Nhận thức được điều đó, mặc dù công tác huy động vốn của Ngân hàng trong thời gian qua vẫn còn nhiều khókhăn, nhất là sự cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại khác trên địa bànnhưng Ng
Trang 1PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VÀ CHO VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH CÀ MAU
4.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NGUỒN VỐN CỦA NGÂN HÀNG.
4.1.1 Phân tích sự biến động và cơ cấu vốn của Ngân hàng.
Nguồn vốn đối với mỗi Ngân hàng đều giữ một vai trò rất quan trọng, sựtăng hay giảm của nguồn vốn đều ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng Căn
cứ vào sự biến động của nguồn vốn chúng ta có thể thấy được cơ cấu nguồn vốnnhư vậy là hợp lý hay không, và từ đó cũng có thể tìm ra một kết cấu tốt hơn chonguồn vốn của ngân hàng
Kết cấu nguồn vốn của Ngân hàng bao gồm:
(Nguồn: phòng kinh doanh)
Qua bảng số liệu, ta thấy tình hình nguồn vốn của Ngân hàng giảm liên tụcqua 3 năm, cụ thể như sau:
Năm 2005 tổng nguồn vốn là 1.550.483 triệu đồng, sang năm 2006 thì tổngnguồn vốn là 1.474.422 triệu đồng, giảm 76.061 triệu đồng tương ứng 4,91% sovới năm 2005 Nguyên nhân là do nguồn vốn điều hòa giảm mạnh, mặc dù vốnhuy động có tăng nhưng ít hơn so với sự giảm của vốn điều hòa, thực tế là năm
2006 vốn huy động tăng 143.909 triệu đồng tương ứng 64,82% so với năm 2005,
Trang 2trong khi vốn điều hòa giảm mạnh 219.970 triệu đồng tương ứng 16,56% so vớinăm 2005 Mà thực tế là do năm 2006 công tác huy động vốn tại chỗ có bướctiến bộ rõ rệt, với tốc độ tăng khá cao, gấp 1,65 lần so với năm 2005 Đây là kếtquả phấn đấu liên tục và sự cố gắng rất lớn của lực lượng làm công tác huy độngvốn trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của các Ngân hàng thương mại khác trênđịa bàn Điều đáng ghi nhận là trong năm Ngân hàng Công Thương Việt Namphát động và giao chỉ tiêu 5 đợt huy động kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, tiết kiệm
dự thưởng…, các đợt áp sát nhau, liền kề nhau, có những đợt song trùng nhaunhưng chi nhánh đều đạt và vượt chỉ tiêu Và việc vốn điều hòa giảm là do lãisuất vốn điều hòa tăng liên tục và đứng ở mức cao đã trực tiếp ảnh hưởng đến lợinhuận của chi nhánh Trong tương lai lãi suất vốn điều hòa chưa có dấu hiệugiảm Cho nên việc tăng cường huy động vốn tại chỗ với giá rẽ hơn lãi suất vốnđiều hòa là vấn đề sống còn của chi nhánh
Tuy nhiên, đến năm 2007 thì tổng nguồn vốn tiếp tục giảm, trong đó vốnhuy động tăng nhẹ là 16.874 triệu đồng tương ứng 4,61% so với năm 2006 nhưngvốn điều hòa giảm mạnh là 176.710 triệu đồng tương ứng 15,94%, do đó đã làmcho tổng nguồn vốn giảm chỉ còn 1.314.586 triệu đồng
Hình 4.1: BIỂU ĐỒ KẾT CẤU NGUỒN VỐN CỦA NGÂN HÀNG
CÔNG THƯƠNG CÀ MAU QUA 3 NĂM (2005-2007).
Qua hình 4.1 cho thấy một cách tổng quát cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàngnhư sau:
1108481, 75%
2007
382815, 29%
931771, 71%
Vốn huy động Vốn điều hòa
Trang 3+ Vốn huy động: vốn huy động tăng liên tục qua 3 năm, năm sau cao hơnnăm trước, cụ thể năm 2005 là 222.032 triệu đồng, chiếm 14% trên tổng nguồnvốn, năm 2006 là 365.941 triệu đồng, chiếm 25% trên tổng nguồn vốn, tăng143.909 triệu đồng, tương ứng 64,82% so với năm 2005, sang năm 2007 thì vốnhuy động vẫn tiếp tục tăng nhưng ít hơn năm 2006, chỉ tăng 16.874 triệu đồng,tương ứng 4,61% so với năm 2006, tức là đạt được 382.815 triệu đồng, chiếm29% trên tổng nguồn vốn Vốn huy động không ngừng gia tăng qua các năm Đạtđược điều này là nhờ vào sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể cán bộ nhân viên trongviệc huy động vốn Tuy nhiên tỷ trọng vốn huy động nhìn chung vẫn còn thấp vànguồn vốn của Ngân hàng còn phụ thuộc rất cao vào vốn điều hòa từ Ngân hàngCông Thương Việt Nam.
+ Vốn điều hòa: vốn điều hòa giảm liên tục qua 3 năm như sau: năm 2005
là 1.328.451 triệu đồng, chiếm 86% trên tổng nguồn vốn; năm 2006 là 1.108.481triệu đồng, chiếm 75% trên tổng nguồn vốn, giảm 219.970 triệu đồng so với năm2005; năm 2007 là 731.771 triệu đồng, chiếm 71% trên tổng nguồn vốn
Tóm lại, cơ cấu vốn Ngân hàng dần có sự thay đổi, vốn huy động dần tăng
tỷ trọng, ngược lại vốn điều hòa giảm dần tỷ trọng Vấn đề huy động vốn gây racho Ngân hàng một sức ép không nhỏ trước nhu cầu vốn của khách hàng ngàycàng tăng Trong những năm qua, vốn điều hòa luôn chiếm tỷ trọng cao trong cơcấu nguồn vốn Đây là một hạn chế rất lớn của Ngân hàng, điều này chứng tỏNgân hàng còn phụ thuộc rất nhiều vào Ngân hàng cấp trên Chính điều đó khiếnNgân hàng không có sự độc lập trong hoạt động Nhận thức được điều đó, mặc
dù công tác huy động vốn của Ngân hàng trong thời gian qua vẫn còn nhiều khókhăn, nhất là sự cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại khác trên địa bànnhưng Ngân hàng đã phấn đấu không ngừng trong việc huy động vốn Ngân hàngchú trọng khâu quảng cáo, tiếp thị, quảng bá hình ảnh dưới nhiều hình thức khácnhau để thu hút khách hàng Kết quả đã dần nâng cao tỷ trọng vốn huy động,giảm bớt sự phụ thuộc vào Ngân hàng cấp trên
4.1.2 Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng.
Trang 4Cũng như các Ngân hàng thương mại khác hoạt động với phương châm “đivay để cho vay” Ngân hàng Công Thương Cà Mau đã đa dạng hoá các hình thứchuy động vốn trong và ngoài nước để đảm bảo cân đối trong hoạt động kinhdoanh của mình, nâng cao hiệu quả tín dụng của Ngân hàng đối với khách hàng,với nền kinh tế và với chính bản thân Ngân hàng Để thực hiện được điều đó,Ngân hàng Công Thương Cà Mau đã huy động vốn dưới các hình thức như: nhậntiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn từ các tổ chức kinh tế và dân cư, huy độngvốn thông qua các giấy tờ có giá như phát hành kỳ phiếu, trái phiếu
Ngân hàng Công Thương Cà Mau là một Ngân hàng thương mại quốcdoanh, đã tích cực chủ động trong mọi hoạt động từ huy động vốn đến nâng caoquản lý điều hành để hoạt động kinh doanh có hiệu quả
Với phương châm “đi vay để cho vay” công tác huy động vốn là một trongnhững nghiệp vụ không thể thiếu của các Ngân hàng nói chung và của Ngânhàng Công Thương Cà Mau nói riêng Công tác huy động vốn đã được xác định
là một trong những mục tiêu quan trọng đặc biệt là trong hoạt động của Ngânhàng, do đó trong những năm qua Ngân hàng Công Thương Cà Mau đã có nhiềubiên pháp tích cực trong huy động để thu hút vốn nhàn rỗi trong nhân dân bằngnhiều hình thức huy động như: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn,…thường xuyên thông tin và khuyến khích các cá nhân, các tổ chức, doanh nghiệp
mở tài khoản tiền gửi và thanh toán qua Ngân hàng Từ đó đã tập trung và thu hútnguồn vốn khá lớn để đầu tư cho vay phát triển kinh tế địa phương
Dựa vào sự linh hoạt trong công tác huy động vốn với nhiều mức lãi suấtkhác nhau mà Ngân hàng Công Thương Cà Mau đã thu hút lượng tiền gửi củadân cư và các tổ chức kinh tế ngày một tăng, vốn huy động trong tổng nguồn vốnnăm sau luôn cao hơn năm trước Sau đây là kết quả huy động vốn của Ngânhàng qua 3 năm từ 2005 – 2007
Trang 5Bảng 4.2: CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG CÀ MAU QUA 3 NĂM (2005 – 2007).
Tỷ trọng (%)
Tuyệt đối Tương đối(%) Tuyệt đối Tương đối (%)
1 Tiền gửi của các doanh nghiệp 61.676 27,78 94.399 25,80 76.829 20,07 32.723 53,06 -17.570 -18,61
2 Tiền gửi tiết kiệm 90.356 40,70 188.494 51,51 227.943 59,54 98.138 108,61 39.449 20,93
3 Phát hành các công cụ nợ 69.923 31,49 82.980 2,27 76.486 19,98 13.057 18,67 -6.494 -7,83
4 Tiền gửi của các TCTD khác 77 0,03 69 0,02 1.557 0,41 -8 -10,39 1.488 2.156,52
Tổng cộng 222.032 100 365.941 100 382.815 100 143.909 64,81 16.874 4,61
(Nguồn: phòng kinh doanh)
Hình 4.2: CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG CÀ MAU QUA 3 NĂM (2005-2007).
61676
90356 69923
77 94399 188494
Trang 6Nhìn chung vốn huy động tăng liên tục qua 3 năm, năm sau cao hơn nămtrước Cụ thể, năm 2005 đạt 222.032 triệu đồng; năm 2006 đạt 365.941 triệuđồng, tăng 143.909 triệu đồng, tương đương 64,81% so với năm 2005; năm 2007đạt 382.815 triệu đồng, tăng 16.874 triệu đồng, tương đương 4,61% so với năm
2007 Sau đây là cụ thể từng khoản mục như sau:
- Tiền gửi của các doanh nghiệp: tiền gửi doanh nghiệp đóng vai trò quantrọng trong tổng nguồn vốn huy động, luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốnhuy động của Ngân hàng
Bảng 4.3: TIỀN GỬI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
Tuyệt đối
Tương đối (%)
Tiền gửi của các doanh nghiệp 61.676 94.399 76.829 32.723 53,06 -17.570 -18,61
- Tiền gửi không kỳ hạn 52.906 68.508 52.314 15.602 29,49 -16.194 -23,64
- Tiền gửi có kỳ hạn 8.770 25.891 24.515 17.121 195,22 -1.376 -5,32
(Nguồn: phòng kinh doanh)
Năm 2005 tiền gửi doanh nghiệp có số dư là 61.676 triệu đồng, chiếm tỷtrọng là 27,78% trên tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng, mà trong đó chủyếu là tiền gửi không kỳ hạn Sang năm 2006 loại tiền gửi này đạt 94.399 triệuđồng, chiếm 25,80% trên tổng nguồn vốn huy động, đồng thời tăng 32.723 triệuđồng với tốc độ là 53,06% so với năm 2005 Đến năm 2007 loại tiền gửi nàygiảm nhẹ và chiếm tỷ trọng 20,07% trên tổng vốn huy động và giảm 17.570 triệuđồng so với năm 2006 Nguyên nhân làm cho tiền gửi doanh nghiệp chiếm tỷtrọng cao trong tổng vốn huy động qua các năm là do Ngân hàng đã tạo đượclòng tin cho khách hàng nhất là khách hàng là các doanh nghiệp, các công ty,Ngân hàng đã cung cấp và đa dạng hóa hình thức thanh toán từ đó lôi kéo và thuhút được nhiều doanh nghiệp đã gửi vốn lưu động của mình vào Ngân hàng đểphục vụ cho việc thanh toán Đây chủ yếu là tiền gửi thanh toán không vì mục
Trang 7- Tiền gửi tiết kiệm: tiền gửi tiết kiệm là phần tiền nhàn rỗi trong dân cư,
Ngân hàng huy động được từ khoản này tăng rất mạnh qua 3 năm và có tỷ trọng
rất cao trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng
Bảng 4.4: TIỀN GỬI TIẾT KIỆM
Tuyệt đối
Tương đối (%)
Tiền gửi tiết kiệm 90.356 188.494 227.943 98.138 108,61 39.449 20,93
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn 4.335 4.712 3.878 377 8,70 -834 -17,70
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn 86.021 183.782 224.065 97.761 113,65 40.283 21,92
(Nguồn: phòng kinh doanh)
Năm 2005 huy động tiền gửi tiết kiệm chiếm 40,70%, năm 2006 chiếm
51,51%, và năm 2007 chiếm 59,54% trên tổng nguồn vốn huy động Tình hình
tiền gửi tiết kiệm huy động được qua các năm như sau: Năm 2005 là 90.356 triệu
đồng, năm 2006 là 188.494 triệu đồng, tăng 98.138 triệu đồng với tốc độ tăng
108,61% so với năm 2005 và tiếp tục tăng mạnh vào năm 2007 với số tiền huy
động được là 227.943 triệu đồng tăng 39.449 triệu đồng với tốc độ tăng 20,93%
so với năm 2006 Loại tiền gửi này tăng dần qua 3 năm là nhờ vào việc Ngân
hàng có các chính sách hợp lí như: Đã sử dụng lãi suất tiết kiệm linh hoạt, có
chương trình khuyến khích người dân gửi tiền vào Ngân hàng và đội ngũ nhân
viên Ngân hàng có những giải thích để thuyết phục người dân gửi tiền nhàn rỗi
của mình vào Ngân hàng, kết hợp với thái độ phục vụ tốt đã giúp khách hàng tìm
đến Ngân hàng để gửi tiền
Hiện tại tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Công Thương Cà Mau gồm có
hai loại đó là: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
Trong đó tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn có tỷ trọng rất lớn, năm 2005 đạt được
86.021 triệu đồng chiếm 95,20% trong tổng tiền gửi tiết kiệm Sang năm 2006
đạt được 183.782 triệu đồng tăng 97.761 triệu đồng với tốc độ tăng 113,65% so
với năm 2005 Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn của Ngân hàng tiếp tục tăng mạnh
Trang 8vào năm 2007, số tiền huy động được là 224.065 triệu đồng tăng 40.283 triệuđồng với tốc độ tăng 21,92% so với năm 2006 Đạt được kết quả như trên là dolãi suất tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳhạn cho nên khách hàng đầu tư nhiều vào loại tiền gửi này và xem đây là hìnhthức đầu tư đạt hiệu quả cao Mặt khác ở Thành Phố Cà Mau hiện nay, có rấtnhiều hộ gia đình làm ăn khá giả, trở nên khá giàu, lượng tiền nhàn rỗi ở đây làkhá lớn Mà Ngân hàng Công Thương Cà Mau có trụ sở đặt tại trung tâm thànhphố Cà Mau, hoạt động rất có hiệu quả tạo được niềm tin đối với khách hàng.Cùng với sự hướng dẫn cặn kẽ của cán bộ Ngân hàng nên việc huy động tiền gửicủa người dân rất thuận lợi Tuy nhiên cũng còn phần lớn hộ làm ăn khá giả còn
e ngại và chưa từng làm quen với việc gửi tiền vào Ngân hàng, chưa thấy đượclợi ích của việc gửi tiền và họ thường cất tiền bằng cách mua vàng Vì vậy Ngânhàng cần quan tâm hơn nữa nguồn vốn huy động từ các hộ gia đình, vì đây làkhách hàng tiềm năng lớn mà Ngân hàng cần khai thác trong thời gian tới
- Phát hành các công cụ nợ: chủ yếu là kỳ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ
có giá khác
Năm 2005 là 69.923 triệu đồng chiếm 31,49% trên tổng nguồn vốn huyđộng, năm 2006 là 82.980 triệu đồng tăng 13.057 triệu đồng so với 2005, nhưngsang năm 2007 lại giảm nhẹ là 6.494 triệu đồng so với năm 2006 Hình thức huyđộng này hoàn toàn phụ thuộc vào chính sách và chỉ đạo huy động cụ thể củaTrung ương trong từng thời kỳ Tuy nhiên chi nhánh có khả năng phát huy tốtnhờ biện pháp quảng bá, chăm sóc khách hàng để khơi tăng nguồn vốn này
- Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác: đây là tiền gửi của các tổ chứctín dụng tại Ngân hàng Công Thương Cà Mau, khoản mục này chiếm tỷ lệ khánhỏ trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng, cụ thể như sau:
Năm 2005 là 77 triệu đồng; năm 2006 là 69 triệu đồng, giảm 8 triệu đồng
so với năm 2005, nhưng năm 2007 lại tăng rất nhanh 1.488 triệu đồng với tốc độtăng 2156,52% so với năm 2006 Để thuận tiện cho việc thanh toán qua lại vớinhau thì các tổ chức tín dụng đã mở tài khoản tiền gửi ở Ngân hàng đáp ứng nhu
cầu kinh doanh doanh Đặc biệt năm 2007, tiền gửi của các doanh nghiệp tăng
đột biến với tốc độ 2156,52% so với năm 2006, nguyên nhân là do năm 2007hoạt động xuất khẩu của các công ty chế biến thuỷ sản tăng nhanh dẫn đến việc
Trang 9thanh toán tiền giữa các tổ chức tín dụng với Ngân hàng Công Thương Cà Mautăng cho nên việc gửi tiền của các tổ chức tín dụng tại Ngân hàng Công Thương
Cà Mau tăng mạnh để thanh toán tiền xuất khẩu
Nhìn chung, công tác huy động vốn của Ngân hàng qua 3 năm được thựchiện rất tốt Kết quả như vậy là nhờ vào sự nỗ lực của toàn bộ cán bộ nhân viênNgân hàng, cùng với việc người dân đã ý thức được lợi ích của việc gửi tiền Tuynhiên, trên địa bàn có rất nhiều tổ chức tín dụng với nhiều phương thức huy độngrất phong phú và lãi suất rất hấp dẫn nên để duy trì và gia tăng vốn huy độngtrong năm tới, Ngân hàng cần có kế hoạch và biện pháp huy động tốt hơn nữa đểgiữ được khách hàng truyền thống và mở rộng khách hàng mới, tăng vốn huyđộng để đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng cao của các thành phần kinh tế trong vàngoài thành phố Cà Mau
4.1.3 Phân tích hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng qua các chỉ số.
Để biết thêm hiệu quả hoạt động huy động vốn của Chi nhánh Ngân hàngCông Thương Cà Mau, ta cần xem xét một số chỉ số sau:
Trang 10Bảng 4.7: KHÁI QUÁT LẠI MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG CÀ MAU QUA 3 NĂM (2005-2007)
Đơn vị tính: %
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Vốn huy động/Tổng Nguồn vốn 14,32 24,82 29,12Vốn điều hoà/Tổng Nguồn vốn 85,68 75,18 70,88Tiền gửi doanh nghiệp/ Vốn huy động 27,78 25,79 20,07Tiền gửi tiết kiệm/ Vốn huy động 40,69 51,51 59,54
(Nguồn: phòng kinh doanh)
a) Vốn huy động trên tổng nguồn vốn:
Hoạt động của Ngân hàng nên chủ yếu dựa trên vốn huy động, nó phảichiếm tỷ trọng khoảng 70-80% trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng thì mới tốt.Trong những năm qua nguồn vốn huy động của Chi nhánh có tăng nhưng vẫnchiếm tỷ trọng tương đối nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng.Năm 2005 là 14,32%, năm 2006 tăng lên 24,82%, sang năm 2007 đạt 29,12%.Kết quả đạt được như thế là do Chi nhánh đã khắc phục những hạn chế qua cácnăm và áp dụng nhiều biện pháp tích cực trong đó quan trọng là chiến lược vềkhách hàng, lãi suất được áp dụng cụ thể tuỳ theo quy định của hệ thống ngành.Tuy nhiên tỷ lệ này vẫn chưa đạt được mức hiệu quả so với các Ngân hàng kháctrong cùng địa bàn Ngân hàng cần tích cực đẩy mạnh công tác huy động vốn caohơn nữa
b) Vốn điều hoà trên tổng nguồn vốn:
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ phụ thuộc của Chi nhánh vào Hội sở Trungương như thế nào Số liệu trên bảng cho thấy tỷ lệ này giảm đều qua các năm, cụthể năm 2005 là 85,86%, năm 2006 là 75,18%, sang năm 2007 giảm xuống còn70,88% Tỷ lệ này giảm cho ta thấy chiều hướng tích cực trong công tác huyđộng vốn của Ngân hàng Với nguồn vốn điều hòa từ Trung ương, Ngân hàng cóthể sử dụng linh hoạt hơn trong hoạt động kinh doanh vì thời hạn trả vốn ổn định
và Ngân hàng có thể quay vòng tiếp theo khi vẫn cần để kinh doanh Mặt khác,hạn chế của việc sử dụng vốn điều hòa là lãi suất vốn điều hòa còn ở mức cao
Trang 11Cho nên sử dụng vốn điều hòa nhiều sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của chinhánh
Là một Chi nhánh, sự hỗ trợ của Ngân hàng Trung ương là không thểthiếu Tuy nhiên sẽ tốt hơn cho Ngân hàng nếu có thể tự cân đối vốn tại chỗ bằngcách tăng cường hơn nữa khả năng huy động vốn của mình Như vậy sẽ tạo choNgân hàng thế chủ động trong kinh doanh, có khả năng cung cấp đầy đủ, kịp thời
và nhanh chóng vốn cho khách hàng, nhất là khi có nhu cầu bổ sung thiếu hụtcủa cá nhân, doanh nghiệp đang gia tăng
c) Tiền gửi doanh nghiệp trên vốn huy động:
Các Ngân hàng mở khoản mục thanh toán nhằm giúp cho việc kinh doanhđược nhanh chóng bởi việc chi trả ít tốn kém chi phí Nói chung nguồn vốn nàykhông mang tính ổn định đối với Ngân hàng vì các tổ chức kinh tế có thể rút rakhi cần thiết Vì vậy Ngân hàng chỉ được sử dụng một tỷ lệ nhất định nào đó đểthực hiện việc kinh doanh tiền tệ Tỷ lệ của tiền gửi này trên vốn huy động năm
2005 là 27,78%, năm 2006 là 25,79%, năm 2007 là 20,07% Với số lượng lớncác doanh nghiệp trên địa bàn thì tiềm năng thu hút tiền gửi doanh nghiệp là rấtlớn, tuy nhiên với tỷ lệ như trên thì chi nhánh chưa khai thác tốt nguồn tiền gửivới chi phí tương đối rẽ này
d) Tiền gửi tiết kiệm trên vốn huy động:
Tiền gửi tiết kiệm rất dễ bị thu hút bởi lãi suất Trong trường hợp cần thiếttăng nguồn vốn cho hoạt động Ngân hàng, nếu áp dụng mức lãi suất hấp dẫn hơnnhững Ngân hàng khác thì có thể thu hút khách hàng ở tiền gửi loại này Tỷ lệnày có sự biến đổi tăng dần qua các năm như sau: năm 2005 là 40,69%, năm
2006 tăng lên là 51,51%, năm 2007 tiếp tục tăng lên 59,54% Để đạt được kếtquả đó là do Ngân hàng có những chính sách phù hợp trong việc huy động vốnqua tài khoản tiết kiệm như: đưa ra nhiều kỳ hạn gửi tiền, nhiều chương trìnhkhuyến mãi cho khách hàng đến gửi tiền hay đến sử dụng các dịch vụ của Ngânhàng, tư vấn tận tình cho khách hàng….và nhiều biện pháp thu hút khách hànggửi tiết kiệm
Nhìn chung, kết quả đạt được của các hình thức huy động vốn tại Chinhánh chưa đồng bộ, Chi nhánh cũng chưa khai thác hết nguồn vốn nhàn rỗithông qua các hình thức của mình
Trang 12Tóm lại, qua việc xem xét các tỷ số trên ta thấy rằng khả năng huy độngvốn của Ngân hàng chưa cao nhưng có chuyển biến khá tốt Ngân hàng cần cốgắng hơn nữa để nâng cao tỷ trọng này lên, huy động được nguồn vốn đáp ứngnhu cầu của khách hàng Và vì trên địa bàn có nhiều Ngân hàng cạnh tranh huyđộng vốn nên việc mở rộng thêm hình thức huy động để thu hút thêm khách hàng
là vô cùng cần thiết đối với sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng
4.2 HOẠT ĐỘNG CHO VAY.
Công tác huy động vốn đã khó khăn, sử dụng làm sao cho hiệu quả đem lạilợi nhuận cho Ngân hàng lại càng khó hơn Chính điều đó, đòi hỏi cán bộ tíndụng của Ngân hàng phải có trình độ năng lực chuyên môn cao trong công tác,tìm kiếm khách hàng để cho vay, thẩm định các phương án cho vay Bên cạnhviệc tìm kiếm khách hàng mới, Ngân hàng phải giữ lại khách hàng truyền thống,phải có chính sách ưu đãi đối với những khách hàng này Bên cạnh việc gia tăngnguồn vốn huy động qua các năm thì hiệu quả sử dụng vốn của chi nhánh ngàycàng được nâng cao, chi nhánh đáp ứng khá sâu rộng nhu cầu vốn cho các thànhphần kinh tế và dân cư
Với phương châm “tăng cường huy động vốn để cho vay”, chi nhánh Ngânhàng công thương Cà Mau đã huy động được một số lượng lớn vốn nhàn rỗi nhấtđịnh trong dân cư Ngân hàng dùng đồng tiền này để giải quyết nhu cầu vốn chongười thiếu vốn nhằm thực hiện chính sách phát triển nền kinh tế, góp phần thựchiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thực tế hoạt động của Ngân hàngtrong những năm qua đã giải quyết được phần nào nhu cầu vốn trong sản xuất,kinh doanh của nền kinh tế, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người laođộng
Trang 13Bảng 4.8: CÁC CHỈ TIÊU VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chênh lệch
2005 2006 2007 Tuyệt đối Tương đối(%) Tuyệt đối đối (%) Tương
Doanh số cho vay 5.387.869 5.637.670 5.035.903 249.801 4,64 -601.767 -10,67
- Qua bảng số liệu ta thấy, doanh số cho vay của Ngân hàng Công Thương
Cà Mau tăng giảm không đều qua 3 năm Năm 2005, doanh số cho vay là5.387.869 triệu đồng; năm 2006, doanh số cho vay là 5.637.670 triệu đồng, tăng249.801 triệu đồng, tương ứng 4,64% so với năm 2005; năm 2007 doanh số đạt5.035.903 triệu đồng, giảm 601.767 triệu đồng so với năm 2006
- Giống như doanh số cho vay, doanh số thu nợ của Ngân hàng cũng tănggiảm không đều qua 3 năm Doanh số thu nợ năm 2005 đạt 5.125.567 triệu đồng;năm 2006 là 5.567.843 triệu đồng, tăng 442.276 triệu đồng, chiếm 8,63% so vớinăm 2005; năm 2007 đạt 5.118.812 triệu đồng, giảm 449.031 triệu đồng so vớinăm 2006
- Khác với doanh số cho vay và doanh số thu nợ, dư nợ của Ngân hàng giảmliên tục qua 3 năm Năm 2005, dư nợ là 1.266.019 triệu đồng; năm 2006, dư nợ
là 1.159.103 triệu đồng, giảm 106.916 triệu đồng, tương ứng 8,45% so với năm2005; năm 2007 dư nợ đạt 1.102.381 triệu đồng, giảm 56.722 triệu đồng so vớinăm 2006
- Trong 3 năm qua, nợ quá hạn của chi nhánh tương đối cao và tăng giảmkhông đều Năm 2005 là 68.448 triệu đồng; sang năm 2006 là 79.969 triệu đồng,tăng 11.521 triệu đồng, tương ứng 16,83% so với năm 2005; nhưng đến năm
2007 là 53.040 triệu đồng, giảm 26.929 triệu đồng, tương ứng 33,67% so vớinăm 2006
Trang 144.2.1 Doanh số cho vay.
Hoạt động cho vay luôn là vấn đề trọng tâm của Ngân hàng, góp phần thúcđẩy sản xuất phát triển, đồng thời tạo nguồn lợi chính cho Ngân hàng Với nguồnvốn huy động được, Ngân hàng đã đẩy mạnh công tác đầu tư cho vay đến cácthành phần trong nền kinh tế Ngân hàng đã đưa ra nhiều cơ chế tín dụng phù hợptạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong hoạt động tín dụng, chủ động tìm kiếmkhách hàng để đầu tư cho vay, cho vay các dự án mang tính khả thi mang lại hiệuquả kinh tế cao
a) Doanh số cho vay theo thời hạn tín dụng
Để quản lí tốt hoạt động cho vay của mình, Ngân hàng phân doanh số chovay theo từng nhóm như: cho vay theo thời hạn, theo thành phần kinh tế, …Phândoanh số cho vay theo thời hạn là công tác mà mọi Ngân hàng đều thực hiện.Hoạt động cho vay của Ngân hàng phân theo thời hạn diễn ra với tình hình sau:
Trang 15Bảng 4.9: DOANH SỐ CHO VAY THEO THỜI HẠN.
Tuyệt đối Tương đối(%) Tuyệt đối Tương đối (%)
Ngắn hạn 5.263.705 97,70 5.519.324 97,90 4.762.619 94,57 255.619 4,86 -756.705 -13,71Trung-dài hạn 124.164 2,30 118.346 2,10 273.284 5,43 -5.818 -4,69 154.938 130,92Tổng cộng 5.387.869 100 5.637.670 100 5.035.903 100 249.801 4,64 -601.767 -10,67
(Nguồn: Phòng kinh doanh)
Hình 4.3: DOANH SỐ CHO VAY THEO THỜI HẠN.
Trang 16- Ta thấy cho vay ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh sốcho vay của Ngân hàng Năm 2005 cho vay ngắn hạn đạt 5.263.705 triệu đồng,chiếm 97,70%, đặc biệt trong năm 2006 doanh số cho vay ngắn hạn tăng 255.619triệu đồng so với năm 2005, chiếm trên 97,90% trong tổng doanh số cho vay,nhưng sang năm 2007 lại giảm nhẹ còn 4.762.619 triệu đồng, chiếm 94,57%trong tổng doanh số cho vay Nguyên nhân cho vay ngắn hạn tăng là do: lãi suấtcho vay ngắn hạn thấp hơn lãi suất cho vay trung và dài hạn nên được nhiềukhách hàng lựa chọn Mặt khác, tỉnh Cà Mau có nền kinh tế nông nghiệp là chủyếu, các hộ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động sảnxuất của họ đều mang tính chu kì Vì vậy, họ cần vốn ngắn hạn để bổ sung nguồnvốn tạm thời thiếu hụt của mình.
- Bên cạnh cho vay ngắn hạn, Ngân hàng Công Thương Cà Mau còn đầu
tư cho vay trung và dài hạn để cung cấp vốn cho người dân mua sắm tài sản, cảitiến và đổi mới kĩ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình…Năm 2006, chovay trung, dài hạn đạt 118.346 triệu đồng so với năm 2005 giảm 5.818 triệuđồng, tương ứng 4,69% và chiếm 2,10% trong tổng doanh số cho vay Đặc biệtnăm 2007, doanh số cho vay trung và dài hạn tăng khá cao, tăng 154.938 triệuđồng, tương ứng 130,92% so với năm 2006 Doanh số cho vay trung và dài hạntăng mạnh tuy nhiên tỉ trọng cho vay trung và dài hạn trong tổng doanh số chovay vẫn còn thấp Do có sự tăng như trên là do tỉnh Cà Mau chuyển dịch cơ cấukinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ nên đòi hỏi cần phải có thờigian mới thu hồi được vốn, do đó có nhu cầu vay vốn trung dài hạn cao Mà cácdoanh nghiệp được thành lập ở đây ngày càng nhiều nhu cầu về vốn trung và dàihạn của họ rất lớn Mặc dù vậy, nền kinh tế tại Cà Mau phát triển chưa mạnh nên
họ còn e ngại trong việc vay vốn Ngân hàng để đầu tư
b) Doanh số cho vay theo thành phần kinh tế
Để hoạt động đầu tư của Ngân hàng đạt hiệu quả và có thể đánh giá chínhxác tình hình cho vay của Ngân hàng, ngoài việc phân doanh số cho vay theothời hạn thì việc phân doanh số cho vay theo thành phần kinh tế là không thểthiếu được Đối tượng cho vay của Ngân hàng gồm: Doanh nghiệp Nhà nước,thành phần kinh tế ngoài quốc doanh
Trang 17Bảng 4.10: DOANH SỐ CHO VAY THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ.
Tuyệt đối Tương đối(%) Tuyệt đối đối (%) Tương
- Doanh ngiệp Nhà nước 1.138.667 21,13 1.032.819 18,32 802.479 15,94 -105.848 -9,30 -230.340 -22,30
- Kinh tế ngoài quốc doanh 4.249.202 78,87 4.604.851 81,68 4.233.427 84,06 355.649 8,37 -371.424 -8,07
802479 4233427
Trang 18- Chiếm một tỷ trọng khiêm tốn trong bảng số liệu đó là cho vay đối vớidoanh nghiệp Nhà nước Nguyên nhân là do thành phần kinh tế Nhà nước ở tỉnhphát triển chậm, với số lượng ít Trong đó, đa số là làm ăn thua lỗ, chỉ có vàidoanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và có khả năng trả nợ vay tốt cho Ngân hàng.
Do vậy Ngân hàng Công Thương Cà Mau đã phải lựa chọn, xem xét kỹ lưỡngnhững doanh nghiệp Nhà nước có triển vọng phát triển ổn định để quan hệ tíndụng, nhằm mục đích bảo đảm hiệu quả và an toàn tín dụng Cụ thể, tình hìnhcho vay đối với doanh nghiệp Nhà nước giảm liên tục qua 3 năm Năm 2006giảm 105.848 triệu đồng, tương ứng 9,30% so với năm 2005, sang năm 2007 lạitiếp tục giảm so với năm 2006, chỉ đạt 802.479 triệu đồng
- Đi ngược với xu hướng chậm phát triển của doanh nghiệp Nhà nước đó
là tốc độ tăng nhanh của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, luôn chiếm tỷtrọng cao trong doanh số cho vay Cụ thể, tỷ trọng của thành phần này qua 3 nămlần lượt là 78,87% - 81,68% - 84,07% Đối tượng khách hàng thuộc thành phầnkinh tế này khá đa dạng (cán bộ công nhân viên, cá nhân, công ty, xí nghiệp.…).Đây là thành phần kinh tế rất linh hoạt và nhạy bén trong kinh doanh, vốn đầu tưcủa họ luôn được quay vòng rất nhanh nên nhu cầu vay vốn cũng khá cao Thực
tế như sau, năm 2005 doanh số cho vay đối với thành phần kinh tế này đạt4.249.202 triệu đồng, chiếm 78,87% trong tổng doanh số cho vay, năm 2006 tăng355.649 triệu đồng, tương ứng 8,37% so với năm 2005 Sang năm 2007, doanh
số đạt 4.233.427 triệu đồng, chiếm 84,07% trong tổng doanh số cho vay, giảmnhẹ so với năm 2006
Nhìn chung, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh mà Ngân hàng đầu tưvốn đều làm ăn có hiệu quả và trả nợ vay khá tốt Bên cạnh đó, việc mở rộng chovay đối tượng này còn tạo điều kiện để phát triển các sản phẩm dịch vụ của Ngânhàng như: thu hộ, chi hộ, lập séc…
Đạt được doanh số cho vay như vậy là do Ngân hàng có chính sách kinhdoanh thích hợp đối với khách hàng truyền thống của mình, đồng thời cũng cóchính sách ưu đãi nhằm khuyến khích khách hàng mới đến giao dịch Ngoài raNgân hàng nên tiếp tục duy trì và phát huy nhằm thoả mãn nhu cầu vốn cho đầu
tư, kinh doanh của mọi đối tượng khách hàng, góp phần kích thích thành phần
Trang 19kinh tế quốc doanh cũng như thành phần kinh tế ngoài quốc doanh phát triển cânđối hài hoà hơn.
4.2.2 Tình hình thu nợ.
Cùng với doanh số cho vay thì doanh số thu nợ cũng là một chỉ tiêu màNgân hàng đặc biệt quan tâm Nó phản ánh khả năng theo dõi, quản lý nợ kháchhàng của cán bộ tín dụng, đồng thời phản ánh hiệu quả của hoạt động tín dụng.a) Doanh số thu nợ theo thời hạn tín dụng
Trang 20Bảng 4.11: DOANH SỐ THU NỢ THEO THỜI HẠN.
(Nguồn: phòng kinh doanh)
Hình 4.5: DOANH SỐ THU NỢ THEO THỜI HẠN.