28 phòng khi sống Không bao giờ, đôi khi, thỉnh thoảng, rất tập thể hay xảy ra Tỷ lệ có – không cảm nhận thua kém bạn Thua kém bạn bè bè trong nghiên cứu Thiếu tự tin về Tỷ lệ có – không[r]
Trang 1-* -
PHẠM THỊ HIỂU
LO ÂU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y DƯỢC HỒNG ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI - NĂM 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
KHOA KHOA HỌC SỨC KHỎE
BỘ MÔN Y TẾ CÔNG CỘNG
-* -PHẠM THỊ HIỂU
LO ÂU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y DƯỢC HỒNG ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NĂM 2020
Chuyên ngành Y tế Công cộng
Mã số: 8720701
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Người hướng dẫn khoa học:
TS.BS VÕ THỊ KIM ANH
HÀ NỘI - NĂM 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời nói đầu tiên em xin gửi đến Ban Giám Hiệu, phòng sau đại học, Bộ Môn
Y tế công cộng trường Đại học Thăng Long, lòng vô cùng kính trọng và cảm ơn sâu sắc
Thầy Cô đã dạy chúng em không những có kiến thức về chuyên môn mà còn dạy chúng em cả cách sống, cách nhìn nhận vấn đề cũng như cách giải quyết vấn
đề một cách đúng đắn Thầy Cô đã dạy chúng em cách nhìn cuộc sống một cách mới mẻ và tươi đẹp hơn Và cũng thông qua đó, Thầy Cô cũng đã gửi những hoài bão, những ước mơ của bao thế hệ, đàn anh chị đi trước để chúng em tiếp tục phấn đấu hơn, sống tích cực hơn
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn TS BS Võ Thị Kim Anh, người đã
hướng dẫn em hoàn thành luận văn này Xin được cảm ơn Cô, cảm ơn những bài học quý báu, những lời động viên, em luôn luôn tự hào và cảm động khi được cô giúp đỡ để hoàn thành nhiệm vụ học tập đầy vất vả nhưng cũng vinh quang
Xin được cảm ơn Ban Giám Hiệu, Phòng Đào tạo, Phòng Tổ chức hành chính, phòng Công tác Học sinh – Sinh viên và tập thể Khoa Cơ Bản, đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành được khóa học này
Xin được chân thành cảm ơn Thầy Cô, quý phụ huynh sinh viên, các em Sinh viên của Trường Cao đẳng Y dược hồng Đức thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thu thập số liệu thành công và đầy đủ
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè, xin cảm ơn những lời động viên, sự giúp đỡ dành cho tôi để tôi hoàn thành khóa học này
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2020
Học viên
Phạm Thị Hiểu
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: Phòng Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Thăng Long
Bộ môn Y tế công cộng Trường Đại học Thăng Long Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Tên tôi là: Phạm Thị Hiểu – Học viên lớp Cao học YTCC K7 , chuyên ngành Y tế công cộng Trường Đại học Thăng Long
Tôi xin cam đoan:
- Đây là luận văn do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS BS Võ Thị Kim Anh
- Các số liệu trong luận văn này là do tôi trực tiếp thu thập và kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chính xác, chưa có ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2020
Học viên
Phạm Thị Hiểu
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về rối loạn lo âu 4
1.2 Tình trạng rối loạn lo âu ở sinh viên qua các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam 12
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới 12
1.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 18
1.3 Giới thiệu sơ lược về địa điểm nghiên cứu 19
1.4 Khung lý thuyết nghiên cứu 21
Hình 1.1 Khung lý thuyết nghiên cứu 21
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 22
2.2 Thiết kế nghiên cứu 23
2.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 23
2.4 Phương pháp thu thập dữ liệu 25
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu đối với nghiên cứu định lượng 25
2.4.2 Phương pháp thu thập dữ liệu đối với cấu phần định tính 26
2.5 Các biến số, chỉ số trong nghiên cứu và tiêu chuẩn đáng giá 27
2.5.1 Các biến số đối với nghiên cứu định lượng 27
2.5.2 Tiêu chuẩn đánh giá rối loạn lo âu sử dụng trong nghiên cứu 32
2.5.3 Các chủ đề nghiên cứu định tính 32
2.6 Phương pháp xử lý dữ liệu 33
2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 33
Trang 6Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 34
3.1.1 Một số đặc điểm dân số xã hội của đối tượng nghiên cứu 34
3.1.2 Các đặc điểm về học tập, lối sống, tâm lý và gia đình của đối tượng nghiên cứu 35
3.2 Tỷ lệ lo âu ở sinh viên trường Cao đẳng Y Dược Hồng Đức thành phố Hồ Chí Minh 42
3.3 Một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ rối loạn lo âu ở sinh viên 45
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 55
4.1 Thực trạng rối loạn lo âu của sinh viên trường Cao đẳng Y Dược Hồng Đức năm 2020 55
4.2 Tỷ lệ lo âu ở sinh viên trường Cao đẳng Y Dược Hồng Đức thành phố Hồ Chí Minh 61
4.3 Một số yếu tố liên quan đến mức độ lo âu của sinh viên 62
KẾT LUẬN 69
KIẾN NGHỊ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
WHO World Health Organization Tổ Chức Y tế Thế Giới
diseases
Bảng phân loại bệnh Quốc
tế lần thứ 10 của Tổ chức
Y tế thế giới
Manual of Mental Disorders
Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn sức khoẻ tâm thần, phiên bản lần thứ tư
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2 1 Số lượng mẫu cần lấy ở mỗi khóa 24
Bảng 3.1 Một sốặc điểm dân số xã hội của đối tượng nghiên cứu 34
Bảng 3.2 Phân bố các yếu tố học tập của đối tượng nghiên cứu 35
Bảng 3.3 Phân bố các yếu tố lối sống của đối tượng nghiên cứu 37
Bảng 3.4 Phân bố các đặc điểm tâm lý của đối tượng nghiên cứu 39
Bảng 3.5 Phân bố các đặc điểm gia đình của đối tượng nghiên cứu 40
Bảng 3.6 Mức độ lo âu của đối tượng nghiên cứu 42
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa tỷ lệ rối loạn lo âu với các đặc điểm của sinh viên 45
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa tỷ lệ lo âu với yếu tố học tập của sinh viên 46
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa tỷ lệ lo âu với các yếu tố lối sống 49
Bảng 3.10 Mối liên giữa tỷ lệ lo âu với các yếu tố tâm lý của sinh viên 51
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa tỷ lệ lo âu với các yếu tố gia đình 53
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Khung lý thuyết nghiên cứu 21
Hình 3.1 Tỷ lệ rối loạn lo âu theo giới tính 43
Hình 3.2 Tỷ lệ rối loạn lo âu theo thời gian học 44
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Các báo cáo gần đây về vấn đề sức khỏe tâm thần cho thấy là báo cáo ngày đang có xu hướng gia tăng mà trong đó bao gồm các rối loạn lo âu, stress, trầm cảm [35] Lo âu (anxiety) là một rối loạn cảm xúc đặc trưng bởi cảm giác lo sợ lan tỏa, khó chịu mơ hồ kèm theo triệu chứng thần kinh tự chủ như đau đầu, vã mồ hôi, hồi hộp, siết chặt ở ngực, khô miệng, khó chịu ở thượng vị và bứt rứt không thể ngồi yên hay đứng yên một chỗ [12] Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) đưa ra khái niệm về rối loạn lo âu như sau: Rối loạn lo âu được đặc trưng bởi lo lắng quá mức và không thực tế về công việc hay sự kiện hằng ngày, hoặc có thể quá tập trung cho các đối tượng hoặc hình thức nào đó [23]
Theo ước tính của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO), ngày nay cứ bốn người thì
có ít nhất một người sẽ cần chăm sóc sức khỏe tâm thần tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời của họ [41] Cũng theo dự báo của WHO đến năm 2020 gánh nặng bệnh tật do sức khỏe tâm thần gây ra đứng thứ hai sau gánh nặng bệnh tật sức khỏe tim mạch [17] Theo các cuộc khảo sát dịch tễ, tỷ lệ hiện mắc ước tính của rối loạn
lo âu trong dân số chung của Hoa Kỳ là 3,1% và 5,7% trong suốt đời của họ [40] Rối loạn tâm thần là một trong những bệnh không lây nhiễm phổ biến trên toàn cầu Theo cuộc điều tra sức khỏe tâm thần của Tổ chức Y tế Thế giới về rối loạn tâm thần ở sinh viên khảo sát trên 21 quốc gia cho thấy tỷ lệ sinh viên trúng tuyển nhập học vào các trường đại học chiếm 20,3% sinh viên có rối loạn DSM-IV/CIDI
12 tháng trong đó sinh viên nữ chiếm tỷ lệ cao hơn so với nam giới [21] Ở Việt Nam, ước tính kết quả điều tra quốc gia 1999-2000 cho thấy tỷ lệ mắc 10 bệnh tâm thần thường gặp, chiếm khoảng 15% dân số (khoảng 13,5 triệu người) đang mắc các rối loạn tâm thần phổ biến và khoảng 3 triệu người mắc các loại tâm thần nặng [1]
Hiện nay, vấn đề sức khỏe tâm thần học đường là một vấn đề ngày càng được
Trang 10quan tâm Các bệnh lý về sức khỏe tâm thần ở học sinh, sinh viên cao hơn hẳn so với tỷ lệ người mắc bệnh ở quần thể chung và đặc biệt ở lứa tuổi này ít được tiếp xúc với điều trị do kỳ thị về mặt tâm lý Với sinh viên, thời gian phải làm quen với một môi trường học tập ở bậc đại học với nhiều khác biệt về khối lượng, nội dung tri thức, cách học, các mối quan hệ với thầy mới, bạn mới, phương pháp học mới, môi trường sống mới và điều kiện kinh tế ở thành phố có nhiều khác biệt so với học phổ thông Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh và trường Cao đẳng
sư phạm Trung ương thực hiện một nghiên cứu khảo sát về tỷ lệ rối loạn lo âu trên
650 sinh viên kết quả có 110 sinh viên có dấu hiệu rối loạn lo âu từ nhẹ đến nặng, trong đó mức trung bình chiếm khoảng 50% [9] Cũng theo một nghiên cứu cắt ngang mô tả về thực trạng stress, lo âu, trầm cảm ở sinh viên y khoa thực hiện trên
483 sinh viên năm thứ 2 khoa y và khoa răng hàm mặt Đại Học Y Dược thành phố
Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ stress, trầm cảm, lo âu lần lượt là 71,4%, 28,8%, 22,4%
đa số ở mức độ nhẹ và vừa 52,8% sinh viên có cùng ba loại rối loạn trên [15].
Như các trường Đại học, Cao đẳng khác, trường Cao đẳng Y Dược Hồng Đức
là một trong những trường đào tạo cho nhân lực y tế trong cả nước Với đội ngũ giảng viên có trình độ cao, cơ sở vật chất khang trang luôn tạo cho sinh viên được cảm thấy an tâm học tập, rèn luyện kĩ năng [19] Sinh viên ngành y đặc thù với khối lượng kiến thức y khoa, áp lực học tập với các mùa thi căng thẳng Do vậy mà vấn đề lo âu của sinh viên ngành y cần được quan tâm, tuy nhiên hiện nay chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này Câu hỏi đặt ra là tỷ lệ rối loạn lo âu ở sinh viên trường Cao đẳng Y Dược Hồng Đức Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2020 là bao nhiêu? Có những yếu tố nào liên quan đến rối loạn lo âu ở sinh viên? Trả lời câu hỏi này giúp góp phần khắc phục kịp thời do rối loạn lo âu gây ra từ đó nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo, đồng thời sẽ đưa ra những hướng hỗ trợ và các giải pháp kịp thời để nâng cao chất lượng học tập của sinh viên Vì lý do đó, nghiên cứu
“Lo âu và một số yếu tố liên quan ở sinh viên trường Cao đẳng Y Dược Hồng Đức
Trang 11Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020” được thực hiện với mục tiêu:
1 Đánh giá thực trạng lo âu ở sinh viên trường Cao đẳng Y Dược Hồng Đức thành phố Hồ Chí Minh năm 2020
2 Phân tích một số yếu tố liên quan giữa lo âu của đối tượng nghiên cứu
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về rối loạn lo âu
1.1.1 Khái niệm lo âu
Lo âu (anxiety) là một rối loạn cảm xúc đặc trưng bởi cảm giác lo sợ lan tỏa, khó chịu mơ hồ kèm theo triệu chứng thần kinh tự chủ như đau, vã mồ hôi, hồi hộp, siết chặt ở ngực, khô miệng, khó chịu ở thượng vị và bứt rứt không thể ngồi yên hay đứng yên một chỗ Lo âu là một hiện tượng phản ứng của con người trước những tình huống khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua, tồn tại và vươn tới Lo âu là một tín hiệu báo động, báo trước một nguy hiểm sắp xảy ra đến để con người sử dụng mọi biện pháp đương đầu với sự đe dọa [12] Lo âu được xem là bình thường khi phù hợp với tình huống
và mất đi khi tình huống được giải quyết Nhưng khi lo âu không có nguyên nhân
rõ rệt hoặc quá mức so với mong đợi, các triệu chứng và gây nhiều khó chịu dai dẳng ảnh hưởng đến các hoạt động hàng ngày thì nó đã trở thành một tình trạng bệnh tật
Bình thường ai cũng có lúc cảm thấy lo lắng vào lúc này lúc khác, đặc biệt lo
âu thường xuất hiện ở giai đoạn cuộc sống căng thẳng Tuy nhiên, lo lắng trở nên nghiêm trọng, liên tục gây trở ngại các hoạt động thường ngày thì đây là một dấu hiệu của rối loạn lo âu [18] Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) đưa ra khái niệm về rối loạn lo âu như sau: Rối loạn lo âu được đặc trưng bởi lo lắng quá mức và không thực tế về công việc hay sự kiện hằng ngày, hoặc có thể quá tập trung cho các đối tượng hoặc hình thức nào đó [23]
1.1.2 Các rối loạn liên quan đến rối loạn lo âu
Rối loạn lo âu toàn thể
Rối loạn lo âu toàn thể là sự lo âu, lo lắng thái quá về rất nhiều lĩnh vực khác
Trang 13nhau và không thể nào kiểm soát được Dấu hiệu này hầu như tồn tại mỗi ngày và kéo dài trên sáu tháng Người bệnh thường có các triệu chứng như đau cơ, mệt mỏi, khó tập trung, nhạy cảm, đau đầu, buồn nôn, khó thở và mất ngủ [28]
Rối loạn lo âu toàn thể có tỉ lệ 3-5% trong dân số và nó thường kèm với trầm cảm chủ yếu Khoảng 50% người bệnh khởi phát lo âu toàn thể ở thời thiếu nhi hoặc vị thành niên Những triệu chứng mạn tính và có xu hướng nặng hơn trong thời kỳ sang chấn Đòi hỏi điều trị thường không xác định, dù một số người bệnh lo
âu toàn thể trở nên gần như mất triệu chứng trong một vài năm [28]
Rối loạn hoảng loạn (có hoặc không có ám ảnh sợ khoảng trống)
Rối loạn hoảng loạn được đặc trưng bởi các cơn hoảng loạn từng giai đoạn, các thời kỳ lo âu mạnh mà khởi phát đột ngột và gia tăng về cường độ trong khoảng thời gian10 phút Các cơn hoảng loạn thường xảy ra khoảng 2 lần mỗi tuần và kéo dài 30 phút mỗi cơn, dù vậy chúng hiếm khi theo sau một mô hình cố định Trong cơn, người bệnh có các triệu chứng tim và hô hấp mạnh đưa người bệnh với niềm tin rằng sẽ sắp chết Mặc dù sa van hai lá thường gặp ở những người bệnh có rối loạn hoảng loạn, không chứng minh được là có liên quan nhân giữa hai tình trạng này Giữa các cơn, người bệnh thường phát triển lo âu chờ đợi, một sự sợ hãi căng thẳng rằng sẽ có một cơn khác làm hạn chế nhiều hơn chức năng của người bệnh Rối loạn hoảng loạn có thể có các dạng: [12]
Rối loạn hoảng loạn kèm chứng sợ khoảng rộng (Panic Disorder With Agoraphobia)
Rối loạn hoảng loạn không kèm chứng sợ khoảng rộng (Panic Disorder Without Agoraphobia)
Cơn hoảng loạn (Panic Attack)
Các ám ảnh sợ chuyên biệt và sợ xã hội
Các ám ảnh sợ được đặc trưng bởi sự sợ hãi vô lý, không có cơ sở về những
Trang 14vật dụng hoặc tình huống nào đó Ám ảnh sợ chuyên biệt là sợ sự vô lý những thứ như rắn, thang máy, hoặc những khu vực đóng kín (ám ảnh sợ chỗ kín) Bản chất của các kích thích này (ví dụ, các hiện tượng tự nhiên của động vật hoặc thực vật)
mà gây khởi phát triệu chứng phân chia các ám ảnh sợ thành các phân nhóm [12]
Ám ảnh sợ xã hội còn gọi là rối loạn lo âu xã hội là sự sợ bùng phát bản thân lúng túng nơi công cộng hoặc sử dụng nhà vệ sinh công cộng
Rối loạn ám ảnh bó buộc
Những người bị rối loạn ám ảnh bó buộc trải qua những cảm xúc, tư duy và hình ảnh (ám ảnh) thâm nhập, ngoài ý muốn, tái diễn và lo âu Sự lo âu được giảm nhẹ đến một phạm vi nào đó bởi thực hiện những hành vi lặp đi lặp lại (bó buộc) và đôi khi bởi chính suy nghĩ ám ảnh Triệu chứng thông thường nhất trong ám ảnh bó buộc là sự tránh né nhiễm bận tay và nhu cầu bức bách phải rửa tay lặp đi lặp lại sau khi sờ vào các đồ vật Việc kiểm tra lặp đi khóa cửa, khóa bình ga và đếm các
đồ vặt là những sự thường thấy khác Những hành vi như vậy có thể tiêu tốn hàng giờ đồng hồ và dẫn đến những hậu quả y khoa (ví dụ, hư hại da tay hoặc rửa tay quá kỹ) Những người bệnh ám ảnh bó buộc thường có sự thấu hiểu; họ nhận thức rằng những suy nghĩ và hành vi này là vô lý và muốn loại bỏ chúng [12]
Vì rối loạn Tourette và động kinh thái dương cũng liên quan đến những vận động lặp lại, rối loạn ám ảnh bắt buộc phải được phân biệt với những rối loạn này Mặc dù chúng là chúng bệnh khác nhau, ám ảnh bó buộc vả rối loạn Tourette có liên quan về di truyền; có tỷ lệ cao ám ảnh bó buộc trong đó nhu câu ý thức về sự hoàn hảo có thể biểu hiện ở những hành vi lặp lại, nhưng trong đó những nghi thức giống như rửa tay không nổi bật [12]
Các rối loạn stress và các rối loạn thích ứng
Khoảng một nửa tiếp xúc với những chấn thương tâm lý ý nghĩa trong suốt cuộc đời Hầu hết những người này đều hồi phục hoàn toàn; những người khác tiếp
Trang 15tục có những triệu chứng và có thể chẩn đoán là rối loạn stress- rối loạn stress sau chấn thương và rối loạn stress cấp Đối với những chẩn đoán này, phải tiếp xúc với mối đe dọa mạng sống hoặc nguy cơ tử vong tác động đến người bệnh hoặc bạn thân hoặc họ hàng của người bệnh Những ví dụ về những sự kiện như vậy bao gồm bạo hành tình dục, chiến tranh, động đất, cháy và tai nạn nghiêm trọng Những triệu chứng phải kéo dài lâu hơn một tháng để đáp ứng đủ các tiêu chuẩn chẩn đoán DSM- IV-TR cho stress sau chấn thương mà trong thể mạn tính có thể kéo dài nhiều năm Những triệu chứng kéo dài 2 ngày đến 4 tuần được chẩn đoán là Stress cấp hơn là stress sau chấn thương [12, 43]
Trải nghiệm lại bao gồm những suy nghĩ hoặc ký ức thâm nhập về sự kiện xảy
ra không mong đợi (hồi tưởng) cũng như ác mộng tái diễn sự kiện đó
Tăng thức tỉnh bao gồm sự lo âu, tăng đáp ứng giật mình, giảm ngủ hoặc gia tăng sự cảnh giới ( ví dụ giật mình với một tiếng động)
Tê liệt cảm xúc bao gồm giảm tính cảm xúc, mất khả năng trải nghiệm sự hạnh phúc, và khó kết nối về cảm xúc với những người khác
Tránh né bao gồm tội lỗi vì đã thoát được trong khi người khác đã chết hoặc bị thương nặng ( tội lỗi của người sống sót); sự phân ly và thu hút xã hội, và những cảm xúc về sự vô vọng và bị tràn ngập
1.1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn lo âu
Hiện nay có 2 hệ thống chẩn đoán trên thế giới được sử sụng cho chẩn đoán các rối loạn tâm thần nói chung và các rối loạn lo âu nói riêng đó là ICD-10 và DSM-IV-TR Trong nghiên cứu này, người ta dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán RLLA theo ICD-10, bao gồm:
Phải có một khoảng thời gian kéo dài ít nhất 6 tháng với sự căng thẳng nổi bật,
lo lắng và cảm giác lo sợ về các sự kiện, các rắc rối hàng ngày
Ít nhất 4 trong số các triệu chứng được liệt kê dưới đây phải có mặt, ít nhất
Trang 16một trong số 4 triệu chứng đó phải nằm trong mục (1) đến (4):
Các triệu chứng kích thích thần kinh thực vật:
Hồi hộp, tim đập mạnh, hoặc nhịp tim nhanh
Vã mồ hôi
Run
Khô miệng (không do sử dụng thuốc hoặc mất nước)
Các triệu chứng liên quan đến vùng ngực và bụng:
Khó thở
Cảm giác nghẹn
Đau hoặc khó chịu ở ngực
Buồn nôn hoặc khó chịu ở bụng (ví dụ: sôi bụng)
Các triệu chứng liên quan đến trạng thái tâm lý:
Chóng mặt, ngất xỉu hoặc choáng váng
Cảm giác mọi đồ vật không thật (trị giác sai thực tại),
Căng cơ hoặc đau đớn
Bồn chồn hoặc không thể thư giãn
Tâm lý căng thẳng
Có cảm giác có khối trong họng, hoặc khó nuốt
Các triệu chứng không đặc hiệu khác:
Trang 17Dễ bị giật mình
Khó tập trung hoặc đầu óc "trở nên trống rỗng" vì lo âu
Dễ nổi nóng, cáu gắt vô cớ
Khó ngủ vì lo lắng [6]
1.1.4 Giới thiệu về bộ công cụ đánh giá rối loạn lo âu ZUNG ( Zung Sefl-
rated Anxiety Scale) năm 1971
Các phương pháp đo lường được sử dụng trong mọi lĩnh vực khoa học, kể cả khoa học xã hội và nhân văn Trong một quần thể, việc đánh giá mức độ trí tuệ, các năng khiếu, sở thích, đặc điểm nhân cách của từng thành viên, giúp họ lựa chọn nghề nghiệp phù hợp khả năng và năng lực Trong y học, khoa học chẩn đoán tâm
lý lâm sàng lấy phương pháp trắc nghiệm tâm lý làm công cụ thực hành để lượng hóa các triệu chứng tâm thần, hỗ trợ chẩn đoán lâm sàng, phát hiện những lệch lạc
về trí tuệ và nhân cách mang tính chất tâm bệnh học, gợi ra phương hướng điều trị
và đánh giá kết quả điều trị [2]
Trong lĩnh vực lâm sàng tâm thần học trên thế giới, các trắc nghiệm tâm lý được sử dụng để đánh giá nhóm các triệu chứng về cảm xúc như thang đánh giá trầm cảm Beck (Beck Depression Inventory) năm 1961, thang đánh giá trầm cảm của Hamilton (HDRS – Hamilton Depression Rating Scale), do M.Hamilton giới thiệu 1960 Thang đánh giá lo âu Zung (Zung Self-rated Anxiety Scale) năm 1971, Thang đánh giá lo âu – trầm cảm – stress DASS (Depression-Anxiety-Stress Scale) năm 1995; Thang GDS được xây dựng để nhận diện các triệu chứng trầm cảm ở bệnh nhân là người già (Brink TL., 1982; Yesavage JA., 1983) Thang đánh giá trạng thái tâm thần MMSE (Mini – Mental State Examination) còn được gọi là thang Folstein năm 1975; nhóm các triệu chứng về trí nhớ, trí tuệ như thang đo trí tuệ Weschler dành cho người lớn (Weschler Adult Intelligence Scale – WAIS) năm
1955, trắc nghiệm trí nhớ Weschler (Weschler Memory Scale) năm 1945, trắc
Trang 18nghiệm khuôn hình tiếp diễn Raven năm 1936; và đánh giá về nhân cách như thang đánh giá đa diện nhân cách Minnesota – MMPI (Minnesota Multiphasic Personality Inventory) năm 1943, bảng nghiệm kê nhân cách Eysenck (Eysenck Personality Inventory – EPI) năm 1947 [2]
Ở Việt Nam, việc sử dụng các trắc nghiệm tâm lý vào những mục đích thực tiễn còn khá mới mẻ, nhưng bước đầu cũng đã được áp dụng trong ngành y tế với mục đích hỗ trợ chẩn đoán bệnh đặc biệt trong chuyên khoa tâm thần.Tại Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai Phòng Trắc nghiệm tâm lý từ nhiều năm nay
đã sử dụng các thang đánh giá trầm cảm để lượng hóa mức độ rối loạn các trạng thái trầm cảm Công việc đó được tiến hành một cách thường xuyên trên cả bệnh nhân tâm thần nội trú cũng như ngoại trú, kể cả trên những bệnh nhân có một số biểu hiện rối loạn cảm xúc của các chuyên khoa khác như tim mạch, tiêu hóa, cơ xương khớp hay phục hồi chức năng, những kết quả thu nhận được đã góp phần hỗ trợ chẩn đoán lâm sàng các rối loạn trầm cảm và đánh giá tiến triển trong điều trị, giúp cho các thầy thuốc chuyên khoa có thêm thông tin để kết luận bệnh, trạng thái bệnh và từ đó chọn lựa các giải pháp điều trị phù hợp [2] Như vậy trắc nghiệm tâm
lý nói chung và các thang trắc nghiệm đánh giá trầm cảm nói riêng giữ một vai trò
và có giá trị nhất định trong thực hành lâm sàng tâm thần học
Thang Đánh giá trầm cảm Zung (SAS) là thang tự đánh giá gồm có 20 đề mục, được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu dịch tễ học (Zung WW., 1965) Một hạn chế của SAS là cách trả lời tính điểm (không bao giờ, đôi khi, phần lớn thời gian, luôn luôn), điều này có thể làm bệnh nhân người già nhầm lẫn; do đó, họ cần phải có sự trợ giúp của trắc nghiệm vi hoặc những người khác để hoàn thành trắc nghiệm (Brink TL, Yesavage JA, Lum O & cs, 1982) Một vấn đề khác nữa ở thang đo này là điểm trung bình đối với người già cao hơn đáng kể so với những người trẻ hơn, điều này dẫn đến nhiều người già bình thường bị đánh giá thành dương tính giả (Zung WWK., 1975) Chẳng hạn như, Zung đưa ra ngưỡng điểm
Trang 19phân loại là 40 đối với trầm cảm với độ nhạy là 88%, nhưng dương tính giả lại có tỉ
lệ 44% (Zung WW, Green RL., 1973) Hơn nữa, SAS thường bỏ sót trầm cảm ở người già nếu trầm cảm biểu hiện chủ yếu bằng các triệu chứng về cơ thể (Raft D, Spencer RF, Toomey T & cs, 1977) Do những hạn chế nêu trên nên nhiều tác giả cho rằng không nên sử dụng SAS trong các nghiên cứu hay đánh giá lâm sàng về trầm cảm người già (Myers JK, Weissman MM., 1980; Carroll BJ, 1973) Độ nhạy
và độ đặc hiệu đối với SAS sử dụng ngưỡng điểm 60 cho thấy độ nhạy từ 58% - 76%, còn độ đặc hiệu từ 82% - 86% (Kitchell MA, 1982; Okimoto JT, 1982) Mặc
dù có nhiều ý kiến khác nhau trong việc sử dụng SAS ở nhóm quần thể người già, nhưng nó vẫn tiếp tục được dùng trong nghiên cứu, đặc biệt là ở Châu Âu (Schrijnemaekers VJJ & cs,1993), vì nó ghi nhận được những khác biệt về giới tính
và độ tuổi trong cấu trúc yếu tố của thang ở nhóm quần thể người già (Kivela S &
cs, 1986) SAS bản rút gọn (12 đề mục), tuy nhiên bản này ít có độ ứng nghiệm trong trầm cảm người già (Gosker CE & cs, 1994; Hulstijn EM & cs, 1992) [2] Thang lượng giá lo âu của Zung do William W.K Zung xây dựng (1971) còn được gọi tắt là SAS (The Zung Self Rating Axiety Scale) SAS là thang đo lượng giá về mức độ ở người trưởng thành, và đã được chỉnh lý trên người Việt Nam được sử dụng khá phổ biến tại các Bệnh viện tâm thần và trong nghiên cứu khoa học
Thang lượng giá SAS gồm có 20 đề mục, trong đó có 5 đề mục tính điểm ngược, mỗi đề mục có 4 lựa chọn và chỉ được chọn 1 giá trị từ 1 – 4
Trang 20Hầu hết hoặc tất cả thời gian
Có 5 câu tính điểm ngược lại (4-3-2-1) là câu 5, 9, 13, 17, 19
Cách tính điểm mức độ lo âu:
Lo âu nhẹ : 40-44 điểm
Lo âu trung bình: 45-52 điểm
Lo âu trên trung bình: 53-56 điểm
Lo âu mang tính chất bệnh lý: >57 điểm
Độ tin cậy và hệ số tương quan của thang đo Zung:
Hệ số tin cậy chung của thang đo Zung là 0,83 và hệ số tương quan 0,69 [42] Chúng tôi tiến hành đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha của thang đo Zung trên mẫu n = 30 sinh viên tại trường Đại học dự bị TP.HCM, kết quả Cronbach’s Alpha chung của Zung là 0,85 Nhìn chung kết quả cho thấy thang đo Zung có thể chấp nhận được về độ tin cậy
1.2 Tình trạng rối loạn lo âu ở sinh viên qua các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Hiện nay, tỷ lệ gặp phải rối loạn tâm thần học đường ngày càng cao và là một vấn đề ngày càng được quan tâm Các bệnh lý về sức khỏe tâm thần ở lứa tuổi học sinh, sinh viên cao hơn hẳn so với tỷ lệ người mắc bệnh ở quần thể chung và đặc biệt ở lứa tuổi này ít được tiếp xúc với điều trị do kỳ thị về mặt tâm lý Mặc dù rối loạn tâm thần là yếu tố dự báo báo động đáng kể liên quan đến thành tích học tập trong suốt quá trình học tại trường, nhưng hầu hết các nghiên cứu về rối loạn tâm thần của học sinh đều tập trung vào các trường tiểu học và trung học cơ sở [21] Theo cuộc điều tra dịch tễ học, tỷ lệ hiện mắc ước tính của rối loạn lo âu trong dân số chung của Hoa Kỳ là 3,1 % và tỷ lệ bệnh nhân mắc suốt đời là 5,7% trong
đó giới nữ có tỷ lệ hiện mắc gấp hai lần nam giới [40]
Trang 21Sự phổ biến và các yếu tố nguy cơ liên quan đến lo lắng và trầm cảm giữa những sinh viên đại học Trung Quốc Lo lắng, trầm cảm và thậm chí ý tưởng tự tử đang trở thành các vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến nhất ảnh hưởng đến sinh viên đại học Trung Quốc Nghiên cứu này đã điều tra sự phổ biến của các vấn đề sức khỏe tâm thần trên 1048 sinh viên đại học đến từ Thượng Hải bằng công cụ sàng lọc ngắn để khảo sát triệu chứng lo âu và trầm cảm, cũng như ý tưởng tự sát câu hỏi về sức khỏe bệnh nhân (PHQ-9), thang đo về rối loạn tổng quát (GAD-7), sức khỏe tinh thần bằng bảng câu hỏi về kiến thức y tế (MK), bảng câu hỏi về thái
độ liên quan đến bệnh tâm thần (MA), bảng câu hỏi về kiến thức tâm lý, bài phỏng vấn về thần kinh( MINI), thang đo sức khỏe tự đánh giá (SFHMS) Thang đo tự tin (SES), bảng câu hỏi về khiếu ứng Đồng bộ (SCQ), và thang đánh giá nhận thức –
10 (PSS-10) Hơn một nửa sinh viên bị ít nhất một vấn đề sức khỏe tâm thần Khoảng 65,55% sinh viên năm nhất bị trầm cảm, và 46,85% lo âu Tình trạng sống
ở vùng nông thôn, thu nhập gia đình thấp và niềm tin về tôn giáo có liên quan đáng
kể đến các vấn đề sức khỏe tâm thần [32]
Sự phổ biến và tương quan của chứng trầm cảm, lo âu và tự tử giữa các sinh viên đại học Sức khoẻ tinh thần trong số sinh viên đại học đại diện cho một mối quan tâm y tế công cộng quan trọng và ngày càng tăng mà dữ liệu dịch tễ là cần thiết Một cuộc khảo sát dựa trên Web được thực hiện cho một mẫu ngẫu nhiên tại một đại học công lập lớn có hồ sơ nhân khẩu học tương tự như sinh viên quốc gia Các rối loạn trầm cảm và lo âu đã được đánh giá bằng bảng câu hỏi về sức khoẻ bệnh nhân (R L Spitzer, K Kroenke, J B W Williams, và Nhóm nghiên cứu chăm sóc sức khoẻ ban đầu của Nhóm điều tra chăm sóc sức khoẻ bệnh nhân, 1999) Tỷ lệ trả lời là 56,6% (N= 2.843) Tỷ lệ hiện mắc của bất kỳ rối loạn trầm cảm hoặc lo âu là 15,6% đối với sinh viên đại học và 13,0% đối với sinh viên sau đại học Ý tưởng tự sát trong 4 tuần vừa qua đã được báo cáo bởi 2% học sinh Học sinh báo cáo những cuộc đấu tranh về tài chánh có nguy cơ mắc các vấn đề về sức
Trang 22khoẻ tâm thần cao hơn (odds ratio = 1,6-9,0) Những phát hiện này làm nổi bật nhu cầu giải quyết vấn đề sức khoẻ tâm thần ở những người trẻ tuổi, đặc biệt là những người có tình trạng kinh tế xã hội thấp hơn [25]
Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 506 sinh viên trong độ tuổi từ 18
-24 tuổi của 4 trường đại học công lập ở thung lũng Klang, Malaysia Thông qua một bảng câu hỏi thang đo đánh giá trầm cảm, lo âu -21 (DASS-21) Dữ liệu về đặc điểm xã hội, bản thân, gia đình và lối sống cũng được thu thập Qua phân tích kết quả cho thấy trong số tất cả sinh viên, 27,5% có trình độ trung bình, và 9,7% bị trầm cảm nặng; 34% có mức độ vừa phải, 29% lo âu nặng; và 18,6% ở mức vừa phải và 5,1% có căng thẳng nghiêm trọng dựa trên thang đo DASS -21 Cả hai mức
độ trầm cảm và lo lắng đều cao hơn đáng kể trong số các sinh viên độ tuổi (20 tuổi trở lên), giới nữ [38]
Cũng theo Tạp chí tâm lý học di truyền nghiên cứu và phát triển con người có nghiên cứu cắt ngang mô tả về Căng thẳng , Trầm cảm, Lo âu và bệnh tật ở 184 sinh viên đại học (145 phụ nữ, 39 nam) năm 2010 cho thấy có mối liên quan giữa giới tính, tuổi trong đó căng thẳng chiếm 9,5%; lo âu chiếm 4,7%; trầm cảm chiếm 7,6% [36]
Theo một nghiên cứu cắt ngang mô tả được tiến hành tại Đại học Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ với cỡ mẫu 376 sinh viên chuẩn bị cho các kỳ thi trong hai khóa năm học 2010-2011 trong đó 210 là sinh viên nữ chiếm (55,9%) về việc kiểm tra mức
độ lo lắng thử nghiệm và các yếu tố liên quan trong sinh viên chuẩn bị kỳ thi đại học Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi (SPSS 20) Mức độ lo lắng thử nghiệm của tổng thể sinh viên nữ cao hơn đáng kể so với sinh viên nam [31]
Sự căng thẳng tâm lý của sinh viên nói chung và sinh viên y nói riêng là mối quan tâm lớn của y tế công cộng trên toàn thế giới Tuy nhiên, một vài nghiên cứu được tiến hành để đánh giá các triệu chứng lo âu của sinh viên y khoa Trung Quốc
Trang 23Nghiên cứu cắt ngang mô tả đa trung tâm được tiến hành vào tháng 6 năm 2014 Các bảng câu hỏi tự báo cáo bao gồm thang đo mức độ lo âu của Zung (SAS), Big Five Inventory(BFI), Wagnlid và Young Resilience Scale (RS-14) và nhân khẩu học phân phối cho các đối tượng Một phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng
đã được sử dụng để chọn 2955 sinh viên y khoa (tỷ lệ đáp ứng : 83,57%) tại 4 trường cao đẳng y tế ở Liêu Ninh, Trung Quốc, cho thấy tỷ lệ rối loạn lo âu chiếm 47,3% [39] Cũng theo nghiên cứu cắt ngang mô tả về lo lắng kỳ thi của sinh viên y khoa được thực hiện trong 4 tuần tháng 5 năm 2006 tại Dow Medical College gồm
120 sinh viên có 25,8% là nam và 74,2% là nữ Bảng câu hỏi khảo sát gồm VAS
để đo lường sự lo lắng (mức độ lo lắng được đánh dấu là 64+/-28) của kỳ thi và 17 câu hỏi liên quan đến lối sống, vấn đề tâm lý Trong số các yếu tố khác nhau góp phần gây lo lắng cho kỳ thi, khối lượng học nhiều (90,8%), thiếu luyện tập thể dục (90%) và thời gian thi dài (77,5%) [29] Theo một trường Cao đẳng Y khoa Nishtar, Multan thực hiện một nghiên cứu cắt ngang mô tả bằng bảng câu hỏi cho
815 sinh viên thời gian 6 tháng suốt quá trình nghiên cứu và không có bệnh tự phát Trong số 815 sinh viên, 482 sinh viên hoàn thành bộ câu hỏi Tỷ lệ lo âu và trầm cảm cao được tìm thấy giữa các sinh viên (43,89%) Tỷ lệ lo âu và trầm cảm trong
số những sinh viên năm nhất, thứ hai, ba, bốn, năm năm và năm cuối lần lượt là 45,86%, 52,58%, 47,14%, 28,75%, và 45,10% Sinh viên nữ bị trầm cảm nhiều hơn sinh viên nam (OR= 2,05, KTC 95% = 1,42-2,95, p = 0,0001) Có sự liên quan đáng kể giữa tỷ lệ lo lắng và trầm cả và năm học của trường y khoa (p = 0,0276) [30] Cũng theo cuộc khảo sát cắt ngang mô tả giữa sinh viên năm thứ nhất 110 sinh viên và sinh viên năm cuối 122 sinh viên của một trường y khoa, kết quả được báo cáo 30,8% sinh viên năm nhất có triệu chứng về lo âu, 9,4% sinh viên năm cuối (p<0,001) có lo âu trong đó sinh viên nữ chiếm đa số [22]
Nghiên cứu cắt ngang mô tả xác định tỷ lệ trầm cảm và lo âu trong 358 sinh viên y khoa đang theo học tại một trường đại học tư ở Mã Lai và kiểm tra sự khác
Trang 24biệt theo giới tính, năm học và giai đoạn tập huấn của người tham gia (tiền lâm sàng và lâm sàng) Ngoài ra, nghiên cứu này đã kiểm tra mức độ căng thẳng mà dự đoán trầm cảm và lo lắng, sự khác biệt giữa trải nghiệm và phản ứng của người học chán nản với những căng thẳng, và sự khác biệt giữa trải nghiệm và phản ứng của các sinh viên y khoa lo lắng Tầm quan trọng của stress sinh viên sử dụng thang đo
để đo stress và phản ứng với Depression, Anxiety và Stress Scale được sử dụng để
đo trầm cảm và lo lắng Kết quả cho thấy 44% sinh viên lo lắng và 34,9% bị trầm cảm Nhiều sinh viên nữ lo lắng hơn nam sinh viên Stress là một yếu tố tiên đoán cho chứng trầm cảm và lo lắng Một sự khác biệt đáng kể đã được tìm thấy giữa trầm cảm, lo lắng và không lo lắng của sinh viên về những căng thẳng do sự thất vọng, thay đổi và phản ứng cảm xúc của họ đối với những người căng thẳng Nhìn chung, các học sinh chán nản và lo lắng bị căng thẳng và phản ứng khác biệt cao hơn với những sinh viên không căng thẳng và nhóm sinh viên không lo âu [37] Một nghiên cứu cắt ngang quan sát được tiến hành tại Đại học Saint Joseph, Lebanon, trong năm học 2013-2014 Chỉ số Insomnia Severity Index (ISI), chỉ số chất lượng giấc ngủ của Pittsburgh (PSQI), thang đo độ trễ Sleeping Epworth (ESS), và mức độ rối loạn lo âu tổng quát (7) (GAD) đã được gửi tới 462 sinh viên sau khi có sự đồng ý bằng văn bản -7).Tỷ lệ mất ngủ đáng kể về mặt lâm sàng là 10,6% (95% CI: 7,8-13,4%), thường gặp hơn ở sinh viên năm thứ nhất Điểm trung bình của ISI là 10.06 (SD = 3.76) 37,1% số người tham gia là người ngủ kém Sự buồn ngủ ban ngày quá mức (EDS) và giấc ngủ kém thường gặp ở những người tham gia mất ngủ lâm sàng nhiều hơn đáng kể (p = 0,031 và 0,001) Sự lo lắng quan trọng về lâm sàng xảy ra thường xuyên hơn ở các học sinh bị chứng mất ngủ lâm sàng (p = 0.006) và ở người ngủ kém (p = 0.003) 50,8% những người tham gia có lo lắng đáng kể về lâm sàng cho thấy EDS so với 30,9% những người không có lo lắng đáng kể về lâm sàng (p<0.0001) Mức độ SD trong mẫu nghiên cứu của sinh viên đại học Lebanon này cho thấy tầm quan trọng của
Trang 25việc kiểm tra sức khoẻ giấc ngủ trong quần thể này Hơn nữa, mối liên hệ giữa chứng lo âu và giấc ngủ nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của việc điều trị lo âu ngay khi phát hiện và không chỉ đơn giản nhằm vào việc giảm các vấn đề về giấc ngủ [24]
Một cuộc khảo sát dựa trên Web ẩn danh đã được phân phát cho sinh viên đại học và sau đại học tại một trường đại học có quy mô vừa phải ở Úc Một loạt các yếu tố nguy cơ tâm lý xã hội và nhân khẩu học đã được đo và mô hình hồi quy được sử dụng để kiểm tra các yếu tố dự báo đáng kể về trầm cảm chủ yếu và GAD Tổng cộng có 611 sinh viên hoàn thành khảo sát Tỷ lệ trầm cảm chủ yếu và GAD trong mẫu là tương ứng là 7,9 và 17,5% Về nhân tố nhân khẩu học, nguy cơ trầm cảm cao hơn đối với sinh viên trong năm học đầu tiên của mình, và nguy cơ GAD cao hơn đối với sinh viên nữ, những người chuyển đến học đại học từ nông thôn và sinh viên gặp phải căng thẳng về tài chính Về các yếu tố tâm lý xã hội, học sinh thiếu tự tin về bề ngoài có nguy cơ trầm cảm lớn hơn đáng kể và cảm thấy áp lực quá lớn để thành công, thiếu tự tin và khó khăn trong việc nghiên cứu có liên quan đáng kể đến nguy cơ GAD [26]
Theo một nghiên cứu về Rối loạn lo âu xã hội ở trẻ vị thành niên ở Ả-rập
Xê-út và các yếu tố liên quan bạo lực gia đình Nghiên cứu này đã được tiến hành tại hai trường trung học dành cho nam sinh ở Abha, Ả-rập Xê-út trong năm học 2013
Để thu thập dữ liệu, một bảng câu hỏi gợi lên thông tin về đặc điểm nền và tình trạng cuộc sống hôn nhân của cha mẹ cũng như bài kiểm tra mức độ lo âu xã hội Liebowitz (LSAS ), Để đánh giá SAD, đã được sử dụng Tổng cộng có 454 sinh viên tham gia nghiên cứu Tuổi của người tham gia dao động từ 15 đến 20 năm với trung bình 17,4 năm Tỷ lệ SAD là 11,7% Khoảng 36% và 11,4% học sinh tương ứng có dạng nghiêm trọng và nặng hơn của SAD Bạo lực gia đình được xem như
là một yếu tố nguy cơ đáng kể cho SAD Các yếu tố tiên đoán độc lập của SAD là
sự bạo lực gia đình (tỷ số chênh [OR] = 3,97, khoảng tin cậy 95% [31]: 1,90-8,31
Trang 26và OR = 2,67, KTC 95%: 3,17-5,19, tương ứng) Tỷ lệ SAD ở học sinh trung học tại Abha cao [27]
1.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, thống kê của Viện Sức khỏe Tâm thần Trung ương cho biết, hiện có khoảng 30% dân số mắc rối loạn tâm thần, trong đó rối loạn trầm cảm, lo
âu phổ biến nhất ở học sinh, sinh viên ở độ tuổi từ 20 tuổi trở lên tỷ lệ bệnh tăng nhanh theo lứa tuổi Với học sinh trung học phổ thông, tỷ lệ trầm cảm là 5%, tỷ lệ này ở các sinh viên trường cao đẳng, đại học khu vực phía Bắc là 7% nữ nhiều gấp đôi nam [7]
Một nghiên cứu cắt ngang đã được thực hiện trong số 1161 học sinh trung học tại thành phố Cần Thơ trong tháng 9 đến tháng 12 năm 2011 Một bảng câu hỏi cấu trúc được sử dụng để đánh giá sự lo lắng, trầm cảm, ý tưởng tự sát và các giải pháp
đề xuất Trầm cảm được đo bằng cách sử dụng Trung tâm Nghiên cứu Dịch tễ học Trầm cảm Tỷ lệ ước tính của các triệu chứng đạt đến một ngưỡng tương đương với chẩn đoán lo âu và trầm cảm lần lượt là 22,8% và 41,1% Tự tử đã được 26,3% học sinh nghiêm túc xem xét, trong khi 12,9% đã lập kế hoạch tự tử và 3,8% đã cố gắng
tự tử Các yếu tố nguy cơ chủ yếu liên quan đến lo lắng và trầm cảm là do gia đình lạm dụng thể chất hoặc tinh thần, và căng thẳng về giáo dục Theo đề xuất các giải pháp, gần 80% số sinh viên cho rằng khối lượng môn học nên được giảm xuống
và tư vấn viên tâm lý nên được bổ nhiệm tại các trường học Khoảng một nửa số sinh viên nói rằng thái độ của cha mẹ và thầy cô cần thay đổi Có những mối liên quan mạnh mẽ với lạm dụng thể chất và tinh thần trong gia đình và áp lực căng thẳng trong giáo dục Chương trình học và thái độ của cha mẹ và giáo viên cần phải được thay đổi từ trừng phạt đến cách tiếp cận hỗ trợ hơn để giảm nguy cơ sức khoẻ tâm thần [34]
Theo một nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đại Hành năm 2013 về tỷ lệ rối loạn
Trang 27lo âu ở học sinh trung học phổ thông huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang, tổng số học sinh có RLLA nặng của 3 trường có 81 học sinh, trong đó cao nhất là trường THPT Vĩnh Kim chiếm tỷ lệ 14,6%, thứ hai là trường THPT Dưỡng Điềm chiếm 13,6%, cuối cùng là trường THPT Rạch Gầm – Xoài Mút 6,8% Đối với RLLA nặng thì học sinh nữ nhiều gấp 3 lần so với học sinh nam [6]
Nghiên cứu của Lê Anh Tuấn năm 2010 trên 1080 học sinh trường Trung học phổ thông Nguyễn Hữu Tiến, huyện Hóc Môn, TP HCM cho kết quả 65,5% học sinh bị stress, 46,3% bị trầm cảm,73,9 % bị lo âu và 34,1% học sinh bị cả 3 hội chứng trên Trong đó nam giới chiếm 0,92 lần lo âu so với nữ giới [20]
1.3.3
1.3 Giới thiệu sơ lược về địa điểm nghiên cứu
Trường Cao đẳng Y Dược Hồng Đức được thành lập theo quyết định số 3608/QĐ – BGDĐT, ngày 10 tháng 9 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo Trường Cao đẳng Y Dược Hồng Đức là cơ sở đào tạo ngoài công lập, đa cấp,
đa ngành, là cơ sở nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, cơ sở đào tạo đội ngũ cán bộ y dược trình độ cao đẳng và thấp hơn
Trường Cao Đẳng Y Dược Hồng Đức TP HCM Đến nay, trường có tổng cộng 103 cán bộ - giảng viên trong đó có 81 giảng viên cơ hữu (01 Tiến sỹ, 08 Thạc sỹ, 49 đại học đúng chuyên ngành) và 23 giảng viên thỉnh giảng Về cơ sở vật chất, Cơ sở vật chất Nhà trường với trên 150 giảng đường và phòng học rộng rãi thoáng mát, trên 100 phòng thí nghiệm và thực hành có trang thiết bị hiện đại, các khu nội trú có sức chứa 5.000 người Thư viện hiện có trên 200.000 bản sách các loại Nhà trường đã tin học toàn bộ và sâu rộng mọi hoạt động trong trường, sinh viên có thể truy cập internet, sử dụng mạng để tìm kiếm các thông tin thư viện điện
tử phục vụ học tập Mọi liên hệ giao tiếp với thầy và tìm kiếm những thông tin về khoa, về trường v.v , sinh viên học sinh có thể tìm kiếm trên mạng
Trang 28Nhà ăn, kí túc xá sinh viên, nhà truyền thống, thư viện điện tử, hệ thống xưởng thực tập, phòng thí nghiệm và các phòng học, giảng đường ngày càng được hoàn thiện theo tiêu chuẩn quốc tế Các phương tiện tin học trong Nhà trường được nối mạng và kết nối internet sẽ ngày càng được sử dụng rộng rãi
Bên cạnh đó Nhà trường còn có Bệnh Viện Đa Khoa Hồng Đức là Bệnh viện thuộc trường Cao Đẳng Y Dược Hồng Đức, có Chuỗi hệ Thống Nhà Thuốc Onehealth trực thuộc Bệnh Viện và Nhà Trường, Cùng Tạp chí Sức Khoẻ Onehealth….nhằm Tạo môi trường Năng Động cho sinh Viên khi học tập và ra trường…
Về số lượng sinh viên, tại trường cao đẳng Y dược Hồng Đức, thống kê năm
2019 cho thấy số lượng sinh viên khoảng 3.500 sinh viên Do vậy mà vấn đề lo âu của sinh viên ngành y cần được quan tâm, tuy nhiên hiện nay chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này
Trang 291.4 Khung lý thuyết nghiên cứu
Hình 1.1 Khung lý thuyết nghiên cứu
GIA ĐÌNH
Gia đình đặt áp lực
Tình trạng hôn nhân bố mẹ
Mâu thuẫn với gia đình
Sự quan tâm của gia đình
HỌC TẬP
Khung chương trình học
Áp lực trước kì thi
Sự tương tác của giảng viên
với sinh viên
TÂM LÝ
Thua kém bạn về kết quả học tập
Thiếu tự tin ngoại hình
Khi khó khăn thường chia sẻ với
ai
Trang 30CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu bao gồm 2 cấu phần định tính và định lượng, do đó đối tượng nghiên cứu cho 2 cấu phần:
- Cấu phần định lượng: Sinh viên trường Cao đẳng Y Dược Hồng Đức trong thời gian nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn:
+ Sinh viên hiện đang học tại trường
+ Sinh viên đồng ý tham gia nghiên cứu
Đại diện Ban giám hiệu, Lãnh đạo các khoa, phòng đào tạo
Giảng viên đang công tác tại trường
Đại diện người thân của sinh viên
Sinh viên trường Cao đẳng Y Dược Hồng Đức
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 02 đến tháng 10 năm 2020
Địa điểm nghiên cứu: Trường Cao đẳng Y Dược Hồng Đức Thành phố Hồ
Chí Minh
Trang 312.2 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả Kết hợp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính
2.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.3.1 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu cho cấu phần định lượng
Đầu ra của nghiên cứu là tỷ lệ lo âu ở sinh viên, do đó, cỡ mẫu tối thiểu được ước tính theo công thức ước lượng cỡ mẫu cho một tỷ lệ:
n: cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu
α: xác suất sai lầm loại 1 (α = 0,05)
Z1-α / 2: trị số từ phân phối chuẩn, độ tin cậy 95% thì Z1-α/ 2 = 1,96
d: sai số của ước lượng (d = 0,05)
p: tỷ số lo âu (p = 0,401) theo nghiên cứu tác giả Dương Thị Niêng về “Tỷ lệ rối loạn lo âu và các yếu tố liên quan theo thang đo Zung ở sinh viên Dự bị thành phố Hồ Chí Minh năm 2017” [11] Từ công thức trên ta tính được cỡ mẫu cho nghiên cứu là 370 sinh viên
Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo năm học, ngành học kết hợp với chọn mẫu thuận tiện
Bước 1: chọn mẫu phân tầng theo năm học
Số lượng mẫu cần lấy ở tầng (khóa học) được tính theo công thức:
ni = n x 𝑁𝑖𝑁
Trong đó, n là cỡ mẫu trong nghiên cứu, ni là số mẫu cần lấy tại mỗi khối lớp,
Trang 32Ni là số sinh viên hiện tại của mỗi khối lớp, N là tổng số sinh viên của trường Dựa vào thống kê sinh viên hiện tại tại trường, chúng tôi có bảng cỡ mẫu cần thu thập như sau:
Bảng 2 1 Số lượng mẫu cần lấy ở mỗi khóa
STT Tên lớp Số sinh viên Tỉ lệ (%) Mẫu cần lấy
Bước 2: Chọn mẫu thuận tiện khi vào mỗi lớp và lấy đủ số lượng theo bảng 2.1 Những sinh viên thỏa các điều kiện chọn mẫu được các điều tra viên tiếp cận một cách ngẫu nhiên, thông tin và xin ý kiến chấp thuận tham gia nghiên cứu Sau khi chấp thuận nghiên cứu (thể hiện qua phiếu chấp thuận tham gia nghiên cứu), đối tượng nghiên cứu sẽ được mời vào nghiên cứu và tiến hành phỏng vấn Quá trình này được thực hiện liên tục cho đến khi đủ số lượng mẫu nghiên cứu
2.3.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu cho cấu phần định tính
Trang 3301 thảo luận nhóm với 06 bạn sinh viên được chọn trong mỗi lớp (01 sinh viên/lớp)
Cách chọn mẫu cho phần định tính
Chọn mẫu có chủ đích
2.4 Phương pháp thu thập dữ liệu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu đối với nghiên cứu định lượng
Công cụ thu thập số liệu
Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi tự điền:
Phần A: 6 câu thuộc về đặc tính mẫu (A1-A6)
Phần B: 9 câu thuộc về tâm lý, lối sống (B1-B9)
Phần C: 10 câu thuộc về đặc điểm liên quan đến học tập, gia đình (C1-C10) Phần D: 20 câu về thang đo đánh gia rối loạn lo âu ở người lớn Zung (SAS)
Để đánh giá về lo âu của sinh viên chúng tôi sử dụng thang đo đã được chuẩn hóa tại việt nam qua nhiều nghiên cứu
Kỹ thuật thu thập số liệu
Sử dụng bộ câu hỏi tự điền: những bạn sinh viên được lựa chọn sẽ được giải thích về mục đích của nghiên cứu và hình thức trả lời, sau khi hoàn thành câu hỏi, nhóm nghiên cứu tiến hành thu lại bộ câu hỏi
Quy trình thực hiện
Bước 1: Học viên trực tiếp liên hệ với ban đào tạo trường Cao đẳng Y dược Hồng Đức thành phố Hồ Chí Minh để xin chấp thuận cho phép thực hiện nghiên cứu, đồng thời sắp xếp các thời điểm để thu thập số liệu
Bước 2: Tiếp cận và xin ý kiến chấp thuận tham gia nghiên cứu
Các điều tra viên sẽ đến từng lớp học, dựa vào danh sách sinh viên của lớp và
cỡ mẫu cần lựa chọn tại mỗi lớp, sau đó họ tiếp cận với các sinh viên này vào đầu
Trang 34các buổi học hoặc trong các giờ giải lao, nghiên cứu viên sẽ thông tin (và đưa phiếu thông tin về nghiên cứu) cho sinh viên để họ lựa chọn đồng ý tham gia vào nghiên cứu Nếu các sinh viên đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ ký vào phiếu chấp thuận tham gia nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, các điều tra viên sẽ giải đáp mọi thắc mắc liên quan đến nghiên cứu cho sinh viên
Bước 3: tiến hành thu thập số liệu, sau khi đồng ý tham gia nghiên cứu, điều tra viên sẽ phát phiếu khảo sát và mời sinh viên trả lời bộ câu hỏi khảo sát
Bước 4 Điều tra viên kiểm tra và làm sạch số liệu ngay sau khi đối tượng nghiên cứu đưa lại phiếu điều tra, trường hợp thông tin không đầy đủ nghiên cứu viên gửi lại phiếu để người bệnh bổ sung ngay trước khi ra về
Bước 5 Tiến hành xử lý và phân tích số liệu
2.4.2 Phương pháp thu thập dữ liệu đối với cấu phần định tính
Công cụ thu thập số liệu
Công cụ thu thập số liệu nghiên cứu định tính là bản hướng dẫn phỏng vấn sâu
và thảo luận nhóm, được xây dựng dựa trên khung lý thuyết nghiên cứu nhằm tìm hiểu thêm về các yếu tố ảnh hưởng đến rối loạn lo âu, trầm cảm của sinh viên từ góc độ của các nhóm đối tượng
Kỹ thuật thu thập số liệu
Các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được thực hiện tại phòng riêng nhằm đảm bảo tính riêng tư và thuận tiện Các cuộc phỏng vấn sâu sinh viên được thực hiện ngay sau khi hoàn thành phỏng vấn điều tra định lượng với sinh viên được chọn
Mỗi cuộc phỏng vấn sâu được thực hiện trong khoảng 15 – 30 phút và khoảng
60 phút cho cuộc thảo luận nhóm tại văn phòng đoàn thanh niên Thông tin được thu thập đến khi dữ liệu nhận được bão hòa Quá trình thực hiện phỏng vấn sâu
Trang 35(PVS) và thảo luận nhóm (TLN) được ghi âm hoặc ghi chép thành biên bản
2.5 Các biến số, chỉ số trong nghiên cứu và tiêu chuẩn đáng giá
2.5.1 Các biến số đối với nghiên cứu định lượng
loại
PP thu thập
I Biến số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (biến độc lập)
Giới Tỉ lệ giới tính nam – nữ trong nghiên cứu Nhị giá Phát vấn Sinh viên học
năm thứ Tỉ lệ sinh viên từng năm trong ngiên cứu Thứ tự
Phát vấn Dân tộc Tỉ lệ từng dân tộc trong nghiên cứu Nhị giá Phát vấn Tôn giáo Tỉ lệ mỗi tôn giáo trong nghiên cứu Nhị giá Phát vấn Học lực Tỉ lệ từng loại học lực trong nghiên cứu Danh
II Biến số về lối sống, tâm lý (biến độc lập)
Chỗ ở hiện tại Tỷ lệ từng nhóm nơi ở (Ký túc xá, nhà trọ,
khác) trong nghiên cứu Danh định Phát vấn Làm thêm Tỷ lệ có làm thêm – không làm thêm trong
Thư giãn của
Danh định Phát vấn
Tập thể dục, thể
thao
Tỷ lệ các nhóm mức độ tập thể dục thể thao trong nghiên cứu
(Không, rất ít: <1 lần/ tuần, bình thường:
1-3 lần/tuần, nhiều : >3 lần/ tuần)
Trang 36khăn trong cuộc
Trong tháng qua
gia đình bạn có
xảy ra mâu thuẫn
Tỷ lệ các nhóm mức độ mâu thuẫn gia đình của sinh viên trong nghiên cứu
(Rất thường xuyên: 4 lần trong một tháng, thường xuyên: 2 lần trong một tháng, thỉnh thoảng: 1 lần trong một tháng, hiếm khi: có hoặc không có lần nào cả, không bao giờ)
Thứ tự Phát vấn
Trong tháng qua
sự quan tâm của
Tỷ lệ các nhóm mức độ có sự quan tâm của gia đình sinh viên trong nghiên cứu Thứ tự Phát vấn
Trang 37gia đình đối với
bạn
(Rất nhiều: gia đình gọi điện thoại hỏi thăm trên 4 lần/tuần, nhiều: gia đình gọi điện thoại hỏi thăm 4 lần/tuần, vừa phải : gia đình gọi điện thoại hỏi thăm 2-4 lần/tuần, hiếm khi: gia đình gọi điện thoại hỏi thăm <2/tuần, không quan tâm)
Bạn quan tâm lo
lắng về gia đình
của bạn
Tỷ lệ các nhóm mức độ lo lắng về gia đình của mình trong nghiên cứu
(Rất nhiều: bạn gọi điện thoại hỏi thăm gia đình trên 4 lần/tuần, nhiều: bạn gọi điện thoại hỏi thăm gia đình 4 lần/tuần, vừa phải: bạn gọi điện thoại hỏi thăm gia đình 2-4 lần/tuần, hiếm khi: bạn gọi điện thoại hỏi thăm gia đình <2/tuần, không quan tâm)
(Rất nhiều, nhiều, vừa phải, ít, không quan tâm)
Thứ bậc Phát vấn
Dễ bối rối và
cảm thấy hoảng
sợ
Tỷ lệ các nhóm mức độ cảm thấy dễ bối rối và cảm thấy hoảng sợ của sinh viên trong nghiên cứu
(Không có, đôi khi, phần lớn thời gian và hầu hết thời gian
Thứ bậc Phát vấn
(Không có, đôi khi, phần lớn thời gian và
Thứ bậc Phát vấn
Trang 38hầu hết thời gian)
Tay và chân lắc
lư, run lên
Tỷ lệ các nhóm mức độ cảm thấy tay và chân lắc lư, run lên của sinh viên trong nghiên cứu
(Không có, đôi khi, phần lớn thời gian và hầu hết thời gian)
Thứ bậc Phát vấn
Đang khó chịu vì
đau đầu, đau cổ
và đau lưng
Tỷ lệ các nhóm mức độ cảm thấy đang khó chịu vì đau đầu, đau cổ và đau lưng của sinh viên trong nghiên cứu
(Không có, đôi khi, phần lớn thời gian và hầu hết thời gian)
Thứ bậc Phát vấn
Cảm thấy tim
mình đập nhanh
Tỷ lệ các nhóm mức độ cảm thấy tim mình đập nhanh của sinh viên trong nghiên cứu
(Không có, đôi khi, phần lớn thời gian và hầu hết thời gian)
Thứ bậc Phát vấn
Đang khó chịu vì
cơn hoa mắt,
chóng mặt
Tỷ lệ các nhóm mức độ cảm thấy đang khó chịu vì cơn hoa mắt, chóng mặt của sinh viên trong nghiên cứu
(Không có, đôi khi, phần lớn thời gian và hầu hết thời gian)
Thứ bậc Phát vấn
Có thể thở ra hít
vào một cách dễ
dàng
Tỷ lệ các nhóm mức độ cảm thấy có thể thở ra hít vào một cách dễ dàng của sinh viên trong nghiên cứu
(Không có, đôi khi, phần lớn thời gian và hầu hết thời gian)
Thứ bậc Phát vấn
Trang 39Cảm thấy tê buốt
Thứ bậc Phát vấn
Đang khó chịu vì
đau dạ dày và
đầy bụng
Tỷ lệ các nhóm mức độ cảm thấy đang khó chịu vì đau dạ dày và đầy bụng của sinh viên trong nghiên cứu
(Không có, đôi khi, phần lớn thời gian và hầu hết thời gian)
Thứ bậc Phát vấn
Luôn cần phải đi
vệ sinh
Tỷ lệ các nhóm mức độ cảm thấy luôn cần phải đi vệ sinh của sinh viên trong nghiên cứu
(Không có, đôi khi, phần lớn thời gian và hầu hết thời gian)
Thứ bậc Phát vấn
Bàn tay thường
khô và ấm
Tỷ lệ các nhóm mức độ cảm thấy bàn tay thường khô và ấm của sinh viên trong nghiên cứu (Không có, đôi khi, phần lớn thời gian và hầu hết thời gian)
Thứ bậc Phát vấn
Mặt thường
nóng và đỏ
Tỷ lệ các nhóm mức độ cảm thấy thường nóng và đỏ của sinh viên trong nghiên cứu
(Không có, đôi khi, phần lớn thời gian và hầu hết thời gian)
Thứ bậc Phát vấn
Ngủ dễ dàng và
luôn có một giấc
ngủ tốt
Tỷ lệ các nhóm mức độ cảm thấy ngủ dễ dàng và luôn có một giấc ngủ tốt của sinh viên trong nghiên cứu
(Không có, đôi khi, phần lớn thời gian và hầu hết thời gian)
Thứ bậc Phát vấn
Thường có ác
mộng
Tỷ lệ các nhóm mức độ cảm thấy có ác mộng của sinh viên trong nghiên cứu
(Không có, đôi khi, phần lớn thời gian và hầu hết thời gian)
Thứ bậc Phát vấn
Cảm thấy nóng
nảy và lo âu hơn
thường lệ
Tỷ lệ các nhóm mức độ cảm thấy nóng nảy và lo âu hơn thường lệ của sinh viên trong nghiên cứu
(Không có, đôi khi, phần lớn thời gian và hầu hết thời gian)
Thứ bậc Phát vấn
Trang 402.5.2 Tiêu chuẩn đánh giá lo âu sử dụng trong nghiên cứu
Thang lượng giá lo âu của Zung do William W.K Zung xây dựng (1971) còn được gọi tắt là SAS (The Zung Self Rating Axiety Scale) SAS là thang đo lượng giá về mức độ ở người trưởng thành, và đã được chỉnh lý trên người Việt Nam được sử dụng khá phổ biến tại các Bệnh viện tâm thần và trong nghiên cứu khoa học
Thang lượng giá SAS gồm có 20 đề mục, trong đó có 5 đề mục tính điểm ngược, mỗi đề mục có 4 lựa chọn và chỉ được chọn 1 giá trị từ 1 – 4
Đề mục có giá trị tăng dần: 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 10, 11, 12, 14, 15, 16, 18, 20
Cách đánh giá cho điểm:
Không có Đôi khi
Phần lớn thời gian
Hầu hết hoặc tất cả thời gian
Có 5 câu tính điểm ngược lại (4-3-2-1)là câu 5, 9, 13, 17, 19
Cách tính điểm mức độ lo âu:
Lo âu nhẹ : 40-44 điểm
Lo âu trung bình: 45-52 điểm
Lo âu trên trung bình: 53-56 điểm
Lo âu mang tính chất bệnh lý: > 57 điểm
2.5.3 Các chủ đề nghiên cứu định tính
- Áp lực học tập: Ảnh hưởng của các vấn đề về khối lượng, số lượng giờ học, bài học, áp lực về thành tích trong nhà trường và trong gia đình ảnh hưởng như thế nào đến lo âu của sinh viên
- Yếu tố tâm lý, gia đình: Các vấn đề về tâm lý và yếu tố đời sống gia đình của sinh viên ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng lo âu của sinh viên
- Các yếu tố xã hội: Sự ảnh hưởng của các yếu tố xã hội, bao gồm các mối