Kết quả cho thấy sử dụng thực phẩm, thói quen rửa tay và vệ sinh ga giường có liên quan đến các trường hợp mắc bệnh TCM, tuổi già OR = 0,44, 95%CI: 0,34-0,56, rửa tay trước bữa ăn OR = 0[r]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG KHOA KHOA HỌC SỨC KHỎE
BỘ MÔN: Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN HỮU HÒA
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN PHÒNG CHỐNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA CÁC CÔ GIÁO NUÔI DẠY TRẺ TẠI TRƯỜNG MẦM NON PHƯỜNG HÀ CẦU, QUẬN HÀ ĐÔNG, HÀ NỘI,
NĂM 2019 Chuyên ngành Y tế công cộng
Mã số: 872 07 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS ĐÀO XUÂN VINH
HÀ NỘI - 2020
Trang 2Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.Ts Phạm Văn Thân và PGS.TS Đào Xuân Vinh đã trực tiếp hướng dẫn, góp ý và dành nhiều thời gian tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo và các đồng nghiệp nơi tôi công tác
đã tạo điều kiện trong công việc và giúp đỡ nhiệt tình trong quá trình thu thập số liệu phục vụ cho luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn bạn bè, anh chị, gia đình đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện học tập
Tôi xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 21 tháng 03 năm 2020
Tác giả
NGUYỄN HỮU HOÀ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Nguyễn Hữu Hoà
Tôi xin cam đoan:
1 Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, do bản thân tôi trực tiếp thực hiện;
2 Kết quả trong luận văn của tôi không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác
đã thực hiện và được công bố
3 Các thông tin đưa ra trong luận văn là hoàn toàn chính xác, trung thực, khách quan, đã được sự đồng ý và xác nhận của đơn vị;
4 Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam kết này
Tác giả
NGUYỄN HỮU HOÀ
Trang 4WHO (World Health Organization) Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1.Tác nhân gây bệnh 3
1.1.1 Khái niệm: 3
1.1.2 Hình thái của virus 4
1.2 Khả năng gây bệnh của virus 5
1.2.1 Đặc điểm dịch tễ học 5
1.2.2 Gây bệnh ở người 7
1.3.Phòng bệnh 9
1.3.1.Nguyên tắc phòng bệnh: 9
1.4.Tình hình dịch bệnh TCM trên thế giới và tại Việt Nam 10
1.4.1.Tình hình dịch bệnh TCM trên thế giới 10
1.4.2.Tình hình dịch bệnh TCM tại Việt Nam 12
1.5 Một số nghiên cứu về kiến thức - thái độ - thực hành và một số yếu tố liên quan ở thế giới và Việt Nam về phòng chống bệnh TCM 20
1.5.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 20
1.5.2.Một số nghiên cứu tại Việt Nam 22
1.6 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu 28
1.7 Khung lý thuyết nghiên cứu 28
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 29
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.1.2 Thời gian và địa điềm nghiên cứu 29
2.2 Phương pháp nghiên cứu 29
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, có phân tích 29
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 29
2.3 Các nội dung nghiên cứu chính 30
2.4 Các biến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chí đánh giá 31
Trang 62.4.1 Biến số và chỉ số nghiên cứu 31
2.4.2 Tiêu chí đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống TCM của ĐTNC: 36
2.5 Phương pháp thu thập thông tin 41
2.5.1 Công cụ thu thập thông tin 41
2.5.2.Kỹ thuật thu thập số liệu 41
2.5.3 Quy trình thu thập thông tin và sơ đồ nghiên cứu 41
2.6 Phân tích và xử lý số liệu 44
2.7.Sai số, hạn chế và biện pháp khắc phục sai số 45
2.8.Vấn đề đạo đức 45
2.9 Hạn chế của đề tài: 46
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47
3.1 Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 47
3.2 Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của cô nuôi dạy trẻ, phường Hà Cầu, quận Hà Đông, Hà Nội, năm 2019 51
3.2.1 Kiến thức phòng chống bệnh tay chân miệng của đối tượng nghiên cứu 51 3.2.2 Thái độ phòng chống bệnh tay chân miệng của đối tượng nghiên cứu 57
3.2.3 Thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của đối tượng nghiên cứu 58 3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của ĐTNC 64
3.3.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức 64
3.3.2 Một số yếu tố liên quan đến thái độ 65
3.3.3 Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh Tay chân miệng 66
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 68
4.1 Thực trạng kiến thức - thái độ - thực hành của cô nuôi dạy trẻ phường Hà Cầu về phòng chống bệnh TCM 68
4.1.1 Kiến thức phòng chống bệnh tay chân miệng của đối tượng nghiên cứu 68 4.1.2 Thái độ phòng chống bệnh tay chân miệng của đối tượng nghiên cứu 72 4.1.3 Thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của đối tượng nghiên cứu 73
Trang 74.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống
bệnh tay chân miệng của ĐTNC 77
4.2.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức 77
4.2.2 Một số yếu tố liên quan đến thái độ 78
4.2.3 Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh Tay chân miệng 78
KẾT LUẬN 80
1 Kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh Tay chân miệng của các cô nuôi dạy trẻ ở các trường mầm non tại Phường Hà Cầu – Quận Hà Đông - Hà Nội 80
2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ , thực hành phòng bệnh TCM của đối tượng nghiên cứu 80
KHUYẾN NGHỊ 81
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Một số đặc điểm của dịch bệnh TCM tại Hà Nội 18
Bảng 2.1 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 31
Bảng 2.2: Bảng tiêu chí chấm điểm kiến thức 37
Bảng 2.3: Bảng tiêu chí chấm điểm thái độ 38
Bảng 2.4: Bảng tiêu chí chấm điểm phỏng vấn thực hành 39
Bảng 3.1 Tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu 47
Bảng 3.2 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 47
Bảng 3.3 Dân tộc của đối tượng nghiên cứu 47
Bảng 3.4 Tình trạng con cái của đối tượng nghiên cứu 48
Bảng 3.5 Tham gia tập huấn về phòng bệnh TCM của ĐTNC 48
Bảng 3.6 Đặc điểm công việc của đối tượng nghiên cứu 49
Bảng 3.7 Các yếu tố tiếp cận về truyền thông về phòng chống bệnh TCM 50
Bảng 3.8 Kiến thức của ĐTNC về mức độ nguy hiểm của bệnh TCM 51
Bảng 3.9 Kiến thức của ĐTNC về nguyên nhân gây bệnh TCM 51
Bảng 3.10 Kiến thức của ĐTNC về lứa tuổi dễ mắc bệnh TCM 52
Bảng 3.11 Kiến thức của ĐTNC về thời điểm xuất hiện bệnh TCM 52
Bảng 3.12 Kiến thức của ĐTNC về khả năng lây truyền của bệnh TCM 52
Bảng 3.13 Kiến thức của ĐTNC về dấu hiệu của bệnh TCM của ĐTNC 53
Bảng 3.14 Kiến thức của ĐTNC về cách xử lý khi phát hiện học sinh có dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh TCM 54
Bảng 3.15 Kiến thức của ĐTNC về khả năng nhiễm bệnh TCM lại 54
Bảng 3.16 Kiến thức của ĐTNC về vắc xin phòng bệnh TCM 54
Bảng 3.17 Kiến thức của ĐTNC về những yếu tố thuận lợi để bệnh TCM phát triển 55
Bảng 3.18 Kiến thức của ĐTNC về phòng chống bệnh TCM 55
Bảng 3.19 Thái độ của ĐTNC về phòng chống bệnh TCM 57
Bảng 3.20 Thực hành của ĐTNC về phòng chống bệnh TCM 58
Trang 9Bảng 3.22 Thực hành rửa tay cho trẻ của ĐTNC 60
Bảng 3.23 Thực hành kiểm tra tay chân miệng cho trẻ 60
Bảng 3.24 Thực hành rửa cốc cho trẻ của ĐTNC 61
Bảng 3.25 Thực hành giặt khăn cho trẻ của ĐTNC 62
Bảng 3.26 Thực hành lau đồ chơi cho trẻ của ĐTNC 62
Bảng 3.27 Thực hành lau sàn nhà cho trẻ của ĐTNC 63
Bảng 3.28 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về bệnh tay chân miệng của ĐTNC 64
Bảng 3.29 Một số yếu tố liên quan đến thái độ phòng bệnh tay chân miệng của ĐTNC 65
Bảng 3.30 Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ phòng bệnh tay chân miệng của ĐTNC 66
Bảng 3.31 Một số yếu tố liên quan giữa kiến thức và thái độ phòng bệnh tay chân miệng của ĐTNC 66
Bảng 3.32 Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh tay chân miệng của ĐTNC 67
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1: Một vài hình ảnh về hình thể và cấu trúc của virus Coxsackie gây bệnh TCM 4
Hình 1.2: Phân bố bệnh TCM trên thế giới 5
Hình 1.3: Hình ảnh bệnh tay chân miệng ở trẻ 8
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Báo cáo trường hợp mắc TCM theo tháng của Trung Quốc 11
Biểu đồ 1.2: Các ca mắc TCM theo tuần của Singapore 12
Biểu đồ 1.3 Tình hình mắc bệnh TCM tại Việt Nam 13
Biểu đồ 1.4 Tình hình mắc bệnh TCM tại Hồ Chí Minh năm 2018 -2019 15
Biểu đồ 1.5 Diễn biến dịch bệnh TCM tại Hà Nội theo tháng giai đoạn năm 2011 – 2014 16
Biểu đồ 3.1 Đánh giá kiến thức chung của ĐTNC về bệnh tay chân miệng 56
Biểu đồ 3.2 Đánh giá thái độ chung của ĐTNC về phòng bệnh tay chân miệng58 Biểu đồ 3.3 Đánh giá thực hành chung của ĐTNC về phòng bệnh tay chân miệng 63
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tay chân miệng là một bệnh nhiễm vi rút cấp tính, lây truyền qua đường tiêu hóa, thường gặp ở trẻ nhỏ và có khả năng gây thành dịch lớn [4] Bệnh Tay chân miệng thường là một bệnh nhẹ, các bệnh nhân hồi phục trong vòng 7 đến
10 ngày mà không cần điều trị và thường không gặp các biến chứng Tuy nhiên bệnh tay chân miệng cũng có thể diễn biến nặng như: viêm màng não, viêm não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong, thường do vi rút EV71 gây ra
Trong những năm gần đây, số lượng trẻ mắc bệnh tay chân miệng có xu hướng gia tăng, trong 9 tháng đầu năm 2018, cả nước ghi nhận 53.529 trường hợp mắc tay chân miệng tại 63 tỉnh, thành phố, trong đó 6 trường hợp tử vong tại khu vực phía Nam [46]
Trong năm 2018, Hà Nội ghi nhận 2.121 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng tăng gần gấp ba so với năm 2017 , không có ca tử vong Tại quận Hà Đông
năm 2018 ghi nhận 103 trường hợp bệnh tay chân miệng, lứa tuổi mắc là trẻ em
dưới 5 tuổi chiếm đa số 100/103 trường hợp Trong đó phường Hà Cầu chiếm 14 trường hợp mắc chiếm 13,7 % tổng số trường hợp bệnh trong toàn quận [35] Tay chân miệng là bệnh hiện chưa có vác xin phòng bệnh Theo khuyến cáo của Bộ Y tế, phòng bệnh ở cộng đồng bao gồm vệ sinh cá nhân, rửa tay bằng xà phòng; rửa sạch đồ chơi, vật dụng, sàn nhà và lau sàn nhà bằng dung dịch khử khuẩn Cloramin 2%
Đối tượng mắc tay chân miệng chủ yếu xảy ra ở trẻ dưới 5 tuổi, tập trung tại các nhà trẻ, các trường mầm non và mẫu giáo Do đó, cô nuôi dạy trẻ đóng vai trò quan trọng trong phòng chống dịch, chống lây lan bệnh một cách tốt nhất cho các trẻ trong thời gian ở trường lớp
Với mong muốn tìm hiểu kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh tay chân miệng của cô nuôi dạy trẻ hiện nay như thế nào và những yếu tố nào liên quan đến thực trạng trên Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng chống bệnh tay
Trang 12chân miệng địa bàn quận, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Kiến thức, thái
độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng chống bệnh tay chân miệng của các cô giáo nuôi dạy trẻ tại trường mầm non phường Hà Cầu, quận
Hà Đông, Hà Nội, năm 2019” Với các mục tiêu sau:
1 Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh tay chân miệng của các
cô nuôi dạy trẻ ở các trường mầm non tại Phường Hà Cầu – Quận Hà Đông - Hà
Nội
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ , thực hành phòng bệnh tay chân miệng của đối tượng nghiên cứu
Trang 13
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Bệnh tay chân miệng (viết tắt: TCM; tiếng Anh: Hand - Foot - Mouth Disease - HFMD) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus gây nên, bệnh thường gặp ở trẻ em (trên 90%) Bệnh có thể rải rác hoặc bùng phát thành các vụ dịch nhỏ vào mùa hè ở những nơi đông dân cư, điều kiện vệ sinh kém Bệnh thường được đặc trưng bởi sốt, đau họng và nổi ban có bọng nước ở tay, chân, miệng, và thường tiến triển đến loét Các tổn thương này có thể thấy ở lưỡi, nướu
và bên trong má Rất nhiều bệnh nhân được chẩn đoán nhầm với các bệnh da khác như chốc, thuỷ đậu, dị ứng, dẫn đến điều trị sai lầm và làm bệnh lan tràn [2]
1.1.Tác nhân gây bệnh
1.1.1 Khái niệm:
Bệnh tay chân miệng do một nhóm virus thuộc nhóm Enterovirus gây nên Enterovirus bao gồm 4 nhóm: poliovirus, Coxsackie A virus (CA), Coxsackie B virus (CB) và Echovirus Các serotyp thuộc loài A gồm: EV68, EV71, EV76, EV89, EV90, EV91 và EV92 Trong khi các serotyp EV khác thì thuộc dưới loài Enterovirus B hoặc C Týp EV71 là một trong những tác nhân gây nên bệnh TCM
và đôi khi chúng còn có khả năng gây nên bệnh ở hệ thần kinh trung ương Khả năng gây bệnh của týp EV71 đã được minh chứng là lần đầu tiên (1969) phân lập được chúng ở tổ chức thần kinh trung ương của một số trường hợp tại California (Mỹ) [3]
Loài Coxsackievirus thuộc họ Picornaviridae gồm 29 typ Chúng khác biệt với các Enterovirus khác ở khả năng gây bệnh ở chuột ổ , các enterovirus khác thì hiếm hoặc không Chúng chia thành 2 nhóm: nhóm A và nhóm B có khả năng gây bệnh ở chuột khác nhau Chúng gây nhiều chứng bệnh khác nhau: Coxsackie A gây viêm họng, phát ban ngòai da, bệnh tay chân miệng, gây viêm kết mạc chảy máu, viêm màng não vô khuẩn , Coxsackie B gây viêm cơ tim ở trẻ sơ sinh, viêm đường hô hấp trên, viêm màng ngoài tim, viêm màng trong tim[4]
Trang 14Người ta cũng đã cho biết rằng týp virus EV 71 đã xuất hiện ở Đài Loan vào năm 1968 cũng như đã từng xuất hiện ở các nước Đông Nam Á như: Philipines, Indonesia, Singapore Tuy rằng đây không phải là một týp enterovirus mới nhưng đặc tính của týp virus này có độc tính rất mạnh và có khả năng làm tổn thương tổ chức thần kinh trung ương gây ra những bệnh cảnh lâm sàng nặng và hậu quả để lại xấu, hơn nữa nước ta lại nằm trong khu vực này cho nên cần cảnh giác và thận trọng khi có bệnh TCM xuất hiện [3]
1.1.2 Hình thái của virus
− Hình cầu, đường kính 27-30 nm
− Lớp capsid gồm 60 tiểu đơn vị, không có lớp bao ngoài
− Bên trong chứa RNA, là thành phần di truyền, nhân lên và gây nhiễm của
virus
− Virus nhân lên ở bào tương của tế bào bị nhiễm [3]
Hình 1.1: Một vài hình ảnh về hình thể và cấu trúc của virus Coxsackie gây bệnh TCM Nguồn:( https://huemed-univ.edu.vn/coxsackievirus-va-benh-tay-
Trang 151.1.3 Khả năng tồn tại trong môi trường bên ngoài
− Virus bị đào thải ra ngoại cảnh từ phân, dịch hắt hơi, sổ mũi
− Virus bị bất hoạt bởi nhiệt 56 0C trong vòng 30 phút, tia cực tím, tia gamma
− Virus chịu được pH với phổ rộng từ 3-9
− Bị bất hoạt bởi: 2% Sodium hyproclorite (nước Javel), Chlorine tự do
Không hoặc ít bị bất hoạt bởi các chất hòa tan lipid như: Cồn, Chloroform, Phenol,
Ether
− Ở nhiệt độ lạnh 40C, virus sống được vài ba tuần [3]
1.2 Khả năng gây bệnh của virus
1.2.1 Đặc điểm dịch tễ học
1.2.1.1 Phân bố theo thời gian
Bệnh có quanh năm, tăng mạnh ở 2 đợt: tháng 3 - 5 và tháng 9 - 12
1.2.1.2 Phân bố theo địa dư
Bệnh TCM xuất hiện khắp nơi trên thế giới Trong thời gian gần đây, dịch
TCM chủ yếu do Enterovirus 71 gây ra ở các nước Đông Nam Á Vụ dịch tại Đài
Loan năm 1998 được coi là vụ dịch lớn với hơn 100.000 người mắc, hơn 400 trẻ
phải nhập viện với các biến chứng ở hệ thần kinh trung ương, 78 trẻ tử vong [3]
Hình 1.2: Phân bố bệnh TCM trên thế giới
(Nguồn:
Trang 16Tại Việt Nam, bệnh tay-chân-miệng gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương trong cả nước; tại các tỉnh phía Nam, số mắc tập trung từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12
1.2.1.3 Phân bố theo tuổi
Bệnh có ở trẻ em dưới 10 tuổi, nhiều hơn ở dưới 5 tuổi, tập trung ở dưới 3 tuổi, đỉnh cao là 1-2 tuổi
1.2.1.4 Nguồn truyền nhiễm
Nguồn bệnh là người bệnh, người lành mang virus trong các dịch tiết từ mũi, hầu, họng, nước bọt, dịch tiết từ các nốt phỏng hoặc phân của bệnh nhân Lây nhiễm ngay từ thời gian ủ bệnh (từ 3 - 7 ngày) trước khi phát bệnh và thời kỳ lây truyền kéo dài cho đến khi hết loét miệng và các phỏng nước, dễ lây nhất là trong tuần đầu của bệnh
1.2.1.5 Phương thức lây truyền
Bệnh TCM lây truyền bằng đường “phân-miệng” và tiếp xúc trực tiếp, nhưng chủ yếu lây lan qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ mũi, hầu, họng, nước bọt, dịch tiết từ các nốt phỏng hoặc tiếp xúc với chất tiết và bài tiết của bệnh nhân trên dụng cụ sinh hoạt, đồ chơi, bàn ghế, nền nhà Đặc biệt khi bệnh nhân mắc bệnh đường hô hấp, việc hắt hơi, ho, nói chuyện sẽ tạo điều kiện cho virus lây lan trực tiếp từ người sang người [3]
1.2.1.6 Tính cảm nhiễm và miễn dịch
Bệnh TCM có tính cảm thụ cao, mọi người đều có cảm nhiễm với virus gây bệnh tay - chân - miệng, không phải tất cả mọi người nhiễm virus đều có biểu hiện bệnh mà phần lớn bệnh ở hình thái thể ẩn, không biểu hiện các triệu chứng, đây là nguồn lây nhiễm nguy hiểm; bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 15 tuổi, đặc biệt là trẻ
em dưới 5 tuổi có tỷ lệ mắc cao hơn [4]
Mọi lứa tuổi có thể bị nhiễm Enterovirus nhưng không phải tất cả đều bị
Trang 17Số liệu thống kê cho thấy rằng trẻ nhũ nhi, trẻ em và ngay cả thiếu niên, người trưởng thành nếu chưa có miễn dịch đều có thể mắc bệnh TCM
1.2.2 Gây bệnh ở người
1.2.2.1 Sự lan truyền của virus trong cơ thể
Enterovirus thường khu trú ở niêm mạc má hoặc ở niêm mạc ruột vùng hồi tràng Sau khoảng thời gian 24 giờ, virus sẽ đi đến các hạch bạch huyết xung quanh, từ đây chúng xâm nhập vào máu gây nhiễm trùng huyết trong một khoảng thời gian ngắn
Từ nhiễm trùng huyết, virus đến niêm mạc miệng và da Thời kỳ ủ bệnh thường kéo dài khoảng từ 3 – 7 ngày [3]
1.2.2.2 Biểu hiện của bệnh
Bệnh khởi phát là sốt sau đó xuất hiện các bọng nước ở niêm mạc miệng (ở nướu răng, lưỡi, bên trong má) và xuất hiện ban đỏ ở bàn tay, bàn chân Các ban
đỏ này có thể hình thành các bọng nước Đặc điểm của các ban của bệnh TCM là thường không ngứa và không xuất hiện ở lòng bàn tay hoặc lòng bàn chân Như vậy, các ban và bọng nước chủ yếu xuất hiện ở tay, chân và miệng vì vậy được gọi
là bệnh TCM Ngoài ra ở một số ít trường hợp có thể xuất hiện ở một số vị trí khác trên cơ thể như vùng mông [4]
Các bọng nước ở miệng thường vỡ ra và gây loét làm cho trẻ đau đớn, khóc nhiều, ăn kém hoặc sợ không dám ăn cho nên trẻ gầy sút nhanh Nếu các bọng nước ở tay, chân khi vỡ ra nếu không giữ vệ sinh sạch sẽ thì rất có thể bị bội nhiễm
vi khuẩn gây mưng mủ và làm cho bệnh phức tạp thêm Hầu hết các trường hợp bị bệnh TCM sẽ qua khỏi nhưng có một số nếu căn nguyên gây nên bệnh là EV71 thì
sẽ có thể bệnh diễn biến phức tạp hơn nhất là khi virus gây tổn thương hệ thần kinh trung ương sẽ thể hiện một bệnh viêm màng não điển hình với biểu hiện là sốt cao, nhức đầu, cứng cổ, buồn nôn, nôn vọt [4]
Trang 181.2.2.3 Tóm tắt các biểu hiện của bệnh
Hình 1.3: Hình ảnh bệnh tay chân miệng ở trẻ
− Loét miệng: là các bọng nước có đường kính 2-3 mm Thường khó thấy các bóng nước trên niêm mạc miệng vì nó vở rất nhanh tạo thành những vết loét, trẻ rất đau khi ăn, tăng tiết nước bọt
− Bọng nước: từ 2-10 mm, màu xám, hình bầu dục
− Bọng nước vùng mông và gối thường xuất hiện trên nền hồng ban
− Bọng nước lòng bàn tay và lòng bàn chân có thể lồi lên trên da sờ có cảm giác cộn hay ẩn dưới da, thường ấn không đau
− Bệnh có thể biểu hiện không điển hình như: bóng nước rất ít xen kẻ với những hồng ban, một số trường hợp chỉ biểu hiện hồng ban và không có biểu hiện
bóng nước hay chỉ có biểu hiện loét miệng đơn thuần [4]
Tiên lượng đối với bệnh TCM tùy thuộc vào căn nguyên gây bệnh là do Enterovirus A16 hay do EV71 Nếu do Enterovirus A16 thì thường là bệnh nhẹ
và có thể tự khỏi sau từ 7 - 10 ngày, nhưng do EV71 thì có thể có biến chứng nguy hiểm như viêm phổi, viêm cơ tim cấp hoặc viêm màng não, thậm chí gây
tử vong
1.2.2.4 Biến chứng:
− Các biến chứng thường gặp là: viêm màng não, viêm não màng não, liệt
Trang 19− Các biến chứng có thể phối hợp với nhau như: viêm não màng não, phù phổi
và viêm cơ tim trên cùng 1 bệnh nhân
− Các biến chứng này thường gây tử vong cao và diễn tiến rất nhanh có thể trong 24 giờ
− Theo các nghiên cứu tại Đài loan cho thấy biến chứng nặng thường do Enterovirus 71 [4]
1.3.Phòng bệnh
1.3.1.Nguyên tắc phòng bệnh:
− Hiện chưa có vắc xin phòng bệnh đặc hiệu
− Áp dụng các biện pháp phòng ngừa chuẩn và phòng ngừa đối với bệnh lây qua đường tiêu hoá, đặc biệt chú ý tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây [4]
Trang 20− Cách ly trẻ bệnh tại nhà Không đến nhà trẻ, trường học, nơi các trẻ chơi tập trung trong 10-14 ngày đầu của bệnh [4].
1.4.Tình hình dịch bệnh TCM trên thế giới và tại Việt Nam
1.4.1.Tình hình dịch bệnh TCM trên thế giới
EV71 được phát hiện và phân lập đầu tiên vào năm 1969 từ phân của một trẻ
bị viêm não – màng não vô khuẩn và đến 1974 đã phân lập được 20 trường hợp ở California, Mỹ (NJ.Schmidt et al 1974) [40]
Bệnh tay chân miệng do EV71 đang thực sự đe doạ tính mạng và sức khoẻ trẻ em, ở các nước châu Á như nhận định của Tổ chức y tế thế giới (2010) [45] Theo Sinovac Biotech LTd, China, năm 2009; ở Trung Quốc có hơn 1,1 triệu trẻ bị bệnh tay chân miệng với hơn 400 ca tử vong, so với gần 200 ca tử vong do bệnh cúm H1N1 trong cùng thời gian [47]
Nghiên cứu trong 1 thời gian dài, các nhà khoa học phát hiện ra rằng EV71 typ A lây lan mạnh hơn ở Califonia, trong khi đó typ B và C lại lây lan mạnh ở Viễn Đông (Châu Á) thậm chí còn lan rộng ra toàn thế giới Nói cách khác, EV71 không xảy ra chỉ ở 1 nước mà còn là vấn đề chung của toàn cầu
Những vụ dịch lớn trên thế giới: Năm 1973, 1978: Dịch TCM xảy ra tại
Nhật Bản với hơn 30.000 ca mắc; Năm 1978 dịch TCM tại Hungari với 1550 ca mắc [40]; Năm 1998 dịch TCM tại Đài Loan với 130.000 ca mắc, 405 ca nặng, hơn 80 ca tử vong [42]
Trang 21Biểu đồ 1.1 Báo cáo trường hợp mắc TCM theo tháng của Trung Quốc
Trang 221 4 7 10 13 16 19 22 25 28 31 34 37 40 43 46 49 52
Week of reporting
Ở Nhật Bản, trong tuần 31 đến 32 có tổng cộng là 5389 và 4096 trường hợp mắc TCM được báo cáo, nâng tổng số trường hợp trong năm 2018 lên 69.041 ca Điều này phù hợp với xu hướng theo mùa của cùng kỳ năm 2014 và 2016, nhưng
ít hơn so với năm 2013, 2015 và 2017
1.4.2.Tình hình dịch bệnh TCM tại Việt Nam
Tại Việt Nam bệnh TCM được xếp vào loại bệnh truyền nhiễm mới nổi Bệnh gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương trong cả nước, với sự phân bố tại các khu vực tương ứng: miền Nam: 48%, miền Bắc: 33%, miền Trung 14%, Tây Nguyên 5% Tại miền Nam dịch trầm trọng hơn miền Trung do số tử vong cao [16], [17]
Theo báo cáo của WHO, năm 2018, số lượng ca mắc TCM ở Việt Nam có giảm so với cùng kỳ 2017, tuy nhiên có xu hướng tăng dần vào các tuần tiếp theo
Trang 23Trong tuần 33 năm 2018, tổng cộng 2 378 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng và không có trường hợp tử vong đã được báo cáo từ 63 tỉnh, trong đó có 961 đã phải nhập viện Tương đồng với xu hướng theo mùa của cùng kỳ năm 2014 đến năm
2017 Tích lũy, đã có 32 956 trường hợp bệnh tay chân miệng đã được báo cáo trong năm 2018, trong đó có 17 169 trường hợp nhập viện và không có trường hợp
tử vong nào được báo cáo [46]
Biểu đồ 1.3 Tình hình mắc bệnh TCM tại Việt Nam
Nguồn: WHO [46]
Tại miền Bắc, nghiên cứu trên 51.618 trường hợp mắc bệnh, không có ca tử vong trong năm 2011 Bệnh xuất hiện ở tất cả các tỉnh/ thành miền Bắc, trong đó Hải Phòng, Hà Nội, Thanh Hóa có số mắc cao nhất với hơn 3.000 trường hợp mắc/tỉnh Ca bệnh xuất hiện ở nhiều nhóm tuổi nhưng nhiều nhất ở nhóm tuổi dưới
5 (94,2%) Bệnh phân bố ở cả 2 giới (nam 60,09%; nữ 39,91%) Phân độ lâm sàng chủ yếu là thể nhẹ (độ 1 và 2a), trong đó độ 1 chiếm đa số (79,06%); độ 2a chiếm (20,26%); các độ lâm sàng nặng (2b, 3, 4) chiếm tỷ lệ rất thấp dưới 1% Tác nhân gây bệnh gồm vi rút đường ruột Entero 71 chiếm 58,5%; vi rút Coxsackie A6 và Coxsackie A16 chiếm tỉ lệ lần lượt là 17% và 11,9%; một số loại khác như các vi
Trang 24rút Coxsackie A khác, Coxsackie B, Echo, Rhino chiếm tỷ lệ nhỏ, còn lại là các vi rút đường ruột chưa phân loại Tăng cường giám sát tình hình dịch bệnh, truyền thông về các biện pháp dự phòng bệnh là những biện pháp quan trọng để khống chế dịch trong thời gian tới [9]
Từ tháng 9 năm 2012, bệnh tay chân miệng được đưa vào hệ thống giám sát trọng điểm trong cả nước và hoạt động này tiếp tục được duy trì trong các năm
2013, 2014 Nghiên cứu này nhằm mô tả một số đặc điểm dịch tễ học bệnh Tay chân miệng trong giám sát trọng điểm khu vực miền Bắc năm 2012 - 2014 Kết quả cho thấy tổng số 402 ca bệnh được điều tra, lấy mẫu xét nghiệm trong đó chủ yếu là trẻ dưới 5 tuổi (98%); nam giới (60,7%) nhiều hơn nữ (39,3%); phần lớn các
ca tay chân miệng có độ lâm sàng nhẹ (phân độ 1, 2a chiếm 96,5%), không có trường hợp nào có phân độ lâm sàng 4 và không ghi nhận trường hợp tử vong Tỷ
lệ dương tính chung với tác nhân gây bệnh tay chân miệng là 66,7%, trong đó tác nhân gây bệnh chủ yếu tại các điểm giám sát là các vi rút CA 6 (37,3%), CA 16 (25,4%), EV71 (20,5%); Giám sát trọng điểm góp phần quan trọng trong phòng chống dịch bệnh tay chân miệng, hoạt động này cần tiếp tục được duy trì trong thời gian tới [36]
Tại miền Nam, nghiên cứu trong trong 03 năm liên tiếp 2010 - 2012 Số ca mắc/tử vong qua các năm là 10.128/6 ca (2010); 70.261/145 ca (năm 2011); 75.268/41 ca (năm 2012) và tỷ lệ mắc / tử vong (CFR) lần lượt là 0,06; 0,22 và 0,06 Các ca bệnh xảy ra quanh năm, nhưng có xu hướng tăng từ tháng 5 và đỉnh dịch vào tháng 9, 10 hàng năm Bệnh xảy ra ở tất cả 20 tỉnh/ Thành phố phía Nam trong đó các địa phương có số mắc và tử vong cao liên tục trong 3 năm là Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM), Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, Đồng Tháp có những năm lên đến 7.000 – 10.000 ca mắc/năm và 17 - 36 ca tử vong/năm Bệnh xảy ra ở cả 2 giới, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở nam cao hơn nữ và tương đồng ở
Trang 25(87,4% - 95,6% mắc và 84,8% - 90,2% tử vong ) Tử vong chủ yếu là các ca nặng -
độ 4 (69-83%) Trẻ được nhập viện sớm trong 3 ngày đầu tiên của bệnh tăng từ 51% (2011) lên 61% (2012) Tác nhân gây bệnh tay chân miệng chủ yếu là enterovirus 71 (EV71) ở các ca bệnh có phân độ lâm sàng từ IIb trở lên chiếm 75% (2011) và 79,2% (2012) ca mắc, là nguyên nhân của 85% ca tử vong mỗi năm Có
sự thay đổi thứ tuýp của EV71 trong 3 năm chuyển từ C5 sang C4 [15]
Biểu đồ 1.4 Tình hình mắc bệnh TCM tại Hồ Chí Minh năm 2018 -2019 [24]
Trong tuần 41 ghi nhận có 1.523 ca bệnh (144 ca nội trú và 1.379 ca ngoại trú), giảm 52% so với tuần 41 năm 2018 (3178 ca) Số tích lũy đến tuần 41 là 18.626 ca (gồm 2.878 ca nội trú và 15.748 ngoại trú), giảm 23,7% so với cùng kỳ
2018 (24.427 ca) Không có ca tử vong từ đầu năm đến nay [24]
Trang 26Trong 4 năm từ 2011-2014 mô hình dịch TCM tại Hà Nội là không giống nhau Có năm chỉ có 1 đỉnh dịch như năm 2011 (tháng 11) và năm 2013 (tháng 8)
Có năm có 2 đỉnh dịch như năm 2012 (tháng 3, tháng 9) và năm 2014 (tháng 5, tháng 11) [29]
Trang 27Bản đồ 1.3: Sự phân bố số mắc TCM tại Hà Nội từ năm 2011 – 2014
Trang 28dân/năm Bốn quận huyện có số mắc thấp nhất trong 4 năm là Mê Linh, Hoàn Kiếm, Long Biên, Gia Lâm, khoảng < 20 trường hợp/100.000 dân/năm [29]
Năm 2013, kết quả ghi nhận 2726 bệnh nhân lâm sàng với tỉ lệ nam/nữ là 1,67:1 Phân bố ca bệnh tay chân miệng tập trung chủ yếu ở trẻ dưới 5 tuổi (chiếm 97.7%) Các ca bệnh xuất hiện ở nội, ngoại thành Hà Nội và chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 9 Tỷ suất mắc tay chân miệng /100.000 dân tại Hà Nội là 38,5 trong đó Thanh Oai, Sơn Tây là các huyện, thị xã có tỷ suất mắc cao nhất (161 và 148) Phân tích không gian - thời gian phát hiện một chùm ca bệnh tại 15 quận, huyện, thị xã trong thời gian từ 01/6/2013 đến 01/9/2013 với bán kính 32,73 km Các đối tượng trong chùm có nguy cơ mắc tay chân miệng cao hơn các đối tượng bên ngoài 4,93 lần [13]
Bảng 1.1: Một số đặc điểm của dịch bệnh TCM tại Hà Nội
850 (19,1%)
688 (25,2%)
247 (21,1%)
1-4 tuổi
1.305 (82,8%)
3.454 (77,7%)
1.972 (72,3%)
886 (75,8%)
Nguồn: CDC Hà Nội
Trang 29Phần lớn các trường hợp mắc là nhẹ Phần lớn các ca bệnh là trẻ nhỏ dưới 5 tuổi, trong đó, nhóm trẻ từ 1-4 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất Nhóm tuổi có nguy cơ cao
là nhóm trẻ dưới 5 tuổi, thể hiện ở tỷ lệ mắc/100.000 dân ở nhóm dân số dưới 5 tuổi cao hơn nhiều lần nhóm dân số trên 5 tuổi [29]
Nghiên cứu của Trần Thị Ngọc Ánh nhằm xác định sự lưu hành và một số đặc điểm dịch tễ của EV-A71, CV-A6, CV-A16 gây bệnh Tay Chân Miệng (TCM) tại Hà Nội trong giai đoạn 2015-2017 Tổng số 197 trường hợp lâm sàng được phát hiện và lấy mẫu bệnh phẩm từ hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm tại Hà Nội, căn nguyên vi rút gây bệnh TCM được xác định bằng kỹ thuật realtime RT-PCR, kết quả khẳng định 110 (55,8%) mẫu dương tính với VRĐR 90/110 (81,8%) mẫu được lựa chọn để định týp VRĐR, kết quả cho thấy EV-A71 chiếm 31,1% (28/90); CV-A6 chiếm 31,1% (28/90); và CV-A16 chiếm10,0% (9/90); 25 mẫu là các VRĐR khác chiếm 27,8%
Tính theo tuần, Hà Nội xuất hiện bệnh rải rách theo các tuần, bắt đầu có sự tăng lên vào tuần thứ 10 của năm.Đỉnh dịch qua các năm rơi vào các tháng khác nhau
Tình hình dịch bệnh ngày càng phức tạp đòi hỏi có sự chung tay góp sức , tập trung thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho trẻ dưới 5 tuổi là cần thiết như tăng cường truyền thông cách phòng bệnh TCM cho giáo viên, bảo mẫu trong các trường mầm non, mẫu giáo, cho phụ huynh học sinh Tăng cường giám sát và áp dụng các biện pháp phòng chống dịch kịp thời đặc biệt vào mùa tựu trường Kết hợp chặt chẽ giữa giám sát dịch tễ học và vi sinh học làm cơ sở thúc đẩy nghiên cứu, sản xuất vắc xin phòng bệnh TCM
1.4.2.2 Tình hình dịch bệnh TCM tại quận Hà Đông:
- Bệnh tay chân miệng là một bệnh rất được quan tâm , chỉ đạo của ban lãnh đạo trong công tác phòng chống bệnh tay chân miệng trên địa bàn quận Hà Đông,
Trang 30năm 2018 có 103 ca mắc bệnh tay chân miệng Xuất hiện dải rác theo các tháng
trong năm 2018 [35]
Biểu đồ: 1.6 Biểu đồ thể hiện số mắc tay chân miệng trong năm 2018 của quận Hà Đông (Nguồn: Báo cáo tình hình dịch bênh quận Hà Đông năm 2018)[35]
- Tình hình dịch bệnh Tay chân miệng phường Hà Cầu: Trong năm 2018,
phường Hà Cầu có tổng số 14 trường hợp mắc bệnh Tay chân miệng chiếm 13,7 % tổng số ca bệnh trong toàn quận Bệnh nhân là những bé trong độ tuổi đến trường
và chủ yếu được nghi nhận là có ghi ngờ mối liên quan giữa các bệnh nhân trong trong quá trình đi nhà trẻ Như vậy, việc chăm sóc và phòng bệnh TCM cho trẻ ở trường học mầm non cũng góp phần quan trọng trong công tác phòng bệnh TCM
trên địa bàn [35]
1.5 Một số nghiên cứu về kiến thức - thái độ - thực hành và một số yếu
tố liên quan ở thế giới và Việt Nam về phòng chống bệnh TCM
1.5.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Trong một nghiên cứu cắt ngang tại tinh Surin, Thái Lan của tác giả
NawKuKu năm 2007 thực hiện trên 124 người chăm sóc trẻ ở mẫu giáo và nơi giữ trẻ và trường tiểu học (một nửa số người được hỏi đến từ trường mẫu giáo và trung
Trang 31tâm giữ trẻ còn một nửa là cô nuôi dạy trẻ trường tiểu học) Mục đích của nghiên cứu nhằm đánh gía kiến thức, nhận thức và hành vi của người chăm sóc trẻ đối với bệnh tay chân miệng Theo kết quà cùa nghiên cứu có 98,4% đối tượng là nữ; tuổi trung bình là 45 và 79,8% đã kết hôn về trình độ học vấn 87,9% có bằng cử nhân
[43]
Nghiên cứu hồi cứu của Dingmei Zhang và cộng sự [62] để điều tra các yếu
tố nguy cơ liên quan đến bệnh TCM, nghiên cứu trên 99 và 126 giám sát đã được mời tham gia ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc Kết quả cho thấy sử dụng thực phẩm, thói quen rửa tay và vệ sinh ga giường có liên quan đến các trường hợp mắc bệnh TCM, tuổi già (OR = 0,44, 95%CI: 0,34-0,56), rửa tay trước bữa ăn (OR = 0,3, 95%CI: 0,13-0,70) là yếu tố bảo vệ, có liên quan đến nguy cơ mắc bệnh TCM gia tăng, nghiên cứu cho rằng, nên rửa tay và vệ sinh ga giường để ngăn ngừa bệnh TCM, tuy nhiên cần phải nghiên cứu thêm để kiểm tra các yếu tố nguy cơ khác [41].Nghiên cứu của Ruttiya Charoenchokpanit và Tepanata Pumpaibool năm 2013 cho thấy nhiều đặc điểm nhân khẩu học đã ảnh hưởng đến kiến thức và hành vi phòng bệnh TCM, thu nhập gia đình và giáo dục có liên quan đến tất cả các KAP, những phát hiện từ nghiên cứu này làm nổi bật nhu cầu cung cấp thêm thông tin về bệnh TCM cho người chăm sóc tại nhà đặc biệt là trong số những người chăm sóc
có thu nhập thấp và trình độ học vấn thấp [44]
Nghiên cứu của Jakrapong Aiewtrakun và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu
mô tả trên 388 người chăm sóc trẻ tại các trường mẫu giáo của thành phố Khon Kaen, Thái Lan năm 2012 [71], kết quả cho thấy tỷ lệ ĐTNC có đủ kiến thức để phát hiện và kiến thức phòng bệnh TCM tương ứng là 95% và 39,8%, chỉ có 35% ĐTNC biết phải rửa tay với xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh Trong thời gian dịch bùng phát, 17 23,7% ĐTNC không cho tránh tiếp xúc giữa các trẻ bệnh
và 19,1% ĐTNC không báo cho cơ sở y tế biết [39]
Trang 321.5.2.Một số nghiên cứu tại Việt Nam
Lê Thị Kim Ánh , Đỗ Thị Thùy Chi, Lưu Thị Hồng (2013) nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành và một yếu tố liên quan đến phòng bệnh tay chân miệng của cô nuôi dạy trẻở các trường mầm non tai huyện Lương Sơn, Hòa Bình, năm 2013”[15] Nghiên cứu được thực hiện trên 15 trong tổng số 24 trường mầm non của huyện Lương Sơn, Hòa Bình Kết quả nghiên cứu đã cho thấy phần lớn giao viên biết đến 3 triệu chứng của bệnh là nốt phỏng nước, bỏng nước ở miệng, tay, chân, mông, gối và sốt nhẹ, loét ở miệng Hầu hết các cô nuôi dạy trẻ đều có thái
độ tích cực khi quan tâm đến bệnh và việc phòng ngừa bệnh trong nhà trường Phần lớn cô nuôi dạy trẻthực hành rửa tay cho bản thân sau khi đi vệ (89,1%) và trước khi ăn (81,8%) Tỷ lệ cô nuôi dạy trẻ luôn luôn sử dụng xà phòng và sử dụng
xà phòng trong lần rửa tay gần đây chiếm tỷ lệ khá cao( 79,1% và 92,3%) Kết quả nghiên cứu đã tìm ra mối liên quan giữa yếu tố trình độ học vấn, số năm kinh nghiệm với kiến thức về bệnh TCM (p<0,05) Điểm đăc biệt trong nghiên cứu này
là đối với cô nuôi dạy trẻ phụ trách ít trẻ hơn có thực hành rửa tay cho bản thân và lau rửa đồ chơi cho trẻ tốt hơn
Nghiên cứu của Trần Thị Anh Đào và cộng sự [13], 597 bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở huyện Long Thành, Đồng Nai cho thấy có 43,7% bà mẹ có kiến thức chung tốt về phòng bệnh TCM, trong đó 30,2% biết đúng về đường lây truyền của bệnh, 64,2% biết đúng dấu hiệu đặc trưng của bệnh, 75,0 - 85,9% biết đúng các biện pháp phòng bệnh Nghiên cứu cũng chỉ ra trình độ học vấn, nghề nghiệp có mối liên quan đến kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM của ĐTNC Bà mẹ có trình
độ học vấn dưới THCS có tỷ lệ thực hành đúng thấp hơn (29,76%) những bà mẹ có học vấn từ THPT trở lên (47,4%), những bà mẹ là cán bộ công nhân viên (CBCNV) có tỷ lệ thực hành đúng cao hơn những đối tượng khác, sự khác biệt này
có ý nghĩa thống kê [7]
Trang 33Kết quả nghiên cứu của Phan Trọng Lân và cộng sự về kiến thức, thực hành phòng, chống bệnh TCM năm 2013 trên 250 người chăm sóc trẻ chính của trẻ dưới
5 tuổi và yếu tố liên quan đển thực hành phòng bệnh cho thấy có 37,2% bà mẹ có kiến thức không đạt về phòng bệnh TCM và 54,8% thực hành phòng chống bệnh TCM không đạt Kết quả nghiên cúu cho thấy có mối liên quan, có ý nghĩa thống
kê giữa nghề nghiệp, trình độ học vấn và kiến thức, thực hành phòng, chống bệnh TCM của đổi tượng nghiên cứu ĐTNC có nghề nghiệp là cán bộ, công nhân viên chức có kiến thức phòng chống bệnh TCM đạt cao hơn những người làm ruộng (p<0,05) [5]
Cao Thị Thuý Ngân (2012) tiến hành nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh TCM tại phường Trung Liệt, quận Đống Đa – Hà Nội, nghiên trên đối tượng là bà mẹ có con dưới 3 tuổi Kết quả của nghiên cứu này cho thấy:
tỷ lệ ĐTNC có kiến thức không đạt là 58,5% (61,2% ĐTNC không biết về triệu chứng bệnh; 19,2% không biết về đường lây truyền); tỷ lệ có thực hành không đúng về phòng chống bệnh TCM chung là 69,5% (trong đó tỉ lệ có rửa tay bằng xà phòng là 53,3%; 42,2% có lau rửa sàn nhà và 29,5% lau rửa đồ chơi cho trẻ) Nghiên cứu cũng không loại trừ các bà mẹ đã có con bị mắc bệnh TCM trước đó đến thời điểm nghiên cứu [22]
Nghiên cứu của Bùi Duy Hưng năm 2013 cho thấy chỉ có 14,0% bà mẹ có thực hành tốt về bệnh TCM; trong đó phần lớn bà mẹ có thực hành ở mức độ trung bình (43,4%) và kém (42,6%) đối với bệnh TCM Việc thực hành đúng về rửa tay của người chăm sóc trẻ chỉ đạt 11,2%; việc thực hành cho trẻ rửa tay bằng xà phòng và hướng dẫn trẻ rửa tay bằng xà phòng cũng chỉ đạt 28,4%, việc ngâm rửa
đồ chơi của trẻ bằng xà phòng ít nhất 1 lần/1 tuần đạt 47,0% và còn có khoảng 1/3
số bà mẹ tham gia nghiên cứu không thực hành đúng việc xử lý phân của trẻ bị TCM [14]
Trang 34Kết quả của Nguyễn Như Nga (2017) nghiên cứu về “Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng chống bệnh tay chân miệng của cô nuôi dạy trẻ tại huyện Tam Đường, Tỉnh Lai Châu năm 2017” Kết quả cho thấy tỷ lệ cô nuôi dạy trẻcó kiến thức chung đạt về phòng bệnh TCM là 35,2%; tỷ lệ cô nuôi dạy trẻ
có kiến thức chung không đạt là 64,8%[20] Tỷ lệ cô nuôi dạy trẻ có kiến thức chung đạt rất thấp so với những cô nuôi dạy trẻ có kiến thức không đạt Qua đánh giá thực hành rửa tay của giáo viên, tỷ lệ cô nuôi dạy trẻ có thực hành đúng về lau chùi sàn nhà nơi trẻ chơi đùa, rửa tay cho trẻ và vệ sinh ăn uống lần lượt là 91,4%, 85% và 80% Tuy nhiên, tỷ lệ thực hành đúng về rửa tay cho bản thân và cho trẻ còn thấp hơn rất nhiều Phần lớn cô nuôi dạy trẻ thực hiện rửa tay cho minh sau khi
đi vệ sinh (89,1%); trước khi ăn (81,8%) Tỷ lệ cô nuôi dạy trẻ luôn sử dụng xà phòng 79,5% và sử dụng xà phòng trong lần rửa tay gần đây nhất là 93,2% [21] Nghiên cứu về kiến thức - thái độ - thực hành của bàmẹ có con dưới 5 tuổi tại
phường Đồng Tiến, thành phố Hòa Bình năm 2016 của Trương Thị Hằng cho thấy
phần lớn các bà mẹ thuộc độ tuổi từ 20 – 40 tuổi ĐTNC sống trong khu vực nghiên cứu chủ yếu có trình độ học vấn từ THPT trở lên, chiếm 93,2% Dân tộc chủ yếu là dân tộc Kinh (84,6%) và dân tộc Mường (15%) Tỷ lệ các bà mẹ có người thân và bạn bè mắc bệnh khá cao, chiếm 62,1% Tỷ lệ các bà mẹ đã từng nghe về bệnh là 91,8% và chưa nghe về bệnh là 5% không nhớ là 3,2% Các bà
mẹ được nghe thông tin về bệnh chủ yếu từ truyền hình, truyền thanh (65,4%), và người thân, bạn bè, hàng xóm…(62,5%) Các nguồn thông tin trên đều sử dụng ngôn ngữ, âm thanh, hình ảnh hay được trao đổi với những người đã từng biết về bệnh làm cho các bà mẹ dễ tiếp nhận thông tin Tuy nhiên, nguồn thông tin từ sách báo tạp chí, áp phích… không cao chiếm 43,2% chứng tỏ các bà mẹ vẫn chưa chủ động tìm hiểu về bệnh TCM Bên cạnh đó nguồn thông tin qua CBYT (30,7%) còn tương đối thấp[14]
Trang 35Nghiên cứu của Đào Bảo Thoa năm 2015 về “Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của phụ huynh có trẻ nhỏ dưới 5 tuổi của phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, Phú Thọ về phòng chống bệnh tay chân mMiệng năm 2015” cho thấy
tỷ lệ phụ huynh có kiến thức đúng về phòng chống bệnh TCM còn rất thấp (<50%) Các nội dung có tỷ lệ đối tượng có kiến thức đúng còn thấp bao gồm: hiểu biết về các triệu chứng nghi ngờ mắc bệnh là 19,3%, các dấu hiệu bệnh nặng 18,3%, biết cách phòng chống bệnh là 27,3% Bên cạnh đó, những thông tin đơn giản, dễ nắm bắt thì phụ huynh nắm rõ hơn: tỷ lệ ĐTNC biết bệnh có thể lây truyền được 80,3%, người bị bệnh rồi có thể bị nhiễm lại 60,8% và tỷ lệ phụ huynh sẽ đưa người bệnh đến cơ sở y tế khi người thân có dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh 61,8% Hiểu biết về lứa tuổi dễ mắc bệnh TCM 58,3%, nguyên nhân gây ra bệnh 58% và chưa có vắc xin phòng bệnh 50,3% [32]
Nghiên cứu của Huỳnh Kiều Chinh trên 780 bà mẹ có con dưới 5 tuổi hiện đang sống tại huyện Dương Minh Châu vào tháng 7 năm 2013 cho thấy kiến thức chung đúng là 32%, thái độ chung đúng là 74%, thực hành chung đúng là 44% Bà mẹ có kiến thức chung đúng sẽ có thực hành chung đúng gấp 1,99 lần so với các bà mẹ không có kiến thức chung đúng Bà mẹ học vấn cao có khuynh hướng thực hành đúng nhiều hơn 2,2 lần các bà mẹ học vấn thấp, với p < 0,001 Bà
mẹ nghề nghiệp lao động trí óc thực hành đúng nhiều hơn 1,81 lần so với bà
mẹ lao động chân tay, với p < 0,001 [6]
Nghiên cứu của Hồ Thị Thiên Ngân và cộng sự [35], khảo sát trên 837 người trực tiếp chăm sóc trẻ tại 15 tỉnh phía Nam cho thấy, có mối liên quan có ý nghĩa thống kê về trình độ học vấn, nghề nghiệp của người chăm sóc trẻ với thực hành phòng bệnh TCM, người chăm sóc trẻ có trình độ đại học/cao đẳng thực hành đúng cao hơn 15,1 lần so với người chưa học hết THCS, người chăm sóc trẻ là cán
bộ công chức thực hành đúng gấp 8 lần công nhân (p<0,001 và 95%CI = 0,71 –
Trang 360,9); gấp 4,5 lần nông dân (p <0,0001 và 95CI: 0,37 – 0,56); và gấp 8 lần nội trợ (p
=0,005 và 95%CI: 0,71 - 0,94) [23]
Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Võ Thị Tiến cho thấy đa số bà mẹ biết về nguyên nhân gây bệnh tay chân miệng, hiểu biết về vi rút gây bệnh, biết khi trẻ bị sốt, loét miệng, nổi bóng nước lòng bàn tay, lòng bàn chân nhưng các dấu hiệu trở nặng của bệnh tay chân miệng vẫn còn biết ít Trong chăm sóc sức khoẻ tại nhà khi trẻ sốt, đa số đã biết thực hành đúng 92% bà mẹ biết rằng tay chân miệng là 1 bệnh nguy hiểm, còn 8% không biết rõ về bệnh tay chân miệng Có sự liên quan giữa kiến thức, thái độ với hành vi phòng chống bệnh tay chân miệng; giữa tuổi, trình độ văn hoá và nghề nghiệp với sự hiểu biết về phòng chống bệnh tay chân miệng (p<0,05) [33]
1.6 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu
Hình 1.4 Bản đồ phường Hà Cầu, quận Hà Đông
Trang 37Quận Hà Đông là một quận thuộc thủ đô Hà Nội, nằm bên bờ sông Nhuệ, cách trung tâm Hà Nội 11km về phía Tây Quận Hà Đông là một quận có tốc độ phát triển về kinh tế, xây dựng cơ bản rất nhanh, đã và đang triển khai nhiều khu
đô thị mới như Văn Quán, Mỗ Lao, Văn Phú, trục đô thị phía Bắc các trường đại học, các bệnh viện quốc tế với số vốn huy động hàng nghìn tỷ đồng, tuy nhiên kéo theo đó lại là số lượng lớn lao động tự do đến cư trú, là nơi tạm trú cho các sinh viên, học sinh Làm mật độ dân cư tăng cao, đây cũng chính là những điều kiện thuận lợi cho dịch bệnh nguy hiểm phát triển trên địa bàn quận, đặc biệt là bệnh Tay chân miệng
Phường Hà Cầu nằm ở trung tâm của quận Hà Đông, là địa bàn có nhiều khu vực giáp canh, giáp cư với các phường Nguyễn Trãi, Quang Trung, Phú La, La Khê và Kiến Hưng Tổng diện tích đất tự nhiên 152,27 ha, được chia thành 14 tổ dân phố với 3.841 hộ và 14.876 nhân khẩu Phường có 14 cơ sở mầm non đang hoạt động Trong đó có 2 trường công lập và 12 trường mầm non dân lập Với tổng
số trẻ đang trông giữ là 1947 trẻ Số cô giáo đang công tác trên 1 năm là 244 cô [8]
Trang 381.7 Khung lý thuyết nghiên cứu
-Vệ sinh
cá nhân -Vệ sinh cho trẻ -Thực hành về rửa tay
Thái độ:
- Không quan tâm đến bệnh
- Tránh xa cách ly khi
có trẻ bị bệnh- thực hành về làm sạch
đồ chơi, không cho trẻ bệnh đến lớp khi mắc bệnh TCM
Yếu tố liên quan:
- Nhà cô giáo, trường có trẻ đã mắc bệnh
- Nguồn thông tin, nôi dung thông tin được tiếp cận
- Lãnh đạo trường quan tâm
- Sĩ số lớp…
Nguồn thông tin muốn biết
về bệnh TCM:
- Mức độ nhận được thông tin
về bệnh
- Nguồn thông tin mong muốn được tiếp cận
Kiến thức
- Đường lấy truyền, tiếp xúc với dịch mụn nước, trong miệng, phân của bệnh nhân
- Biểu hiện của bệnh: Sốt nhẹ, nổi mụn nước
-Biện pháp phòng dịch rửa tay bằng
xà phòng, ăn chín uống sôi, thường xuyên lau chùi đồ chơi, nhà cửa, cốc
-Cách ly học sinh
có biểu hiện nghi ngờ và báo với cán bộ y tế và gia đình
Yếu tố thuộc về cá nhân
Trang 39CHƯƠNG 2:
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các cô giáo nuôi dạy trẻ tại các trường mầm non công lập và dân lập trên địa bàn Phường Hà Cầu - Hà Đông - Hà Nội
+ Cô nuôi dạy trẻ không đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Giáo viên không trực tiếp chăm sóc trẻ
2.1.2 Thời gian và địa điềm nghiên cứu
− Thời gian tiến hành nghiên cứu: Từ tháng 3/2019 đến tháng 6/2019
− Địa điểm nghiên cứu: Phường Hà Cầu, quận Hà Đông,TP Hà Nội
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, có phân tích 2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Trang 40Cỡ mẫu: Tính theo công thức
Trong đó:
− n là cỡ mẫu tối thiểu
− : Hệ số tin cậy, với độ tin cậy 95% ( α = 0,05) = 1,96
− p: Là tỷ lệ giáo viên các trường mầm non có kiến thức chung về phòng bệnh tay chân miệng đạt Lấy p = 0,76 (theo nghiên cứu của Nguyễn Nhựt Duy năm 2017) [10]
− d là sai số tuyệt đối cho phép, lấy d= 0,07
Thay vào công thức, tính được n = 1,962 x 0,76 x (1-0,76) / 0,072 = 143 người Dự trù thêm 20% sai số có thể gặp Tổng số mẫu cần cho nghiên cứu là
172 Trên thực tế có 173 cô nuôi dạy trẻ tham gia vào nghiên cứu
Phương pháp chọn mẫu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn Bước 1: lập danh sách cô nuôi dạy trẻ tại 14 trường mầm non công lập và tư thục trên địa bàn phường Hà Cầu theo vần ABC, tổng số cô nuôi dạy trẻ là 244 người Bước 2: đánh
số thứ tự cô nuôi dạy trẻ trong danh sách từ 1-244 Bước 3: Sử dụng lệnh Randbetween trong Excel để chọn ngẫu nhiên ra 172 cô nuôi dạy trẻ tham gia vào nghiên cứu
2.3 Các nội dung nghiên cứu chính
− Nội dung 1: Điều tra thực trạng: Kiến thức - thực hành của ĐTNC về phòng
chống bệnh TCM( qua phỏng vấn trực tiếp)
− Nội dung 2: Phân tích mối liên quan giữa: Tuổi, số năm công tác, trình độ
học vấn, số con, số học sinh quản lý và kiến thức - thái độ - thực hành của ĐTNC
về phòng chống bệnh TCM
+ Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ của ĐTNC