Có 47,1% sinh viên có stress khi không hài lòng về thành tích học tập của mình, cao hơn những sinh viên cảm thấy hài lòng về thành tích học tập, dù nghiên cứu của chúng không tìm thấy mố[r]
Trang 1PHẠM KẾ THUẬN
THỰC TRẠNG STRESS VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở SINH VIÊN KHOA Y DƯỢC
TRƯỜNG CAO ĐẲNG BÁCH KHOA
NAM SÀI GÒN – TP HỒ CHÍ MINH
NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI – 2020
Trang 2KHOA: KHOA HỌC SỨC KHỎE
BỘ MÔN: Y TẾ CÔNG CỘNG
PHẠM KẾ THUẬN
THỰC TRẠNG STRESS VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở SINH VIÊN KHOA Y DƯỢC
TRƯỜNG CAO ĐẲNG BÁCH KHOA
NAM SÀI GÒN – TP HỒ CHÍ MINH
NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG Chuyên ngành: Y TẾ CÔNGCỘNG
Mã số: 8.72.07.01 HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS Nguyễn Văn Tập
HÀ NỘI – 2020
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 4
1.1 Định nghĩa stress 4
1.2 Biểu hiện của stress 5
1.3 Phân loại stress 6
1.4 Các yếu tố dẫn đến stress 8
1.5 Quản lý stress 9
1.6 Công cụ sàng lọc stress 10
1.7 Tác động của stress đến con người 14
1.8 Các nghiên cứu về stress trên thế giới và tại Việt Nam 16
1.8.1 Nghiên cứu trên thế giới 16
1.8.2 Nghiên cứu tại Việt Nam 18
1.9 Các yếu tố liên quan đến stress ở sinh viên 22
1.10 Giới thiệu sơ lược về Khoa Y Dược trường cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh 28
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 31
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 31
2.2.3 Thời gian nghiên cứu 31
2.3 Phương pháp nghiên cứu 31
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 31
2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu 31
2.3.3 Kỹ thuật chọn mẫu 32
2.4 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 34
2.4.1 Biến số độc lập 34
2.4.2 Biến số phụ thuộc 37
2.4.3 Tiêu chí đánh giá 39
Trang 42.5.1 Công cụ thu thập thông tin 39
2.5.2 Kĩ thuật thu thập thông tin 40
2.6 Phân tích và xử lý số liệu 40
2.7 Sai số và biện pháp khống chế sai số 41
2.7.1 Sai số 41
2.7.2 Biện pháp khắc phục 41
2.8 Đạo đức trong nghiên cứu 41
2.9 Hạn chế của đề tài 42
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
3.1 Đặc tính dân số xã hội của đối tượng nghiên cứu 43
3.2 Thực trạng stress ở sinh viên khoa Y Dượctrường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh 47
3.3 Một số yếu tố liên quan đến thực trạng stress ở sinh viên khoa Y Dược trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh 50
3.4 Phân tích đa biến các yếu tố liên quan đến tỷ lệ stress Khoa Y Dược trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh 55
Chương 4 BÀN LUẬN 58
4.1 Đặc tính dân số xã hội của đối tượng nghiên cứu 58
4.2 Thực trạng stress ở sinh viên khoa Y Dược trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh 61
4.3 Thực trạng stress ở sinh viên khoa Y Dược trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh và các đặc tính mẫu nghiên cứu 62
4.4 Mối liên quan giữa stress và các yếu tố học tập 64
4.5 Mối liên quan giữa stress và các yếu tố đặc điểm xã hội 66
KẾT LUẬN 69
KHUYẾN NGHỊ 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 PHỤ LỤC 1 Error! Bookmark not defined PHỤ LỤC 2 Error! Bookmark not defined
Trang 5PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, do chính bản thân tôi thực hiện, tất cả số liệu trong luận văn này là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu có điều gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả luận văn
Phạm Kế Thuận
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận đươc
sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của Ban Giám hiệu Nhà trường, Khoa Khoa học Sức khỏe và Thầy Cô trong Bộ môn Y tế công cộng, đồng nghiệp và các bạn đồng môn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến:
- Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo Sau đại học trường Đại học Thăng Long– Hà Nội và quý Thầy- Cô đã chỉ bảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, hoàn thiện và bảo vệ luận văn này;
- Ban Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Phát triển Y Dược học Phía Nam, nơi tôi đang công tác đã luôn động viên, hỗ trợ để tôi hoàn thành khóa học;
- Ban Giám hiệu trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn – thành phố
Hồ Chí Minh, Lãnh đạo Khoa Y Dược và Trưởng Trạm Y tế học đường của Trường, nơi tôi từng công tác trước đây đã cho phép và tận tình giúp đỡ tôi thu thập số liệu để hoàn thành khóa học cũng như luận văn này
- GS.TS BS Nguyễn Văn Tập– Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh đã hướng dẫn và chỉ bảo tôi rất nhiều để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn này;
- Quý Thầy, Cô trong Hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những ý kiến đóng góp quý báu giúp luận văn của tôi thêm hoàn thiện
- Tất cả sinh viên Khoa Y Dược trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh, đã đồng ý tham gia vào nghiên cứu này của tôi
Xin gửi lời cảm ơn tới các bạn đồng môn lớp Thạc sỹ Y tế Công Cộng - CSP7 2A, Gia đình và đồng nghiệp vì tất cả!
Trân trọng cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 8 năm 2020
Học viên
Phạm Kế Thuận
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Đại học Y Dược Đại học Y Hà Nội Học sinh sinh viên Khoa Y Dược Sức khỏe Sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh WHO
YTCC
World Health Organization: Tổ chức Y tế thế giới
Y tế công cộng
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Thang đo DASS-21 11 Bảng 1.2: Bảng phân loại các mức độ stress, lo âu, trầm cảm 12 Bảng 2.1: Số lượng sinh viên khoa y dược năm học 2019 – 2020 (Tính đến 19.11.2019) 33 Bảng 2.2: Định nghĩa, phân loại và phương pháp thu thập các biến số 34 Bảng 3.1: Đặc điểm dân số của sinh viên khoa YDược trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài 43 Bảng 3.2: Đặc điểm cá nhân của sinh viên khoa Y Dược trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn 44 Bảng 3.3: Đặc điểm cá nhân của sinh viên khoa Y Dược trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn 45 Bảng 3.4: Đặc điểm xã hội của sinh viên khoa Y Dược trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn 46 Bảng 3.5: Tỷ lệ mức độ stress ở sinh viên khoa Y Dược trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn 47 Bảng 3.6 Thực trạng stress ở sinh viên khoa Y Dược trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn phân bố theo đặc tính của đối tượng nghiên cứu 48 Bảng 3.7 Thực trạng stress ở sinh viên khoa Y Dược trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn phân bố theo đặc tính của đối tượng nghiên cứu 49 Bảng 3.8: Đặc điểm dân số liên quan đến stress của sinh viên khoa Y Dược trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn 50 Bảng 3 9: Đặc điểm dân số liên quan đến stress của sinh viên khoa Y Dược trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn 51 Bảng 3.10: Đặc điểm cá nhân liên quan đến stress của sinh viên khoa Y Dược trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn 52
Trang 10trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn 53 Bảng 3.12: Đặc điểm xã hộiliên quan đến stress của sinh viên khoa Y Dược trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn 54 Bảng 3 13: Đặc điểm xã hộiliên quan đến stress của sinh viên khoa Y Dược trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn 55 Bảng 3 14 Các yếu tố liên quan với stress đã hiệu chỉnh cho các biến số gây nhiễu và tương tác (phân tích đa biến) 56
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới, “Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh hay thương tật”, nhưng trong thực tế hiện nay, sức khỏe tâm thần vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức Mặc dù các rối loạn tâm thần đã và đang chiếm một tỷ lệ lớn trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu, đặc biệt có ảnh hưởng nghiêm trọng trên nhóm vị thành niên và thanh niên Nhiều nghiên cứu trên đối tượng học sinh - sinh viên đã chỉ ra rằng ngày càng gia tăng về tỷ lệ và mức độ stress trong thời kì này cao hơn hẳn các giai đoạn khác trong cuộc đời [33],[65]
Stress có thể là động lực giúp con người tập trung hơn vào công việc và đạt được mục tiêu đề ra, tuy nhiên khi công việc quá tải, áp lực lớn kèm tình trạng stress kéo dài với cường độ mạnh không những gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe như mệt mỏi, giảm trí nhớ, mất tập trung, mất ngủ, làm giảm chất lượng công việc, học tập [46] Hiện nay, stress là một trong những vấn đề sức khỏe tâm thần đang thu hút nhiều nhà nghiên cứu, đặc biệt là trong môi trường Y khoa, nơi tỷ lệ sinh viên bị stress nhiều nhất[32], [43], [47]
Năm 2014, Mỹ có khoảng 2500 người bị stress liên quan đến các vấn đề sức khỏe và gây ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của cộng đồng [42] Theo một nghiên cứu khác ở Mỹ, được thực hiện vào năm 2008 bởi Associated Press chỉ ra rằng có 1 trên 10 sinh viên thường xuyên bị stress, 1 trên 5 sinh viên cảm thấy căng thẳng trong phần lớn thời gian Tỷ lệ này tăng 20% so với cuộc điều tra 5 năm trước đó [58] Ở Canada, tổ chức Mental Health Task Force on Graduate Student của Đại học California Berkey đã khảo sát sinh viên cử nhân của trường và phát hiện 45% sinh viên có các vấn đề về stress trong vòng 12 tháng qua [38]
Trang 12Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Hồng Đào tại khoa Y tế Công cộng – ĐH Y Dược thành phố Hồ Chí Minh có 46,8% sinh viên Y tế công cộng và 44% sinh viên khối Y học dự phòng có dấu hiệu stress [4] Một nghiên cứu trên 346 sinh viên khoa Y tế Công cộng – Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minhcủa tác giả Lê Hoàng Thanh Nhung (2017) theo thang đo DASS-21 Nghiên cứu cho thấy có 17,6% sinh viên có dấu hiệu stress mức độ nhẹ, 18,2% mức độ vừa, 7,8% mức độ nặng và 0,9% mức độ rất nặng Nghiên cứu cũng cho thấy các nguyên nhân đưa đến tỷ lệ stress trên đối tượng này là gồm các yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình và yếu tố học tập [13]
Khoa Y Dược Trường Cao Đẳng Bách Khoa Nam Sài Gòn có chức năng đào tạo cả lĩnh vực Y và Dược, trình độ cao đẳng và một số chương trình ngắn hạn khác liên quan đến sức khỏe theo chiến lược của Ban Giám Hiệu nhà trường về sự phát triển dài lâu trong việc mở rộng danh mục ngành đào tạo cho Khoa trong thời gian tới
Với Chức năng nhiệm vụ “Duy trì và nâng cao chất lượng học tập của học sinh, phát triển hợp tác quốc tế trong đào tạo ngành điều dưỡng theo chuẩn quốc tế (Hợp tác với tổ chức Jica – Nhật Bản, Đức ) và mục tiêu “Đáp ứng kịp thời xu thế hội nhập và nhu cầu xã hội, Khoa Y Dược không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo chuyên ngành sức khỏe, giúp học sinh cập nhật kiến thức mới, rèn luyện tay nghề vững vàng sau tốt nghiệp” [9], nên cả Thầy
và trò đều tích cực dạy và học sao cho “ Làm việc được – Được việc làm” Với những mục tiêu trên, sinh viên đang theo học tại trường đều yên tâm học tập vì nhận ra có nhiều cơ hội phát triển nghề nghiệp trong tương lai
Bên cạnh các thuận lợi là các áp lực căng thẳng, cần được quan tâm của nhà trường nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học, đồng thời đưa ra những biện pháp kịp thời và phù hợp với xu hướng tâm lý của các sinh viên,
Trang 13giúp hạn chế được tình trạng stress nâng cao chất lượng cuộc sống và nâng cao kết quả học tập, mở rộng cơ hội hành nghề sau khi tốt nghiệp
Với những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở sinh viên khoa Y Dược trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh, năm 2020”, với 2 mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng stress ở sinh viên Khoa Y Dược trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh, năm 2020
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến stress ở đối tượng nghiên cứu
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Định nghĩa stress
Stress là đáp ứng của chủ thể trước một nhu cầu hoặc một sự tương ứng của mối quan hệ giữa con người với môi trường xung quanh Stress là một đáp ứng thích nghi về mặt tâm lý, sinh học và tập tính Stress đặt chủ thể vào quá trình dàn xếp thích nghi với môi trường xung quanh, tạo cho cơ thể một cân bằng mới sau khi chịu tác động của môi trường Nói cách khác, phản ứng Stress bình thường đã góp phần làm cho cơ thể thích nghi [20]
Trong ngôn ngữ thông thường, người ta dùng từ “stress” để chỉ một nguyên nhân, một tác nhân từ môi trường (như tiếng ồn ở thành phố, bệnh tật,
sự thay dổi về chỗ ở hay công việc…) Stress cũng được dùng để chỉ hậu quả của tác nhân gây kích thích mạnh (sự hoảng sợ khi gặp thiên tai, sự căng thẳng trong công việc…) Stress dẫn đến những phản ứng sinh học của cơ thể khi đối mặt với các thay đổi của môi trường Như vậy, stress vừa chỉ tác nhân công kích, vừa để chỉ phản ứng của cơ thể trước các tác nhân đó Hay nói như Hans Selye là mối tương quan giữa tác nhân kích thích và phản ứng cơ thể, Hans Selye (1951) đã mô tả những phản ứng sinh học ngắn hạn hay dài hạn của cơ thể đối với stress trong "Hội chứng thích nghi tổng quát" (General Adaptation Syndrome), bao gồm ba giai đoạn: Giai đoạn phản ứng báo động (Stage of Alarm Reaction), giai đoạn đề kháng (Stage of Resistance) và giai đoạn kiệt sức (Stage of Exhaustion)[3], [20], [41]
Dưới góc độ tâm lý học, stress được Larazus (1999) khái quát là trạng thái hay cảm xúc mà cá nhân trải nghiệm khi họ nhận định rằng các yêu cầu
và đòi hỏi từ bên ngoài và bên trong có tính chất đe dọa, có hại, vượt quá nguồn lực cá nhân và xã hội mà họ có thể huy động được Cho đến nay, đây được coi là định nghĩa phổ biến nhất về stress [57], [35] Hướng tiếp cận này
Trang 15cho chúng ta một cái nhìn mới về stress với nhiều đột phá quan trọng: Thứ nhất, stress không tồn tại riêng rẽ trong các kích thích - là các sự kiện gây căng thẳng, hay trong đáp ứng của con người mà ở cả luôn hiện diện song song trong hai yếu tố này, đặc biệt là trong nhận thức Stress chỉ xảy ra khi cá nhân nhận định sự kiện có tính thách thức, có hại, đe dọa sức khỏe tâm – sinh
lý và bản thân không đủ khả năng để phản ứng Thứ hai, tác nhân gây stress không chỉ xuất phát từ môi trường bên ngoài mà còn từ những áp lực do chính
cá nhân tạo ra Thứ ba, stress là kết quả của một chuỗi phản ứng dây chuyền bao gồm một loạt yếu tố liên quan đến ý nghĩ – xúc cảm
Tóm lại, stress là một khái niệm mang tính hệ thống, liên quan đến nhiều quá trình, xảy ra trên nhiều phương diện khác nhau Vì thế, stress là một phản ứng tích hợp không thể tách rời của các lĩnh vực sinh học – xã hội học – tâm
lý học, được cá nhân triển khai nhằm đáp ứng với các tác nhân gây stress, các
sự kiện kích thích đòi hỏi huy động khả năng phản ứng của cá nhân
1.2 Biểu hiện của stress
Nhìn chung, khi bị stress con người có những thay đổi cả về thể chất và tâm lý (nhận thức, xúc cảm, hành vi)
Các biểu hiện về nhận thức Các biểu hiện về cảm xúc
Gặp khó khăn trong các quá trình trí nhớ Ủ rũ, buồn rầu, dễ xúc động
Không thể tập trung Cáu kỉnh, dễ nổi nóng
Khả năng đánh giá, nhận định kém Bức rức, bực bội, không xoa dịu
Trang 16bã tột cùng Hồi tưởng lại những điều buồn phiền
Cảm thấy mất lòng tin, hay nghi ngờ Tự đổ lỗi cho bản than
Chỉ nhìn thấy mặt tiêu cực của mọi vấn
đề, đánh giá cao khó khăn, đánh giá
thấp bản thân
Mất phương hướng
Không có khả năng đưa ra quyết định Bồn chồn, lo lắng và sợ hãi
Đau đầu, đau dạ dày, đau nửa đầu Ăn quá nhiều hoặc quá ít
Đau ngực, tim đập nhanh Ngủ quá nhiều hoặc quá ít
Bị tiêu chảy hay bị táo bón Không muốn năng động như bình
thường Buồn nôn và chóng mặt Nói năng không rõ ràng, khó hiểu
Giảm hứng thú tình dục Nói liên tục về một sự việc, hay
phóng đại sự việc
Vã mồ hôi, ớn lạnh, run rẩy Thu mình lại, rút lui, không muốn
tiếp xúc với người khác
Nguồn: Institute of Mental Health[44]
1.3 Phân loại stress
Có nhiều cách để phân loại stress tùy thuộc vào lĩnh vực mà nhà nghiên cứu quan tâm, trong đó, phổ biến nhất: stress được hiểu là một quá trình diễn tiến liên tiếp nhau và được phân thành hai loại chính:
- Stress dương tính (eustress) - giai đoạn báo động, giai đoạn đề kháng: Stress trong một thời gian ngắn với tính chất, cường độ tác động vừa phải có
Trang 17thể tạo nên sức mạnh tinh thần và thể chất tức thời Loại stress này sẽ giúp lượng máu dồn đến các cơ bắp để làm các cơ bắp cứng lên, đồng thời cũng làm tăng nhịp tim và huyết áp trong máu Nó có thể giúp cá nhân cải thiện tư duy, trí nhớ, sáng tạo, năng động, hăng hái, hào hứng; nhận thức được những tác nhân gây stress và khả năng phản ứng của mình trước stress Nếu sự kiện hay mối nguy hiểm qua đi, cơ thể sẽ trở lại trạng thái bình thường [35] Như vậy, một lượng stress tối ưu có thể giúp con người cải thiện sức khỏe và phát triển tinh thần Tuy nhiên, khi stress vượt quá tiềm năng phản ứng, ở mức độ nặng và kéo dài, khả năng đáp ứng của cơ thể đã suy yếu thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống (distress – stress âm tính) [37]
- Stress âm tính (distress): phản ứng stress trở thành bệnh lý khi tình huống gây stress là bất ngờ, quá dữ dội, hoặc tình huống quen thuộc nhưng lặp đi lặp lại, vượt quá khả năng dàn xếp của chủ thể Tiếp theo giai đoạn báo động và đề kháng là giai đoạn kiệt quệ với khả năng thích nghi bị thất bại và xuất hiện stress bệnh lý Trong stress bệnh lý, các rối loạn tâm thần, cơ thể và tập tính xuất hiện hoặc cấp tính, tạm thời hoặc nhẹ hơn và kéo dài, được phân thành nhiều giai đoạn:
+ Stress bệnh lý cấp tính: thường gặp trong các tình huống không lường trước được, dữ dội như bị tấn công, gặp thảm họa hoặc khi được biết chính mình hay người thân của mình bị bệnh nặng
+ Stress bệnh lý kéo dài: những rối loạn kéo dài được hình thành do các tình huống stress như sau: thường gặp nhất là trong các tình huống stress quen thuộc nhưng lặp đi lặp lại như xung đột, thất vọng, không toại nguyện, những phiền nhiễu trong đời sống hàng ngày Ít gặp hơn là trong các tình huống bất ngờ và dữ dội, gây ra một phản ứng cấp diễn ban đầu, nhưng sau đó không ổn định hoàn toàn mà chuyển sang stress bệnh lý kéo dài
Trang 18+ Trạng thái trầm cảm: những tình huống stress dai dẳng dẫn đến rối loạn lo âu kéo dài, gây trở ngại cho hoạt động của bệnh nhân Những hoàn cảnh xung đột, sự không thỏa mãn liên quan đến stress, khiến bệnh nhân nghĩ rằng bản thân họ không thể nào tiến triển tốt lên được Họ tự đánh giá thấp bản thân mình và đó là mở đầu cho các nhân tố trầm cảm Các nhân tố trầm cảm này phát triển thành hội chứng trầm cảm
+ Rối loạn stress sau sang chấn: rối loạn stress sau sang chấn phát sinh như một đáp ứng trì hoãn hoặc kéo dài đối với một sự kiện hoặc hoàn cảnh gây stress mạnh, có tính đe dọa, thảm họa đặc biệt Những sự kiện đó như tai họa do thiên nhiên, con người gây ra, chiến tranh, tai nạn thảm khốc, nạn nhân của tra tấn, khủng bố, hãm hiếp hoặc các tội ác khác
+ Rối loạn sự thích ứng: rối loạn sự thích ứng là những trạng thái đau khổ chủ quan và rối loạn cảm xúc gây trở ngại cho hoạt động xã hội và hiệu suất làm việc Tác nhân gây stress có thể ảnh hưởng đến sự toàn vẹn của các mối quan hệ của cá nhân như tang tóc hay chia ly Tính dễ tổn thương đóng vai trò to lớn trong nguy cơ của rối loạn thích ứng Rối loạn thích ứng thường xảy ra trong vòng một tháng sau khi xảy ra sự kiện stress và thường kéo dài không quá 6 tháng
1.4 Các yếu tố dẫn đến stress
Tình trạng căng thẳng thường xảy ra trong cuộc sống có thể là do :
Yếu tố chính[2]:
- Mẫu thuẫn giữa cá nhân và môi trường xung quanh
- Mâu thuẫn giữa quyền lợi cá nhân và nhu cầu của xã hội, đặc biệt là vấn đề về kinh tế
- Mâu thuẫn kéo dài trong công tác ở cơ quan
- Mẫu thuẫn trong đời sống cá nhân và gia đình
Trang 19Yếu tố thuận lợi[2]:
- Lao động trí óc quá căng thẳng
- Môi trường sống và làm việc có nhiều nhân tố kích thích
- Xác định nguồn gây stress: những sự kiện/tình huống nào gây stress?
Có liên quan đến gia đình, sức khỏe, tài chính, công việc, các mối quan
hệ hay liên quan đến điều gì khác không?
- Tìm hiểu biểu hiện của stress: con người trải qua stress với những biểu hiện khác nhau (khó tập trung, cảm thấy tức giận, cáu kỉnh, đau đầu, căng cơ hoặc thiếu năng lượng) Hãy đánh giá các dấu hiệu stress của bản thân
Trang 20- Cách đối phó với stress: xác định xem bạn có hành vi không lành mạnh như hút thuốc, uống rượu, ăn quá nhiều hay quá ít để đối phó hay không? Đây có phải là hành vi thường xuyên không hay là chỉ trong một dịp hay tình huống cụ thể nào? Liệu những hành vi không lành mạnh này có phải là do cảm thấy quá stress?
- Tìm những cách lành mạnh để quản lý stress: cân nhắc những hoạt động lành mạnh giúp giảm stress như: tập thể dục, thiền hoặc nói về stress của bạn với bạn bè hoặc gia đình
- Chăm sóc bản thân: ăn uống hợp lí, ngủ đủ giấc, uống nhiều nước và tham gia vào các hoạt động thể chất thường xuyên
- Tiếp cận để hỗ trợ: chấp nhận sự giúp đỡ từ bạn bè, gia đình có thể giúp quản lý stress, nếu bạn vẫn không quản lý được stress hãy tìm bác sĩ tâm lí
1.6 Công cụ sàng lọc stress
Trên thế giới có nhiều công cụ đo lường sức khỏe tâm thần được sử dụng cho đến bây giờ, như thang đo stress PSS, thang đo trầm cảm BECK (BID-D), thang tự đánh giá lo âu của ZUNG (SAS) và thang đo DASS đánh giá Trầm cảm – Lo âu – Stress của Lovibond Riêng thang đo DASS, có hai phiên bản: thang đo gồm 42 câu và thang đo ngắn gọn hơn gồm 21 câu Cả hai thang đo đều được đánh giá là đáng tin cậy và có giá trị cho nhóm dân số lâm sàng và cộng đồng kể cả khác biệt về văn hóa, dân tộc Thang đo có thể được sử dụng bởi những bác sĩ không thuộc chuyên ngành tâm thần [22] Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng thang đo Trầm cảm – Lo âu – Stress DASS-21, bởi từ khi ra đời, thang đo DASS-21 đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu ở nhiều quốc gia để đánh giá mối quan hệ và ảnh hưởng của trầm cảm, lo âu và stress trong nhiều nhóm dân cư, nhóm tuổi, lâm sàng hay cộng đồng và phân biệt stress và trầm cảm [48], [54], [61]
Trang 21Thang đo DASS-21 là một bộ câu hỏi tự điền, được thiết kế để đo lường trạng thái cảm xúc tiêu cực của trầm cảm, lo âu, stress DASS-21 là phiên bản rút gọn của DASS-42 Theo nghiên cứu của các tác giả Oei, T P Sawang, S Goh, Y W Mukhutar vào năm 2013 về việc sử dụng thang đo DASS-21, kết quả nghiên cứu khuyến cáo rằng thang đo DASS-21 phù hợp với người châu Á hơn là thang đo DASS-42[60]
Bảng 1.1 Thang đo DASS-21
1 Tôi cảm thấy khó mà thoải mái được 0 1 2 3 S
3 Tôi dường như chẳng có chút cảm xúc tích
4 Tôi bị rối loạn nhịp thở (thở nhanh, thở gấp,
khó thở dù chẳng làm việc gì nặng) 0 1 2 3 A
5 Tôi cảm thấy khó bắt tay vào công việc 0 1 2 3 D
6 Tôi có xu hướng phản ứng thái quá với mọi
8 Tôi thấy mình đang suy nghĩ quá nhiều 0 1 2 3 S
9 Tôi lo lắng về những tình huống có thể làm tôi
hoảng sợ hoặc biến tôi thành trò cười 0 1 2 3 A
10
Tôi thấy mình chẳng có gì để mong đợi cả 0 1 2 3 D
11 Tôi thấy bản thân dễ bị kích động 0 1 2 3 S
13 Tôi cảm thấy chán nản, thất vọng 0 1 2 3 D
Trang 2214 Tôi không chấp nhận được việc có cái gì đó
xen vào cản trở việc tôi đang làm 0 1 2 3 S
15 Tôi thấy mình gần như hoảng loạn 0 1 2 3 A
16 Tôi không thấy hăng hái với bất kỳ việc gì nữa 0 1 2 3 D
17 Tôi thấy mình chẳng đáng làm người 0 1 2 3 D
18 Tôi thấy mình khá dễ phật ý, tự ái 0 1 2 3 S
19 Tôi nghe thấy rõ tiếng nhịp tim dù chẳng làm
việc gì cả (tăng nhịp tim, tiếng tim loạn) 0 1 2 3 A
Các mức độ thang tính điểm:
0 = Không đúng chút nào cả
1 = Thỉnh thoảng mới đúng
2 = Phần lớn thời gian là đúng
3 = Hầu hết thời gian là đúng
Nguồn: Nghiên cứu của các tác giả Oei, T P Sawang, S Goh, Y W Mukhutar năm 2013 [60]
Bảng 1.2: Bảng phân loại các mức độ stress, lo âu, trầm cảm
Trang 23Thang đo DASS-21 quy định mức độ trầm cảm, lo âu, stress từ nặng và rất nặng làm ngưỡng hướng đến chẩn đoán trầm cảm, lo âu, stress cho các bác sĩ lâm sàng Bộ câu hỏi có 21 tiểu mục chia thành 3 phần, tương ứng với mỗi phần là 7 tiểu mục
Phần Căng thẳng tâm lý gồm các tiểu mục 1, 6, 8, 11, 12, 14, 18;
Phần Lo âu gồm các tiểu mục 2, 4, 7, 9, 15, 19, 20;
Phần Trầm cảm gồm các tiểu mục 3, 5, 10, 13, 16, 17, 21
Điểm cho mỗi tiểu mục là từ 0 đến 3 dựa trên mức độ và thời gian trải nghiệm triệu chứng của đối tượng Khi sử dụng thang đo DASS-21 để đo lường, tổng điểm của từng phần được nhân đôi trước khi kết luận Tuy nhiên,
để có chẩn đoán xác định, bác sĩ lâm sàng cần kết hợp với các phương tiện chẩn đoán khác vì DASS không có những tác động trực tiếp đối với việc phân bổ người bệnh, đối với các loại chẩn đoán xác định bệnh được mặc nhiên công nhận trong hệ thống phân loại như DSM và ICD Những người bệnh có mức độ nặng và rất nặng được đánh giá là có bị trầm cảm, lo âu, stress, và cần được sự giúp đỡ Những người bệnh ở mức độ nhẹ có nghĩa là mức điểm cao hơn trung bình so với dân số chung nhưng vẫn còn dưới mức
độ nghiêm trọng điển hình và mức độ nhẹ không có nghĩa mức độ nhẹ của rối loạn[26], [63]
DASS21 đã được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt, được xem xét bởi một nhóm các chuyên gia y tế và nhân viên nghiên cứu về sự phù hợp của ngôn ngữ và thành ngữ văn hóa và dịch ngược sang tiếng Anh để xác minh Những người tham gia đã hoàn thành DASS21-V như một cuộc phỏng vấn có cấu trúc cá nhân với một nhà nghiên cứu sức khỏe được đào tạo Trong một quy trình riêng biệt, một bác sĩ tâm thần người Việt đã thực hiện các cuộc phỏng vấn SCID trong cùng một ngày Tất cả những người tham gia đã hoàn thành cả hai cuộc phỏng vấn trong các phòng riêng tại trạm
Trang 24y tế xã trong cùng một ngày Bác sĩ tâm thần đã bị mù điểm số trên DASS21
và ngược lại Thu thập dữ liệu được thực hiện vào tháng 2 năm 2008[62]
Có bằng chứng về tính hợp lệ của DASS cho việc sử dụng ở cả lâm sàng
và cộng đồng ở các quốc gia nói tiếng Anh bao gồm Úc, Hoa Kỳ, Canada và Anh Công cụ này cũng đã được dịch và xác thực bằng các ngôn ngữ khác bao gồm tiếng Trung, tiếng Mã Lai, tiếng Ý và tiếng Tây Ban Nha Cả hai phiên bản tiếng Anh và không phải tiếng Anh đều có tính nhất quán nội bộ cao (điểm số alpha của Cronbach> 0,7) Các nghiên cứu trước đây ở các quốc gia nói tiếng Anh và không nói tiếng Anh đã tìm thấy mối tương quan đáng
kể giữa điểm DASS và các biện pháp khác bao gồm Thang đo Beck Anxiety
và Beck Depression (hệ số tương quan, r, dao động từ 0,58 đến 0,78,), Tích cực và Thang đo ảnh hưởng tiêu cực (r = 0,69,) và Danh sách kiểm tra triệu chứng-90-R (r dao động trong khoảng 0,57 đến 0,84,) Tuy nhiên, vẫn chưa
có một nghiên cứu kiểm chứng DASS21 chống lại xét nghiệm chẩn đoán lâm sàng để đề xuất và xác minh điểm số bị cắt để phát hiện các rối loạn tâm thần phổ biến[62]
1.7 Tác động của stress đến con người
Qua quá trình tiến hóa hàng triệu năm, con người đã được trang bị những
cơ chế sinh học thần kinh cho phép thích ứng với tất cả những sự thay đổi của môi trường sống Cho dù những thay đổi này về mặt cơ thể, tinh thần hay xã hội thì cơ thể cũng phải duy trì được sự hằng định, sự cân bằng bên trong cơ thể bằng cách điều tiết năng lượng một cách phù hợp trong quá trình thích ứng Cần nhớ rằng sự thích ứng này có tầm quan trọng sống còn đối với cá thể bởi vì con người luôn phải đối mặt với stress[18],[55]
Stress có thể là động lực giúp con người tập trung hơn vào công việc và đạt được mục tiêu đề ra, tuy nhiên khi công việc quá tải, áp lực lớn kèm tình trạng stress kéo dài với cường độ mạnh không những gây ảnh hưởng xấu đến
Trang 25sức khỏe như mệt mỏi, giảm trí nhớ, mất tập trung, mất ngủ, mà còn làm giảm chất lượng công việc, học tập [46]
Ở một mức độ nào đó, stress là cần thiết cho đời sống, nó tạo ra động cơ, thách thức, đòi hỏi các cá thể phải huy động các nguồn lực để vượt qua và tiếp tục tồn tại, hoàn thiện mình hơn Nhưng ở một số trường hợp stress vượt quá ngưỡng nào đó sẽ trở nên nguy hiểm đến đời sống của cá thể, thậm chí dẫn đến cái chết vì cơ thể không thể thích ứng, không thể vượt qua được để duy trì một sự ổn định bên trong[18],[55]
Cho đến nay, y học đã khẳng định mối liên quan mật thiết giữa tinh thần
và các bệnh thực thể thông qua các phản ứng thần kinh – nội tiết – miễn dịch
Ba yếu tố trong hệ thống này có ảnh hưởng qua lại mật thiết với nhau trong quá trình thích ứng của cơ thể với những đòi hỏi của môi trường Hoạt động của hệ thống này nằm mục đích bảo đảm sự hằng định bên trong cơ thể trong quá trình thích ứng với các thay đổi, đòi hỏi của môi trường Hệ thống thần kinh dẫn truyền những tín hiệu thông qua các dẫn chất thần kinh Hệ nội tiết
sử dụng những hormone, để chuyển tải thông tin chuyên biệt từ xa Hệ thống miễn dịch chuyển tải thông tin nhờ những tế bào lưu chuyển trong cơ thể và sản xuất ra những tế bào “chiến đấu” và những kháng thể để bảo vệ cơ thể chống lại những tác nhân tấn công gây hại từ bên ngoài [18],[55]
Theo Selye tất cả các phản ứng tự vệ của cơ thể đều giống nhau ở mọi cá thể nhưng ở từng cá thể khác nhau thì mức độ phản ứng có khác nhau vì vậy khả năng thích ứng của từng cá thể cũng không giống nhau đối với cùng một yếu tố gây stress[18], [55]
Tóm lại: con người luôn luôn phải đối mặt với các hoàn cảnh gây stress Nếu những yếu tố gây stress ở một giới hạn nào đó và cá thể có thể vượt qua bằng cách huy động các nguồn lực của mình Trường hợp này, stress mang tính tích cực vì nó có tác dụng như một thách thức, tạo một động cơ để cá thể
Trang 26phấn đấu vượt qua và qua quá trình thích nghi này đã tự hoàn thiện mình để tiếp tục tồn tại và phát triển Trong một số trường hợp ngược lại, yếu tố gây stress quá mạnh hoặc trường diễn, cơ thể dù huy động hết khả năng nhưng không thể vượt qua và không thể thích nghi được với hoàn cảnh mới thì cơ thể sẽ dẫn đến cạn kiệt các nguồn lực và lúc đó, khi mà sức đề kháng của cơ thể không còn, trầm cảm và hàng loạt các bệnh cơ hội xuất hiện Đó chính là hậu quả tai hại của stress ảnh hưởng đến sức khỏe của con người Điều này chúng ta cần nhận thấy và cần có những biện pháp thích hợp để hạn chế những tác hại của stress[18], [55]
1.8 Các nghiên cứu về stress trên thế giới và tại Việt Nam
1.8.1 Nghiên cứu trên thế giới
Khảo sát của Hiệp hội tâm lý Hoa Kỳ (American Psychological Association) năm 2009 cho kết quả như sau: 45% thanh niên 13-17 tuổi nói
họ lo lắng nhiều hơn trong năm, tỷ lệ các triệu chứng liên quan đến stress khá cao như đau đầu (42%), khó ngủ (49%), ăn quá nhiều/ít (39%) [31]
Một nghiên cứu khác được thực hiện tại Hàn Quốc ghi nhận rằng tự tử
là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở thanh thiếu niên Hàn Quốc, trong đó căng thẳng trong học tập là một yếu tố nguy cơ chính và có liên quan với trầm cảm [34]
Tại Mỹ vào năm 2014, có khoảng 2500 người bị stress liên quan đến các vấn đề sức khỏe và gây ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của cộng đồng [42] Theo một nghiên cứu khác ở Mỹ, được thực hiện vào năm 2008 bởi Associated Press chỉ ra rằng có 1 trên 10 sinh viên thường xuyên bị stress, 1 trên 5 sinh viên cảm thấy căng thẳng trong phần lớn thời gian Tỷ lệ này tăng 20% so với cuộc điều tra 5 năm trước đó [58]
Trang 27Ở Canada, tổ chức Mental Health Task Force on Graduate Student của Đại học California Berkey đã khảo sát sinh viên cử nhân của trường và phát hiện 45% sinh viên có các vấn đề về stress trong vòng 12 tháng qua [38]
Ở Thái Lan, một nghiên cứu được thực hiện trên sinh viên y khoa tại trường Y, tổng cộng có 686 sinh viên tham gia Kết quả cho thấy 421 (61,4%) sinh viên có một số mức độ stress và 17 (2,4 %) sinh viên báo cáo mức độ stress cao Tỷ lệ căng thẳng cao nhất trong số các sinh viên y khoa năm thứ
ba Các vấn đề học tập đã được tìm thấy là một nguyên nhân chính gây căng thẳng trong tất cả các sinh viên[56]
Tại Malaysia, theo nghiên cứu của Jobari và Hashim năm 2008 trên 450 sinh viên của các trường Đại học Quốc gia Malaysia, Đại học Sabah Malaysia
và Đại học Y khoa Hoàng gia Kuala Lumpur Perak Kết quả cho thấy tỷ lệ stress nói chung là 44,1% và lần lượt của các trường là 46,9%, 42,3% và 43% Các yếu tố góp phần gây ra stress là vấn đề tài chính, mối quan hệ với bố mẹ, đồng nghiệp, anh chị em ruột, bạn thân và thầy cô giáo Các bài kiểm tra là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng stress của sinh viên[28] Năm 2013, Abdus Salam và công sự cũng thực hiện nghiên cứu trên sinh viên y khoa Malaysia, kết quả cho thấy tỷ lệ stress là 56% - đây là một tỷ lệ đáng báo động Năm học, vấn đề tài chính và vấn đề mối quan hệ với cha mẹ, anh chị
em và giảng viên là những yếu tố quyết định quan trọng Thi cử và học thuật
là các yếu tố gây căng thẳng đáng kể nhất [29]
Ở Ả Rập Saudi, nghiên cứu trên 892 sinh viên Y tại Saudi Arabia do Hamza M Abdulghani và cộng sự tiến hành năm 2011 sử dụng bộ câu hỏi Kessler 10 psychological distress (K10) Kết quả cho thấy, tỷ lệ stress nói chung là 63%, stress ở mức nghiêm trọng là 25% Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ stress cao hơn ở nữ so với nam giới Tỷ lệ stress giảm đáng kể khi năm học tăng lên, ngoại trừ năm cuối cùng.[40]
Trang 28Tại Pakistan, tác giả Hamna Khan và cộng sự tiến hành nghiên cứu trên sinh viên trường đại học Đại học Y King Edward Lahore sử dụng chấm điểm DASS-21 cho kết quả: Tỷ lệ stress lần lượt là 17,4% là nhẹ, 23,6% ở mức trung bình, 16,6% là nghiêm trọng và 5,7% là cực kỳ nghiêm trọng Nữ giới
đã phải chịu đựng sự căng thẳng hơn một chút so với nam giới[39]
Tại Ả Rập, một nghiên cứu cắt ngang tại Syria trên sinh viên y khoa, tỷ
lệ stress là 52,6% Năm học tập, thu nhập cá nhân có mối liên quan với tình trạng stress Cụ thể là sinh viên năm thứ năm ít có khả năng bị căng thẳng hơn đáng kể so với sinh viên năm thứ hai và những người có thu nhập cá nhân không đủ điều kiện có nhiều khả năng bị căng thẳng đáng kể so với những người cân nhắc thu nhập cá nhân của họ[59]
Ở Ai Cập, Wafaa Yousif Abdel Wahed và cộng sự (2016) đã tiến hành điều tra trên sinh viên Đại học Y khoa Fayoum, tỷ lệ stress là 62,4% Tỷ lệ stress có liên quan đến giới tính và tuổi, cụ thể là những sinh viên nữ có tỷ lệ stress cao hơn sinh viên nam với giá trị p = 0,001, sinh viên trên 20 tuổi có mức độ stress và lo âu cao hơn sinh viên dưới 20 tuổi, có mối liên quan đáng
kể giữa căng thẳng và các lớp học cao hơn đã được phát hiện với các giá
trị p =0,023 Mối liên quan đáng kể giữa căng thẳng và tình trạng hôn nhân
cũng đã được báo cáo, sinh viên đã kết hôn ít bị căng thẳng nghiên cứu cũng chỉ ra có mối liên quan đáng kể giữa tiêu chuẩn kinh tế xã hội với tỷ lệ stress.[64]
1.8.2 Nghiên cứu tại Việt Nam
Năm 2011 tác giả Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh tiến hành nghiên cứu trên sinh viên Khoa YTCC – ĐHYD TP HCM: Sinh viên bị stress bệnh lý chiếm tỷ lệ khá cao với 24,2%, trong đó có 2,8% sinh viên bị stress bệnh lý nặng Tỷ lệ sinh viên bị stress ở nhà trọ và ở nhà người thân cao gấp 4,2 lần so với sinh viên ở kí túc xá Thống kê từ các yếu tố trong môi trường học tập cho thấy
Trang 29hơn 80% sinh viên cảm thấy căng thẳng vì khối lượng bài vở nhiều, căng thẳng trước mỗi kì thi và việc học thi gây mệt mỏi Nhưng qua thực tế nghiên cứu thì vẫn chưa tìm ra mối liên quan giữa stress và các yếu tố trong môi trường học tập[14]
Năm 2012, một nghiên cứu được tiến hành trên 483 sinh viên năm thứ 2 khoa y và răng hàm mặt Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí và sử dụng thang đánh giá DASS -21 Tỷ lệ sinh viên bị stress, trầm cảm và lo âu lần lượt là 71,4%, 28,8%, 22,4%, đa số ở mức độ nhẹ và vừa 52,8% sinh viên có cùng 3 dạng rối loạn trên Không có khác biệt giữa các mức độ stress, lo âu, trầm cảm theo nguồn cư trú và giới tính; ngoại trừ trầm cảm - nhất là ở mức độ nặng và rất nặng thì nam nhiều hơn nữ [23]
Năm 2013, một nghiên cứu tại đại học Quốc gia về “Nhận thức và thái
độ của sinh viên Đại học Quốc gia TP HCM đối với vấn đề Rối loạn sức khỏe tâm thần” trên 400 sinh viên của trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đại học Bách khoa, đại học Khoa học tự nhiên, đại học Công nghệ thông tin cho thấy thấy có đến 45% sinh viên đã biết về rối loạn sức khỏe tâm thần và 55% sinh viên chưa biết về rối loạn sức khỏe tâm thần [6]
Năm 2013, một nghiên cứu trên đối tượng là học sinh điều dưỡng của trường Trung cấp Quân Y 2 được tiến hành của tác giả Lý Xuân Bắc và cộng
sự, tỷ lệ stress bệnh lý ở học sinh là 21,5%, trong đó có 2,7% học sinh bị stress nặng cần được điều trị Nhiều yếu tố xuất phát từ bản thân học sinh có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng stress như: Đi làm thêm trong quá trình học tập, thường xuyên nhịn ăn sáng, lo lắng không đủ tiền tiếp tục học, lo lắng học tập kém bạn bè và kỳ vọng học lên đại học Bên cạnh đó, yếu tố gia đình cũng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê: gia đình có thu nhập thấp, thường xuyên trách mắng, than phiền về chi tiêu của cá nhân học sinh, yêu cầu phải đạt thứ hạng cao ở kỳ thi tốt nghiệp Ngoài ra các yếu tố môi trường, học tập cũng
Trang 30có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê: Khối lượng bài giảng quá nhiều, lịch học quá dày, chưa kịp thích nghi với phương pháp giảng dạy mới[27]
Năm 2013, tác giả Vũ Khắc Lương và cộng sự tiến hành nghiên cứu về thực trạng stress sinh viên Y Hà Nội với trên 431 sinh viên Kết quả cho thấy:
Tỷ lệ stress ở SV ĐHY HN là 63,6%, cao hơn SV ở các trường không phải là
Y Tỷ lệ này ở nhóm SV nữ là 66,5%, cao hơn nhóm nam (59,6%), nhưng không có ý nghĩa thống kê Theo ngành học, SV ngành kỹ thuật y học có tỷ lệ này cao nhất (79%) Theo năm học, SV năm thứ III (Y3) có tỷ lệ stress cao nhất (72,6%)[10]
Năm 2015, nghiên cứu được thực hiện trên sinh viên năm 3 Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015 sử dụng bộ câu hỏi dựa trên các công cụ DASS-21 Kết quả cho thấy, tỷ lệ sinh viên được phân loại có stress cao (68,29%) và tỷ lệ stress ở sinh viên nữ cao hơn so với nam Sinh viên trải nghiệm càng nhiều các sự kiện thay đổi thì mức độ stress càng tăng lên và tác nhân chính thuộc nhóm sự kiện thay đổi về các mối quan hệ và học tập[12]
Năm 2016, theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Hồng Đào tại khoa YTCC – ĐHYD TP HCM, có 46,8% SV YTCC và 44% SV khối Y học dự phòng có dấu hiệu stress [4]
Năm 2016, một khảo sát thực trạng stress nghề nghiệp của sinh viên điều dưỡng vừa làm, vừa học tại trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai cho kết quả mức
độ stress ở đối tương nghiên cứu chủ yếu là stress nhẹ chiếm 74,8%, còn lại 25,2% đối tượng nghiên cứu có mức độ stress vừa Không có tỷ lệ bị stress nặng Trong nhóm các tác nhân gây stress thì nhóm liên quan đến thời gian và khối lượng công việc gây ra tỷ lệ stress cao nhất Nhóm liên quan đến mối quan hệ trong công việc là nhóm gây stress thấp nhất
Trang 31Năm 2017, một nghiên cứu trên 346 sinh viên khoa YTCC– ĐHYD TP HCM của tác giả Lê Hoàng Thanh Nhung theo thang đo DASS-21 Nghiên cứu cho thấy: Có 17,6% sinh viên có dấu hiệu stress mức độ nhẹ, 18,2% mức
độ vừa, 7,8% mức độ nặng và 0,9% mức độ rất nặng Nghiên cứu cũng cho thấy các nguyên nhân đưa đến tỷ lệ stress trên đối tượng này là gồm các yếu
tố cá nhân, yếu tố gia đình và yếu tố học tập [13]
Năm 2017, tác giả Nguyễn Thành Trung và cộng sự thực hiện khảo sát trên sinh viên YTCC tại một trường đại học ở Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấý tỷ lệ mắc stress ở đối tượng này là 34,4% Dấu hiệu của stress ở những nhóm sinh viên có một số yếu tố sau: Mẹ làm công nhân (OR=3,1); áp lực học tập cao (OR=1,1); không hài lòng với ngành học (OR=2,1) hay mâu thuẫn với bạn bè (OR=1,8) và không thường xuyên chia sẻ với bạn thân/nhóm bạn thân (OR=2,1)[24]
Năm 2017, nghiên cứu được thực hiện trên đối tượng sinh viên Y học dự phòng từ năm thứ 2 đến sinh viên năm thứ 5 ở trường Đại học Y Dược Cần Thơ Tỷ lệ stress ở sinh viên Y học dự phòng trường Đại học Y Dược Cần Thơ là 77,62% Trong đó có 37,57% sinh viên có mức độ stress nhẹ; 34,25% sinh viên có mức độ stress trung bình và 5,8% sinh viên có mức độ stress nặng Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa mức độ stress mức độ nặng và trung bình (stress bệnh lý) với các yếu tố giới, một số sự kiện liên quan đến gia đình như có bất đồng với cha mẹ và người thân bị bệnh nặng, và việc kết thúc tình yêu[17]
Năm 2018, tác giả Nguyễn Thị Bích Ngân và Lê Thành Tài thực hiện nghiên cứu trên sinh viên trường Cao đẳng cộng đồng Hậu Giang, kết quả tỷ
lệ stress, trầm cảm, lo âu trong sinh viên là 28,4%; 20,5% và 49,6% Một số yếu tố liên quan: Các yếu tố nguy cơ chính liên quan stress, trầm cảm và lo âu
là đi làm thêm, sống với người nghiện rượu, bị la mắng/ văng tục/ làm nhục,
Trang 32bị bạn bè bắt nạt, áp lực học tập cao, sinh viên học những năm cuối, không có
kế hoạch học tập, có hút thuốc lá, uống rượu bia, sử dụng thuốc giảm đau > 7 ngày, tham gia diễn đàn mạng xã hội[11]
Năm 2018, nghiên cứu về stress của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang cho kết quả: Sinh viên có nguy cơ stress, chiếm tỷ lệ 47,6% Phần lớn sinh viên có nguy cơ stress ở mức độ nhẹ và vừa (33,5%), tuy nhiên tỷ lệ sinh viên có nguy cơ stress nặng và rất nặng cũng rất đáng quan tâm (13%; 6,1%) Sinh viên nữ có nguy cơ stress cao gấp 4,7 lần sinh viên nam Tỷ lệ có nguy cơ stress cao nhất là ở nhóm sinh viên ngành Dược (71,6%) Tỷ lệ và mức độ stress của sinh viên tăng dần theo từng năm học Tỷ lệ stress ở mức
độ nặng chủ yếu tập trung ở sinh viên năm thứ ba (45,8%) Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê làm tăng nguy cơ stress của sinh viên gồm: Năm học (năm thứ hai; năm thứ ba), tình trạng lo lắng về nghề nghiệp tương lai, kết quả học tập từ trung bình khá trở xuống, không hài lòng về mối quan hệ với bố mẹ, thầy cô, lo lắng khoảng cách lớn giữa lý thuyết và thực hành (p<0,05)[7]
1.9 Các yếu tố liên quan đến stress ở sinh viên
1.9.1 Tuổi
Nghiên cứu của Khadijah Shamsuddin và cộng sự năm 2013 trên 506 sinh viên tuổi từ 18-24 thuộc 4 trường đại học công lập tại Klang Valley, Malaysia cho thấy mức độ stress, lo âu và trầm cảm ở nhóm sinh viên trên
20 tuổi cao hơn nhóm sinh viên nhỏ tuổi[45]
Nghiên cứu của Wafaa Yousif Abdel Wahed và cộng sư (2016) đã tiến hành điều tra trên 442 sinh viên y khoa từ năm nhất đến năm tư của trường đại học Fayoum, Ai cập và cho thấy stress và lo âu ở mức cao có mối liên quan với các yếu tố tuổi Những sinh viên trên 20 tuổi có mức độ stress và lo âu cao hơn sinh viên dưới 20 tuổi[64]
Trang 33Tác giả Vũ Khắc Lương và cộng sự tiến hành nghiên cứu năm 2013
về thực trạng stress sinh viên Y Hà Nội trên 431 sinh viên, tỷ lệ stress ở nhóm sinh viên nữ là 66,5% cao hơn nhóm nam 59,6% [10] Nghiên cứu tại Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang cho thấy có sự khác biệt về mức độ stress giữa nam và nữ, cụ thể là sinh viên nữ có nguy cơ stress cao gấp 4,7 lần sinh viên nam[7]
Một nghiên cứu được thực hiện trên sinh viên năm 3 Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015 sử dụng bộ câu hỏi dựa trên các công cụ DASS-21 Kết quả, tỷ lệ stress ở sinh viên nữ cao hơn so với nam[12]
Nghiên cứu của Wafaa Yousif Abdel Wahed và cộng sự (2016) đã tiến hành điều tra trên 442 sinh viên y khoa từ năm nhất đến năm tư của trường đại học Fayoum, Ai cập và cho thấy mức độ stress và lo âu ở nữ giới cao hơn nam giới[64]
Trang 34Nghiên cứu cắt ngang của Mohamad Saiful Bahri Yusoff trên sinh viên trường đại học Sains Malaysia được tiến hành trên 1058 sinh viên y khoa của trường năm 2010, chỉ ra yếu tố khóa học là yếu tố duy nhấttìm được mối liên quan với stress ở sinh viên y khoa[52]
Tác giả Vũ Khắc Lương và cộng sự tiến hành nghiên cứu trên sinh viên Y Hà Nội trên 431 sinh viên, cho thấy có sự liên quan giữa năm học với stress, cụ thể là sinh viên năm thứ III (Y3) có tỷ lệ stress cao hơn các năm học thấp hơn với tỷ lệ cao nhất là 72,6% [10]
Năm 2018, nghiên cứu về stress của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang cho kết quả, tỷ lệ và mức độ stress của sinh viên tăng dần theo từng năm học Tỷ lệ stress ở mức độ nặng chủ yếu tập trung ở sinh viên năm thứ ba (45,8%)[7]
1.9.4 Kinh tế tài chính
Nghiên cứu của Daniel Eisenberg và cộng sự năm 2007 trên sinh viên các trường đại học công lập của Mỹ đã chỉ ra sinh viên có khó khăn về tài chính cónguy cơ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần gấp 1,6 đến 9 lần sovới những sinh viên không gặp khó khăn[36]
Nghiên cứu của Khadijah Shamsuddin và cộng sự năm 2013 trên 506 sinh viên tuổi từ 18-24 thuộc 4 trường đại học công lập tại Klang Valley,
Trang 35Malaysia chothấy mức độ stress ở nhóm sinh viên thu nhập gia đình trung bình đều cao hơn các nhóm có thu nhập cao và thấp [45]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Huyền năm 2012 trên 600 sinh viên trường ĐH KHXH & NV – ĐHQG TP.HCM đã nhận định áp lực cuộc sống từ tiền nong, sinh hoạt phí là một trong những nguyên nhân chính gây nên stress ở sinh viên [8]
Tác giả Lê Hoàng Thanh Nhung thực hiện nghiên cứu trên sinh viên Khoa YTCC- ĐHYD TP HCM, nghiên cứu tìm ra có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa stress với thu nhập trung bình/ tháng của sinh viên Trong đó, những sinh viên có thu nhập trung bình/ tháng của mình ≥ 3 triệu có tỷ lệ stress bằng 0,77 lần so với những sinh viên có thu nhập < 3 triệu với p=0,029 [13]
1.9.5 Các mối quan hệ gia đình, bạn bè, xã hội
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Huyền về thực trạng hiện tượng stress trong đời sống của sinh viên trường ĐH KHXH & NV – DHQG TP HCM cũng chỉ ra bất ổn từ các mối quan hệ xã hội là một trong các nguyên nhân hàng đầu khiến sinh viên bị stress Cụ thể là, những lời nói
và thái độ ứng xử của người khác đối với bạn, những rắc rối trong quan hệ với người khác, sự xung đột hiểu lầm trong các quan hệ bạn bè là những nguyên nhân nổi lên hàng đầu[8]
Tác giả Vũ Dũng thực hiện nghiên cứu trên sinh viên Điều dưỡng của Đại học Thăng Long chỉ ra rằng so với nhóm không có bạn thân, nguy cơ stress mức độ cao ở nhóm sinhviên có bạn thân ít hơn gần ba lần Nhóm sinh viên hài lòng về tình bạn và không hài lòng về tình bạn có nguy cơ stress mức độ cao cao gấp 4,47 và 3,7 lần nhóm sinh viên rất hài lòng về tình bạn Các sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05[5]
Trang 36Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thành Trung kết quả nghiên cứu cũng cho thấy mối liên quan giữa các mối quan hệ với gia đình của sinh viên (chia sẻ và mâu thuẫn) với tình trạng stress của sinh viên Những sinh viên không hay chia sẻ với với gia đình có nguy cơ có biểu hiện stress cao gấp 1,6 lần so với nhóm thường xuyên chia sẻ (p<0,05) Việc không thường xuyên có mâu thuẫn với gia đình cũng làm giảm nguy cơ có biểu hiện stress ở sinh viên xuống còn 50% so với việc thường xuyên mâu thuẫn (p<0,05)[24]
1.9.6 Yếu tố về học tập
Nghiên cứu của Vũ Dũng đã chỉ ra nguy cơ mắc stress ở mức cao ở nhóm sinh viên chịu áp lực học tập ở mức trung và cao gấp 3 lần so với nhóm chịu áp lực thấp, p<0,05[5]
Nghiên cứu của Nuran Bayran và cộng sự năm 2008 trên 1617 sinh viên tại Thổ Nhĩ Kỳ đã chỉ ra yếu tố học tập là yếu tố liên quan đến stress, lo âu và trầm cảm, nhóm sinh viên hài lòng với kết quả học tập của bản thân có điểm trầm cảm, lo âu và stress thấp hơn nhóm sinh viên không hài lòng [53]
Tác giả Nguyễn Hữu Thụ tiến hành nghiên cứu trên sinh viên ĐHQG
Hà Nội cho thấy nguyên nhân của stress trên đối tường này là do chương trình học trong năm nặng nề làm cho sinh viên luôn ở trạng thái căng thẳng mệt mỏi và tính chất nghiêm túc của kỳ thi đòi hỏi sự chuẩn bị chu đáo để có thể vượt qua, cộng vào đó là sức ép về thành tích, sự kỳ vọng
của gia đình là những tác động quan trọng nhất[19]
Nghiên cứu cắt ngang của Mohamad Saiful Bahri Yusoff và cộng sự
về thựctrạng và các nguyên nhân của stress trong sinh viên trường đại học Sains Malaysia được tiến hành trên 1058 sinh viên y khoa của trường đã chỉ ra nhóm nguyên nhânliên quan đến học tập (bài kiểm tra, bài thi,
Trang 37lượng bài tập nhiều, thiếu thời gian ôn tập, điểm kém, kỳ vọng cao từ bản thân, thiếu các kỹ năng thực tập y khoa, học chậm, khối lượng bài tập nhiều, không hiểu kiến thức được giảng dạy) là nguyên nhân chính gây nên stress [52] Nghiên cứu khác trên sinh viên y khoa tương lai năm
2013, Yusoff chỉ ra trầm cảm có mối liên quan chặt chẽ với kết quả học tập trên lớp (p<0,001) [49]
1.9.7 Nơi ở hiện tại
Nghiên cứu của Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh trên sinh viên y tế công cộng trường đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh cũng cho thấy nguy cơ stress cao ở sinh viên ở nhà trọ và ở nhà người thân cao hơn sinh viên ở
ký túc xá [14]
Nghiên cứu cắt ngang về một số rối nhiễu tâm lý của sinh viên đai học
Y Dược Thành phố HCM của Lê Minh Thuận năm 2011 thực hiện trên sinh viên năm 1 và năm 2 chỉ ra mức độ stress ở sinh viên sống nhà trọ/ thuê cao gấp 2,52 lần so với sinh viên sống với cha mẹ (KTC 95% từ 2,22
- 2,83, p<0,001) [21]
1.9.8 Hoạt động ngoại khóa
Nghiên cứu về khác thực trạng và các yếu tố liên quan đến stress, lo
âu và trầm cảm trong sinh viên y khoa năm 2013, Yusoff chỉ ra stress và
lo âu có mối liên quan chặt chẽ với việc tham gia các hoạt động ngoại khóa (p<0,001) [49]
Nghiên cứu của Maher D Fuad Fuad và cộng sự được thực hiện trên
227 sinh viên y khoa trường đại học Putra Malaysia năm 2014 cho kết quả nghiên cứu là việc ít tham gia các hoạt động nhóm, là yếu tố nguy cơ của
trầm cảm, lo âu và stress sinh viên [50]
Trang 381.10 Giới thiệu sơ lược về Khoa Y Dược trường cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh
Khoa Y Dược (KYD) Trường Cao Đẳng Bách Khoa Nam Sài Gòn được thành lập từ ngày 14 tháng 8 năm 2009, đến 2019 có 25 GV (tăng gấp 5 lần), hầu hết đều có nghiệp vụ sư phạm giảng dạy Cao đẳng – Đại học, trong đó có 20% GV có trình độ thạc sỹ, CKI, 68% GV có trình độ Đại học Y Khoa, 12% đang học nâng cao Về cơ sở vật chất, phòng học khang trang, hiện đại Hàng năm đều được đầu tư trang thiết bị mới, mô hình đồ dùng dạy và học, chưa tính thư viện điện tử và các phòng học ngoại ngữ và tin học Đặc biệt do là trường công lập, nên Khoa Y Dược (KYD) đã được sự hổ trợ tích cực của hầu hết các bệnh viện Trung ương, Thành phố và Quận huyện tại TPHCM, cụ thể
đã liên kết đào tạo đến 30 bệnh viện và Công ty Dược làm cơ sở thực tập cho
SV cả 2 ngành học ĐD và DS
KYD có được những thành tích bước đầu đáng khích lệ nhờ sự quan tâm đầu tư mạnh mẽ của Ban Giám Hiệu và sự hướng dẫn tận tình của các phòng chức năng, nhất là tinh thần “Năng động, Sáng tạo, Gắn kết” của BGH Nhà trường với Ban Giám Đốc các bệnh viện trong, ngoài TP và các đối tác khác
đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho KYD phát triển nhanh chóng và vững mạnh
KYD có tầm nhìm, sứ mạng sau:
- Tầm nhìn: KHOA Y DƯỢC luôn giữ vững danh hiệu xuất sắc Từ
năm 2011, là KHOA chủ lực của Trường Cao Đẳng Bách Khoa Nam Sài Gòn với khả năng tăng trưởng bình quân hàng năm tăng 30% tổ chức và đào tạo.Từ năm 2015 trở đi, KHOA Y DƯỢC là địa chỉ đào tạo ngành Y DƯỢC
có chất lượng cao, có trình độ đến cao đẳng, các cấp học đều được học liên thông lên bậc cao hơn, trở thành khoa có uy tín và thương hiệu hàng đầu trong Thành phố và cả nước
Trang 39Sứ mệnh: Xây dựng nền tảng sự nghiệp cho thanh niên với việc làm
vững chắc, thích hợp nhu cầu cá nhân và xã hội Qua đó, góp phần xứng đáng trong xây dựng và phát triển trường theo quy mô Cao đẳng Bách Khoa NAM SÀI GÒN
Đào tạo hệ Cao đẳng: Ngành Điều Dưỡng, Dược Sỹ
Đào tạo hệ Sơ cấp: Nhân viên Chăm sóc người cao tuổi (theo kỹ thuật Kaigo) và Sơ cấp cứu
Đào tạo hệ ngắn hạn: Kỹ thuật chăm sóc Mẹ và Bé sau khi sinh; Kỹ năng bán bán hàng nhà thuốc GPP [9], [25]
Cả trường và Khoa đều được công nhận đạt tiêu chuẩn ISO 9001: 2015
và hệ thống đảm bảo 5S trong hoạt động quản trị khoa nên đảm bảo chất lượng đào tạo cao
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
STT Ngành học
Số tín chỉ
Thời gian đào tạo (giờ)
Tổng
số
Trong đó
Lý thuyết
Thực hành/
thực tập
Kiểm tra
1 Cao đẳng liên thông Dược 65 1440 579 798 63
2 Cao đẳng liên thông Điều dưỡng 65 1590 557 961 74
3 Cao đẳng chính quy Điều dưỡng 97 2505 730 1682 95
4 Cao đẳng chính quy Dược 97 2505 630 1782 93
Trang 40Khung lý thuyết nghiên cứu
1 Hài lòng về mối quan hệ với bạn bè
2 Hài lòng về MQH với với người thân
3 Hoạt động ngoại khóa
4 Làm thêm