Tác hại không mong muốn của kháng sinh 16 Đáp án đúng về sử Tỷ lệ về kiến thức đạt về sử dụng dụng thuốc thuốc của người dân Thực trạng tiếp cận thuốc của ĐTNC 17 Chủng loại thuốc Số lượ[r]
Trang 2KHOA: KHOA H ỌC SỨC KHỎE
Trang 3BHYT Bảo hiểm y tế
PKĐKKV Phòng khám đa khoa khu vực
TTY Thuốc thiết yếu
TYT Trạm y tế
WHO Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số khái niệm về thuật ngữ trong nghiên cứu 3
1.2 Tiếp cận và sử dụng thuốc thiết yếu 5
1.2.1 Trên thế giới 5
1.2.2 Tại Việt Nam 7
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng thuốc của đối tượng nghiên cứu 13
1.4 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu 15
1.5 Khung lý thuy ết nghiên cứu 17
CH ƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 18
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 18
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 19
2.2 Phương pháp nghiên cứu 19
2.2.1 Thiết kết nghiên cứu 19
2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 19
2.3 Phương pháp thu thập thông tin 20
2.3.1 Bộ phiếu điều tra 20
2.3.2 K ỹ thuật thu thập số liệu 20
2.3.3 Quá trình thu thập số liệu 20
2.4 Biến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá 22
2.4.1 Biến số và chỉ số nghiên cứu 22
2.4.2 Tiêu chuẩn đánh giá nghiên cứu 24
2.5 Phân tích và xử lý số liệu 25
2.6 Sai số và biện pháp hạn chế sai số 25
2.6.1 Sai số 25
2.6.2 Biện pháp hạn chế sai số 25
Trang 52.8 Hạn chế của nghiên cứu 26
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 27
3.2 Tiếp cận và sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả của người dân 29
3.2.1 Hành vi sử dụng thuốc của người dân tại địa bàn nghiên cứu 29
3.2.2 Khả năng tiếp cận thuốc của người dân tại địa bàn nghiên cứu 33
3.3 Các y ếu tố liên quan đến sử dụng thuốc của đối tượng nghiên cứu 41
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 45
4.1 Thực trạng tiếp cận và sử dụng thuốc thiết yếu của người dân một số xã thu ộc tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông năm 2018 45
4.1.1 Điều kiện tiếp cận thuốc thiết yếu 46
4.1.2 Hiểu biết những dấu hiệu của dị ứng thuốc 46
4.1.3 Hiểu biết cách xử trí khi bị tác dụng phụ của thuốc 47
4.1.4 Kiến thức về sử dụng thuốc theo đơn của y/bác sĩ 47
4.1.5 Kiến thức về thời gian của 1 đợt sử dụng kháng sinh 49
4.1.6 Kiến thức về tác dụng không mong muốn khi dùng kháng sinh 49
4.1.7 Hiểu biết về kháng kháng sinh 50
4.2 Một số yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng thuốc thiết yếu 50
4.2.1 Thực trạng mua thuốc của người dân 50
4.2.2 Thực trạng sử dụng thuốc theo đơn của y/bác sĩ 51
4.2.3 Thực trạng sử dụng thuốc tại các hộ gia đình 51
4.2.4 Thực hành chung về sử dụng thuốc của người dân 53
4.2.5 Một số yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng thuốc của người dân 55
KẾT LUẬN 58
1 Thực trạng tiếp cận và sử dụng thuốc của đối tượng nghiên cứu 58
2 Một số yếu tố liên quan tới thực hành sử dụng thuốc của người dân 58
KHUYẾN NGHỊ 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 6B ảng 2 1 Địa bàn nghiên cứu: 18
B ảng 2 2 Địa bàn nghiên cứu: 24
B ảng 3.1 Phân bố của đối tượng nghiên cứu theo tuổi 27
B ảng 3.2 Phân bố của đối tượng nghiên cứu theo giới 27
B ảng 3.3 Phân bố của đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn 27
B ảng 3.4 Phân bố của đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp 28
B ảng 3.5 Phân bố của đối tượng nghiên cứu theo dân tộc 28
B ảng 3.6 Phân bố của đối tượng nghiên cứu theo kinh tế hộ gia đình 28
B ảng 3.7 Nơi thường mua/nhận thuốc của hộ gia đình khi có người ốm 29
B ảng 3.8 Khó khăn tài chính trong việc mua thuốc của hộ gia đình 30
B ảng 3.9 Số lượng và tỷ lệ hộ gia đình được tư vấn đầy đủ về cách sử dụng thu ốc và tác dụng phụ của thuốc 30
Bảng 3.10 Số lượng và tỷ lệ hộ gia đình mua thuốc điều trị 31
B ảng 3.11 Số lượng và tỷ lệ hộ gia đình uống thuốc đúng như đơn đã kê 31
B ảng 3.12 Cách xử lý của đối tượng nghiên cứu khi bị tác dụng phụ của thuốc 32
B ảng 3.13 Tỷ lệ thực hành sử dụng thuốc của đối tượng nghiên cứu (n=90) 32
B ảng 3.14 Chủng loại thuốc thường có sẵn trong các hộ gia đình 33
B ảng 3.15 Tỷ lệ các nhóm thuốc có ở đa số TYT trên 60% so với thông tư 39/2017/TT-BYT 34
Bảng 3.16 Số lượng và tỷ lệ quầy thuốc tư nhân tại các xã nghiên cứu 34
B ảng 3.17 Tỷ lệ các nhóm thuốc có ở đa số quầy thuốc tư nhân trên 70% so v ới thông tư 39/2017/TT-BYT 35
Bảng 3.18 Khoảng cách trung bình và thời gian tiếp cận các cơ sở y tế 36
B ảng 3.19 Số lượng và tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết về thuốc kê đơn 36
Trang 7đơn thuốc 37 Bảng 3.21 Số lượng và tỷ lệ người dân biết dùng kháng sinh theo đơn của Y/bác sỹ 37
B ảng 3.22 Số lượng và tỷ lệ người dân biết cách xử trí khi bị tác dụng phụ
c ủa thuốc 38 Bảng 3.23 Số lượng và tỷ lệ người dân biết về khái niệm kháng kháng sinh 39
B ảng 3.24 Điểm kiến thức trung bình về sử dụng thuốc kháng sinh an toàn
h ợp lý và hiệu quả (n=400) 40 Bảng 3.25 Mối liên quan giữa nhóm tuổi và thực hành sử dụng thuốc 41
B ảng 3.26 Mối liên quan giữa giới tính và thực hành sử dụng thuốc của ĐTNC 42 Bảng 3.27 Mối liên quan giữa dân tộc với thực hành sử dụng thuốc 42
B ảng 3.28 Mối liên quan giữa trình độ học vấn và thực hành sử dụng thuốc 43 Bảng 3.29 Mối liên quan giữa nghề nghiệp và thực hành sử dụng thuốc 43
B ảng 3.30 Mối liên quan giữa điều kiện kinh tế và thực hành sử dụng thuốc 43 Bảng 3 31 Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành sử dụng thuốc 44
Trang 8
Biểu đồ 3.1 Điều kiện kinh tế hộ gia đình (n=400) 29
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ cộng đồng có bảo hiểm y tế (n=1826) 35
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ người dân biết dấu hiệu tác dụng phụ của thuốc (n=400) 38
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ người dân biết thời gian sử dụng 1 đợt kháng sinh 39
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ người dân biết về tác hại khi dùng kháng sinh (n=400) 40
Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ về kiến thức đạt về sử dụng thuốc của người dân (n=400)41
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuốc thiết yếu đã được Tổ chức Y tế Thế giới và các quốc gia đặc biệt quan tâm vì vai trò to lớn của nó trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe người dân, đặc biệt là những nước nghèo Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO),
“chỉ cần 1 USD thuốc thiết yếu, có thể đảm bảo chữa khỏi 80% các chứng bệnh thông thường của người dân ở cộng đồng” Tuy nhiên, theo WHO cho đến năm
2006 vẫn có đến 1/3 dân số thế giới thiếu sự tiếp cận thường xuyên thuốc thiết yếu, trong đó có 320 triệu người Châu Phi chỉ được tiếp cận thuốc thiết yếu dưới 50% [33]
Bên cạnh đó, hiện nay vẫn còn rất nhiều người xem thường sức khỏe của mình, những lúc ốm đau bệnh tật không đến các cơ sở y tế khám chữa bệnh mà
có thể tự ý mua thuốc điều trị các bệnh thông thường bằng sự hiểu biết của chính họ, sự chỉ dẫn nhân viên quầy thuốc tây, qua quảng cáo (báo, đài, mạng xã hội…), sự mách bảo người thân, hay dùng đơn cũ để mua và nhiều lý do khác, chứ không cần một sự tư vấn nào của y bác sĩ hay cán bộ y tế để rồi có nhiều trường hợp đáng tiếc xảy ra [15]
Việc lạm dụng thuốc hay kê thừa thuốc trong đơn, việc có thể tự do mua
và bán thuốc tại các quầy dược không cần đơn cũng đang có chiều hướng gia tăng ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Đại diện Bộ Y tế trong
buổi phát động tuần lễ truyền thông về phòng chống kháng thuốc diễn ra sáng 21/11/2015 nhận định: Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh cao nhất thế giới và có những căn bệnh đã không còn thuốc để điều
trị Tại cộng đồng, việc tiếp cận và sử dụng thuốc của người dân chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tính sẵn có thuốc, khả năng chi trả, sự chấp nhận của người dân và vấn đề tiếp cận địa lý đến các địa điểm cung cấp thuốc [16]
Đề tài nghiên cứu “Thực trạng tiếp cận và sử dụng thuốc thiết yếu của người dân một số xã thuộc tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông năm 2018 và một số yếu
t ố liên quan” nằm trong khuôn khổ Dự án chăm sóc sức khỏe nhân dân các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2 do Ngân hàng châu Á (ADB) tài trợ từ năm 2014 đến
Trang 10năm 2020 Mục đích của nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng tiếp cận thuốc thiết yếu của người dân 2 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông tại các cơ sở y tế và tại cộng đồng để đưa ra các đề xuất phát triển chính sách phù hợp, đảm bảo cho người dân được tiếp cận với thuốc có chất lượng tốt, hiệu quả điều trị cao và tiết kiệm chi phí Với lý do trên nghiên cứu được thực hiện với 2 mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng tiếp cận và sử dụng thuốc thiết yếu của người dân tại
một số xã thuộc tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông năm 2018;
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến sử dụng thuốc thiết yếu của người dân tại địa bàn nghiên cứu
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm về thuật ngữ trong nghiên cứu
❖ Thuốc:
Thuốc là chế phẩm có chứa được chất hoặc dược liệu dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh, điều trị bệnh, giảm nhẹ bệnh, điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể người bao gồm thuốc hóa dược, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, vắc xin và sinh phẩm [29]
❖ Thuốc thiết yếu:
Thuốc thiết yếu là những thuốc cần cho chăm sóc sức khoẻ của đa số nhân dân, được Nhà nước đảm bảo bằng chính sách quốc gia, gắn liền nghiên cứu, sản xuất, phân phối với nhu cầu thực tế chăm sóc sức khoẻ của nhân dân, được lựa chọn và cung ứng để luôn sẵn có với số lượng đầy đủ, dạng bào chế thích hợp, chất lượng tốt, an toàn và giá cả phù hợp [2]
❖ Tiếp cận thuốc:
Tiếp cận thuốc là một khái niệm đa chiều Các phương diện của tiếp cận bao gồm sự tiếp cận thuốc về địa lý, tính sẵn có, khả năng chi trả, và sự chấp nhận của người dân [42], [49] Như vậy tiếp cận thuốc là khả năng mà người cần thuốc có thể mua được hoặc nhận được thuốc để chữa bệnh, phòng bệnh Khi nơi bán thuốc hoặc cấp thuốc quá xa, người dân khó có thể có được thuốc cho dù ở đó đủ thuốc có nghĩa là khả năng tiếp cận thấp Khi nơi bán hoặc cấp thuốc tuy ở gần, người dân có thể đến dễ dàng nhưng vì giá quá đắt hoặc không
đủ loại thuốc hoặc thái độ người bán, người cấp thuốc gây khó dễ khiến người dân khó chấp nhận cũng có nghĩa là khả năng tiếp cận thấp
Trang 12có 1, 2 người đi làm ăn xa từ 3 tháng trở lên thì khi điều tra sẽ không hỏi thông tin về trường hợp đó
❖ Hộ nghèo/cận nghèo:
Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 700.000 đồng/người/tháng
ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị Hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 1.000.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.300.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị (theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 19/11/2015) [12]
❖ Tự điều trị:
Tự điều trị là những đợt ốm mà người bệnh điều trị bằng cách sử dụng các loại thuốc sẵn có ở nhà, mua từ người bán thuốc mà không qua khám bệnh và cũng bao gồm các trường hợp mua thuốc theo đơn của lần điều trị trước [48]
❖ Y tế tư nhân:
Là những thầy thuốc tư nhân khám chữa bệnh bằng phương pháp Tây y
tại nhà Thầy thuốc tư nhân bao gồm những cán bộ y tế vừa làm việc trong nhà nước vừa khám chữa bệnh tại nhà ngoài giờ hay trong giờ hành chính, những cán bộ y tế về hưu mở phòng khám tại nhà Có thể có giấy phép hoạt động hoặc không [20]
❖ Mua thuốc dự trữ:
Thuốc mua để dự trữ tại nhà phòng khi bất chợt có bệnh hoặc tai nạn xảy
ra thì có thuốc dùng ngay Ví dụ: thuốc cảm, thuốc nhỏ mắt, thuốc hạ sốt,…20]
❖ Thuốc hiện có ở nhà:
Bao gồm thuốc tân dược và thuốc có nguồn gốc dược liệu nhưng đã được
sản xuất thành thuốc viên, thuốc vỉ, cao xoa Theo hướng dẫn của điều tra Y tế
Quốc gia năm 2002 gọi chung là thuốc tây y và gồm các loại như sau: 1) Thuốc đang sử dụng để điều trị bệnh hoặc duy trì sức khoẻ; 2) Thuốc thừa để lại từ lần điều trị trước; 3) Thuốc mua để dự trữ tại nhà phòng khi đau ốm [33]
Trang 131.2 Ti ếp cận và sử dụng thuốc thiết yếu
Bên cạnh đó, sự phân bố tiêu dùng thuốc lại hết sức chênh lệch giữa các nước phát triển và đang phát triển Khoảng cách đó đã không được rút ngắn lại
mà càng ngày càng xa Các nước phát triển chỉ chiếm 27% dân số thế giới nhưng sử dụng đến 76% sản lượng thuốc trên thế giới, trong khi các nước đang
phát triển chiếm 73% dân số chỉ được hưởng thụ 24% sản lượng thuốc Mười năm sau, dân số các nước phát triển chỉ chiếm 25% nhưng lại sử dụng lên đến 79% sản lượng thuốc thế giới [38] Mức tiêu thụ thuốc trên đầu người của các nước Châu Âu và Bắc Mỹ hàng năm là 300 USD trong khi đó ở các nước đang phát triển là 5-10 USD, nhưng ở một số vùng thuộc Châu Phi chỉ đạt 1 USD Do khó khăn về ngân sách và hạ tầng cơ sở kém phát triển, ở các nước đang phát triển người dân khó có điều kiện để có thuốc khi cần Do thiếu ngoại tệ và ngân sách, một số nước phải tu nhân hoá từng bộ phận dịch vụ y tế, trong đó có việc cung ứng dược phẩm, và do đó đã ảnh hưởng đến mục tiêu cốt yếu của y tế công
là đảm bảo cho các tầng lớp dân cư nghèo và khó khăn nhất có thể có thuốc và dịch vụ y tế khi cần với giá cả người dân có thể chấp nhận được
Tại các nước đang phát triển, cho đến năm 2009, khả năng sẵn có thuốc vẫn thấp, chỉ 42% trong khu vực công và 64% ở khu vực tư nhân (trong những nước có thông tin) Giá thuốc vẫn còn cao so với giá tham khảo quốc tế Giá trung vị của các thuốc mang tên gốc trung bình gấp 2,7 lần cao hơn trong khu vực công và 6,3 lần trong khu vực tư nhân [49] Đây cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận và sử dụng thuốc của người dân
Trang 14Tại các nước đang phát triển rất nhiều vấn đề đang tồn tại: việc sử dụng thuốc không đúng, không hợp lý, không an toàn rất phổ biến Do còn nhiều bất cập trong quản lý, mối đe dọa đầu tiên tới việc sử dụng thuốc an toàn chính là chất lượng thuốc Tại châu Phi, khi kiểm tra chất lượng thuốc chống sốt rét có đến 44% mẫu thuốc ở Senegal, 30% mẫu ở Madagascar và 26% mẫu thuốc ở Uganda không đạt tiêu chuẩn [41] Nhiều loại thuốc không được phép lưu hành ở các
nước phát triển, song vẫn được đăng ký và vẫn được sử dụng ở những nước nghèo Sự tràn ngập các loại thuốc biệt được vào các nước đang phát triển còn là trở ngại lớn cho việc kiểm soát chất lượng, một khâu rất tốn kém và vì vậy ngăn chặn được thuốc kém phẩm chất hay thậm chí thuốc giả là vấn dề khó khăn
Tác giả Ridde và cộng sự đánh giá dự án cải thiện sự tiếp cận thuốc thiết yếu cho người dân Burkina Faso, một quốc gia ở Tây Phi trong 5 năm (2001-2005) Các can thiệp được thực hiện ở 41 trung tâm y tế cơ sở của 3 huyện Để cải thiện việc tiếp cận thuốc thiết yếu, 4 chỉ số được xem xét: sử dụng thuốc hợp
lý, giá cả phải chăng, khả năng tài chính và phân phối hiệu quả Các kết luận đã đánh giá dự án thành công trong việc cải thiện việc tiếp cận thuốc đối với đại đa
số dân cư nhưng chưa đến được nhóm thiệt thòi Hiện tại, thuốc luôn có ở các vùng cho tất cả mọi người nhưng sự tiếp cận về tài chính chỉ đến với những người có khả năng chi trả Các chiến lược can thiệp đã hỗ trợ sự bền vững của các hoạt động dự án nhưng còn nhiều việc phải làm để cung cấp sự tiếp cận thuốc cho nhóm người nghèo nhất [51]
Năm 2006, tác giả Keohavong và cộng sự đã đánh giá việc sử dụng thuốc hợp lý tại nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, tập trung vào khía cạnh thực
hành kê đơn và phân phối thuốc nhằm cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách để lập kế hoạch và xác định các vấn đề can thiệp trong tương lai Các tác giả kết luận: việc sử dụng thuốc ở Lào là chưa hoàn toàn hợp lý trong thực hành kê đơn và phân phối thuốc Các đơn thuốc kê có kháng sinh, có thuốc tiêm, có thuốc không nằm trong danh mục thuốc thiết yếu, không kê tên
Trang 15gốc vẫn còn cao Do vậy cần tiếp tục các chương tình giáo dục sức khỏe cho cả cộng đồng và nhân viên y tế [46]
Các tác giả Okumura J, Wakai S, Umenai T nghiên cứu việc sử dụng thuốc và tự điều trị ở cộng đồng nông thôn Việt Nam qua phỏng vấn 505 bà mẹ
có con dưới 5 tuổi về thực hành sử dụng thuốc và thái độ của họ đối với dược phẩm bằng câu hỏi cấu trúc sẵn Nghiên cứu đã phát hiện ra do việc giáo dục
sức khỏe cộng đồng chưa tốt, do không kiểm soát được hoạt động quảng cáo và cũng do chính sách và luật lệ về thuốc chưa phù hợp nên các bà mẹ tự sử dụng kháng sinh như một thứ thuốc chữa bách bệnh Các tác giả kiến nghị bệnh nhân
và người tiêu dùng cần phải được chú ý nhiều hơn nữa về các nguyên tắc cơ bản của sử dụng thuốc để họ có thể tiếp cận được các thông tin chính xác, đánh giá được sự tin cậy của thông tin và đưa ra những câu hỏi cần thiết [49]
Như vậy các nghiên cứu về thực trạng và công bằng trong tiếp cận và sử dụng thuốc và dịch vụ y tế đã được tiến hành thường xuyên ở nhiều nước và rất cần thiết cho việc hoạch định chính sách để đảm bảo công bằng trong chăm sóc sức khoẻ
1.2.2.1 Hành vi sử dụng thuốc
Theo nghiên cứu của Bùi Tùng Hiệp (2009) tại Hải Phòng, việc người dân
tự mua thuốc, tự điều trị là một thực tế rất phổ biến, chiếm tới 83,4% Tại các điểm bán thuốc, số người đến mua thuốc theo đơn bác sĩ chiếm tỷ lệ rất thấp, đa
số là mua thuốc theo “kinh nghiệm” hoặc do “người khác mách”, mua theo đơn
cũ “đã từng dùng” hoặc mua theo tư vấn của người bán thuốc, 95% nhà thuốc bán ngay kháng sinh khi người mua yêu cầu [20]
Một nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Lộc Hải (2008) tại bệnh viện huyện Phong Ðiền tỷ lệ bệnh nhân sử dụng thuốc đúng theo đơn là 28,75%, 71,25% bệnh nhân thực hành sử dụng thuốc theo đơn không đúng [18]
Trang 16Theo nghiên cứu của Ðỗ Thiện Tùng (2008) tại thành phố Rạch Giá tỉnh Kiên Giang: Tỷ lệ tự khai bệnh để mua thuốc là 72,5%; Tự đề nghị mua thuốc là
21, 6%; Có đơn bác sĩ 7,8% [37]
Nguyễn Thị Thùy Linh (2016) tại xã An Đông, huyện An Dương, Hải Phòng: Hiệu thuốc tư nhân là nơi người dân lựa chọn nhiều nhất để mua thuốc chiếm 77% trong đó tỷ lệ có đơn là 43,5% và không có đơn là 56,5% Sự lựa chọn tiếp theo là nhà thầy thuốc [24]
Mức độ sử dụng thuốc phụ thuộc rất nhiều yếu tố như: Điều kiện kinh tế, thói quen, tâm lý, thị hiếu, trình độ hiểu biết, phong tục, tôn giáo,… của từng vùng, muốn tăng cường sử dụng thuốc hợp lý nói chung, kháng sinh nói riêng cần xem xét toàn diện các yếu tố ảnh hưởng sử dụng
Tự mua thuốc về chữa có thể phù hợp trong những trường hợp bệnh nhân
bị bệnh nhẹ và có hiểu biết về những loại thuốc thông dụng như paracetamol hoặc một số thuốc cảm, Nhưng trong những trường hợp bệnh nặng hơn hoặc những bệnh đòi hỏi phải sử dụng thuốc kháng sinh, corticoit, hoặc trường hợp bệnh nhân có tình trạng đặc biệt như mang thai, cho con bú, tác dụng phụ thì phải có ý kiến của thầy thuốc để biết sử dụng thuốc an toàn hợp lý Tình hình tự mua thuốc về chữa là một nguyên nhân quan trọng đã dẫn đến kháng thuốc rộng rãi trong cộng đồng, đồng thời gây lãng phí tiền do việc mua những thuốc không cần thiết
Theo quy chế kê đơn thuốc được giới thiệu tại hội nghị do Bộ Y tế và chương trình hợp tác y tế Việt Nam - Thụy Điển tổ chức ngày 27/12/2007, thời gian có giá trị mua thuốc của một tờ đơn chỉ có giá trị trong vòng 5 ngày [15]
Xét theo khía cạnh sử dụng thuốc an toàn hợp lý, số thuốc một lần điều trị vẫn nhiều hơn mức cần thiết Việc chỉ định sử dụng nhiều loại thuốc trong 1 đơn thuốc sẽ khó tránh khỏi sự kết hợp thuốc không đúng, các phản ứng có hại, sự lãng phí tiền của người bệnh và có thể gây nguy cơ xuất hiện sự tương tác thuốc không tốt tăng cao Nghiên cứu trên thế giới cho biết nguy cơ gặp tương tác không tốt khi dùng 2 loại chỉ 5%, dùng 5 loại khoảng 50% dùng 8 loại tăng đến
Trang 17100% Thêm nữa việc kê đơn nhiều loại thuốc làm cho chi phí dành cho thuốc tăng cao, trong khi chất lượng điều trị có thể không tăng tương ứng [9]
Thời kỳ kinh tế còn hoạt động theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, thuốc được cung cấp theo kế hoạch với giá bao cấp của Nhà nước Hệ thống cung ứng thuốc theo cơ chế này có những đặc điểm sau:
- Bảo đảm thuốc tới được tay người dùng
- Giá thuốc khá rẻ nên ngay cả vùng có thu nhập thấp người dân cung dễ dàng mua được
- Một bộ phận không nhỏ trong nhân dân được Nhà nước bao cấp hoàn toàn về thuốc (cán bộ, công chức, quân nhân, người có công )
Việc quản lý khá đơn giản, thuận lợi cho hệ thống quản lý Nhà nước về thuốc và quản lý chất lượng thuốc Số lượng và chủng loại thuốc cũng rất phong phú trên thị trường và ngày càng tăng Năm 2002 có 5.426 số đăng ký thuốc trong nước, với khoảng trên 300 hoạt chất còn hiệu lực [8] Chỉ 3 năm sau, năm
2005, tổng cộng thuốc sản xuất và nhập khẩu trong nước tăng lên đến 12.061 số đăng ký còn hiệu lực với khoảng 1.000 loại hoạt chất; năm 2007 là 16.618; năm
2008 là 20.066 và tính đến hết năm 2009 là 22.615 (10.692 số đăng ký thuốc trong nước và 11.923 số đăng ký thuốc nước ngoài) [10] Số lượng mặt hàng thuốc phong phú đa dạng hoàn toàn đảm bảo nhu cầu thuốc trong nước Tuy nhiên lại xuất hiện nhiều bất cập khác như ngành công nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam vẫn còn một số hạn chế: Doanh nghiệp dược Việt Nam quy mô nhỏ, hạn chế về trình độ kỹ thuật, công nghệ đơn giản, chất lượng thấp 90% nguyên liệu sản xuất trong nước phải nhập từ nước ngoài [7]
Sử dụng thu ốc hợp lý đòi hỏi người bệnh phải nhận được thuốc thích hợp với đòi hỏi của lâm sàng và liều lượng đáp ứng được yêu cầu cá nhân người bệnh trong một khoảng thời gian thích hợp và với chi phí ít gây tốn kém nhất cho người bệnh và cho cộng đồng
Trang 181.2.2.2 Sự sẵn có thuốc thiết yếu
Luận văn tiến sĩ của tác giả Trần Thị Thoa về “Nghiên cứu thực trạng và tính công bằng trong tiếp cận và sử dụng thuốc, thuốc thiết yếu tại tuyến xã” cho thấy tỷ lệ người dân tự mua thuốc về chữa rất cao (>40%), 2,4% người ốm không khám và không điều trị Trạm y tế xã không phải là nơi được các hộ gia đình lựa chọn nhiều nhất để mua thuốc lúc ốm và người dân chủ yếu mua thuốc
ở quầy thuốc tư, mua ở chợ (37,3% ở xã đồng bằng và 44,1% ở xã miền núi) Lý
do mà người dân lựa chọn nơi mua thuốc khi ốm chủ yếu là do quen biết, tiện đi lại và tin tưởng vào chuyên môn [33]
Về sự sẵn có thuốc tại hộ gia đình: cứ 5 hộ thì gần 4 hộ có thuốc tại nhà (73,3%) Tỷ lệ này ở xã miền núi cao hơn hẳn xã đồng bằng (80,6% so với 66,6%) Thuốc có sẵn tại nhà có thể là: đang sử dụng (đồng bằng cao hơn miền núi) hoặc để dự trữ phòng khi đau ốm, hoặc thuốc thừa của lần điều trị trước (miền núi cao hơn đồng bằng) Thu nhập càng cao, tỷ lệ thuốc dự trữ càng cao, nhóm giàu có mức dự trữ cao nhất (24,5% so với nhóm nghèo nhất 15,4%) Nhóm thuốc các gia đình hay dự trữ nhất tại nhà là các nhóm hạ sốt giảm đau, gần 2/3 các gia đình đang dự trữ thuốc có nhóm thuốc này (58,5%; 71,5%), xếp thứ hai là các thuốc kháng sinh (28,3%; 31,5%) [33]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Minh Tâm về thực trạng dự trữ thuốc ở gia đình tại huyện An Lão, Hải Phòng năm 2012 cho thấy hộ gia đình có
dự trữ thuốc ở nhà chiếm tỷ lệ 72% trong đó 21% hộ có tủ thuốc tại nhà Nhóm thuốc dự trữ: hạ sốt, giảm đau (86,5%), kháng sinh (65,5%), thuốc giảm ho (37,5%), vitamin (32%) và 96,7% thuốc dự trữ dưới dạng đường uống Tỷ lệ các
hộ gia đình có tồn tại thuốc không đảm bảo chất lượng sử dụng chiếm 48% [30]
Thuốc có vai trò rất quan trọng và chiếm tỷ trọng ngân sách lớn trong hoạt động chăm sóc sức khỏe Tại các cơ sở điều trị, kinh phí sử dụng thuốc có thể chiếm tỷ trọng 40% - 60% tại các nước đang phát triển và 15% - 20% tại các nước phát triển [42], [47] Tại Việt Nam, theo báo cáo kết quả công tác khám
Trang 19chữa bệnh năm 2010 của Cục quản lý khám chữa bệnh, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong bệnh viện chiếm tỷ trọng 58,7% tổng giá trị tiền viện phí hàng năm trong bệnh viện [4] và chiếm khoảng 60% ngân sách của bệnh viện [5]
Trong nghiên cứu của Trần Thị Thoa cho thấy, số thuốc trung bình 1 lần điều trị ở xã đồng bằng nhiều hơn xã miền núi (3,7 so với 3,1) nhưng trong cùng một xã không thấy có sự khác biệt về số thuốc trung bình một lần điều trị theo nhóm thu nhập (p>0,05) Đứng về góc độ công bằng, không có sự mất công bằng trong cùng một xã giữa các nhóm giàu nhất và thấp nhất về số thuốc sử dụng cho một lần điều trị, song giữa 2 xã lại có sự phân biệt, người ốm xã miền núi số thuốc dùng cho 1 lần điều trị ít hơn người ốm xã đồng bằng Như vậy là không công bằng về số thuốc sử dụng giữa 2 xã đồng bằng và miền núi [33]
Bình quân tiền thuốc sử dụng trong chữa bệnh cũng tăng lên nhiều lần so với trước dây Trước thời kỳ đổi mới, tiền thuốc bình quân đầu người/năm khoảng 0,45 USD/người, nhưng vào năm 2000, tiền thuốc bình quân đầu người
đã vào khoảng 9 USD, năm 2003 lên 12 USD Ðến năm 2005 bình quân một người Việt Nam sử dụng 156.000 đồng tiền thuốc [7], năm 2008 là 16,4 USD [26], năm 2010 là 22,25 USD gấp hơn 50 lần thời kỳ bao cấp Thuốc dung dịch tiêm truyền, thuốc tiêm, thuốc kháng sinh, các nhóm vitamin và các thuốc khác, đặc biệt cả nước có 8 cơ sở sản xuất vắc xin, sinh phẩm y tế và đã sản xuất được
cả 3 loại theo phân loại vắc xin của Tổ chức Y tế Thế giới, trong đó có 4 cơ sở có dây truyền đạt tiêu chuẩn GMP Năng lực sản xuất thuốc trong nước hiện nay đáp ứng khoảng 50% nhu cầu phục vụ công tác chữa bệnh Trên thực tế hiện nay tại các cơ sở điều trị công lập và tư nhân cũng như trên thị trường thuốc sản xuất tại Việt Nam, tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất tại Việt Nam còn rất thấp Tỷ lệ sử dụng tiền thuốc sản xuất tại Việt Nam tại các bệnh viện tuyến Trung ương chỉ đạt 11,9%, tuyến tỉnh 33,9%, tuyến huyện 61,5% trong tổng số tiền thuốc điều trị
Mặt khác, người dân nói chung và không ít thầy thuốc nói riêng vẫn còn có quen dùng thuốc ngoại đắt tiền để chữa bệnh trong khi hiệu quả so với thuốc sản xuất tại Việt Nam là tương đương Chính những thói quen này gây tốn kém, lãng
Trang 20phí kinh phí cho chữa bệnh rất lớn, vì thuốc nhập ngoại thường có giá thành đắt hơn nhiều trong khi đó thuốc sản xuất tại Việt Nam thì được sử dụng rất thấp
Luận án tiến sỹ Trần Thị Thoa về “Nghiên cứu thực trạng và tính công bằng trong tiếp cận và sử dụng thuốc, thuốc thiết yếu tại tuyến xã” cho thấy số thuốc trung bình/lần điều trị của xã đồng bằng nhiều hơn xã miền núi (3,7 so với 3,1) với p<0,05 Tỷ lệ tự mua thuốc về chữa của xã miền núi nhiều hơn xã đồng bằng (44,1%, 38,5%) Sự khác biệt có ý nghĩa với p<0,05 [33]
Nghiên cứu cũng chỉ ra có sự khác nhau giữa các gia đình trong việc tìm kiếm dịch vụ KCB, mua thuốc khi bị bị ốm Tự mua thuốc về chữa được sử dụng nhiều nhất cả ở 2 xã, trong đó xã miền núi cao hơn xã đồng bằng (44,1%
so với 38,5%), sau đó là đến y tế tư nhân với xã đồng bằng (32,4%), trong khi xã miền núi lại là đến trạm y tế xã (21,2%), khám ngoại trú bệnh viện (xã miền núi 12%, xã đồng bằng 10,1%) Điều trị nội trú bệnh viện thấp nhất trong các loại dịch vụ y tế công (3,4% với xã miền núi, 1,5% với xã đồng bằng) Tuy không nhiều nhưng vẫn còn một tỷ lệ người ốm không khám và không điều trị Tỷ lệ này cao hơn ở xã miền núi (3,5% so với 1,3% ở xã đồng bằng) [33]
Như vậy, có sự khác nhau về sử dụng dịch vụ y tế ở hai xã, trong đó tự mua thuốc về chữa, khám chữa bệnh ở trạm y tế xã, khám chữa bệnh ngoại trú bệnh viện, điều trị bệnh viện ở xã miền núi cao hơn xã đồng bằng trong khi khám chữa bệnh ở y tế tư nhân ở xã đồng bằng lại cao hơn xã miền núi
Người dân có kiến thức đúng về thời gian sử dụng kháng sinh đối với
những bệnh thông thường còn hạn chế: tỷ lệ người dân cho rằng sử dụng kháng sinh từ 5 ngày chỉ chiếm 48,6% Trên thực tế, sau khi sử dụng kháng sinh được 2-3 ngày thì các dấu hiệu, triệu chứng của bệnh đã thuyên giảm và người dân nghĩ rằng bệnh đã khỏi [34]
Nghiên cứu của Trường Đại học Y Hà Nội (2008) tại bệnh viện nhân dân
115 đã chỉ ra rằng có 95,97% người được phỏng vấn là bệnh nhân, trong đó tỷ lệ
Trang 21bệnh nhân biết mình đang mắc bệnh gì chiếm tỷ lệ cao nhất 92,93% Tuy nhiên
tỷ lệ bệnh nhân biết cách sử dụng thuốc chỉ chiếm 51,52% [39]
Nghiên cứu khác của Nguyễn Văn Sinh tại Hà Nội tỷ lệ người bán thuốc có
hỏi người mua thuốc triệu chứng, tiền sử… của bệnh nhân < 15% [27]
1.3 M ột số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng thuốc của đối tượng nghiên cứu
Theo quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn, đối với các thuốc phải kê đơn thì các hiệu thuốc chỉ bán thuốc khi có đơn của bác sĩ nhưng thực tế các
hiệu thuốc vẫn bán thuốc mà không cần đơn Theo một nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Văn Hùng, Ngô Thị Thanh Thủy tại một số khu vực đô thị của Việt Nam thì có tới 80% khách hàng đi mua thuốc không có đơn [22] Theo nghiên
cứu của tác giả Nguyễn Thị Lộc Hải tại bệnh viện Phong Điền (Thừa Thiên
Huế) thì số bệnh nhân cho rằng khó mua thuốc kháng sinh vì người bán thuốc yêu cầu cần có đơn chiếm tỷ lệ rất thấp (6%) [18]
Thị trường thuốc Việt Nam những năm gần đây đã có nhiều phát triển,
với tỷ lệ nhiễm khuẩn luôn đứng hàng đầu trong mô hình bệnh tật của các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam thì kháng sinh là nhóm thuốc được ưu tiên phát triển nhất [17] Do đó, thuốc kháng sinh là một thị trường lớn và có nhiều loại biệt dược nên nếu người sử dụng dùng từ hai loại biệt dược trở lên có cùng
hoạt chất thì rất dễ bị những tác hại do quá liều Theo kết quả nghiên cứu của tác
giả Nguyễn Xuân Hoài, Hoàng Kim Huyền thì đa số người dân mua theo “kinh nghiệm” hoặc do “người khác mách”, mua theo đơn cũ “đã từng dùng” hoặc mua theo tư vấn của người bán thuốc [23]
Việc chi trả phí khám chữa bệnh có thể trở thành gánh nặng cho nhiều hộ gia đình, điều này dẫn đến việc trì hoãn tìm kiếm các dịch vụ y tế hoặc lựa chọn các dịch vụ kém chất lượng nhưng có giá thành rẻ hơn trong đó có hành vi đến các hiệu thuốc để mua thuốc tự điều trị Trong khi các hộ gia đình có thu nhập cao thường chọn các cơ sở y tế có chất lượng như bệnh viện Nhiều người bệnh
tự dùng thuốc mà không có đầy đủ các kiến thức về các thành phần có hiệu lực
của thuốc, liều lượng, thời gian dùng thuốc Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh
Trang 22Hiếu tại Hà Tây (cũ) có 75% bà mẹ có quan niệm sai lầm rằng nếu trẻ hết triệu
chứng thì dừng uống thuốc mà không quan tâm đến thời gian sử dụng thuốc và 94% cho rằng dễ mua thuốc không cần có đơn [21]
Sự thiếu hiểu biết của người bệnh và người thân trong gia đình chăm sóc người bệnh là nguyên nhân chính của việc sử dụng thuốc không đúng bệnh, quá
liều Họ ít quan tâm đến tên thuốc như kết quả nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thi Thu Thủy, Nguyễn Tự Cường, Nguyễn Châu Giang tại Hà Nội thì
chỉ có 14,2% số người quan tâm đến tên thuốc [32] Hầu hết các người bệnh hoặc người chăm sóc chỉ biết đến tên biệt dược của thuốc mà không biết tên của
những hoạt chất này Họ có thể dùng các thuốc có tên biệt dược khác nhau
nhưng lại có cùng hoạt chất Một số người bệnh muốn nhanh chóng khỏi bệnh nên cố ý dùng liều gấp hai hoặc gấp ba liều kê đơn
Trong nghiên cứu của tác giả Trần Thi Nga, Nguyễn Văn Hiến, Lê Thị Tài và cộng sự tại huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam thì truyền thông giáo dục sức
khỏe trực tiếp được đánh giá là một hoạt động còn nhiều hạn chế [25]
Mặc dù có sự phát triển đa dạng các loại hình khám chữa bệnh nhưng
người dân vẫn đến các hiệu thuốc mua thuốc sử dụng với lý do chủ yếu là do gần, thuận tiện và thái độ vui vẻ…Với áp lực công việc ngày càng cao, đòi hỏi
người dân đặc biệt là những người công nhân viên chức cần tiết kiệm thời gian
để giành cho công việc và gia đình Họ đã lựa chọn hình thức đến hiệu thuốc mua thuốc với sự hướng dẫn của người bán thuốc hoặc do kinh nghiệm của
người dân ở những lần ốm đau trước,… vừa nhanh chóng vừa thuận tiện Càng ngày hình thức quảng cáo về thuốc cũng ngày càng đa dạng đôi khi có ảnh
hưởng nhiều đến nhận thức và hành vi sử dụng thuốc của người dân Họ tự đoán
bệnh cho mình hay cho người thân và dựa vào quảng cáo để mua thuốc sử dụng
Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Huỳnh Hiền Trung, Đoàn Minh Phúc, Nguyễn Thị Thúy Hà và cộng sự tại khoa khám bệnh- bệnh viện Nhân dân
115 thì thời gian mà nhân viên y tế giành để chăm sóc cho người bệnh còn hạn
thấp, vì vậy có thể ảnh hưởng đến mức độ hiểu biết của bệnh nhân về liều dùng thuốc, kéo dài thời gian điều trị do bệnh nhân không tuân thủ sử dụng thuốc, tốn
Trang 23nhiều chi phí [39] Bên cạnh đó, các bác sỹ điều trị cũng có thể mắc những sai
lầm trong công tác sử dụng thuốc hợp lý, an toàn như: sử dụng thuốc không chú
ý đến tác dụng không mong muốn của thuốc, không phù hợp với chẩn đoán
bệnh, không chú ý đến tương tác thuốc khi phối hợp thuốc trong điều trị, chưa hợp lý về đường dùng và thời gian dùng, liều dùng thuốc, đặc biệt là kháng sinh trong điều trị cũng góp phần ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa bệnh [14], [28].Còn các trạm y tế xã, nơi rất gần dân nhưng cũng không hoàn toàn thu hút được nhiều người dân đến chữa bệnh do nhiều nguyên nhân Bảo hiểm y tế cho trạm y tế có giới hạn nên nhiều khi người dân vẫn phải bỏ tiền ra mua những thuốc thông thường để điều trị [22] Đặc biệt, theo kết quả nghiên cứu của tác
giả Vũ Thị Hậu tại các xã của huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng năm 2011 thì còn
một số tồn tại về chất lượng thuốc như: 20% thuốc không rõ nguồn gốc, hai trạm
có thuốc hết hạn sử dụng, một trạm bảo quản thuốc không đúng cách,…[19]
1.4 Gi ới thiệu địa điểm nghiên cứu
* Đắk Lắk:
Đắk Lắk là tỉnh nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, Phía Bắc giáp tỉnh
Gia Lai, Phía Đông giáp Phú Yên và Khánh Hoà, Phía Nam giáp Lâm Đồng và Đắk Nông và Phía Tây giáp Campuchia Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 13.125,37 km2, dân số trung bình là 1.796.666 người, mật độ dân số là 137 người/km² trong đó dân số nam đạt 906.619 người, nữ đạt 890.047 người Cộng đồng dân cư Đắk Lắk gồm 47 dân tộc Trong đó, người Kinh chiếm trên 70%; các dân tộc thiểu số như M'nông, Ê Đê, Thái, Tày, Nùng chiếm gần 30% dân
số toàn tỉnh [36] Đến cuối năm 2018, trên địa bàn tỉnh có 57.180 hộ nghèo và 43.376 hộ cận nghèo trong tổng số 446.297 hộ của toàn tỉnh Tỉnh có 15 đơn vị hành chính gồm 01 thành phố (Buôn Mê Thuột), 01 thị xã (Buôn Hồ) và 13 huyện [1]
Buôn Đôn và huyện Lắk là 2 trong 5 huyện có tỷ lệ hộ nghèo từ 30% đến dưới 50% (Buôn Đôn 34,69%, Lắk 40,58%) của tỉnh Đăk Lắk, nơi có khoảng
một nửa người dân là đồng bào dân tộc thiểu số [1]
Trang 24Huyện Buôn Đôn nằm ở phía tây tỉnh Đắk Lắk, cách thành phố Buôn Ma Thuột 25 km với tổng số 7 xã
Huyện Lăk là một huyện miền núi, nằm phía nam dãy trường sơn, phía Đông Nam của Tỉnh Đắk Lắk, cách thành phố Buôn Ma Thuột 60 km, gồm 1 thị trấn và 10 xã
Bốn xã được chọn gồm Ea Bar, Ea Nuôl (Buôn Đôn), Đắk Phơi, Buôn Triết (Lắk) Đây đều là các xã nghèo, chủ yếu là người dân tộc thiểu số sinh
sống như Ê đê, M'nông, Thái,…
* Đắk Nông:
T ỉnh Đắk Nông là một tỉnh ở Tây Nguyên Việt Nam, được tái lập vào
ngày 1 tháng 1 năm 2004, theo Nghị quyết số 23/2003/QH11 ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội trên cơ sở chia tách tỉnh Đắk Lắk thành 2 tỉnh
mới Diện tích tự nhiên là 650.927 km2, có 08 đơn vị hành chính cấp huyện, thị
xã với dân số thống kê năm 2017 là 628.067 người, trong đó nam: 322.864 người, chiếm 51,41%; nữ: 305.203 người, chiếm 48,59% Mật độ dân số đạt hơn 96,49 người/km² [36] Cơ cấu dân tộc đa dạng, Đồng bào thiểu số chiếm 30,3%, nhiều nhất là đồng bào M’nông chiếm 9,7% dân số Chủ yếu là người Kinh, Ê-
Đê, M’nông, Tày, Số cơ sở khám chữa bệnh do Nhà nước quản lý tại thời
diểm 31/12/2017 là 80 cơ sở, trong đó có 8 bệnh viện, 1 nhà hộ sinh và 71 trạm
y tế xã, phường, cơ quan, xí nghiệp [13]
xã Gia Nghĩa 60 km theo đường quốc lộ 14 Diện tích tự nhiên của huyện 682,99 km², Dân số trung bình huyện Đắk Mil là 98.805 người, mật độ dân
số trung bình 144 người/km², thành phần dân tộc của huyện Đắk Mil khá đa
dạng: có tới 19 dân tộc anh em, người kinh có 64.474 người chiếm 65,25% dân
số toàn huyện, dân tộc M’Nông có 7.135 người chiến 7,2%, còn lại 27.196 người chiến 27.55% là dân tộc thiểu số khác như Tày, Nùng, Dao, H’ Mông, Ê
Đê, Mạ Đắk Mil có 10 đơn vị hành chính cấp xã bao gồm 1 thị trấn và 9 xã[13]
Tuy Đức là một huyện biên giới của tỉnh Đắk Nông giáp với Campuchia
Huyện có 1.123,27 km2 diện tích đất tự nhiên và dân số toàn huyện 57.418
Trang 25người với 17 nhóm dân tộc anh em cùng nhau sinh sống và làm ăn, trong đó dân
tộc thiểu số chiếm khoảng 46% Hai dân tộc thiểu số chiếm đa số là dân tộc bản địa tại chỗ M'Nông và dân tộc H'Mông từ các tỉnh phía Bắc di dân vào sinh sống
ở đây đã một thời gian dài Nghề nghiệp chủ yếu của người dân là làm nương, rẫy như cà phê, hồ tiêu, trồng và khai thác khoai lang và buôn bán nhỏ lẻ Huyện
có 6 đơn vị hành chính cấp xã [13]
Bốn xã được chọn gồm Đức Minh, Đắk R’La (Đắk Mil), Đắk Ngo, Quảng Tân Đây là những xã nghèo có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống
1.5 Khung lý thuy ết nghiên cứu
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ khung lý thuyết
Trang 26CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chủ hộ gia đình hoặc người từ 18 tuổi trở lên nắm vững thông tin về tình trạng sức khỏe và chăm sóc sức khỏe của các thành viên hộ gia đình
* Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu
- Đồng ý tham gia nghiên cứu và có khả năng trả lời phỏng vấn
- Người nắm được nhiều thông tin nhất về tình hình sử dụng thuốc cũng như kinh tế của gia đình
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Có các dấu hiệu bất thường về tinh thần, bị câm, điếc không có khả năng nghe
và trả lời câu hỏi
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại 8 xã thuộc 4 huyện Buôn Đôn, Lắk, Đắk Mil và Tuy Đức của 2 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông với cách chọn như sau:
Tỉnh: Chọn chủ định 2 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông
Huyện: Tại mỗi tỉnh nghiên cứu lập danh sách tất cả các huyện trong tỉnh, sau
đó chọn 2 huyện bằng cách bắt thăm ngẫu nhiên
Xã: Tại mỗi huyện lập danh sách tất cả các xã trong huyện từ đó chọn 2 xã bằng cách bắt thăm ngẫu nhiên
B ảng 2 1 Địa bàn nghiên cứu
Trang 272.1.3 Th ời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2019
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Áp dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
d2
Trong đó:
n: cỡ mẫu nghiên cứu
p: Ước tính tỷ lệ tiếp cận được thuốc thiết yếu của người dân Do chưa tìm thấy nghiên cứu trước đó nên chúng tôi chọn p = 0,5
Z (1- α/2): là hệ số tin cậy Chọn mức ý nghĩa = 0,05 (độ tin cậy 95%),
dựa vào giá trị được chọn α, tra bảng ta được Z(1- α/2) = 1,96
d: là độ chính xác tuyệt đối mong muốn, chọn d = 0,05
Thay số vào công thức trên tính được cỡ mẫu hộ gia đình là 384 hộ, làm tròn lên thành 400 hộ Do các xã nghiên cứu có dân số tương đương nhau và để đối tượng nghiên cứu đại diện cho mẫu tại các xã thì ta chia 400 hộ đều cho các
xã nghiên cứu, do đó, cỡ mẫu của mỗi xã là 50 hộ gia đình
Ch ọn mẫu:
Chọn mẫu HGĐ: Tại mỗi xã, chọn ngẫu nhiên 5 thôn buôn, chia đều cỡ mẫu phân bổ cho mỗi xã vào các thôn buôn được chọn có cỡ mẫu tại mỗi thôn buôn là 10 hộ gia đình Hộ gia đình đầu tiên được chọn để phỏng vấn là hộ có số thứ tự trong danh sách hộ của thôn trùng với 2 số cuối của đồng tiền được rút
Trang 28ngẫu nhiên trong số tiền ĐTV mang theo Các hộ tiếp theo được chọn theo phương pháp cổng liền cổng cho đến khi đủ cỡ mẫu cho mỗi thôn thì dừng lại
Chọn mẫu đối tượng phỏng vấn: Tại mỗi HGĐ, phỏng vấn người nắm được nhiều thông tin nhất về tình hình sử dụng thuốc Đối tượng này thường là người chịu trách nhiệm chính trong chi tiêu HGĐ
2.3 Phương pháp thu thập thông tin
Để điều tra thực trạng tiếp cận thuốc của người dân tại một số xã Tây Nguyên một cách khách quan, trung thực, bộ phiếu điều tra phải đảm bảo yếu tố ngắn gọn, súc tích, thu thập được đầy đủ các thông tin, có khả năng kiểm chứng trong mỗi câu hỏi hoặc trong nhiều câu hỏi để tránh tình trạng người trả lời theo hướng tích cực
Trong quá trình tập huấn, bộ phiếu điều tra được thử nghiệm tại thực địa
và tiếp tục được sửa đổi đảm bảo các câu hỏi được đơn giản hoá, dễ hiểu đối với đối tượng phỏng vấn
Phỏng vấn trực tiếp với các đối tượng là chủ hộ gia đình là người nắm rõ các thông tin liên quan đến các nội dung phỏng vấn
- Người dẫn đường cho điều tra viên là cộng tác viên y tế, cán bộ y tế có khả năng nắm được các thông tin cơ bản về hộ gia đình, biết tiếng DTTS và có khả năng phiên dịch khi người DTTS không nói được tiếng Kinh
- Trong quá trình phỏng vấn chỉ có hai người (điều tra viên và đối tượng phỏng vấn) và ngồi đối diện nhau, không có người thứ ba Trường hợp đối tượng phỏng vấn chỉ nói được tiếng dân tộc thì có thêm người dẫn đường kiêm phiên dịch tham gia
Trang 29- Nếu đối tượng từ chối hợp tác trả lời thì điều tra viên chuyển sang đối tượng khác để phỏng vấn
Hình 2.1 Sơ đồ chọn mẫu và phỏng vấn đối tượng
Trang 302.4 Bi ến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá
B ảng 2 2 Biến số và chỉ số nghiên cứu
Thông tin cá nhân chung c ủa đối tượng nghiên cứu
1
Tuổi
Số lượng, tỷ lệ tính theo năm sinh của đối tượng nghiên cứu đến thời điểm điều tra (năm dương lịch)
Rời rạc Phỏng vấn
2
Gi ới tính Số lượng, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu theo giới tính Nh ị phân Quan sát
3 Dân tộc Số lượng, tỷ lệ đối tượng nghiên
cứu theo dân tộc
Danh mục Phỏng vấn
6 Số thẻ BHYT của
hộ gia đình
Số lượng, tỷ lệ thẻ BHYT tính trên số người của hộ
Ki ến thức về sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả của ĐTNC
8 Thuốc kê đơn Số lượng và tỷ lệ đối tượng
nghiên cứu biết về thuốc kê đơn
Danh mục Phỏng vấn
11 Tác d ụng phụ của
thu ốc
T ỷ lệ người dân biết về những
d ấu hiệu tác dụng phụ của thuốc
Trang 31TT Bi ến số Ch ỉ số Phân lo ại thu th Phương pháp ập số liệu
14 Kháng kháng sinh Số lượng và tỷ lệ người dân biết
về khái niệm kháng kháng sinh
Danh mục Thu thập thông tin
19 Quầy thuốc Số quầy thuốc tư nhân tại các xã
Danh mục Thu thập thông tin
Th ực hành sử dụng thuốc của đối tượng nghiên cứu
21 Nơi mua thuốc Nơi thường mua của hộ gia đình
24 Mua thuốc theo
đơn mới khám
Số lượng và tỷ lệ hộ gia đình mua thuốc điều trị theo đơn mới khám
Danh mục Phỏng vấn
24 Dị ứng thuốc Cách xử lý của đối tượng nghiên
cứu khi bị dị ứng thuốc
Danh mục Phỏng vấn
24 Thực hành sử dụng
thuốc của đối
tượng nghiên cứu
Số lượng và tỷ lệ thực hành sử dụng thuốc đúng của đối tượng nghiên cứu
Danh mục Phỏng vấn
Trang 32TT Bi ến số Ch ỉ số Phân lo ại thu th Phương pháp ập số liệu
M ột số yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng thuốc đúng của ĐTNC
27 Yếu tố nhân khầu
học và thực hành sử
dụng thuốc đúng
Mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học đến thực hành sử dụng thuốc
2.4.2 Tiêu chuẩn đánh giá nghiên cứu
Bộ công cụ nghiên cứu được xây dựng dựa vào tài liệu “hướng dẫn sử dụng thuốc kháng sinh” Ban hành kèm theo Quyết định số 708/QĐ-BYT ngày 02/3/2015 [3]
Đánh giá phân loại kiến thức, thực hành
Phân loại kiến thức: Để đánh giá kiến thức sử dụng thuốc của người dân,
nghiên cứu này sử dụng phương pháp chấm điểm Trong đó mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, trả lời sai được 0 điểm (không trừ điểm)
B ảng 2 3 Tiêu chí đánh giá kiến thức sử dụng thuốc đạt
Như vậy tổng điểm kiến thức cho những câu trả lời đúng gồm 15 điểm
Đối tượng có tổng điểm kiến thức đúng ≥ 7 điểm được xếp loại đạt
Đối tượng có tổng điểm kiến thức đúng <7 điểm được xếp loại không đạt
Trang 332.5 Phân tích và x ử lý số liệu
- Sử dụng phần mềm của Epidata 3.1 để vào số liệu Tất cả các phiếu đều được nhập vào máy tính hai lần với 2 người khác nhau, sau đó sử dụng chương trình kiểm tra chéo để phát hiện lỗi Kiểm tra lại phiếu gốc và sửa những sai sót
do nhập số liệu
- Số liệu được phân tích, tính toán và lập thành các bảng số liệu thông qua sử dụng các chương trình phần mềm của SPSS 18.0 Sử dụng các chỉ số OR CI 95%
để phân tích mối liên quan
2.6 Sai số và biện pháp hạn chế sai số
- Sai số nhớ lại
- Sai số do thu thập thông tin, sử dụng công cụ nghiên cứu
- Xây dựng phương pháp nghiên cứu khoa học
- Xây dựng bộ câu hỏi mang tính logic
- Điều tra thử và sửa chữa hoàn chỉnh bộ câu hỏi
- Điều tra viên là những cán bộ có chuyên môn và được tập huấn kỹ
- Giám sát, kiểm tra tính chính xác của số liệu ngay tại thực địa
- Phiếu điều tra được mã hóa và xử lý thô trước và vào phiếu 2 lần
Trang 342.7 V ấn đề đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu này được sự đồng ý và ủng hộ của Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Sức khoẻ, Sở Y tế 2 tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Ủy ban nhân dân các huyện và xã được lựa chọn
- Tất cả đối tượng nghiên cứu đều được điều tra viên giải thích cụ thể về mục đích, nội dung nghiên cứu để tự nguyện tham gia và hợp tác tốt trong quá trình nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu có quyền từ chối tham gia nghiên cứu
- Các thông tin thu được đảm bảo giữ bí mật và chỉ phục vụ cho mục đích bảo vệ sức khỏe cộng đồng
2.8 H ạn chế của nghiên cứu
- Do hạn chế về thời gian và nguồn lực nên không thể tiến hành nghiên cứu ở nhiều khu vực khác nhau trong tỉnh và với số mẫu lớn hơn
- Rào cản về ngôn ngữ khiến cho nhóm nghiên cứu trong một số trường hợp đã không thể phỏng vấn trực tiếp với người dân một số dân tộc thiểu số mà phải thực hiện thông qua phiên dịch Điều này chắc chắn đã ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng thông tin thu thập được
- Thuốc thiết yếu là một phạm trù rất rộng, trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ đề cập đến thực trạng tiếp cận và sử dụng thuốc thiết yếu
- Tình hình đau ốm của các thành viên hộ gia đình được đánh giá dựa trên các triệu chứng hoặc tình trạng bất thường về sức khỏe phụ thuộc vào quan niệm, nhận thức của người trả lời chứ không phải do cán bộ y tế chẩn đoán
Trang 35CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thông tin chung v ề đối tượng nghiên cứu
B ảng 3.1 Phân bố của đối tượng nghiên cứu theo tuổi
Nhận xét: Tiến hành nghiên cứu trên 400 đối tượng cho thấy, nhóm tuổi
từ 26-35 chiếm tỷ lệ cao nhất 38,2%, tiếp đến là nhóm 46 -55 tuổi chiếm19,0%, nhóm có tỷ lệ thấp nhất là 18-25 tuổi chiếm 10,3% (Bảng 3.1)
B ảng 3.2 Phân bố của đối tượng nghiên cứu theo giới
Kết quả trên cho thấy trong nghiên cứu này đối tượng nghiên cứu là nữ
giới có tỷ lệ cao hơn nam giới với nữ 53,5%, nam 46,5% (Bảng 3.2)
B ảng 3.3 Phân bố của đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn
Trang 36Nhận xét: Bảng 3.3 đối tượng nghiên cứu có trình độ học vấn là trung học
cơ sở chiếm tỷ lệ cao nhất 34,7%, trung học phổ thông chiếm 26,2%, nhóm tiểu
học 22,3%, trên trung học phổ thông 9,0%, không đi học chiếm tỷ lệ thấp nhất
B ảng 3.5 Phân bố của đối tượng nghiên cứu theo dân tộc
B ảng 3.6 Phân bố của đối tượng nghiên cứu theo kinh tế hộ gia đình
Trang 37Bi ểu đồ 3.1 Điều kiện kinh tế hộ gia đình (n=400)
Nghiên cứu cho thấy có 400 hộ tham gia nghiên cứu thì số hộ nghèo/cận nghèo chiếm (34,0%), hộ không nghèo chiếm 66% (Biểu đồ 3.1)
3.2 Ti ếp cận và sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả của người dân
B ảng 3.7 Nơi thường mua/nhận thuốc của hộ gia đình khi có người ốm
Thông tin
Người kinh (n=233)
Người DTTS (n=167)
Chung (n=400)
Số lượng Tỷ lệ % lượng Số Tỷ lệ % lượng Số Tỷ lệ %
Hiệu thuốc tư nhân 177 76,0 122 73,1 299 74,8
Nh ận xét: Bảng 3.7 cho thấy đối tượng nghiên cứu được hỏi khi gia đình có
người ốm chọn mua thuốc tại hiệu thuốc tư nhân chiếm tỷ lệ cao nhất 74,8% (Người kinh 76,0%, người dân tộc thiểu số 73,1%) Nhóm chọn mua tại y tế thôn chiếm tỷ lệ thấp nhất 2,3% (Người dân tộc thiểu số 4,2%, người kinh 0,9%)
34,0
66,0
Nghèo/cận nghèo Không nghèo
Trang 38B ảng 3.8 Khó khăn tài chính trong việc mua thuốc của hộ gia đình
Thông tin
Người kinh (n=233)
Người DTTS (n=167)
Chung (n=400)
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
% Không gặp khó khăn nào do
Phải vay tiền để mua thuốc 11 4,7 23 13,8 34 8,5
Phải bán thóc gạo/hoa màu/vật
Phải cắt giảm các nhu cầu thiết
yếu khác để có tiền mua thuốc 18 7,7 14 8,4 32 8,0 Không gặp khó khăn do nhà có
Nh ận xét: Bảng 3.8 cho thấy nhóm sẵn có tiền trong nhà để mua chiếm
49,8%, nhóm không gặp khó khăn nào do được bảo hiểm chi trả 33,8%, nhóm
phải bán thóc gạo/hoa màu/vật nuôi để có tiền mua thuốc chiếm tỷ lệ thấp
Người DTTS (n=167)
Chung (n=400)
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
% Được tư vấn đầy đủ về cách
sử dụng, liều dùng 217 93,1 160 95,8 377 94,3 Được tư vấn đầy đủ về tác
Trang 39Nh ận xét: Tỷ lệ hộ gia đình được tư vấn đầy đủ về cách sử dụng, liều
dùng của thuốc rất cao với 94,3% (Người dân tộc thiểu số 95,8%, người kinh 93,1%), nhóm được tư vấn đầy đủ về tác dụng phụ của thuốc 6,8%, nhóm không được tư vấn chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ 2,5% (Bảng 3.9)
B ảng 3.10 Số lượng và tỷ lệ hộ gia đình mua thuốc theo đơn mới đi khám
Thông tin
Người kinh Người DTTS Chung
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
% Theo đơn mới đi khám 50 89,3 21 61,8 71 78,9 Theo đơn cũ của lần khám
Nh ận xét: Kết quả ở bảng 3.10 cho thấy, người dân mua thuốc theo đơn
mới đi khám chiếm tỷ lệ cao nhất 78,9% (người kinh 89,3%, người DTTS 61,8%), tiếp là mua thuốc theo nhân viên hiệu thuốc tư vấn hướng dẫn là 15,6%, mua theo đơn cũ là 3,3%, mua theo kinh nghiệm bản thân 2,2%
B ảng 3.11 Số lượng và tỷ lệ hộ gia đình uống thuốc đúng như đơn đã kê
Thông tin
Người kinh Người DTTS Chung
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
%
Uống tuân thủ theo đơn
Không sử dụng thuốc đúng
Theo kết quả Bảng 3.11 cho thấy tỷ lệ người dân khi ốm uống thuốc tuân
thủ theo đơn thuốc mới đi khám chiếm tỷ lệ rất cao 81,1% (người kinh 92,9%, người DTTS 61,8%), nhóm không sử dụng đúng theo đơn là 18,9 (người kinh 7,1%, người DTTS 38,2%)