Một số công trình nghiên cứu về kiến thức, thái độ trong phòng chống và chăm sóc người bệnh HIV/AIDS Khi đại dịch HIV xuất hiện trên thế giới, đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu được tiế[r]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
PHẠM VĂN TRƯỜNG
KIẾN THỨC VỀ HIV/AIDS, THÁI ĐỘ TRONG PHÒNG CHỐNG, CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH HIV/AIDS CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG QUÂN Y 1 NĂM 2019
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Hà Nội – 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
KHOA: KHOA HỌC SỨC KHỎE
BỘ MÔN: Y TẾ CÔNG CỘNG
PHẠM VĂN TRƯỜNG
KIẾN THỨC VỀ HIV/AIDS, THÁI ĐỘ TRONG PHÒNG CHỐNG, CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH HIV/AIDS CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG QUÂN Y 1 NĂM 2019
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ Chuyên ngành: Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số: 8.72.07.01
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS ĐÀO XUÂN VINH
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài khóa luận này là công trình nghiên cứu của riêng tôi do chính bản thân tôi thực hiện Các số liệu trong luận văn này là trung thực, khách quan và chưa từng công bố trong bất cứ công trình nào khác Nếu có bất cứ sai sót nào tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày 05 tháng 11 năm 2019
Người viết cam đoan
Phạm Văn Trường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn tới:
Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học, các khoa phòng, các thầy cô giáo cùng toàn thể cán bộ các cán bộ, nhân viên của Trường Đại học Thăng Long
đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập tại Nhà trường
Phó giáo sư - Tiến sĩ Đào Xuân Vinh - giáo hướng dẫn của tôi, người đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và có những ý kiến góp ý quý báu cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
Ban giám hiệu, các bạn sinh viên điều dưỡng Trường Cao Đẳng Quân y 1 – Học viện Quân y đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong giai đoạn thu thập số liệu và hoàn thành nghiên cứu tại Nhà trường
Bạn bè, người thân trong gia đình đã tạo điều kiện, động viên tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 05 tháng 11 năm 2019
Người viết cam đoan
Phạm Văn Trường
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU ………4
1.1 Đại cương về HIV/AIDS 4
1.2 Dịch tễ học của nhiễm HIV 4
1.2.1 Tác nhân gây bệnh AIDS và một số đặc điểm sinh học của HIV 4
1.2.2 Các đường lây truyền của HIV 6
1.2.3 Đường lây nhiễm nghề nghiệp với HIV 8
1.2.4 Biện pháp phòng ngừa lây nhiễm HIV cho NVYT 8
1.2.5 Chẩn đoán 10
1.2.6 Phân giai đoạn nhiễm HIV 11
1.2.7 Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm HIV tiến triển (bao gồm AIDS) 13
1.2.8 Tình hình dịch HIV/AIDS và công tác chăm sóc điều trị trên thế giới 14
1.3 Mục đích điều trị thuốc kháng HIV (thuốc ARV) 16
1.4 Một số công trình nghiên cứu về kiến thức, thái độ trong phòng chống và chăm sóc người bệnh HIV/AIDS 16
1.5 Giới thiệu về Trường Cao đẳng Quân y 1 - HVQY 21
1.5.1 Quá trình hình thành và phát triển 21
1.5.2 Chương trình đào tạo liên quan đến kiến thức, thái độ và phòng chống HIV/AIDS tại địa điểm nghiên cứu 22
1.6 Khung lý thuyết nghiên cứu 24
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 25
Trang 62.1.3 Thời gian nghiên cứu 25
2.2 Phương pháp nghiên cứu 25
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 25
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 25
2.3 Biến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá 26
2.3.1 Biến số và chỉ số nghiên cứu 26
2.3.2 Tiêu chí đánh giá 33
2.4 Phương pháp thu thập thông tin 34
2.4.1 Công cụ thu thập thông tin 34
2.4.2 Kỹ thuật thu thập thông tin 36
2.4.3 Qui trình thu thập thông tin và sơ đồ nghiên cứu 36
2.5 Phân tích và xử lý số liệu 37
2.6 Sai số và biện pháp khắc phục 38
2.6.1 Sai số 38
2.6.2 Biện pháp khắc phục 38
2.7 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 38
2.8 Hạn chế của đề tài 39
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 40
3.1.1 Thông tin chung 40
3.2 Kiến thức về HIV/AIDS, thái độ trong phòng chống, chăm sóc người bệnh HIV/AIDS của đối tượng nghiên cứu 44
3.2.1 Kiến thức của sinh viên về HIV và phòng chống HIV/AIDS 44
3.2.2 Thái độ đối với người bệnh HIV/AIDS và trong chăm sóc người bệnh HIV/AIDS của đối tượng nghiên cứu 52
3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về HIV/AIDS, thái độ phòng chống, chăm sóc người bệnh HIV/AIDS 59
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 63
4.1 Kiến thức về HIV/AIDS, thái độ trong phòng chống và chăm sóc người bệnh HIV/AIDS của sinh viên 63
Trang 74.1.1 Kiến thức về HIV/AIDS của sinh viên 63
4.1.2 Thái độ với người nhiễm HIV/AIDS của sinh viên năm thứ 2 và thứ 3 69
4.1.3 Thái độ của sinh viên năm thứ 3 trong chăm sóc cho người nhiễm HIV/AIDS 70
4.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về HIV/AIDS và thái độ phòng chống, chăm sóc người bệnh HIV/AIDS của sinh viên Trường Cao đẳng Quân y 1 71
KẾT LUẬN 73
1 Kiến thức về HIV/AIDS, thái độ trong phòng chống và chăm sóc người bệnh HIV/AIDS của sinh viên năm thứ 2 và thứ 3 tại Trường Cao đẳng Quân y 1 73
2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về HIV/AIDS, thái độ phòng chống và chăm sóc người bệnh HIV/AIDS của sinh viên Trường Cao đẳng Quân y 1 74
KHUYẾN NGHỊ 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 82
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (Acquired Immuno
Deficiency Syndrom)
CĐQY 1 Trường Cao đẳng Quân y 1
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
HIV Virus gây suy giảm miễn dịch ở người (Human Immunodeficiency
Virus)HVQY Học viện Quân y
CSNB Chăm sóc người bệnh
NTCH Nhiễm trùng cơ hội
NVYT Nhân viên y tế
SD Độ lệch chuẩn (Standard deviation)
UNAIDS Chương trình Phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS (The
Joint United Nations Programme on HIV/AIDS)
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 1.1 Chương trình học các môn liên quan 22
Bảng 1.2 Chương trình/nội dung thực tập Bệnh viện 23
Bảng 2.1 Bảng biến số và chỉ số nghiên cứu 26
Bảng 2.2 Bảng tóm tắt cách tính điểm cho từng câu 34
Bảng 2.3 Thang Likert 6 mức độ 35
Bảng 2.4 Thang Likert 5 mức độ 36
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nghiên cứu 37
Bảng 3.1 Một số đặc điểm nhân khẩu và xã hội của đối tượng nghiên cứu 40 Bảng 3.2 Nguồn thông tin tìm hiểu về HIV/AIDS theo năm học 41
Bảng 3.3 Tỉ lệ nhớ những chủ đề trong các học phần liên quan đến HIV/AIDS đã được học tại Trường 42
Bảng 3.4 Tỷ lệ sinh viên đã từng chăm sóc người bệnh HIV/AIDS 43
Bảng 3.5 Phân bố kiến thức đối với người bệnh HIV/AIDS của sinh viên 44 trong chăm sóc người bệnh HIV theo các mức độ 44
Bảng 3.6 Điểm kiến thức của sinh viên về HIV/AIDS 44
Biểu đồ 3.1 Kiến thức đúng của sinh viên về bệnh học HIV/AIDS 45
Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ kiến thức đúng của sinh viên về bệnh học HIV/AIDS 45
Bảng 3.7 Kiến thức đúng của sinh viên về cách tiệt trùng và phòng lây truyền đối với HIV 46
Bảng 3.8 Kiến thức đúng về cách dự phòng các nhiễm trùng cơ hội cho người bệnh HIV/AIDS của sinh viên 47
Bảng 3.9 Kiến thức đúng về các loại nhiễm trùng cơ hội thường gặp ở người bệnh HIV/AIDS 48
Bảng 3.10 Kiến thức về phòng ngừa phơi nhiễm đúng cho nhân viên y tế 49 Bảng 3.11 Xác định đúng những tình huống có nguy cơ phơi nhiễm nghề nghiệp 50
Bảng 3.12 Kiến thức đúng của sinh viên về các biện pháp phòng tránh kim tiêm/vật sắc nhọn đâm phải trong quá trình chăm sóc người bệnh 51 Bảng 3.13 Thái độ đối với người bệnh HIV/AIDS và trong chăm sóc cho
Trang 10người bệnh HIV/AIDS 52 Bảng 3.14 Điểm thái độ “xa lánh” đối với người bệnh HIV/AIDS của đối tượng nghiên cứu 54 Bảng 3.15 Điểm thái độ “thông cảm” đối với người bệnh HIV/AIDS của đối tượng nghiên cứu 56 Bảng 3.16 Điểm thái độ “đồng cảm” trong chăm sóc cho người bệnh HIV/AIDS của đối tượng nghiên cứu 57 Bảng 3.17 Điểm thái độ “không đồng cảm” trong chăm sóc cho người bệnh HIV/AIDS của đối tượng nghiên cứu 58 Bảng 3.18 Mối liên quan giữa giới tính với kiến thức HIV/AIDS 59 Bảng 3.19 Mối liên quan giữa năm học với kiến thức HIV/AIDS 60 Bảng 3.20 Mối liên quan giữa năm học với thái độ đối với người nhiễm HIV/AIDS 60 Bảng 3.21 Mối liên quan giữa kiến thức học tập và thái độ đối với người bệnh HIV/AIDS 61 Bảng 3.22 Mối liên quan giữa kinh nghiệm chăm sóc và kiến thức về HIV của SV 62 Bảng 3.23 Mối liên quan giữa kinh nghiệm chăm sóc đối với thái độ với người bệnh HIV/AIDS 62
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo công bố của Tổ chức Y tế Thế giới cuối năm 2017, Human Immunodeficiency Virus (HIV) tiếp tục là một vấn đề sức khỏe cộng đồng lớn trên toàn cầu, đã cướp đi hơn 35 triệu sinh mạng, riêng trong năm 2017 có 940.000 người chết vì các nguyên nhân liên quan đến HIV Tính đến cuối năm 2017, toàn cầu có khoảng 36,9 triệu người bệnh HIV với 1,8 triệu người bị nhiễm mới Trong
đó, khu vực Châu Phi bị ảnh hưởng nặng nề nhất, với 25,7 triệu người bệnh HIV,
số mới mắc cũng chiếm hơn hai phần ba tổng số ca nhiễm HIV mới trên toàn cầu Mặc dù số mới mắc vẫn tăng lên, tuy nhiên với nhiều hoạt động triển khai trên phạm vi rộng của Tổ chức Y tế thế giới từ năm 2000 đến 2017, tỉ số số ca nhiễm HIV mới giảm 36% và tử vong liên quan đến HIV đã giảm 38% với 11,4 triệu người Thành tựu này là kết quả của những nỗ lực to lớn của các chương trình HIV quốc gia được hỗ trợ bởi xã hội dân sự và một loạt các đối tác phát triển [33], [57]
Tại Việt Nam, theo báo cáo công tác phòng chống HIV/AIDS (Acquired Immuno Deficiency Syndrom ) của Bộ Y tế trong 3 quý đầu năm 2017, số người bệnh HIV/AIDS được báo cáo đang còn sống là 208.371 nhưng chỉ quản lý được 80% trường hợp, tổng số người bệnh HIV tử vong từ đầu dịch được báo cáo là 91.840 trường hợp Trong 9 tháng đầu năm 2017, cả nước phát hiện mới 6.883 trường hợp nhiễm HIV, số chuyển sang giai đoạn AIDS là 3.484, tử vong là 1.260 Trong số mới phát hiện mắc, nữ chiếm 22%, nam 78%, lây truyền qua đường tình dục 58%, lây truyền qua đường máu 32%, mẹ truyền sang con 2,6%, không rõ chiếm 8% Về phân bố theo nhóm tuổi số người mới phát hiện mắc có 40% trong
độ tuổi từ 30 – 39, 30% từ 20 – 29%, 19% từ 40 – 49, 6% trên 50 tuổi, 3% từ 14 – 19, 2% trẻ em từ 0 – 13 tuổi Kết quả giám sát cho thấy, tỉ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy là 9,53%, phụ nữ bán dâm là 2,39% và quan hệ tình dục đồng giới nam là 7,36% Tỉ lệ nhiễm HIV trong nhóm quan hệ tình dục đồng giới nam đã tăng từ 5,1% năm 2015 lên 7,36% năm 2016 [4], [7], [8], [29], [34]
Theo đánh giá của Bộ Y tế, số liệu dịch HIV có xu hướng giảm Tuy nhiên,
Trang 12dịch HIV/AIDS vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ trong cộng đồng, những nơi được đầu
tư mạnh của các tổ chức quốc tế vẫn còn có thể phát hiện thêm nhiều người bệnh HIV Dự báo vẫn còn nhiều người bệnh HIV không thuộc nhóm nguy cơ cao do
đó rất khó phát hiện sớm, các trường hợp này thường chẩn đoán muộn giai đoạn AIDS [8], [36]
Với sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới, Bộ Y tế đã có rất nhiều các hoạt động nhằm gia tăng tuyên truyền, tăng cường hoạt động hỗ trợ chăm sóc nhưng vẫn còn rất nhiều trường hợp không quản lý được, hàng năm số mới mắc vẫn không ngừng tăng lên Việc thực hiện mục tiêu thanh toán đại dịch HIV/AIDS vào năm 2030 ở nước ta rất khó đạt được [6], [57] Chính vì vậy, việc thay đổi phương pháp tiếp cận, tuyên truyền, hỗ trợ chăm sóc tích cực, hiệu quả bằng cách thực hiện công bằng trong các chính sách y tế, không kỳ thị trong CSNB HIV/AIDS và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng Phương pháp này đòi hỏi nguồn nhân lực là những người điều dưỡng tại các cơ sở y tế phải có kiến thức vững chắc
về HIV/AIDS, được tập huấn về tâm lý liệu pháp và có chính sách hỗ trợ để động viên khuyến khích phù hợp
Sinh viên điều dưỡng, những người sẽ trực tiếp theo dõi, tư vấn và chăm sóc cho những người bệnh HIV/AIDS tại các cơ sở y tế trong tương lai cần phải
có kiến thức trong việc phòng chống và chăm sóc cho người bệnh HIV/AIDS Liệu kiến thức về phòng chống HIV/AIDS của sinh viên năm thứ hai và năm thứ
ba của Trường Cao đẳng Quân y 1 đã thực sự tốt? Thái độ của nhóm đối tượng này trong chăm sóc người bệnh HIV/AIDS và phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS
như thế nào? Để giải đáp những câu hỏi trên, chúng tôi nghiên cứu “Kiến thức về
HIV/AIDS, thái độ trong phòng chống, chăm sóc người bệnh HIV/AIDS của sinh viên Trường cao đẳng quân y 1 năm 2019 và một số yếu tố liên quan” với
các mục tiêu:
1 Đánh giá kiến thức về HIV/AIDS và thái độ phòng chống, chăm sóc người bệnh HIV/AIDS của sinh viên năm thứ hai và năm thứ ba tại Trường Cao đẳng Quân y 1 năm 2019
Trang 132 Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức về HIV/AIDS và thái độ phòng chống, chăm sóc người bệnh HIV/AIDS của đối tượng nghiên cứu
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đại cương về HIV/AIDS
HIV được viết tắt của cụm từ “Human Immunodeficiency Virus” dùng để chỉ loại virus gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người Khi HIV xâm nhập vào
cơ thể sẽ phá hủy hệ thống miễn dịch làm cho cơ thể con người mất khả năng chống lại miễn dịch [24]
AIDS được viết tắt của cụm từ “Acquired Immunodeficiency Syndrome”
là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải Đây là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV, giai đoạn này hệ thống miễn dịch của cơ thể suy giảm nên người bệnh HIV dễ mắc nhiễm trùng cơ hội hoặc ung thư, các bệnh này diễn biến ngày càng nặng dẫn đến tử vong cho người bệnh [24]
Bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, tỉ lệ nhiễm bệnh thường gặp ở những nhóm nguy cơ cao (gái mại dâm, ma túy …), do đặc điểm dịch HIV/AIDS, do thiếu hiểu biết hoặc hiểu biết không đầy đủ, do truyền thông chưa đầy đủ hoặc không phù hợp và đặc điểm tâm lý xã hội ở Việt Nam khiến công tác phòng,
chống, chăm sóc, thống kê người bệnh HIV gặp nhiều khó khăn [8]
1.2 Dịch tễ học của nhiễm HIV
1.2.1 Tác nhân gây bệnh AIDS và một số đặc điểm sinh học của HIV
Tác nhân gây bệnh AIDS là HIV - những Retrovirus, với acid nhân là RNA, chúng có khả năng tổng hợp thành DNA từ những mã di truyền của RNA nhờ vào một men đặc biệt gọi là men sao mã ngược (reverse transcriptase - RT) nhưng không hoàn chỉnh Điều này, giúp cho virus thay đổi kháng nguyên, tạo nên nhiều biến chủng khác nhau, giúp cho virus thoát khỏi sự tìm diệt của hệ miễn dịch [19]
1.2.1.1 Hình dạng và cấu trúc
HIV có đặc điểm chung của họ Retrovirus Virus hoàn chỉnh có cấu trúc 3 lớp: Lớp vỏ ngoài (envelop), vỏ trong (capsid) và lớp lõi của HIV
Trang 15* Lớp vỏ ngoài (envelop):
Lớp envelop là một màng lipid kép có kháng nguyên chéo với màng sinh chất tế bào và có các gai nhú Gai nhú là các phân tử glycoprotein có trọng lượng phân tử 160 kilodalton (gp160) gồm hai phần:
- Glycoprotein màng ngoài có trọng lượng phân tử là 120 kilodalton (gp120) Đây là kháng nguyên dễ biến đổi nhất, gây khó khăn cho phản ứng bảo
vệ cơ thể và chế vaccin phòng bệnh
- Glycoprotein xuyên màng có trọng lượng phân tử 41 kilodalton (gp41) [9]
* Vỏ trong (capsid) bao gồm hai lớp protein:
- Lớp ngoài hình cầu tạo bởi protein có trọng lượng 18 kilodalton (gp18)
- Lớp trong hình trụ không đều cấu tạo bởi các phân tử protein có trọng lượng phân tử là 24 kilodalton (gp24) Đây là kháng nguyên rất quan trọng để chẩn đoán HIV/AIDS sớm và muộn [9]
* Lõi của HIV: Gồm genom và các enzym [9]
1.2.1.2 Sức đề kháng
HIV không có khả năng tồn tại lâu ở ngoại cảnh và dễ dàng bị bất hoạt bởi các yếu tố vật lý, hóa học và nhiệt độ Chúng bị diệt bởi nhiệt độ > 56o C sau 20 phút, với cồn, với các chất tẩy và diệt trùng thông thường như dung dịch cloramin, nước Javel, hơi nước nóng [19]
1.2.1.3 Sự xâm nhập và nhân lên của HIV
Virus có khả năng nhận diện các receptor là nhóm CD4 và các receptor khác; có men tiêu proteine (các protease) giúp nhóm thành phần mà virus vừa tổng hợp được lại thành những virus hoàn chỉnh và phá vỡ tế bào vật chủ để phóng thích các virus thế hệ sau ra bên ngoài, tiếp tục tấn công các tế bào đích khác [19]
Trong cơ thể người bệnh, virus khó bị tiêu diệt Chúng tấn công các tế bào
có mang phân tử CD4 cùng với các phân tử có ái tính với chemokin như các tế
Trang 16bào lympho T (gọi là tế bào CD4+), tế bào Langerhans dưới da, tế bào đệm (glial)
ở hệ thần kinh, đại thực bào, tế bào mono và tế bào lympho ở vùng mầm của hạch bạch huyết Chúng ẩn trong các hạch bạch huyết ở giai đoạn đầu, sau đó tiếp cận với các tế bào có receptor thích hợp, đặc biệt tế bào T CD4+, xâm nhập và phá hủy tế bào này Sự giảm dần số lượng T CD4+ làm cơ thể mất khả năng miễn dịch với ngọai cảnh, dẫn đến nhiễm trùng dễ dàng và tử vong [19]
Việc đánh giá số lượng T CD4 là một biện pháp hữu hiệu để đánh giá mức
độ suy giảm miễn dịch ở người nhiễm HIV/AIDS Lượng T CD4 đơn độc có thể tiên đoán tương đối khả năng bệnh tiến triển trong 1 – 2 năm Những người bệnh
có số lượng T CD4 giảm trên 7% trong khoảng 1 năm có khả năng phát triển thành AIDS gấp 35 lần so với người bệnh có T CD4 ổn định [56], [32] Theo một số nghiên cứu, tỉ lệ trung bình T CD4 ở người nhiễm HIV/AIDS giảm từ 7 – 15%/năm hoặc khoảng 30 – 90 tế bào/năm Sự suy giảm TCD4 có liên quan đến nồng độ virus trong máu, khi mồng độ virus là 30.000 – 50.000/ml máu thì số lượng T CD4 < 50 TB/mm3 [11]
Theo những nghiên cứu trên thế giới số lượng tế bào TCD4 ở người bình thường là 500TB/mm3 - 1400TB/mm3; TCD8 là 180TB/mm3 đến 860TB/mm3;
Tỷ lệ CD4/CD8 là 1,1 - 3,5 [39] Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu cho thấy số lượng T CD4 ở người bình thường là 700 - 1200TB/mm3, tỷ lệ TCD4/TCD8 là 1,2 [1], [11] Ngoài tế bào lympho TCD4 là một dấu ấn đại diện quan trọng để đánh giá mức độ suy giảm miễn dịch ở người nhiễm HIV/AIDS, còn có một chỉ
số khác cũng có giá trị trong việc đánh giá tiến trình nhiễm HIV của người nhiễm HIV/AIDS; đó là số lượng tế bào bạch cầu lympho Cũng giống như tế bào lympho TCD4, tế bào lympho cũng giảm dần theo sự suy giảm của hệ thống miễn dịch Bởi vậy, có thể dựa vào sự thay đổi số lượng tế bào lympho để đánh giá tiến trình nhiễm HIV/AIDS [28]
1.2.2 Các đường lây truyền của HIV
1.2.2.1 Lây truyền qua đường máu
Nếu vết thương hở tiếp xúc với máu bị nhiễm HIV thì sẽ có nguy cơ bị lây truyền bệnh Các đối tượng có nguy cơ dễ bị lây nhiễm qua đường máu là những
Trang 17người tiêm chích ma túy, trong quá trình truyền máu và các sản phẩm máu, người được cấy ghép tạng
Lây truyền HIV qua đường máu cũng là vấn đề lo ngại đối với những người được chăm sóc y tế tại các khu vực có vệ sinh không đạt tiêu chuẩn Nhân viên y
tế như điều dưỡng, nhân viên phòng thí nghiệm và các bác sĩ [5]
1.2.2.2 Lây truyền qua đường tình dục
Phần lớn HIV lây qua đường quan hệ tình dục không an toàn Lây truyền qua đường tình dục có thể xảy ra khi chất tiết sinh dục của người có chứa virus, tiếp xúc với niêm mạc sinh dục, miệng hoặc trực tràng của người bạn tình Ở các quốc gia có thu nhập cao, nguy cơ nữ lây truyền cho nam là 0,04% cho mỗi lần quan hệ và nam truyền cho nữ là 0,08% Vì những lý do khác nhau, nguy cơ này cao hơn từ 4 đến 10 lần ở các nước có thu nhập thấp Người nhân trong giao hợp qua đường hâu môn có nguy cơ bị lây nhiễm cao hơn nhiều, 1,7% cho mỗi lần quan hệ [5]
Các phân tích nghiên cứu về việc sử dụng bao cao su cho thấy nếu sử dụng bao cao su đúng cách sẽ làm giảm nguy cơ lây truyền qua đường tình dục của HIV khoảng 85% [5]
1.2.2.3 Lây truyền từ mẹ sang con
Việc lây truyền virus từ mẹ sang con có thể xảy ra trong thời kỳ mang thai, trong quá trình chuyển dạ hoặc thông qua việc cho con bú Trong trường hợp không được điều trị dự phòng, tỷ lệ lây truyền từ mẹ sang con khoảng 25% đến 40% Tuy nhiên, với sự kết hợp điều trị bằng thuốc kháng virus và phương pháp khác thì nguy cơ này có thể được giảm xuống thấp còn khoảng 1% [5]
Sau khi sinh thì có thể ngăn ngừa lây truyền bằng cách tránh nuôi con bằng sữa mẹ; tuy nhiên, điều này liên quan đáng kể đến các bệnh khác Cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ và cung cấp điều trị dự phòng kháng virus mở rộng cho trẻ sơ sinh có hiệu quả trong việc tránh lây truyền UNAIDS ước tính có 430.000 trẻ em bị nhiễm HIV trên toàn thế giới trong năm 2008 (19% là các ca nhiễm
Trang 18mới), chủ yếu là từ đường mẹ sang con và thêm 65.000 ca lây nhiễm đã được ngăn chặn thông qua việc cung cấp điều trị dự phòng bằng thuốc ARV cho phụ nữ nhiễm HIV dương tính [5]
HIV được tìm thấy với nồng độ thấp trong nước bọt, nước mắt và nước tiểu của các cá nhân bị nhiễm bệnh, nhưng không có trường hợp nào bị lây nhiễm bởi những chất tiết này được ghi nhận và nguy cơ lây truyền là không đáng kể Muỗi không thể truyền HIV [5]
1.2.3 Đường lây nhiễm nghề nghiệp với HIV
Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới cũng như tại Việt Nam ngày một gia tăng Trong khi chưa có vaccin phòng ngừa cũng như thuốc điều trị đặc hiệu thì một trong những vấn đề thời sự cần quan tâm hiện nay là làm thế nào giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm nhất là đối với các cán bộ y tế làm việc trong môi trường chăm sóc sức khỏe đều có nguy cơ bị lây nhiễm HIV/AIDS cao Điều này cũng được thấy rõ đối với cả những nhân viên y tế trong việc phục vụ, thăm khám, tiếp nhận, chăm sóc người bệnh và cả với sinh viên thực tập tại cơ sở điều trị chủ yếu liên quan đến tiếp xúc trực tiếp với máu và dịch thể của người bệnh như:
- Kim tiêm đâm khi làm các thủ thuật tiêm truyền, lấy máu làm xét nghiệm hoặc khi rút kim ra khỏi đường truyền tĩnh mạch
- Đưa dụng cụ trong quá trình phẫu thuật hoặc làm thủ thuật chọc dò
- Máu, chất dịch của cơ thể của người bệnh bám vào các vùng da tổn thương (chàm, bỏng, vết xước từ trước) hoặc bắn vào niêm mạc (mắt, mũi, họng) [3]
1.2.4 Biện pháp phòng ngừa lây nhiễm HIV cho NVYT
Những biện pháp phòng ngừa tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch cơ thể, niêm mạc và thương tổn do vật sắc nhọn trong quá trình thực hành chuyên môn:
- Coi tất cả người bệnh đều có nguy cơ truyền bệnh và có nguy cơ bị nhiễm bệnh Rửa tay và sát khuẩn tay là kỹ thuật quan trọng nhất trong phòng ngừa nhiễm khuẩn chéo
- Sử dụng phương tiện phòng hộ thích hợp khi tiếp xúc hoặc tiến hành
Trang 19những kỹ thuật liên quan đến máu, dịch cơ thể, dịch não tuỷ và nước ối:
+ Đi găng cả hai tay trước khi đụng chạm da tổn thương, niêm mạc hoặc máu và dịch cơ thể, dụng cụ bẩn và những vật liệu nhiễm hoặc trước khi thực hiện một thủ thuật [16]
+ Đeo kính bảo vệ, mặt nạ, tạp dề, khẩu trang nếu có nguy cơ bắn máu hoặc dịch cơ thể [16]
+ Mặc áo choàng bảo vệ da khỏi máu hay dịch cơ thể, để phòng quần áo bị vấy bẩn trong quá trình thao tác có tiếp xúc với máu hoặc dịch cơ thể [16]
- Sử dụng những phương tiện, đồ vải và thực hành chăm sóc an toàn: + Phương tiện chăm sóc nên sử dụng một lần, nếu phải sử dụng lại thì dụng
cụ phải được khử khuẩn và tiệt khuẩn đúng kỹ thuật
+ Đồ vải không được dùng tay trực tiếp cầm mà phải đi găng cao su, đeo khẩu trang khi thu gom đồ vải trong buồng bệnh Đồ vải đã sử dụng được đựng trong túi không thấm nước Túi đồ vải bẩn, dính máu hoặc dịch cơ thể phải có gắn nhãn Luộc sôi dụng cụ trong thời gian 20 phút trở lên (tính từ khi sôi)
+ Hấp ở nhiệt độ 120°C, 2 atm trong 20 phút
+ Ngâm chất thải nguy hại
- Các phương pháp thường được áp dụng để tiệt trùng đối với HIV là 30 phút trong các dung dịch hóa chất sát khuẩn như cồn Ethanol 70o, Povidone iodine
2, 5%, Natri hypochlorite 0,5%, Formaldehyde 4%
- Phòng ngừa thương tổn do vật sắc nhọn:
+ Không bẻ gãy, uốn cong kim hoặc đậy nắp kim hay tháo kim bằng tay ra khỏi bơm tiêm
+ Bỏ ngay kim tiêm hay vật sắc nhọn vào hộp cứng sau khi sử dụng
+ Không để kim hoặc vật sắc nhọn rơi vãi, hạn chế việc sử dụng kim + Đầu kim hay vật sắc nhọn phải để xa cơ thể
Trang 20+ Cẩn thận khi thực hiện các thủ thuật xâm lấn như rút máu tĩnh mạch, đặt catheter
- Quản lý và thải bỏ chất thải y tế an toàn theo đúng quy chế để tránh tổn thương cho nhân viên thu gom, tránh lây truyền bệnh ra cộng động và giữ môi trường buồng bệnh an toàn [25], [26]
1.2.5 Chẩn đoán
Do tính chất quan trọng cho cá nhân cũng như nguy hiểm cho cộng đồng, chẩn đoán nhiễm HIV sẽ ảnh hưởng rất lớn đến đời sống người bệnh về mặt thể chất cũng như tâm lý, ảnh hưởng đến uy tín cá nhân và danh dự gia đình nên phải hết sức thận trọng khi kết luận một người bệnh HIV Chỉ định và kết quả xét nghiệm còn tùy giai đoạn của người bệnh
+ Test Serodia: Độ nhạy thấp, nhưng độ đặc hiệu cao Chỉ có giá trị sàng
lọc ban đầu Những người Serodia (+) là những người có thể nhiễm, cần xác định thêm bằng các xét nghiệm khác trước khi khẳng định Ngược lại, người Serodia (-) thì rất ít có nguy cơ nhiễm HIV
+ Test ELISA: Phát hiện một loại kháng thể tùy theo kit chọn trước Phản
ứng này có độ nhạy cao > 90% Độ nhạy và độ đặc hiệu càng cao với các thế hệ xét nghiệm sau Tuy nhiên vẫn không chắc chắn 100%
+ Test Western - Blot: Kết luận chỉ chắc chắn 100% khi người bệnh có xét
Trang 21nghiệm HIV (+) với phương pháp Western - Blot Phương pháp này phát hiện một loạt nhiều kháng thể đặc hiệu chống nhiều loại kháng nguyên khác nhau của HIV
Do đó loại trừ được phản ứng dương tính giả [19] Tuy nhiên xét nghiệm Western
- blot rất đắt tiền nên chưa thể xử dụng đại trà
1.2.5.2 Xét nghiệm tìm trực tiếp virus hay các sản phẩm virus
- Phương pháp khuếch đại gen (PCR), phương pháp dùng gen mồi thăm dò,
là phương pháp đặc hiệu, cho phép phát hiện ngay cả trong giai đọan sơ nhiễm
- Đánh giá hiệu quả của các thuốc kháng virus (đo nồng độ virus trong máu), phát hiện trẻ sơ sinh có nhiễm HIV hay không Đây là một kỹ thuật phức tạp và đắt tiền
- Kỹ thuật tìm các protein virus như p24 (hiện nay test ELISA thế hệ 4 vừa cho phép phát hiện kháng thể, vừa phát hiện KN p24) có tính đặc hiệu, nhưng không hằng định
- Phân lập HIV là phương pháp chính xác và có thể khảo sát được nhiều đặc tính của virus [19]
1.2.6 Phân giai đoạn nhiễm HIV
1.2.6.1 Giai đoan sơ nhiễm (Hội chứng nhiễm virus cấp tính)
* Biểu hiện lâm sàng
- Thường xuất hiện sau 2 - 4 tuần nhiễm HIV và kéo dài trong 1 - 2 tuần Khoảng 20 - 50% số người bệnh HIV có biểu hiện các triệu chứng nhiễm HIV cấp tính Các biểu hiện lâm sàng giống như nhiễm các loại virus khác
+ Hội chứng giả cúm: Sốt 38 – 40oC hoặc sốt nhẹ thất thường, đau đầu, mệt mỏi, đau nhức mình mẩy toàn thân, sưng hạch ở một số nơi như cổ, nách…
+ Phát ban dạng sởi hoặc sẩn đỏ trên da mặt, ngực hoặc tứ chi với đường
kính 5 - 10mm, kéo dài khoảng 5 - 8 ngày
+ Có thể ngứa nhẹ, nôn, buồn nôn, tiêu chảy, gan, lách to, loét miệng, sinh dục
- Các triệu chứng lâm sàng sẽ hết sau vài ngày Trong giai đoạn này, nồng
Trang 22độ virus trong máu rất cao, cho nên nguy cơ lây truyền HIV cho người khác là rất lớn Tuy nhiên, giai đoạn này dễ bị bỏ qua
* Những thay đổi miễn dịch
- Thay đổi tế bào lympho T CD4: Ở người bình thường khoảng 800 - 1000
tế bào/mm3 HIV xâm nhập rồi nhân lên trong tế bào T CD4 và phá hủy tế bào, làm số lượng tế bào này giảm đột ngột trong thời gian ngắn Sau đó T CD4 có xu hướng hồi phục tạm thời vì trong giai đoạn này khả năng tái tạo tế bào của tủy xương còn tốt
- Sự xuất hiện kháng thể HIV: Trong 3 tháng đầu, lượng kháng thể đặc hiệu chống HIV trong cơ thể người bệnh chưa sinh ra hoặc còn thấp nên các xét nghiệm phát hiện kháng thể trong máu người bệnh thường âm tính, vì vậy được gọi là
“giai đoạn cửa sổ” Một người bệnh HIV ở “giai đoạn cửa sổ” có thể lây lan virus cho người khác, mà không hay biết về tình trạng nhiễm HIV của họ [19]
1.2.6.2 Giai đoạn không triệu chứng (Giai đoạn tiềm tàng)
Đây là giai đoạn không có biểu hiện lâm sàng, mặc dù trong máu có HIV
và người bệnh HIV trở thành nguồn lây cho mọi người thông qua các hành vi nguy cơ Giai đoạn này thường kéo dài từ 5 - 10 năm hoặc lâu hơn [24]
1.2.6.3 Giai đoạn có triệu chứng
* Biểu hiện lâm sàng
- Bệnh lý hạch toàn thân
- Sốt kéo dài không rõ nguyên nhân
- Biểu hiện da, niêm mạc: Phát ban sẩn ngứa, viêm da tuyến bã, zona (herpes zoster); viêm loét miệng tái diễn, nấm candida miệng, âm đạo, bạch sản dạng lông ở miệng
- Tiêu chảy kéo dài không rõ nguyên nhân
- Nhiễm trùng hô hấp tái phát nhiều lần
- Sụt cân dưới 10% trọng lượng cơ thể mà không rõ lý do
Trang 23- Lao phổi
- Thiếu máu, giảm bạch cầu đa nhân trung tính, giảm tiểu cầu
* Những thay đổi miễn dịch
Số lượng tế bào T CD4 giảm < 500 tế bào/mm3 (nhưng vẫn còn trên 200 tế bào/mm3) [24]
1.2.6.4 Giai đoạn AIDS
* Định nghĩa: AIDS là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do nhiễm
HIV tiến triển AIDS được xác định khi có một hoặc cả hai tiêu chuẩn sau:
- CD 4 < 200 tế bào/mm3
- Giai đoạn lâm sàng 4
* Biểu hiện nhiễm trùng cơ hội và các khối u
- AIDS ít có dấu hiệu đặc trưng riêng: Chủ yếu là các dấu hiệu suy mòn,
nhiễm trùng cơ hội đối với các vi khuẩn, virus, nấm do suy giảm miễn dịch
- Hội chứng suy mòn: Sụt cân > 10% trọng lượng cơ thể, kèm theo sốt kéo
dài trên 1 tháng hoặc/và tiêu chảy kéo dài trên 1 tháng
- Các nhiễm trùng cơ hội: Viêm phổi do Pneumocystis carinii, nhiễm ký
sinh trùng Toxoplasma não, nấm Cryptococcus neoformans, nhiễm nấm Penicillium marneffei, nấm thực quản, nhiễm phức hợp Mycobacterium avium complex, lao ngoài phổi, nhiễm khuẩn huyết do Salmonella không phải thương hàn, bệnh lý não do HIV…
- Các bệnh lý khối u lympho, Kaposi sarcoma
* Những thay đổi miễn dịch khi tiến triển thành AIDS
- Số lượng T CD4 giảm < 200 tế bào /mm3
- Giảm số lượng các tế bào T CD8, lympho B và các tế bào diệt tự nhiên
- Giảm chức năng của các tế bào miễn dịch [24]
1.2.7 Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm HIV tiến triển (bao gồm AIDS)
1.2.7.1 Chẩn đoán nhiễm HIV ở người lớn
Trang 24- Mẫu huyết thanh của một người được coi là dương tính với HIV khi mẫu
đó dương tính cả ba lần xét nghiệm bằng ba loại sinh phẩm với các nguyên lý và kháng nguyên khác nhau
- Người bệnh HIV có TCD4 ≤ 200 tế bào/mm3 được coi là suy giảm miễn dịch nặng Nếu không có xét nghiệm TCD4, tổng số tế bào lympho có thể sử dụng thay thế Người bệnh HIV có tổng số lympho ≤ 1200 tế bào/mm3 và các triệu chứng liên quan đến HIV cũng được coi là suy giảm miễn dịch nặng
- Chỉ những phòng xét nghiệm đạt tiêu chuẩn được Bộ Y tế cho phép mới được quyền thông báo kết quả xét nghiệm HIV dương tính
1.2.7.2 Chẩn đoán nhiễm HIV ở trẻ em
- Trẻ < 18 tháng tuổi: Xét nghiệm virus học (kháng nguyên p24, PCR ADN hoặc PCR ARN) dương tính, nếu có thể thực hiện được
- Trẻ ≥ 18 tháng tuổi: Xét nghiệm kháng thể HIV dương tính bằng ba phương pháp như đối với người lớn ở thời điểm 18 tháng tuổi Đối với trẻ có bú
mẹ, cần xét nghiệm sau khi trẻ ngừng bú mẹ hoàn toàn 6 tuần
- Tình trạng suy giảm miễn dịch của trẻ nhiễm HIV được đánh giá qua số
tế bào TCD4 theo lứa tuổi và tỷ lệ TCD4/tế bào lympho Trẻ có tỷ lệ TCD4 ≤15% được chẩn đoán là AIDS [2]
1.2.8 Tình hình dịch HIV/AIDS và công tác chăm sóc điều trị trên thế giới
Kể từ ca nhiễm HIV được phát hiện đầu tiên tại Mỹ từ năm 1981, cho đến nay loài người đã trải qua trên 30 năm đối phó với một đại dịch quy mô lớn, phức tạp; theo UNAIDS tính đến cuối năm 2017, có 36.9 triệu người đang bị nhiễm HIV, riêng năm 2017 ước tính có 1.8 triệu ca nhiễm HIV mới và 940.000 người
tử vong do AIDS Thống kê từ năm 2000 đến 2017, tỉ số số ca nhiễm HIV mới giảm 36% và tử vong liên quan đến HIV đã giảm 38% với 11,4 triệu người Thành tựu này là kết quả của những nỗ lực to lớn của các chương trình HIV quốc gia được hỗ trợ bởi xã hội dân sự và một loạt các đối tác phát triển [33]
Trang 25Năm 1987, thử nghiệm điều trị đầu tiên với thuốc AZT (Azydothimidine) được thực hiện
Năm 1989 người ta đưa ra các hướng dẫn điều trị AZT cho những người bệnh HIV và người bệnh AIDS trên cơ sở số lượng tế bào TCD4 của người bệnh
Đến năm 1996, thế giới bắt đầu sử dụng phác đồ điều trị phối hợp ít nhất
ba loại thuốc (HAART) Chương trình điều trị thuốc ARV từ đó đã làm giảm đáng
kể các trường hợp tử vong do AIDS, ước tính từ năm 1996 đến hết năm 2009 đã
có khoảng 14,4 triệu năm tuổi thọ được cứu sống nhờ điều trị ARV [37]
Khu vực cận Sahara Châu Phi tiếp tục phải gánh chịu những hậu quả nặng
nề hơn của dịch AIDS toàn cầu Gần hai phần ba (63%) tổng số người lớn và trẻ
em đang sống với HIV trên toàn cầu là những người sống ở cận Sahara Châu Phi Tại khu vực này, 70% số người bệnh HIV đang còn sống, gần 37% người có đủ tiêu chuẩn điều trị đã được tiếp cận với ARV [37]
Tỷ lệ bao phủ của chương trình tiếp cận điều trị thuốc ARV ngày càng được
mở rộng 8 nước là Botswana, Campuchia, Croatia, Cuba, Guyana, Namibia và Rwanda đã đạt tỷ lệ người bệnh đủ tiêu chuẩn được điều trị thuốc ARV từ 80% trở lên 11 nước trong đó có Việt Nam, Ấn Độ, Indonexia, Bờ biển Ngà, Nam Phi… có tỷ lệ bao phủ dưới 40% [37]
Tháng 7/2011 Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Chương trình phối hợp phòng chống HIV/AIDS của Liên hợp quốc (UNAIDS) đã khởi xướng Sáng kiến tiếp cận điều trị 2.0 nhằm giảm những bất cập, thách thức hiện nay của chương trình điều trị như: sự tuân thủ điều trị, chi phí điều trị, tiếp cận điều trị, hệ thống cung cấp dịch vụ… Điều trị 2.0 là một sáng kiến về điều trị mới bao gồm những vấn đề về chuyên môn, tổ chức triển khai và quản lý nhằm đơn giản hóa cách điều trị HIV hiện nay và tăng cường việc tiếp cận tới thuốc điều trị Chiến lược này là một quá trình gồm 5 lĩnh vực: Tối ưu hóa phác đồ điều trị; cung cấp dịch vụ chẩn đoán tại cơ sở chăm sóc và điều trị tiện ích; giảm chi phí điều trị; củng cố hệ thống cung cấp dịch vụ bằng lồng ghép chặt chẽ vào hệ thống y tế cơ sở hiện có; tăng cường sự tham gia của cộng đồng, của người bệnh và người có hành vi nguy cơ
Trang 26cao [12], [33] Ngay khi Sáng kiến tiếp cận điều trị 2.0 được khởi xướng vào tháng 7/2011, có 5 nước trên thế giới (trong đó có Việt Nam) đã đăng ký triển khai thí điểm Sáng kiến này [12]
1.3 Mục đích điều trị thuốc kháng HIV (thuốc ARV)
- Làm giảm tối đa và ngăn chặn lâu dài sự nhân lên của virus
- Phục hồi chức năng miễn dịch
- Giảm tần suất mắc và tử vong do các bệnh liên quan đến HIV
- Cải thiện sức khoẻ và kéo dài thời gian sống
- Làm giảm sự lây truyền HIV và ngăn ngừa sự lây nhiễm HIV sau phơi nhiễm [2]
1.4 Một số công trình nghiên cứu về kiến thức, thái độ trong phòng chống và chăm sóc người bệnh HIV/AIDS
Khi đại dịch HIV xuất hiện trên thế giới, đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu được tiến hành để khảo sát kiến thức về HIV/AIDS, về kỹ năng chăm sóc và thái độ của nhân viên y tế, của sinh viên y dược, sinh viên diều dưỡng đối với người bệnh HIV/AIDS Theo nghiên cứu của Janel Philip, Derek Chadee và Rosana Patricia Yearwood (2014), tại Trinidad và Tobago cho thấy sự kỳ thị rất phổ biến trong xã hội đối với người bệnh HIV/AIDS và các nhóm có nguy cơ HIV sự kỳ thị diễn ra ở tất cả các cấp bao gồm các tổ chức chăm sóc sức khỏe và
là một trở ngại lớn cho HIV/AIDS hiệu quả phòng ngừa và chăm sóc [45]
Nghiên cứu của Ganga Mahat và Lucille Sanzero Eller (2009), tại Nepal đối với sinh viên điều dưỡng Nepal cho thấy kiến thức, thái độ về HIV/AIDS và các biện pháp phòng ngừa phổ quát Mặc dù kiến thức liên quan đến HIV/AIDS rất được chú trọng trong giáo dục điều dưỡng, các sinh viên vẫn có một khoảng cách kiến thức lớn, bất kể trình độ học vấn Ví dụ, trong số các Bác sỹ năm đầu, sinh viên điều dưỡng, những người đã có chứng chỉ điều dưỡng và đã thực hành điều dưỡng trong 3 năm, một số lượng lớn câu hỏi kiến thức chung về HIV và các biện pháp phòng ngừa phổ quát đã được trả lời không chính xác Phần lớn các
Trang 27sinh viên sẵn sàng chăm sóc mọi người với HIV/AIDS, nhưng với thái độ tiêu cực
và kỳ thị vẫn tồn tại [42] Điều này có thể thấy nhân viên y tế không thực sự có
sự quan tâm đến bệnh HIV, đến sự khó khăn của người bệnh mà chỉ có sự kỳ thị Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến thái độ hợp tác trong quá trình chăm sóc, điều trị giữa nhân viên y tế và người bệnh cũng như các hoạt động đẩy lùi đại dịch HIV/AIDS
Tại Đại học Harran Thổ Nhĩ Kỳ, kết quả một nghiên cứu trước can thiệp thấy có 73,7% sinh viên điều dưỡng cho rằng HIV lây qua đường côn trùng cắn, hay có 52,6% trả lời chăm sóc người bệnh HIV/AIDS sẽ bị nhiễm HIV Điều này
có thể sẽ ảnh hưởng rất lớn đến thái độ trong chăm sóc cho người bệnh HIV/AIDS sau này của các điều dưỡng viên tương lai Đặc biệt có một tỷ lệ khá lớn (khoảng 40%) sinh viên điều dưỡng cho rằng dùng chung nhà vệ sinh, nhà tắm cũng sẽ làm lây nhiễm HIV/AIDS Nghiên cứu này cũng cho thấy chỉ có 7,26% sinh viên điều dưỡng trả lời đúng về cách phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS, trong đó tỷ
lệ này ở sinh viên Y khoa là 80% [38]
Nghiên cứu của Tarja Suominen, Laura Laakkonen và các cộng sự (2013)
về trình độ và kiến thức của sinh viên điều dưỡng Nga trong bối cảnh virus gây suy giảm miễn dịch ở người cho thấy trình độ hiểu biết của học sinh về HIV và AIDS ở mức trung bình Trong số điểm tối đa là 33, giá trị trung bình của câu trả lời đúng là 19,8 (SD + 3,70) Thái độ của sinh viên điều dưỡng khá tiêu cực, điểm
tỷ lệ trung bình cho thái độ chung của sinh viên điều dưỡng là 2,75 và đối với thái
độ đồng tính luyến ái là 3,3 (min = 1, max = 5) Chỉ có yếu tố nền tảng của giới tương quan với mức độ thù ghét đồng tính chứng minh (p = 0,05) Mức độ sẵn sàng của sinh viên điều dưỡng để chăm sóc cho người nhiễm HIV có liên quan đến thái độ của họ (p = 0,003) Nhóm tác giả cho rằng cần thiết phải cải thiện giáo dục để cung cấp thông tin đầy đủ, cập nhật về HIV và cũng để chuẩn bị cho sinh viên điều dưỡng kỹ năng chăm sóc người bệnh HIV/AIDS Điều này có thể giúp giải quyết cả những thiếu sót trong kiến thức của học sinh và cũng sửa đổi thái độ của họ đối với công tác chăm sóc người bệnh HIV/AIDS [55]
Trang 28Evşen Nazik, Sevban Arslan và các cộng sự một nghiên cứu xác định thái
độ đối với người bệnh nhiễm HIV/AIDS của 331 sinh viên điều dưỡng ở Thổ Nhĩ
Kỳ tại Trường Y tế Adana, Thổ Nhĩ Kỳ với sinh viên điều dưỡng Dữ liệu được thu thập thông qua thang đo thái độ AIDS (AAS) và được đánh giá bằng phần mềm SPSS, sử dụng tỷ lệ phần trăm, phân tích phương sai Tổng số điểm AAS của học sinh được tìm thấy là 48,67 ± 13,77 Điểm số trung bình của thang đo thái
độ AIDS là 19,39 ± 5,66 cho hoàn cảnh lây nhiễm, 13,28 ± 4,41 cho cảm xúc tiêu cực Nghiên cứu này đã xác định rằng thái độ tiêu cực tồn tại đối với người nhiễm HIV/AIDS ở những sinh viên điều dưỡng Những phát hiện này đã được giải thích
để đề xuất rằng giáo dục thêm về AIDS cho các sinh viên điều dưỡng là cần thiết [41]
Nghiên cứu của Gulsah Kok (2018) tại Thổ Nhĩ Kỳ cho rằng, Sự thiếu hiểu biết rộng rãi, thông tin hạn chế và/hoặc không chính xác và những quan niệm sai lầm về HIV/AIDS sẽ gây ra sự kỳ thị xã hội Những hiểu biết sai này có thể dẫn gây ảnh hưởng đến dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng [43]
Một nghiên cứu của Rotem Baytner-Zamir và các cộng sự (2013) đánh giá
về kiến thức và thái độ đối với HIV/AIDS ở các sinh viên y khoa tiền lâm sàng ở Israel cho thấy kiến thức của các sinh viên y khoa tiền lâm sàng nhìn chung rất cao nhưng vẫn có một số quan niệm sai lầm, chủ yếu liên quan đến lây truyền HIV qua cho con bú và kiến thức về phòng chống HIV sau khi tiếp xúc với virus Sinh viên vẫn thể hiện sự kỳ thị với người bệnh HIV/AIDS Tác giả cho rằng các trường y ở Israel nên sửa đổi chương trình giảng dạy của họ để bao gồm các phương pháp giảng dạy nhằm cải thiện thái độ liên quan đến HIV [53]
Những hiểu biết hạn chế về HIV/AIDS có thể làm cho thái độ kỳ thị của nhân viên y tế nói chung càng sâu sắc Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra những nguyên nhân khiến NVYT không sẵn sàng và thiếu đồng cảm trong quá trình chăm sóc cho người bệnh hoặc có liên quan đến người bệnh HIV/AIDS như:
Lo sợ sẽ nhiễm HIV thông qua phơi nhiễm nghề nghiệp [58]
Trang 29Lo lắng sẽ lây truyền HIV cho gia đình của họ [58]
Hiểu không đúng về hoàn cảnh của người bệnh HIV/AIDS [50]
Sự sợ hãi nhiễm HIV thông qua phơi nhiễm nghề nghiệp đã tác động không nhỏ đến sự phát triển mối quan hệ giữa điều dưỡng viên và người bệnh HIV/AIDS khiến cho đại dịch HIV/AIDS được coi là một trong những nguyên nhân của tinh trạng thiếu hụt nhân lực điều dưỡng hiện nay [58]
Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Thùy Dung (2017) tại 2 Trường Đại học y Hà Nội và Đại học Thành Tây, cho thấy tỷ lệ sinh viên điều dưỡng có kiến thức đúng về HIV/AIDS chưa cao (63%) Điểm trung bình chung
về kiến thức HIV/AIDS đạt của sinh viên của 2 trường là 20±3,2 Có tới 15,5% sinh viên có thái độ xa lánh, đổ lỗi cho người có HIV, có 9,1% sinh viên đồng ý/rất đồng ý rằng “người nghiện chích ma túy đáng bị mắc HIV" và sinh viên có thái độ “đồng cảm” với “trẻ em/người bệnh HIV do truyền máu hơn là người bệnh HIV do tiêm chích ma túy” chỉ chiếm 34,3% [14]
Theo Nguyễn Huy Nga và cộng sự (2005), tỉ lệ không trả lời đúng về khái niệm HIV của NVYT lên tới 33,5% NVYT tự nhận thấy còn thiếu kiến thức về HIV là 76,6% Nguồn thông tin mà NVYT tiếp nhận được chủ yếu vẫn là báo đài [18]
Hiểu đúng về các tiêu chuẩn chính và phụ trong chẩn đoán bệnh AIDS ở NVYT còn rất thấp (6,7%) Có 78,6% NVYT biết đúng nơi để các dụng cụ sắc nhọn thải ra là các thùng bằng kim loại; 75,1% cho biết biện pháp xử lý dụng cụ
y tế sắc nhọn thải ra là đem đốt; 61,3% cho là phải chôn sâu dưới đất; 92,1% NVYT biết là phải đeo găng dầy khi rửa các dụng cụ sắc nhọn; 89,2% biết đúng cách xử trí vết thương hở da của NVYT khi tiếp xúc với người bệnh; 89,3% NVYT biết đúng cách rửa tay khi tiếp xúc với máu và dịch thể của người bệnh AIDS Có 27,6% số NVYT trong mẫu nghiên cứu cho biết họ ngại tiếp xúc với bệnh nhân AIDS, 13,3% NVYT cho rằng họ sẽ từ chối chăm sóc người bệnh AIDS [31]
Nghiên cứu của Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Linh Chi (2010), tại Trường
Trang 30Cao đẳng sư phạm Yên Bái phân tích kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan trong phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS trên 430 sinh viên cho thấy 97,2% sinh viên có kiến thức đạt chung về phòng chống HIV/AIDS; 94,3% các
em biết nguyên nhân gây bệnh HIV/AIDS là do virus; 97% biết cả 3 đường lây nhiễm HIV Các em có thái độ phòng chống nhiễm HIV/AIDS tương đối tốt, tuy nhiên vẫn còn một số em có thái độ không phù hợp 28% và 5,8% trả lời sợ và rất
sợ người bệnh HIV/AIDS Tỷ lệ đạt về thực hành phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS của các em tương đối cao 84,8% Sinh viên nữ có xu hướng có kiến thức tốt hơn nam (OR=5; CI: 1,4-17,4) Những đối tượng tiếp cận thông tin về HIV/AIDS có kiến thức, thực hành tốt hơn [30]
Nghiên cứu cắt ngang trên 400 sinh viên của Phan Quốc Hội (2009 - 2010) tại Đại học sư phạm kỹ thuật Vinh, đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống HIV/AIDS Kết quả nghiên cứu cho thấy: về kiến thức có 42% sinh viên xác định được cách phòng ngừa lây nhiễm HIV; 76,2% sinh viên trả lời đúng 6/7 câu câu hỏi về cách phòng tránh; 88% sinh viên trả lời được cả 3 đường lây truyền chính của HIV; 58,8% sinh viên có thể nêu được ít nhất 3 địa điểm có thể làm xét nghiệm HIV 19,2% sinh viên nhận định rằng mình có nguy cơ nhiễm HIV Về thái độ có 21,8% có thái độ tích cực với người bệnh, sinh viên trả lời sẽ giúp đỡ (chiếm 38,5%) và tiếp xúc bình thường với người bệnh (chiếm 57,5%) Khoảng 83,2% sinh viên mong muốn được xét nghiệm HIV Có 90,8% SV cho rằng có thể bảo vệ chính mình tránh lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khi quan hệ tình dục 80% sinh viên trả lời rằng cả hai đối tác có trách nhiệm bình đẳng trong sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục khác giới 80,6% sinh viên nữ trả lời cả hai đối tác có trách nhiệm như nhau 19,2% sinh viên nam trả lời rằng đàn ông có trách nhiệm cao hơn Thực hành tuổi quan hệ tình dục trung bình lần đầu tiên là 20 tuổi; 56 SV (chiếm 14%) đã từng bị người khác mời/rủ sử dụng ma túy; 39 SV (chiếm 9,8%) đã từng bị người khác mời rủ tiêm chích ma túy Không có sinh viên nào sử dụng ma túy hoặc tiêm chích ma túy [21]
Một nghiên cứu kiến thức về HIV/AIDS tại 8 trường đại học Y trên toàn quốc cho thấy hầu hết SV đã được học về HIV/AIDS từ khi vào đại học (99%) và
Trang 31khoảng 60% SV tự đánh giá kiến thức của mình ở mức độ trung bình Đặc biệt có tới 8,5% - 22,4% SV cho rằng nước tiểu, mồ hôi và nước bọt là những dịch sinh học có nguy cơ lây nhiễm cao [15]
Các nghiên cứu đánh giá việc tham gia và sử dụng bảo hiểm y tế nhà nước trong chăm sóc và điều trị của người nhiễm HIV cho thấy người nhiễm HIV thiếu niềm tin vào bảo hiểm y tế, bao gồm quan niệm tiêu cực về bảo hiểm
y tế và/hoặc trải nghiệm tiêu cực khi khám bệnh, chữa bệnh qua bảo hiểm y tế trước đây Bên cạnh đó là tình trạng kỳ thị và phân biệt đối xử còn tồn tại ở các
cơ sở y tế [13], [20], [27], [35]
Có thể thấy rằng, Việt Nam là nước có thái độ kỳ thị với HIV rất rõ ràng và mặc dù điều này đã thay đổi gần đây nhưng những người nhiễm HIV vẫn phải đối mặt với sự phân biệt đối xử Nhiều người cho rằng thành công của chăm sóc HIV phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng của nhân viên y tế [6], [20] Michael Platten cùng các cộng sự (2014) nghiên cứu về kiến thức về HIV và các yếu tố liên quan đến thái độ đối với HIV của SV y khoa năm cuối tại Trường đại học y Hà Nội cho thấy, mặc dù SV có phản ứng tích cực về phần câu hỏi phân biệt đối xử và kỳ thị HIV Tuy nhiên vẫn còn một số lỗ hổng kiến thức về HIV, bao gồm các loại khoa học cơ bản liên quan đến HIV, phòng ngừa, chăm sóc và điều trị Kiến thức về sự
kỳ thị và phân biệt đối xử là một yếu tố dự báo tích cực đáng kể về thái độ không định kiến đối với HIV và AIDS (= 0,186, p <0,01) và thái độ không phân biệt đối
xử với HIV và AIDS tại nơi làm việc (= 0,188, p <0,01) Nghiên cứu cho thấy cần tăng cường nhiều hoạt động hỗ trợ chương trình đào tạo liên quan đến HIV cho sinh viên y khoa [49]
1.5 Giới thiệu về Trường Cao đẳng Quân y 1 - HVQY
Trang 32- Đào tạo nhân viên trung học, sơ học quân y gồm: Y sỹ, Dược sỹ, Trung học Điều dưỡng, Kỹ thuật viên xét nghiệm, Y tá, Dược tá, Chuyên khoa sau y sỹ theo chỉ tiêu nhiệm vụ Bộ Quốc phòng giao
- Đào tạo cao đẳng gồm: Dược sỹ; Liên thông Cao đẳng Dược sỹ; Cao đẳng Điều dưỡng, Liên thông Cao đẳng điều dưỡng [10]
Trong hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành, Nhà trường đã đào tạo được trên 5 vạn nhân viên y tế đang ngày đêm thực hiện nhiệm vụ chăm sóc bảo vệ sức khỏe bộ đội và nhân dân trên khắp mọi miền của Tổ quốc Đặc biệt Nhà trường làm nhiệm vụ quốc tế khi đào tạo 176 học viên quốc tế cho Lào và Cambodia [22]
Những năm gần đây, Nhà trường đã tích cực đầu tư cơ sở vật chất nguồn lực, đổi mới chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy tích cực với phương châm lấy thực hành làm chính để đào tạo SV điều dưỡng có kiến thức, kỹ năng và thái độ tốt trong học tập và rèn luyện tác phong nghề nghiệp
1.5.2 Chương trình đào tạo liên quan đến kiến thức, thái độ và phòng chống HIV/AIDS tại địa điểm nghiên cứu
Qua nghiên cứu chương trình đào tạo thấy phần lớn khối kiến thức liên quan của đối tượng nghiên cứu được phân bố chủ yếu ở năm thứ nhất và một phần ở năm thứ 2 Trong hai năm đầu, sinh viên điều dưỡng được tham gia thực tập tại Bệnh viện 2 lần với tổng thời gian 24 tuần, trong đó có tổng thời gian thực tập tại khoa truyền nhiễm là 4 tuần Những cơ sở y tế được xác định cho sinh viên điều dưỡng đi thực tập 2 lần đầu là Bệnh viện quân y 105 – Tổng cục hậu cần và Bệnh viện khu vực Sơn Tây, nơi có thu dung điều trị các bệnh truyền nhiễm trong đó
có HIV/AIDS Nguồn người bệnh chính thường điều trị tại những cơ sở này là các trại viên của các trại cải tạo, cai nghiện thuộc khu vực Ba Vì – Hà Nội
Trang 33Bảng 1.1 Chương trình học các môn liên quan
STT Mô – đun kiến thức Thời gian thực hiện Ghi chú
1 Vi sinh vật – ký sinh trùng Học kỳ I, năm thứ 1
2 Kiểm soát nhiễm khuẩn Học kỳ II, năm thứ 1
3 Điều dưỡng cơ sở 1,2 Học kỳ II, năm thứ 1
4 Giao tiếp thực hành điều dưỡng Học kỳ II, năm thứ 1
5 Bệnh học truyền nhiễm Học kỳ II, năm thứ 1
6 CSSK người bệnh truyền nhiễm Học kỳ IV, năm thứ 2
7 Dịch tễ - sức khỏe môi trường Học kỳ V, năm thứ 3
Bảng 1.2 Chương trình/nội dung thực tập Bệnh viện
STT Mô – đun thực hành Thời gian thực hiện Ghi chú
1 Thực tập bệnh viện 1 Học kỳ III, năm thứ 2
2 Thực tập bệnh viện 2 Học kỳ IV, năm thứ 2
3 Thực tế ngành Học kỳ VI, năm thứ 3
Trang 341.6 Khung lý thuyết nghiên cứu
- Thi qua các môn học liên quan đến HIV/AIDS
Thái độ phòng chống, chăm sóc người bệnh HIV/AIDS
Sơ đồ 1.1 Khung lý thuyết nghiên cứu
Trang 35CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Sinh viên điều dưỡng năm thứ hai và thứ ba, hệ dân sự tại Trường Cao đẳng Quân y 1 năm 2019
2.1.1.1 Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Đối tượng là sinh viên điều dưỡng năm thứ hai và năm thứ ba
- Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu
- Đối tượng có đủ sức khỏe để trả lời bộ câu hỏi nghiên cứu
2.1.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Sinh viên không học chuyên ngành điều dưỡng
- Sinh viên không có đủ sức khỏe để trả lời bộ câu hỏi nghiên cứu
- Sinh viên không đồng ý tham gia
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: tại Trường Cao đẳng Quân y 1, Sơn Lộc, Sơn tây, Hà Nội
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2019
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Cỡ mẫu: Toàn bộ
- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện toàn bộ sinh viên điều dưỡng năm thứ hai và năm thứ ba đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ, hệ dân
Trang 36sự tại Trường Cao đẳng Quân y 1 Tổng số 331 sinh viên, trong đó năm thứ 2 là
174 sinh viên và năm thứ 3 là 157 sinh viên
2.3 Biến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá
2.3.1 Biến số và chỉ số nghiên cứu
Bảng 2.1 Bảng biến số và chỉ số nghiên cứu
TT Tên biến Định nghĩa/giải
thích biến số
Loại biến Chỉ số
Phương pháp thu thập Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (theo phụ lục 1)
1 Tuổi Tính theo năm sinh
dương lịch của ĐTNC tại thời điểm nghiên cứu
Liên tục
Tỉ lệ % đối tượng phân theo tuổi
Phát vấn
2 Giới tính Nam hay nữ Nhị
phân
Tỉ lệ % đối tượng tính theo giới
Phát vấn
3 Nơi sinh sống Thành thị hay nông
thôn
Địa danh
Tỉ lệ % đối tượng tính theo địa điểm thường trú
Tỉ lệ % đối tượng tính theo năm học
đã từng chăm sóc trong quá trình thực tập
Rời rạc
Tỉ lệ % đối tượng tính theo số ĐTNC từng CSNB
Phát vấn
6 Nguồn cung
cấp thông tin
về HIV/AIDS
Nguồn thông tin
mà sinh viên tiếp cận về HIV/AIDS
Rời rạc
Tỉ lệ % đối tượng tính theo nguồn thông tin được tiếp nhận
Phát vấn
Kiến thức về HIV, thái độ trong phòng chống, chăm sóc người bệnh
Trang 37Rời rạc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo kiến thức
Phát vấn
8 Cấu trúc của
HIV
HIV có 3 lớp là vỏ ngoài, vỏ trong và lõi
Rời rạc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo kiến thức
Rời rạc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo kiến thức
Phát vấn
10 Yếu tố bất
hoạt HIV
HIV dễ bị bất họat bởi các yếu tố vật
lý, hóa chất, nhiệt
độ
Rời rạc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo kiến thức
Rời rạc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo kiến thức
kỳ và qua sữa mẹ
Rời rạc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo kiến thức
TCD4+ giảm xuống dưới mức 500/ml
Rời rạc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo kiến thức
Rời rạc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo kiến thức
Phát vấn
15 Giai đoạn của Giai đoạn từ khi Rời Tỉ lệ % đối Phát vấn
Trang 38Rời rạc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo kiến thức
Rời rạc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo kiến thức
NB HIV/AIDS
Rời rạc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo kiến thức
Rời rạc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo thái độ trong phòng chống phơi nhiễm
dự phòng phơi nhiễm nghề nghiệp HIV cho NVYT
Rời rạc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo thái độ trong phòng chống phơi nhiễm
Tỉ lệ % đối tượng phân
Phát vấn
Trang 39nguy cơ phơi
nhiễm HIV
nghề nghiệp
CSNB; bị máu, dịch chứa máu bắn vào mắt; bị tiếp xúc trực tiếp với máu/dịch tiết của người nhiễm HIV qua da bị trầy xước
theo thái độ trong phòng chống phơi nhiễm
Rời rạc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo thái độ trong phòng chống phơi nhiễm
Phát vấn
D Thái độ đối với người bệnh AIDS
23 Người nhiễm HIV/AIDS phải tự
chịu trách nhiệm
Thứ bậc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo thái độ
Phát vấn
24 Những người có lối sống lệch lạc
đáng phải bị nhiễm HIV/AIDS
Thứ bậc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo thái độ
Phát vấn
25 Nên cách ly người bệnh HIV với
những người bệnh khác
Thứ bậc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo thái độ
Phát vấn
26 Lo lắng cho người thân của mình
nếu mình phải tiếp xúc với người
nhiễm HIV/AIDS
Thứ bậc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo thái độ
Phát vấn
27 Nên cách ly trẻ em khỏi cha/mẹ
chúng nếu họ bị nhiễm HIV
Thứ bậc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo thái độ
Phát vấn
28 Người bệnh AIDS có quyền được
hưởng chất lượng chăm sóc như
những người bệnh khác
Thứ bậc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo thái độ
Phát vấn
29 Người bị bệnh AIDS khi nằm viện
cũng cần được đối xử, chăm sóc ân
cần
Thứ bậc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo thái độ
Phát vấn
30 Người nghiện chích ma tuý đáng bị
mắc HIV
Thứ bậc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo thái độ
Phát vấn
31 Người phụ nữ đã biết mình có HIV Thứ Tỉ lệ % đối Phát vấn
Trang 40(+) mà vẫn sinh con thì phải bị lên
Tỉ lệ % đối tượng phân theo thái độ
Phát vấn
33 Đồng cảm với những người nhiễm
HIV/AIDS do truyền máu hơn là
những người nhiễm do tiêm chích
ma túy
Thứ bậc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo thái độ
Phát vấn
34 Khi điều trị và chăm sóc không nên
phân biệt những người bệnh có quan
hệ tình dục đồng giới
Thứ bậc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo thái độ
Phát vấn
35 Khi nằm viện người bệnh AIDS nên
được tôn trọng như những người
bệnh khác
Thứ bậc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo thái độ
Phát vấn
36 Không duy trì tình bạn với người có
quan hệ đồng giới
Thứ bậc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo thái độ
Phát vấn
37 Lo lắng bị nhiễm HIV từ các mối
quan hệ xã hội
Thứ bậc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo thái độ
Phát vấn
38 Rất thương những người nghèo bị
nhiễm HIV/AIDS
Thứ bậc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo thái độ
Phát vấn
39 Mong muốn làm những việc có ích
cho người bệnh AIDS
Thứ bậc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo thái độ
Phát vấn
40 Có thể làm mọi việc có thể để giúp
đỡ những người nhiễm HIV/AIDS
Thứ bậc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo thái độ
Phát vấn
41 Trẻ em hoặc những người nhiễm
HIV do truyền máu thì đáng được
chăm sóc, điều trị tốt hơn những
người bị mắc HIV do tiêm chích ma
tuý
Thứ bậc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo thái độ
Phát vấn
42 Rất lo lắng cho con có thể nhiễm
HIV/AIDS nếu biết rằng một trong
các giáo viên của con bị nhiễm
HIV/AIDS
Thứ bậc
Tỉ lệ % đối tượng phân theo thái độ
Phát vấn