công việc của Akiomi Inoue, Norito Kawwakami và cs (2014) Bảng hỏi có tổng số 57 câu hỏi, chia làm 3 phần Phần thứ nhất gồm các câu hỏi liên quan đến các yếu tố stress liên quan đến công việc Phần thứ 2 là các câu hỏi liên quan đáp ững của cơ thể trước các stress công việc Phần thứ 3 là hỗ trợ xã hội từ cấp trên, đồng nghiệp và gia đình Thang điểm đánh giá được tính từ thấp nhất (0 điểm) đến cao nhất (4 điểm) Stress càng cao có điểm càng cao Bộ công cụ đã được sử dung trong đánh giá stress công việc ở Nhật Bản và nhiều nước khác Bộ công cụ đã được dịch ra tiếng Việt và chuẩn hoá ở Viêt Nam [20]

1.5 Những công trình nghiên cứu về stress, trầm cảm, lo âuvà các yếu tố liên quan

1.5.1 Trên thế giới

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các nhân viên y tế làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cho bệnh nhân có nguy cơ bị stress cao hơn nhiều lần so với các ngành nghề khác Nghiên cứu của Linn LS, et al (1985) cho thấy có tới 25% các bác sĩ lâm sàng bị stress, trầm cảm, lo âu và kiệt sức Ảnh hưởng của stress nghề nghiệp đến sức khoẻ là mệt mỏi, lo âu, trầm cảm, không thoả mãn với công việc, giảm chất

Trang 7

lượng chăm sóc sức khoẻ cho bệnh nhân, nghiện rượu, số ngày nghỉ ốm cao, về hưu sớm, và mắc một số bệnh liên quan đến stress như loét dạ dày, nhồi máu cơ tim, cao huyết áp vv.[32]

Demiral et al (2000) đã nghiên cứu trên 300 bác sĩ ở các chuyên khoa khác nhau và tìm thấy tỷ lệ chung về trầm cảm và lo âu là 18,9 % và 27,4% ở các bác sĩ Một số lượng lớn các nghiên cứu đã chỉ ra 25-30% nhân viên y tế bị kiệt sức là hậu quả các công việc của họ trong ngành y tế (Grassi & Magnani, 2000) [24][27]

Nghiên cứu của Shams và El-Masry (2013), tỉ lệ căng thẳng nghề nghiệp trên đối tượng nhân viên y

tế thuộc chuyên ngành gây mê hồi sức là 69,4% Các yếu tố gánh nặng công việc, tổ chức lao động không tốt, mâu thuẫn nhóm và phải chăm sóc các bệnh nhân nặng, tiếp xúc hàng ngày với người chết và các vấn

đề liên quan đến bệnh nhân tử vong, phản ứng thái quá từ gia đình bệnh nhân là những nguyên nhân gây stress [38]

1.5.2 Tại Việt Nam

Nghiên cứu của Lê Thành Tài (2008) cho thấy nhân viên điều dưỡng bị stress nghề nghiệp tại bệnh viện đa khoa trung ương Cần Thơ, bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ và bệnh viện đa khoa Châu Thành - Hậu Giang : 45,2% bị stress ở mức cao, 42,8% ở mức trung bình [14] Tại bệnh viện đa khoa trung ương Cần Thơ, tỉ lệ stress cao nhất với 53,1%

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuyên (2015) về điều dưỡng viên lâm sàng bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định năm 2015 đã chỉ ra rằng các nhóm yếu tố liên quan đến nghề nghiệp gây ra căng thẳng cho nhân viên y tế bao gồm: Điều kiện lao động, vai trò lao động, môi trường lao động và các yếu tố liên quan giữa cá nhân với nhau Căng thẳng liên quan đến sự quá tải trong lao động, làm việc ca kíp, sự hứng thú trong công việc, các mức độ động viên khuyến khích Làm việc ca kíp cùng với áp lực về thời gian chính

là nguyên nhân dẫn đến tình trạng căng thẳng,thườnggây mệt mỏi và buồn ngủ cho nhân viên y tế Do quá mệt mỏi nên họ không tập trung, dễ mắc lỗi và hay xảy ra tai nạn Sự căng thẳng của lao động ca kíp còn

có thể làm trầm trọng thêm tình trạng sức khỏe, dễ mắc các bệnh như bệnh tim mạch hoặc rối loạn tiêu hóa[19]

Nghiên cứu của tác giả Vũ Bá Quỳnh về Thực trạng sức khoẻ tâm thần của điều dưỡng viên khối Ngoại, Bệnh viện Trung ương quân đội 108 năm 2018 Cho thấy tỷ lệ trầm cảm ở các đối tượng này là 29,3%, lo âu là 43% và stress là 33,7% Tỷ lệ trầm cảm, lo âu và stress mức nặng và rất nặng tương ứng là 3,3%, 11,4% và 7,3% [13]

Nghiên cứu của tác giả Lương Quốc Hùng năm 2018 cho ra kết quả tỷ lệ bị stress của nhân viên điều dưỡng khối lâm sàng bệnh viện E năm 2018 là 24,3% Mức độ stress của nhân viên điều dưỡng khối lâm sàng bệnh viện E năm 2018 lần lượt là 12,3% mức độ nhẹ, 6,5% mức độ vừa, 4,5% mức độ nặng và 1% mức

độ rất nặng Tỷ lệ stress ở nam cao hơn ở nữ (38,2% - 221,3%); Tỷ lệ stress ở nhóm điều dưỡng từ 30 tuổi -

40 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (43,7%); Nhóm điều dưỡng có thâm niên công tác dưới 5 năm chiếm tỷ lệ cao nhất (45%) [4]

Trang 8

1.6 Giới thiệu về cơ sởnghiên cứu

Bệnh viện Nhi Trung ương lúc đầu có tên gọi là Viện bảo vệ sức khỏe trẻ em được thành lập ngày14/07/1969 tại bệnh viện Bạch Mai Với sự hỗ trợ quý báu về vật chất và nhân lực của chính phủ và nhân dân Thụy Điển, ngày 16/03/1981, toàn thể cán bộ công nhân viên của Viện bảo vệ sức khỏe trẻ em phấn khởi đón nhận một bệnh viện mới với cơ sở vật chất khang trang gồm 1 khu hành chính, 19 khoa lâm sàng, 7 khoa cận lâm sàng và 4 khu hậu cần

Cho đến nay, trải qua 30 năm phát triển với bệnh viện đã trở thành 1 trong 3 bệnh viện chuyên môn

về Nhi tốt nhất cả nước Với 11 phòng chức năng, 31 khoa lâm sàng, 8 khoa cận lâm sàng và 4 khoa hỗ trợ

và các tổ chức đặc thù

Trang 9

Khung lý thuyết

THỰC TRẠNG STRESS ĐIỀU DƯỠNG VIÊN

-Môi trường làm việc -Cường độ làm việc -Tần suất trực -Mối quan hệ với đồng nghiệp -Mối quan hệ với cấp trên -Chính sách đãi ngộ

Trang 10

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Điều dưỡng viên đang làm việc tại các Khoa lâm sàng Bệnh viện Nhi trung ương năm 2019 Tiêu chuẩn lựa chọn

Điều dưỡng viênthuộc biên chế bệnh viện, đang làm việc tại các khoa lâm sàng,có 1 năm công tác trở lên và đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

Điều dưỡng viên có thời gian công tác dưới 1 năm, chưa thuộc biên chế và không có mặt tại thời điểm nghiên cứu, không hợp tác hoặc đã đồng ý tham gia trong nghiên cứu nhưng bỏ cuộc

Điều dưỡng thuộc các phòng hành chính, cận lâm sàng

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu và thời gian nghiên cứu

Địa điểm: 31 khoa lâm sàng bệnh viện Nhi trung ương

Thời gian: 04/2019-10/2019

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Áp dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

Bộ câu hỏi về nhân khẩu học (phụ lục 1)

Sử dụng Thang điểm đánh giá Trầm cảm -Lo âu -Stress(DASS 21) (Phụ lục 2) [33]

Bộ câu hỏi đánh giá stress nghề nghiệp (Brief Job Stress Questionnaire của Akiomi Inoue, Norito Kawwakami và cs (2014) (phụ lục 3) [20]

2.3.2 Cơ sở xây dựng bộ công cụ

Hai bộ công cụ nghiên cứu này đã được nhiều tác giả trên thế giới sử dụng trong các nghiên cứu của

họ và đã được chuẩn hóa tại Việt Nam, đượccông nhận về tính khả thi, tính ứng dụng trong nghiên cứu về stress và rối loạn sức khỏe tâm thần

Trang 11

2.3.3 Quy trình nghiên cứu

Bước 1: Tìm đọc tài liệu và các thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Bước 2: Viết và hoàn thiện đề cương luận văn, thông qua giáo viên hướng dẫn

Bước 3: Bảo vệ đề cương luận văn

Bước 4: Xây dựng, thí điểm và hoàn thiện bộ công cụ nghiên cứu, in phiếu điều tra

Bước 5: Tiến hành thu thập số liệu từ các nguồn thông tin sẵn có

Bước 6: Làm sạch số liệu, nhập số liệu, phân tích số liệu và viết luận văn

2.4 Các biến số, chỉ số nghiên cứu

Biến số thực trạng stress của điều dưỡng

Biến số thực trạng stress công việc

Biến số về các yếu tố liên quan đến stress

2.5 Xử lý và phân tích số liệu

Số liệu thu thập được làm sạch, nhập vào máy tính bằng phần mềm Epidata 3.1

Sử dụngphần mềm thống kê SPSS 16.0 để xử lý số liệu thu thập được qua phiếu khảo sát cũng như trong việc kiểm tra xác định độ tin cậy Tính tần số, tỷ lệ phần trăm,điểm trung bình, tỷ suất chênh OR(CI95%), trị số p với mức ý nghĩa α = 0,05 Sử dụng Chi-Square Test (Kiểm định Chi bình phương) đểđánh giá sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa một sốyếu tố liên quan với vấn đề stress của đối tượng nghiên cứu Các bảng và đồ thị phù hợp được sử dụng để minh họa, trình bày kết quả sau phân tích 2.6 Sai số và biện pháp khắc phục sai số

2.6.1 Sai số có thể mắc phải

 Phiếu thu thập thiếu thông tin do quên điền, không muốn trả lời hoặc không chính xác

 Sai số tự điền do lỗi cách hiểu vấn đề của đối tượng nghiên cứu

2.6.2 Biện pháp khắc phục sai số:

 Giải thích rõ mục đích nghiên cứu với các đối tượng nghiên cứu để họ an tâm và trả lời khách quan nhất

 Lựa chọn đối tượng khảo sát phù hợp với tiêu chuẩn

 Kiểm tra lại số phiếu thiếu thu về, bổ sung thông tin nếu thiếu

2.7 Đạo đức trong nghiên cứu

 Đảm bảo sự tham gia của các đối tượng là tự nguyện, những thông tin do điều dưỡng cung cấp hoàn toàn được giữ kín, bảo mật và chỉ phục vụ cho nghiên cứu, ngoài ra không có mục đích nào khác

 Được sự cho phép triển khai từ lãnh đạo bệnh viện

 Nghiên cứu được triển khai theo quyết định hội đồng đạo đức trường Đại học Thăng Long

Ngày đăng: 11/03/2021, 00:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

 Bộ câu hỏi đánh giá stress công việc của Akiomi Inoue, Norito Kawwakami và cs. (2014) - Stress, trầm cảm, lo âu và một số yếu tố liên quan đến điều dưỡng viên các khoa lâm sàng, bệnh viện Nhi Trung ương năm 2019.
c âu hỏi đánh giá stress công việc của Akiomi Inoue, Norito Kawwakami và cs. (2014) (Trang 6)
BẢNG ĐÁNH GIÁ DASS21 BẢNG ĐÁNH GIÁ BJSQ - Stress, trầm cảm, lo âu và một số yếu tố liên quan đến điều dưỡng viên các khoa lâm sàng, bệnh viện Nhi Trung ương năm 2019.
21 BẢNG ĐÁNH GIÁ BJSQ (Trang 9)
Kết quả bảng 3.1 cho thấy, đối tượng trong độ tuổi từ 31 – 40 chiếm tỷ lệ 58,6%, tiếp sau là đối tượng 20-30 tuổi chiếm tỷ lệ 35,1% - Stress, trầm cảm, lo âu và một số yếu tố liên quan đến điều dưỡng viên các khoa lâm sàng, bệnh viện Nhi Trung ương năm 2019.
t quả bảng 3.1 cho thấy, đối tượng trong độ tuổi từ 31 – 40 chiếm tỷ lệ 58,6%, tiếp sau là đối tượng 20-30 tuổi chiếm tỷ lệ 35,1% (Trang 13)
Kết quả bảng 3.2 cho thấy, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nhân viên (92,1%). Trình độ học vấn của các đối tượng chiếm tỷ lệ cao nhất là Trung cấp, cao đẳng (54,2%), tiếp sau Đại học (26,6%) - Stress, trầm cảm, lo âu và một số yếu tố liên quan đến điều dưỡng viên các khoa lâm sàng, bệnh viện Nhi Trung ương năm 2019.
t quả bảng 3.2 cho thấy, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nhân viên (92,1%). Trình độ học vấn của các đối tượng chiếm tỷ lệ cao nhất là Trung cấp, cao đẳng (54,2%), tiếp sau Đại học (26,6%) (Trang 14)
Bảng 3.4. Thực trạng stress,trầm cảm, lo âucủa đối tượng nghiên cứu(n=365) - Stress, trầm cảm, lo âu và một số yếu tố liên quan đến điều dưỡng viên các khoa lâm sàng, bệnh viện Nhi Trung ương năm 2019.
Bảng 3.4. Thực trạng stress,trầm cảm, lo âucủa đối tượng nghiên cứu(n=365) (Trang 15)
Kết quả bảng 3.4 cho thấycó 86 đối tượng rơi vào tình trạng stress chiếm 23,6%, số đối tượng trầm cảm là 100 trường hợp, chiếm 27,4% và 152 trường hợp lo âu chiếm 41,6% - Stress, trầm cảm, lo âu và một số yếu tố liên quan đến điều dưỡng viên các khoa lâm sàng, bệnh viện Nhi Trung ương năm 2019.
t quả bảng 3.4 cho thấycó 86 đối tượng rơi vào tình trạng stress chiếm 23,6%, số đối tượng trầm cảm là 100 trường hợp, chiếm 27,4% và 152 trường hợp lo âu chiếm 41,6% (Trang 15)
Bảng 3.7. Thực trạng stress theo hành vi và lối sống củađối tượng nghiên cứu(n=365) - Stress, trầm cảm, lo âu và một số yếu tố liên quan đến điều dưỡng viên các khoa lâm sàng, bệnh viện Nhi Trung ương năm 2019.
Bảng 3.7. Thực trạng stress theo hành vi và lối sống củađối tượng nghiên cứu(n=365) (Trang 16)
Kết quả bảng 3.6 cho thấy nữ giới (24,5%) bị stress cao hơn nam giới (20,5%). Trình độ sau đại học có tỷ lệ mắc stress ít nhất (7,1%) - Stress, trầm cảm, lo âu và một số yếu tố liên quan đến điều dưỡng viên các khoa lâm sàng, bệnh viện Nhi Trung ương năm 2019.
t quả bảng 3.6 cho thấy nữ giới (24,5%) bị stress cao hơn nam giới (20,5%). Trình độ sau đại học có tỷ lệ mắc stress ít nhất (7,1%) (Trang 16)
Bảng 3.9 cho thấycó 79,2% đối tượng được được gia đình và bạn bè hỗ trợ, giúp đỡ. Và 67,4% đối tượng được đồng nghiệp hỗ trợ giúp đỡ nhiều - Stress, trầm cảm, lo âu và một số yếu tố liên quan đến điều dưỡng viên các khoa lâm sàng, bệnh viện Nhi Trung ương năm 2019.
Bảng 3.9 cho thấycó 79,2% đối tượng được được gia đình và bạn bè hỗ trợ, giúp đỡ. Và 67,4% đối tượng được đồng nghiệp hỗ trợ giúp đỡ nhiều (Trang 17)
Bảng 3.9. Mức độ hỗ trợ xã hội củađối tượng nghiên cứu(n=365) - Stress, trầm cảm, lo âu và một số yếu tố liên quan đến điều dưỡng viên các khoa lâm sàng, bệnh viện Nhi Trung ương năm 2019.
Bảng 3.9. Mức độ hỗ trợ xã hội củađối tượng nghiên cứu(n=365) (Trang 17)
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa thói quen tập thể dục với stress của ĐTNC - Stress, trầm cảm, lo âu và một số yếu tố liên quan đến điều dưỡng viên các khoa lâm sàng, bệnh viện Nhi Trung ương năm 2019.
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa thói quen tập thể dục với stress của ĐTNC (Trang 18)
Theo bảng trên ta thấycó mối liên quan giữa thói quen tập thể dục với tình trạng stress củađối tượng nghiên cứu - Stress, trầm cảm, lo âu và một số yếu tố liên quan đến điều dưỡng viên các khoa lâm sàng, bệnh viện Nhi Trung ương năm 2019.
heo bảng trên ta thấycó mối liên quan giữa thói quen tập thể dục với tình trạng stress củađối tượng nghiên cứu (Trang 18)
Bảng 3.23 cho thấycó mối liên quan giữa sự hỗ trợ trong gia đình, bạn bè với stress củađối tượng nghiên cứu - Stress, trầm cảm, lo âu và một số yếu tố liên quan đến điều dưỡng viên các khoa lâm sàng, bệnh viện Nhi Trung ương năm 2019.
Bảng 3.23 cho thấycó mối liên quan giữa sự hỗ trợ trong gia đình, bạn bè với stress củađối tượng nghiên cứu (Trang 19)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w