Về mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với một số yếu tố Trong nghiên cứu này, CLCS của sinh viên có liên quan có ý nghĩa thống kê với yếu tố giới tính, thành tích học tập, người đan[r]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
- -
NGUYỄN THỊ BÍCH LIỄU
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG NĂM HỌC 2018 -2019
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Hà Nội, 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG KHOA KHOA HỌC SỨC KHOẺ
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Đào Xuân Vinh
Hà Nội, 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau đai học và Quản
lý khoa học, cùng tập thể thầy, cô giáo Bộ môn Y tế công cộng, Trường Đại
học Thăng Long đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức quý báu, và
tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đào Xuân Vinh, giảng
viên Bộ môn Y tế công cộng, Trường Đại học Thăng Long là người đã dành
nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn, quan tâm và giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình thực hiện và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Th.S Ngô Thị Thu Hiền cùng tập thể nhóm
nghiên cứu, Bộ môn Y tế Công Cộng, Trường Đại học Thăng Long đã nhiệt
tình hỗ trợ tôi trong quá trình triển khai thu thập và phân tích số liệu để
hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn các bạn sinh viên Trường Đại học
Thăng Long đã nhiệt tình giúp đỡ, tích cực phối hợp và hỗ trợ tôi trong quá
trình thu thập số liệu phục vụ đề tài nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè,
đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi để tôi yên tâm học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng 10 năm 2019
Học viên
Nguyễn Thị Bích Liễu
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:
- Phòng Sau đại học và Quản lý khoa học
- Bộ môn Y tế công cộng
- Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi
Số liệu trong luận văn là một phần số liệu trong đề tài “Chất lượng cuộc sống
và sức khỏe tâm thần ở sinh viên Trường Đại học Thăng Long, năm học
2018-2019 và một số yếu tố liên quan” đã được phép sử dụng bởi chủ nhiệm đề tài
và nhóm nghiên cứu Các số liệu, kết quả trong luận văn này là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu có điều gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 10 năm 2019
Học viên
Nguyễn Thị Bích Liễu
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số khái niệm cơ bản 3
1.1.1 Khái niệm chất lượng cuộc sống 3
1.1.2 Khái niệm sinh viên và đặc điểm của sinh viên hiện nay 4
1.2 Một số tiêu chí đánh giá và công cụ đo lường chất lượng cuộc sống 6
1.3 Các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống trên thế giới và Việt Nam 10
1.3.1 Các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống trên thế giới 10
1.3.2 Các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống tại Việt Nam 13
1.4 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của sinh viên 15
1.5 Vài nét về địa điểm nghiên cứu 17
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 20
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 20
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 20
2.2 Phương pháp nghiên cứu 20
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 20
2.2.2 Cỡ mẫu 20
2.2.3 Chọn mẫu 21
Cách chọn mẫu: Nhóm nghiên cứu sẽ lập danh sách các lớp sinh viên năm thứ nhất và sinh viên năm thứ tư đang học tập trong Học kỳ I năm học 2019 – 2020 tại Trường Đại học Thăng Long Tại mỗi lớp, tiến hành chọn chủ đích sinh viên tình nguyện tham gia nghiên cứu đến khi đủ số lượng 400 sinh viên cho từng nhóm sinh viên 22
2.3 Các biến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá 22
2.3.1 Các biến số, chỉ số nghiên cứu 22
2.3.2 Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cuộc sống 25
Trang 62.3.3 Tiêu chuẩn đánh giá chỉ số khối cơ thể 25
2.3.4 Tiêu chuẩn phân loại cường độ hoạt động thể lực 26
2.4 Quy trình thu thập thông tin 26
2.5 Xử lý và phân tích số liệu 29
2.6 Sai số và biện pháp khống chế sai số 29
2.7 Hạn chế nghiên cứu 30
2.8 Đạo đức nghiên cứu 30
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 31
3.1.1 Đặc điểm xã hội, nhân khẩu học 31
3.1.2 Thông tin tình trạng sức khoẻ của đối tượng nghiên cứu 35
3.2 Thực trạng chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu 39
3.3 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu 42
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 57
4.1 Về thực trạng chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu 57
4.2 Về mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với một số yếu tố 60
KẾT LUẬN 67
KHUYẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 1 74
PHỤ LỤC 2 84
Trang 7
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
(Xác định các triệu chứng tóm tắt)
Dimensions-5 Level (Chất lượng cuộc sống châu Âu với 5 lĩnh vực và 5 cấp độ)
Y tế thế giới) WHOQOL_BREF World health organization quality of life
(Bộ câu hỏi của Tổ chức Y tế Thế giới để đánh giá chất lượng cuộc sống)
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 1 Đặc điểm sinh viên theo các ngành năm học 2018 - 2019 17
Bảng 2 1 Phân bố mẫu nghiên cứu (n = 800) 22
Bảng 2.2 Biến số, chỉ số nghiên cứu 22
Bảng 2 3 Sai số và biện pháp khắc phục 29
Bảng 3.1 Một số đặc điểm nhân khẩu học của sinh viên 31
Bảng 3.2 Đặc điểm gia đình của sinh viên 32
Bảng 3.3 Tình trạng chi tiêu trung bình/ tháng của sinh viên 33
Bảng 3 4 Tình hình nguồn tài chính chi tiêu trong năm học của sinh viên 34
Bảng 3.5 Cảm nhận cá nhân về tài chính hiện tại của sinh viên 34
Bảng 3 6 Chỉ số khối cơ thể của sinh viên 35
Bảng 3.7 Tình hình mắc bệnh mạn tính của sinh viên 35
Bảng 3 8 Tình hình những sự kiện căng thẳng trong 12 tháng qua của sinh viên 37
Bảng 3.9 Tình hình hoạt động thể lực của sinh viên 38
Bảng 3 10 Tình hình hút thuốc và sử dụng rượu bia của sinh viên 39
Bảng 3 11 Điểm trung bình chất lượng cuộc sống của sinh viên theo một số yếu tố xã hội và nhân khẩu học 40
Bảng 3 12 Điểm chất lượng cuộc sống theo 8 lĩnh vực của sinh viên 41
Bảng 3 13 Phân loại chất lượng cuộc sống của sinh viên theo năm học 42
Bảng 3 14 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với giới tính 42
Bảng 3 15 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với ngành học 43
Bảng 3 16 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với năm học 43
Bảng 3 17 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống và xếp loại học tập của đối tượng nghiên cứu 44
Bảng 3 18 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với nguồn tài chính 45
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với tình trạng nhà ở của đối tượng nghiên cứu 45
Bảng 3 20 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với thứ tự con trong gia đình của đối tượng nghiên cứu 46
Bảng 3 21 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với đối tượng sống chính cùng 46
Trang 9Bảng 3 22 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với số anh/chị em ruột trong gia đình 47 Bảng 3 23 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống của sinh viên với tình trạng chi tiêu trung bình 47 Bảng 3 24 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với tình hình tài chính 48 Bảng 3.25 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với tiền sử mắc bệnh tâm thần kinh của người thân trong gia đình 49 Bảng 3 26 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống của sinh viên với tình trạng BMI 50 Bảng 3 27 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống của sinh viên với hoạt động thể lực 50 Bảng 3 28 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống của sinh viên với tình trạng mắc bệnh mạn tính của sinh viên 50 Bảng 3 29 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với tình trạng bị ốm/tai nạn trong
4 tuần qua của sinh viên 52 Bảng 3 30 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với sự kiện gây căng thẳng trong
12 tháng qua của sinh viên 53 Bảng 3.31 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với hành vi sức khỏe 55 Bảng 3.32 Phân tích hồi quy đa biến giữa chất lượng cuộc sống với một số yếu tố 55
Trang 10DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình 1 1 Khung lý thuyết nghiên cứu 19
Hình 2 2 Sơ đồ nghiên cứu 28
Biểu đồ 3.1 Xếp loại học tập của sinh viên 32
Biểu đồ 3.2 Tình trạng bị ốm/tai nạn trong 4 tuần qua của sinh viên 36
Biểu đồ 3.3 Tiền sử mắc bệnh về tâm thần trong gia đình sinh viên 38
Biểu đồ 3.4 Phân loại chất lượng cuộc sống của sinh viên 41
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Sinh viên cũng là một nhóm dân số đặc biệt trong xã hội và là nhóm liên quan nhiều đến các vấn đề về sức khỏe, lại đang trong quá trình chuyển tiếp quan trọng của cuộc đời Trong đó, sinh viên đang đi lên từ thời niên thiếu đến khi trưởng thành và trong giai đoạn này cũng tập trung nhiều những quyết định lớn trong cuộc đời của họ Mối quan tâm, gánh nặng và lo lắng của sinh viên khác với các nhóm dân số khác Sinh viên phải chịu các loại stress khác nhau, chẳng hạn như áp lực học tập, các vấn đề xã hội và các vấn đề tài chính Như vậy, họ dễ bị phát triển các vấn đề về tinh thần, có thể ảnh hưởng đến thành tích học tập và chất lượng cuộc sống của họ [41]
Chất lượng cuộc sống là một khái niệm rộng, nó bao gồm nhiều giá trị tích cực như hạnh phúc, sự thành công, thịnh vượng, sức khoẻ, và sự hài lòng Chất lượng cuộc sống đã trở thành một công cụ quan trọng trong đánh giá chất lượng chăm sóc sức khoẻ của sinh viên đại học là một vấn đề quan trọng để giải quyết các vấn đề về thể chất, tinh thần, xã hội càng sớm càng tốt và cũng là một trong các yếu tố quan trọng để tạo ra các nhà lãnh đạo trong tương lai cho quốc gia phát triển [45] Các nhà khoa học trên thế giới hiện nay không chỉ quan tâm đến vấn đề sức khỏe thể chất trong đánh giá sức khỏe cho mọi đối tượng trong
xã hội mà còn quan tâm rất nhiều khái niệm về sức khỏe tinh thần, các yếu tố xã hội được tổng hợp trong các nghiên cứu chất lượng cuộc sống Đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới về chất lượng cuộc sống của sinh viên trong các trường đại học, một số nghiên cứu đã cho thấy rằng nhiều vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của sinh viên như tuổi, khu vực sống, giới, chuyên ngành học,… [38]
Tại Việt Nam hiện nay chất lượng cuộc sống cũng đang là vấn đề được quan tâm tìm hiểu cho các đối tượng khác nhau trong tình hình đời sống xã hội ngày một nâng cao Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu tập trung đánh giá chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi, hay cho bệnh nhân suy thận mãn bệnh nhân
mổ sỏi mật, bệnh nhân bị zona thần kinh, bệnh nhân alzheimer, chưa có nhiều
Trang 12nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống cho các đối tượng sinh viên [8] Do
đó, việc tiến hành nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống của sinh viên để đưa ra các giải pháp thích hợp nâng cao chất lượng cuộc sống của sinh viên là rất cần thiết
Trường Đại học Thăng Long là trường ngoài công lập đào tạo bậc đại học đầu tiên tại Việt Nam Trường Đại học Thăng Long hoạt động trên nguyên tắc: không vì mục tiêu lợi nhuận, tạo một môi trường giáo dục lành mạnh, tôn trọng tính trung thực, tình yêu thương và tinh thần hợp tác Với truyền thống 30 năm xây dựng và phát triển không ngừng, Trường Đại học Thăng Long đã khẳng định tên tuổi và chất lượng đào tạo với gần 2000 sinh viên tốt nghiệp mỗi năm, góp phần đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước [12] Bên cạnh vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo, Ban lãnh đạo đã tạo điều kiện cải thiện chất lượng cuộc sống của sinh viên
Tuy nhiên, thực trạng chất lượng cuộc sống của sinh viên Trường Đại học Thăng Long như thế nào? và có những yếu tố nào liên quan đến chất lượng cuộc sống của họ? Cho đến nay, chưa có nghiên cứu được thực hiện tại trường để trả
lời các câu hỏi đó Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng chất lượng cuộc sống của sinh viên Trường Đại học Thăng Long năm học
2018 - 2019 và một số yếu tố liên quan” với hai mục tiêu:
1) Mô tả thực trạng chất lượng cuộc sống của sinh viên trường Đại học Thăng Long năm học 2018 - 2019
2) Phân tích một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu
Trang 13
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm chất lượng cuộc sống
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, chất lượng cuộc sống là một khái niệm đa chiều, là một thuật ngữ được sử dụng để đánh giá chung nhất về các mức độ tốt đẹp của cuộc sống đối với các cá nhân và trên phạm vi toàn xã hội cũng như đánh giá về mức độ sự sảng khoái, hài lòng (satisfied) hoàn toàn về thể chất, tâm thần và xã hội Chất lượng cuộc sống là nhận thức của một cá nhân về vị trí của
họ trong cuộc sống trong bối cảnh văn hoá, và hệ thống giá trị mà họ sống liên quan đến mục tiêu, kỳ vọng, tiêu chuẩn và mối quan tâm của họ Chất lượng cuộc sống là thước đo về phúc lợi vật chất và giá trị tinh thần Trong thời đại ngày nay, việc không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người là một nỗ lực của các nhà nước (Chính phủ), xã hội và cả cộng đồng quốc tế [48]
Trước công nguyên, Aristotle đã định nghĩa “chất lượng cuộc sống” là một “cuộc sống tốt” hoặc “công việc trôi chảy” [15] Năm 1948, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa về sức khỏe “Sức khỏe là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không đơn thuần là không có bệnh hay tàn tật” [48] Từ đó CLCS được coi là vấn đề quan trọng của cuộc sống con
người và rất nhiều các nghiên cứu về CLCS được thực hiện đề cập đến nhiều khía cạnh của cuộc sống liên quan đến sức khỏe cũng như các yếu tố khác như tinh thần, xã hội, tâm lý/tâm linh, kinh tế… liên quan đến mức độ hài lòng hay không hài lòng của đối tượng nghiên cứu thông qua rất nhiều bộ công cụ đo lường để xây dựng một bức tranh toàn diện về CLCS của các nhóm đối tượng khác nhau Mặc dù vậy, khái niệm chất lượng cuộc sống cho đến nay vẫn chưa
có một định nghĩa thống nhất toàn cầu về CLCS [9]
Chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của con người được đánh giá là thước đo "vô hình" mang nặng tính chủ quan Theo công bố năm 1995 của WHO, CLCS là “những cảm nhận của các cá nhân về cuộc sống của họ trong
Trang 14bối cảnh văn hóa và các hệ thống giá trị mà họ đang sống, liên quan đến các mục đích, nguyện vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm của họ” [24]
Theo Barcaccia, Barbara, 2013, chất lượng cuộc sống là hạnh phúc chung của các cá nhân và xã hội, bao gồm những đặc điểm tích cực và tiêu cực của cuộc sống Nó thể hiện sự hài lòng của cuộc sống, bao gồm tất cả khía cạnh sức khoẻ thể chất, gia đình, giáo dục, việc làm, sự giàu có, an toàn, an ninh, tự do, niềm tin tôn giáo và môi trường [26] Thêm vào đó, đánh giá về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ là công cụ hiệu quả [27]
Theo nhóm nghiên cứu về chất lượng cuộc sống thuộc Tổ chức Y tế Thế
giới (WHOQOL-Group) năm 1995 thì “Chất lượng cuộc sống là những cảm nhận của các cá nhân về cuộc sống của họ trong bối cảnh văn hóa và các hệ thống giá trị mà họ đang sống và liên quan đến các mục đích, nguyện vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm của họ” [40]
Thuật ngữ chất lượng cuộc sống được sử dụng trong một loạt các ngữ cảnh bao gồm các lĩnh vực phát triển quốc tế, y tế, sức khỏe và thậm chí là cả về mặt chính trị Nhưng quan trọng nhất, nó vẫn gắn liền trực tiếp với các vấn đề về chăm sóc sức khỏe – nâng cao dịch vụ y tế Trong thời đại ngày nay, việc không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người là một nỗ lực lớn của các nhà nước, xã hội và cả cộng đồng quốc tế [20]
1.1.2 Khái niệm sinh viên và đặc điểm của sinh viên hiện nay
Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học Quá trình học của họ theo phương pháp chính quy, tức là họ đã phải trải qua bậc tiểu học và trung học [10]
Sinh viên là người chủ tương lai của đất nước Ở họ luôn tràn đầy sức sống, giàu nhiệt huyết, năng động, sáng tạo, say mê học hỏi, sẵn sàng cống hiến Sinh viên là nguồn lực quan trọng trong nguồn lực của con người Là một bộ phận hữu cỡ của cộng đồng dân tộc, văn hóa và lối sống của sinh viên cũng là
Trang 15một bộ phận hữu cơ của văn hoá, lối sống của cộng đồng dân tộc Việt Nam Xây dựng lối sống lành mạnh, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cho sinh viên là một trong những cách phát huy tối đa nguồn lực này [10]
Sinh viên có những đặc điểm cụ thể dưới đây:
Tính thực tế: Thể hiện ở việc chọn ngành chọn nghề, ở việc hướng đến lựa chọn những kiến thức để học sao cho đáp ứng nhu cầu thực tế, chuẩn bị kinh nghiệm làm việc cho tương lai, định hướng công việc sau khi ra trường, thích những công việc đem lại thu nhập cao, v.v Nói chung là tính mục đích trong hành động và suy nghĩ rất rõ [25]
Tính năng động: Nhiều sinh viên vừa đi học vừa đi làm (làm thêm bán thời gian, hoặc có khi là thành viên chính thức của một cơ quan, công ty), hình thành tư duy kinh tế trong thế hệ mới (thích kinh doanh, muốn tự mình lập công
ty ngay khi đang còn là sinh viên), thể hiện sự tích cực chủ động (tham gia phong trào tình nguyện) Nhiều sinh viên cùng một lúc học hai trường [25]
Tính cụ thể của lý tưởng: Đang có một sự thay đổi trong lý tưởng sống gắn liền với sự định hướng cụ thể Một câu hỏi vẫn thường được đặt ra là: sinh viên hôm nay sống có lý tưởng không, lý tưởng ấy là gì, có sự phù hợp giữa lý tưởng của cá nhân và lý tưởng của dân tộc, của nhân loại không Có thể khẳng định lŕ có, nhưng đang xuất hiện những đặc điểm lý tưởng có tính thế hệ, lý tưởng gắn liền với bối cảnh đất nước và quốc tế rất cụ thể Lý tưởng hôm nay không phải là sự lựa chọn những mục đích xa xôi, mà hướng đến những mục tiêu cụ thể, gắn liền với lợi ích cá nhân [25]
Tính liên kết (tính nhóm): Những người trẻ luôn có xu hướng mở rộng các mối quan hệ, đặc biệt là những quan hệ đồng đẳng, cùng nhóm Các nghiên cứu của hai nhà xã hội học người Pháp về bản sắc xã hội dưới góc độ nhóm là Taspen và Turnez, đã đưa đến kết luận: tính nhóm phụ thuộc vào môi trường xã hội xung quanh chúng ta đang sống Sự thay đổi của đời sống tinh thần trong sinh viên trước xu hướng toàn cầu hoá (cả mặt thuận lợi và hạn chế của xu hướng này) đang hướng mạnh đến tính cộng đồng [25]
Trang 16Tính cá nhân: Trào lưu dân chủ hoá, làn sóng công nghệ thông tin và việc nâng cao dân trí đã làm ý thức cá nhân ngày càng rõ, đặc biệt rõ trong những người trẻ có học vấn là sinh viên Họ tự ý thức cao về bản thân mình và muốn thể hiện vai trò cá nhân Dường như có sự đề cao lợi ích hơn nghĩa vụ cá nhân Sự hy sinh và quan tâm đến người khác thấp đi, và nếu có thì đánh giá dưới góc độ kinh tế thực dụng hơn là tình cảm và sự chia sẻ Xuất hiện thái độ bàng quan với xung quanh ở một bộ phận sinh viên [25]
1.2 Một số tiêu chí đánh giá và công cụ đo lường chất lượng cuộc sống
Chất lượng cuộc sống là một phạm trù khá rộng và là vấn đề mang nặng tính chủ quan Không giống như GDP bình quân đầu người hoặc mức sống, cả hai đều có thể được đo trong các số liệu tài chính, kinh tế, chất lượng cuộc sống khó khăn hơn nhiều để thực hiện những phép đo một cách khách quan hoặc lâu
dài Giáo sư Joseph Stiglitz cho rằng: “GDP, tổng sản phẩm nội địa là chỉ số cho phép chúng ta đo lường những gì có thể tính được bằng tiền Chỉ số đó không quan tâm đến chất lượng cuộc sống Chất lượng cuộc sống là gì ? Đó là những chỉ số liên quan đến các điều kiện giải trí, giáo dục, y tế môi trường v.v.”[19]
Chất lượng cuộc sống và hạnh phúc hiện tại của con người tùy thuộc vào mức thu nhập vào các điều kiện kinh tế và tài chính Nhưng vấn đề là điều kiện sống có thoải mái hay không? Điều đó tùy thuộc vào sức khỏe, vào môi trường
xã hội, vào kiến thức của từng người, vào các hoạt động văn hóa, vào thời gian
để giải trí, nói chung là vào rất nhiều yếu tố không thể cân, đong, đo, đếm bằng tiền bạc
Một số tiêu chí khác có thể phản ánh chất lượng cuộc sống như: Chỉ số phát triển con người (Human Development Index – HDI), Tổng sản phẩm nội địa(GDP), GDP bình quân đầu người và hộ gia đình, chỉ số nghèo đói; Chỉ số giáo dục (gồm tỷ lệ người biết chữ, trình độ văn hóa và tay nghề, số người mù chữ, số năm đến trường, cơ sở hạ tầng cho giáo dục); Chỉ số tuổi thọ (gồm tuổi thọ, sức khỏe, y tế và các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, cơ sở hạ tầng cho y
Trang 17tế), và một số tiêu chí khác như chỉ số calo bình quân đầu người - phản ánh tình trạng no đủ và chất lượng bữa ăn đầu người, điều kiện sử dụng điện sinh hoạt,
sử dụng nước sinh hoạt (nước sạch, nước lọc, nước máy, nước ngầm, nước giếng ) là vấn đề cơ bản và cấp thiết của con người, điều kiện về nhà ở, chỗ ở của con người (bao gồm diện tích nhà ở và chất lượng nhà ở), ngoài ra còn các công trình công cộng, xã hội khác như công viên, nhà vệ sinh công cộng, nhà ở
xã hội và các công trình phúc lợi công cộng khác phục vụ cho cuộc sống vật chất và tinh thần của con người [6]
Theo Liên Hợp Quốc, có lẽ biện pháp quốc tế được sử dụng phổ biến nhất
để đo lường chất lượng cuộc sống là các chỉ số phát triển con người (HDI), với các nội dung cơ bản về tuổi thọ, giáo dục và mức sống như là một nỗ lực để nâng cao cuộc sống có cho các cá nhân trong một xã hội nhất định HDI được sử dụng bởi Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc trong Báo cáo phát triển con người của Liên Hiệp Quốc Đây là một tiêu chí tổng hợp phản ánh chất lượng cuộc sống
Hiện nay, tiêu chí để đánh giá chất lượng cuộc sống của một nước dựa trên bảng chỉ số phát triển con người của Liên Hợp Quốc, chuyên theo dõi tỉ lệ
mù chữ ở người lớn, tuổi thọ trung bình và mức thu thập Bên cạnh những nhân
tố xếp hạng truyền thống như kinh tế, an ninh, tỉ lệ thất nghiệp, còn có những nhân tố khác như việc áp dụng các biện pháp tránh thai, sức khoẻ của trẻ em, tỉ
lệ tội phạm, tử hình
Hiện nay, có hơn 1000 bộ công cụ được sử dụng để đánh giá chất lượng cuộc sống [61] trong đó một số bộ công cụ đo lường chất lượng cuộc sống phổ biến như 36-Item Short Form Health Survey (SF-36), 12-Item Short Form Health Survey (SF-12) The World Health Organisation Quality of Life - Brief (WHOQOL-BREF), The European Quality of Life (EUROQOL) or Euro-QoL 5-Dimensions (EQ-5D) Ngoài ra còn có các bộ đo lường những tình trạng sức khỏe cụ thể như bộ The Kidney Disease Quality of Life (KDQOL) đánh giá cho
Trang 18bệnh thận, The SF-12 Measure of Physical (PCS) and Mental (MCS) Functioning (1-12) đo lường cả tình trạng sức khỏe thể chất và tinh thần
Một số bộ công cụ đánh giá CLCS cụ thể cho người bệnh cần được kể đến như công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh Azheimer (Quality
of Life-Alzheimer's Disease (QOL-AD) Bộ công cụ này dùng để đánh giá một
số vấn đề liên quan đến sức khỏe cho người bệnh như: hoạt động thể lực, khả năng hoạt động, tính cách, đánh giá trí nhớ, đánh giá tổng thể về bản thân,…[16] Bộ công cụ đánh giá CLCS quy chuẩn châu Âu theo 5 kích thước
và 5 cấp độ EQ-5D-5L cũng đã được chuẩn hóa tại Việt Nam và ứng dụng để đo lường nghiên cứu trên các bệnh nhân bị nhiễm HIV/AIDS hay CLCS cho sinh viên, nhân viên công chức, cán bộ giảng viên [11], hay mô tả tác động sơ bộ của bệnh tật lên chất lượng cuộc sống Sickness Impact Profile (SIP) [57] Bộ công
cụ đánh giá sự độc lập đối với bệnh nhân sau tổn thương tủy sống Spinal Cord Independence Measure (SCIM) [18], và đối với bệnh Glôcôm, bộ câu hỏi đánh giá chức năng thị giác National Eye Institute Visual Function Questionnaire (NEI VFQ-25) lại là thang đo phù hợp và hiệu quả nhất [21]
Một trong những công cụ đánh giá CLCS chung liên quan đến sức khỏe
có ảnh hưởng lớn và được sử dụng nhiều nhất để đánh giá CLCS của nhiều đối tượng khác nhau là bộ câu hỏi dạng ngắn SF36v2 (36 item Short From Health Survey) gồm 36 câu bao gồm tám lĩnh vực quan trọng là vai trò thể chất (role – physical), chức năng thể chất (physical functioning), đau mỏi cơ thể (bodily pain), sức khỏe nói chung (general health), sinh lực/năng lượng (vitality), vai trò của cảm xúc (role – emotional), chức năng xã hội (social functioning) và sức khỏe tâm thần (mental health) [49]
Ngoài ra, có nhiều bộ công cụ khác như bộ câu hỏi WHOQOL_BREF gồm 100 câu hỏi để đánh giá các tiêu chí về mức độ sảng khoái về thể chất, mức
độ sảng khoái về tâm thần, sự thoải mái trong các mối quan hệ xã hội và sự thoải mái về môi trường sống [36]; hay các công cụ đánh giá CLCS của các đối tượng
cụ thể như công cụ của trường đại học Y tế Công cộng đánh giá CLCS người
Trang 19cao tuổi gồm 6 khía cạnh: tinh thần, thể chất, kinh tế, khả năng lao động, môi trường sống, tín ngưỡng/tâm linh [9]
Một số công cụ đánh giá CLCS của người bệnh đặc thù đã được chứng minh là phù hợp và có độ tin cậy cao qua nhiều nghiên cứu như: bộ câu hỏi QOL – AD đánh giá CLCS bệnh nhân Azheimer về các lĩnh vực sức khỏe thể lực, tính tình, trí nhớ, khả năng hoạt động, mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau, khả năng tham gia các hoạt động có ý nghĩa, tình trạng tài chính và đánh giá tổng thể về bản thân [15] Bộ câu hỏi GIQLI đánh giá CLCS của bệnh nhân sỏi túi mật gồm các khía cạnh về sức khỏe thể chất, chức năng ruột già, các hạn chế do xúc động, chức năng đường tiêu hóa trên và khía cạnh chướng bụng [20]
Bộ câu hỏi đánh giá chất lượng cuộc sống của các bệnh Da liễu nói chung của tác giả Finlay A.Y, Khan G.K., Lewis V.L gồm 10 câu hỏi đánh giá tình trạng bệnh ảnh hưởng đến tâm lý người bệnh, công việc, học tập, tài chính và các mối quan hệ xã hội của người bệnh [8]
Bộ công cụ SF-12 được phát triển bằng cách sử dụng dữ liệu quy chuẩn từ
bộ công cụ SF-36 SF bao gồm: 2 câu hỏi liên quan đến hoạt động thể chất; 2 câu hỏi về giới hạn vì vấn đề sức khỏe thể chất; 1 câu hỏi về đau cơ thể; 1 câu hỏi về nhận thức sức khỏe nói chung; 1 câu hỏi về sức sống (năng lượng / mệt mỏi); 1 câu hỏi về hoạt động xã hội; 2 câu hỏi về giới hạn vai trò vì vấn đề tình cảm; và 2 câu hỏi về sức khỏe tâm thần chung (đau khổ tâm lý và sức khỏe tâm lý) Bộ công cụ SF-12 là một biện pháp phù hợp cho các nghiên cứu dịch tễ học nhóm lớn (lớn hơn n = 500) trong đó có hai thành phần lớn đó là: tóm tắt thành phần thể chất - Physical Component Summary (PCS-12) gồm các câu 1,2,3,4,5,8 và tóm tắt thành phần tinh thần - Mental Component Summary (MCS -12) gồm các câu 6,7,9,10,11,12 [42]
Tuy nhiên như đã đề cập ban đầu, mỗi đối tượng khác nhau lại có những đặc điểm khác nhau, chính vì vậy mà việc đo lường chất lượng cuộc sống trong các đối tượng thường được các nhà nghiên cứu phát triển các bộ công cụ đặc
Trang 20thù Đối với nghiên cứu này chúng tôi sử dụng bộ câu hỏi SF12 để đánh giá thực trạng chất lượng cuộc sống của sinh viên
1.3 Các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống trên thế giới
Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của sinh viên Trường Đại học Among ở Thổ Nhĩ Kỳ năm 2015 của tác giả Nuray Oztasan và cộng sự cho kết quả các triệu chứng về tâm thần mà học sinh đạt điểm cao nhất
từ thang điểm BSI (Brief Symptom Inventory) tương ứng là trầm cảm (1,31±0,75), hành vi (1,22±0,67) và lo lắng (1,00±0,65) Khi kiểm tra chất lượng cuộc sống theo bộ công cụ SF - 36, nghiên cứu chỉ ra rằng điểm về sức khỏe thể chất (48,92±7,93) và điểm về sức khỏe tâm thần (43,44±9,52) là ở mức thấp [56]
Nghiên cứu về CLCS của sinh viên đã được tiến hành trên nhiều quốc gia
và nhiều lĩnh vực trên thế giới Nghiên cứu về “Chất lượng cuộc sống của sinh viên đại học trong học viện duy nhất của Malaysian” của Osman, Muhamed và
cộng sự đã cho thấy rằng điểm trung bình CLCS của sinh viên là 13,14 đối với sức khỏe thể chất, đối với lĩnh vực tâm lý, điểm số CLCS trung bình là 13,87
Về mối quan hệ xã hội, điểm số CLCS trung bình là 13,19 trong khi điểm số CLCS trung bình cho miền môi trường là 13,97 Nghiên cứu cho thấy, về đặc điểm nhân khẩu học xã hội, không có sự khác biệt về CLCS theo tuổi, tình trạng hôn nhân, chủng tộc và cư trú [45]
Andre A và cộng sự (2017) đánh giá chất lượng cuộc sống của sinh viên nha khoa tại một trường nha khoa của Hoa Kỳ Kết quả cho thấy trong số 384 sinh viên tham gia điều tra thì các sinh viên đánh giá chất lượng cuộc sống của
họ là tốt Khía cạnh sức khỏe thể chất có điểm số trung bình cao nhất, trong khi khía cạnh sức khỏe tinh thần có mức thấp nhất Nữ giới cho biết chất lượng cuộc sống của họ cao hơn nam giới trong khía cạnh mối quan hệ xã hội Các sinh viên độc thân được nhận thấy có chất lượng cuộc sống thấp hơn các sinh viên đã kết hôn Các học sinh lớn tuổi nhận thấy có chất lượng cuộc sống thấp hơn trong
Trang 21lĩnh vực Sức khỏe và Môi trường Điểm số về khía cạnh sức khỏe thể chất của sinh viên năm tư cao hơn đáng kể so với năm nhất, trong khi điểm số về khía cạnh sức khỏe tinh thần của sinh viên năm ba thấp hơn đáng kể so với năm thứ nhất Như vậy, theo nghiên cứu của Andre A và cộng sự thì các yếu tố về giới, tình trạng hôn nhân, tuổi ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của sinh viên Nha Khoa [38]
Naim Nur và các cộng sự đã thực hiện nghiên cứu “Chất lượng cuộc sống của sinh viên trường Đại học Cumhuriyet, Thổ Nhĩ Kỳ và các yếu tố liên quan” năm 2017 nhằm phân tích các yếu tố sức khỏe liên quan đến CLCS – và đánh gia theo miền Health Related Quality Of Life (HRQOL) của sinh viên Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 1751 sinh viên đại học Cumhuriyet, sử dụng bản câu hỏi khảo sát sức khỏe SF-36 Nghiên cứu xem xét mức độ ảnh hưởng của các đặc điểm xã hội học (ví dụ: giới tính, tuổi tác, uống rượu và hút thuốc) trên các miền HRQOL riêng lẻ Kết quả của nghiên cứu chỉ ra nơi cư trú (OR=3,947), tình trạng hút thuốc (OR=2,756), vấn đề kinh tế (OR=2,463), và khối lượng cơ thể chỉ số (OR=1,463) là một trong các yếu tố liên quan đáng kể với HRQOL Kết luận chỉ ra rằng CLCS của sinh viên bị ảnh hưởng bởi các yếu
tố kinh tế xã hội, nhân khẩu học và hành vi…[55]
Năm 2013, Al-Ghabeesh, Suhair và Cộng sự đã nghiên cứu về “Chất lượng cuộc sống giữa các sinh viên đại học ở Jordan: Một nghiên cứu mô tả”
cho thấy điểm số cao nhất thu được cho hoạt động thể chất (78,1) và điểm thấp nhất là cho miền sinh lực (52,3) Trong tám lĩnh vực của SF-36 hai giới không khác biệt, ngoại trừ hoạt động thể chất (t = -2,44, p = 0,016) Không có sự khác biệt đáng kể cho tất cả SF-36 giữa các sinh viên trong các điều khoản ghi danh trong các khóa học lâm sàng (dao động từ 0,07 cho đến 0,84 cho vai trò tình cảm) Cũng không có mối quan hệ đáng kể giữa tổng điểm SF-36 và điểm trung bình (r = 0,09, p = 0,29) Về công ăn việc làm, có sự khác biệt đáng kể giữa sinh viên có việc làm và không được tuyển dụng trong vai trò vật lý (t = -2,11, p = 0,03), hoạt động xã hội (t = -3,30, p = 0,001), và lĩnh vực đau cơ thể (t = -3,28, p
Trang 22= 0,001) Học sinh trong nghiên cứu hiện tại đạt điểm cao hơn so với dữ liệu quy chuẩn của Jordan trong tất cả 8 tiểu nhóm SF- 36 [37]
Nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của sinh viên của trường cao đẳng y
tế Andhara, Visakhapatnam tại Ấn Độ của M Siva Durga Prasad Nayak và cộng
sự cho thấy các yếu tố như giới, thói quen làm việc, nơi cư trú ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu Cụ thể, sinh viên khu vực nông thôn có sức khỏe tinh thần tốt hơn sinh viên khu vực đô thị Không có sự khác biệt đáng kể về chất lượng cuộc sống giữa những người sống tại nhà và sống nhà trọ; giữa sinh viên tập thể dục hoặc không tập thể dục trong nửa giờ mỗi ngày Sinh viên khu vực nông thôn có chất lượng cuộc sống trong các khía cạnh như năng lượng, sự mệt mỏi, năng lực làm việc tốt hơn so với sinh viên đô thị Tác giả M Siva Durga Prasad Nayak cũng chỉ ra rằng nữ sinh viên có chất lượng cuộc sống tốt hơn so với nam về chất lượng cuộc sống về khía cạnh tổng thể, hoạt động tình dục và nguồn lực tài chính [44]
Nghiên cứu chất lượng của cuộc sống của sinh viên y ở Trung Quốc, sử dụng WHOQOL-BREF, tác giả Zhang Y và cộng sự thấy rằng các sinh viên năm thứ ba có sự suy giảm nhiều hơn về sức khỏe tâm lý và quan hệ xã hội so với các sinh viên trong các giai đoạn khác của giáo dục y tế của họ Sinh viên trong các năm học khác nhau có khối lượng công việc khác nhau Từ năm thứ nhất đến năm thứ tư, số giờ giảng và công việc thực tế mỗi năm trong y học lâm sàng như sau: 872 năm đầu tiên, 892 năm thứ hai, 942 năm thứ ba và 798 năm thứ tư Do đó, có áp lực học tập lớn đối với học sinh năm thứ ba so với những học sinh khác trong những năm học khác Có sự khác nhau đáng kể về điểm chất lượng cuộc sống theo lĩnh vực sức khỏe tâm lý và quan hệ xã hội giữa các nhóm sinh viên Sinh viên y học lâm sàng có điểm số sức khoẻ tâm lý cao hơn so với các chuyên khoa y học dự phòng và điều dưỡng Ngoài ra, sinh viên y khoa nam
có CLCS cao hơn đáng kể so với nữ sinh trong khía cạnh sức khỏe tâm thần Tác giả Zhang Y cho rằng phụ nữ có cảm xúc và nhạy cảm hơn với áp lực Tuy nhiên, nữ sinh đạt điểm cao hơn nam giới trong lĩnh vực quan hệ xã hội Các
Trang 23nghiên cứu cho thấy phụ nữ tốt hơn nam giới trong việc đối phó với các mối quan hệ khác nhau [50]
Nghiên cứu chất lượng cuộc sống của sinh viên ở Jordan cho thấy CLCS của sinh viên có mối liên quan với các đặc điểm nhân khẩu Trong số các yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến CLCS thì việc làm là nổi bật Công việc tiêu tốn một phần lớn thời gian của sinh viên có thể ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của
họ [37]
1.3.2 Các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống tại Việt Nam
Tại Việt Nam, mặc dù có khá ít nghiên cứu về CLCS của sinh viên nhưng các ban ngành đoàn thể cũng như các cơ quan chức năng vẫn rất quan tâm đến môi trường học tập, đời sống vật chất, văn hóa tinh thần và những khó khăn của sinh viên qua một số nghiên cứu, hội thảo khoa học và các bài viết
Nghiên cứu “Tình trạng dinh dưỡng và chất lượng cuộc sống của sinh viên năm thứ nhất Đại học Quốc gia Hà Nội” năm 2014 của tác giả Nguyễn
Hoàng Long và cộng sự được thực hiện trên 5611 sinh viên năm thứ nhất, chọn mẫu ngẫu nhiên 534 sinh viên để đo lường chất lượng cuộc sống và tình trạng dinh dưỡng Chỉ số khối cơ thể (BMI) được áp dụng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng Bộ công cụ EQ-5D-5L và EQ-VAS được sử dụng để đánh giá chất lượng cuộc sống Kết quả nghiên cứu cho thấy, chất lượng cuộc sống của sinh viên ở mức cao, trong đó chỉ số CLCS EQ-5D là 85,06 11,24, chỉ số CLCS EQ-VAS
là 0,79 0,15 Sinh viên chủ yếu găp vấn đề về sức khoẻ tâm lý, 48,5 % sinh viên có cảm giác lo lắng buồn phiền, trong đó nữ sinh viên cao hơn nam (p< 0,05) Nam giới có chất lượng cuộc sống cao hơn nữ (p< 0,05) Chất lượng cuộc sống và tình trạng dinh dưỡng có liên quan với nhau, trong đó sinh viên thừa cân, béo phì có chất lượng cuộc sống thấp hơn sinh viên khác Phân tích hồi quy
đa biến cho thấy sinh viên là nữ giới, thừa cân béo phì và có tuổi lớn hơn có chất lượng cuộc sống thấp hơn sinh viên còn lại [2]
Nghiên cứu “Chất lượng cuộc sống của cán bộ nhân viên trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn” năm 2014 của tác giả Nguyễn Thành Trung
Trang 24và cộng sự được thực hiện trên 210 cán bộ nhân viên Trường Đại học Khoa học
xã hội và nhân văn từ tháng 9/2013 - tháng 2/2014 sử dụng bộ công cụ 5L đã được chuẩn hoá và áp dụng ở Việt Nam nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống theo 5 khía cạnh (đau đớn – khó chịu, lo lắng, khả năng đi lại, khả năng làm việc hàng ngày và khả năng tự chăm sóc bản thân), với 5 mức độ (từ 1 – không có vấn đề đến 5 -có vấn đề rất nhiều) Kết quả nghiên cứu cho thấy, chất lượng cuộc sống của cán bộ ở mức cao Điểm trung bình chất lượng cuộc sống
EQ-5D-là 0,8 0,2 Vấn đề sức khoẻ chủ yếu EQ-5D-là đau đớn, khó chịu và lo lắng buồn phiền Nam giới có chỉ số chất lượng cuộc sống cao hơn so với nữ giới (p<0.05) Cán bộ thuộc lứa tuổi <=38, độc thân, có trình độ học vấn là đại học có chất lượng cuộc sống cao hơn so với các nhóm khác (p>0.05) Nhóm có số năm công tác từ 5-10 năm có chất lượng cuộc sống cao hơn so với các nhóm khác (p<0,05) Phân tích hồi quy đa biến cho thấy, cán bộ là nam giới và có thời gian công tác từ 5-10 năm có chất lượng cuộc sống cao hơn so với các nhóm khác (p<0,05) [5]
“Nghiên cứu chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan ở phụ nữ mãn kinh thành phố Huế” của tác giả Trần Thị Thanh Nhàn và cộng sự (2013)
tiến hành trên 1000 phụ nữ đã mãn kinh từ 50 – 60 tuổi tại thành phố Huế dựa vào bộ câu hỏi được thiết kế sẵn Chất lượng cuộc sống được đánh giá dựa vào thang đo rút gọn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO QOL – BREF) Kết quả nghiên cứu cho thấy, điểm trung bình chung chất lượng cuộc sống của phụ nữ là 53,92 11,98, 11,5% phụ nữ mãn kinh có chất lượng cuộc sống tốt Chất lượng cuộc sống của phụ nữ mãn kinh ở thành phố Huế được đánh giá ở mức trung bình Trình độ học vấn, mắc bệnh mạn tính và mức độ mãn kinh là những yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của phụ nữ mãn kinh (p<0,05) [3]
Nghiên cứu “Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi tại xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam năm 2014”
của tác giả Lê Thị Hoàn và cộng sự, thực hiện trên 229 người cao tuổi trên địa bàn nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn và bộ công cụ đánh giá chất
Trang 25lượng cuộc sống rút gọn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO-QoL-BREF) theo 4 khía cạnh sức khoẻ tâm lý, sức khoẻ thể chất, mối quan hệ xã hội và yếu tố môi trường Kết quả nghiên cứu cho thấy, CLCS của đối tượng được đánh giá ở mức trung bình Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa các yếu tố giới, tình trạng hôn nhân, nguồn thu nhập, điều kiện kinh tế gia đình, khả năng vận động và mắc bệnh mạn tính với chất lượng cuộc sống của người cao tuổi [4]
Nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sống của sinh viên tại trường Đại học Lạc Hồng” của Nguyễn Thu Hiền xem xét mối quan hệ giữa động cơ học tập, tính kiên định học tập và chất lượng sống của sinh viên Các mối quan hệ này được kiểm định với 568 sinh viên ngành kinh tế, ngành kỹ thuật và ngành xã hội tại trường Đại học Lạc Hồng Kết quả cho thấy, thứ nhất
là, động cơ học tập có tác động dương đến chất lượng sống của sinh viên Thứ hai là, tính kiên định học tập tác động dương đến chất lượng sống Tuy nhiên tính kiên định học tập có mức tác động đến chất lượng sống sinh viên cao hơn động cơ học tập [7]
Tác giả Mạc Văn Trang đã có nghiên cứu về “Nghiên cứu đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay và những phương hướng, biện pháp giáo dục lối sống cho sinh viên” của Viện nghiên cứu và phát triển giáo dục Tác giả đã bàn luận
một số đặc điểm lối sống sinh viên trong nhu cầu sinh hoạt văn hóa và trong hoạt động xã hội – chính trị Tuy nhiên, tác giả cũng cho hay có nhiều yếu tố tác động đến lối sống của sinh viên hiện nay qua đó cũng xem xét định hướng giải quyết, đề xuất phương hướng và biện pháp giáo dục lối sống cho sinh viên [1]
1.4 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của sinh viên
Khi xem xét các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống, các tác giả thường đề cập đến các yếu tố nhân khẩu học như tuổi, giới, tình trạng kinh tế hộ gia đình Bên cạnh đó, động lực học tập, kỹ năng giải quyết căng thẳng, đặc điểm tính cách cũng được chỉ ra có mối liên quan với chất lượng cuộc sống của sinh viên đại học trong các nghiên cứu trước đây [31]
Trang 26Nghiên cứu chất lượng cuộc sống của sinh viên ở Jordan cho thấy CLCS của sinh viên có mối liên quan với các đặc điểm nhân khẩu Trong số các yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến CLCS thì việc làm là nổi bật Công việc tiêu tốn một phần lớn thời gian của sinh viên có thể ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của
họ [37]
Hầu hết các nghiên cứu về CLCS của sinh viên đều chỉ ra rằng yếu tố giới tính có mối liên quan đến CLCS Nghiên cứu của Andre, A và cộng sự (2017) chỉ ra rằng nữ giới có chất lượng cuộc sống cao hơn nam giới trong khía cạnh mối quan hệ xã hội (p<0,05)[38] Tuy nhiên nghiên cứu tác giả Zhang Y và cộng sự lại cho thấy rằng sinh viên nam có CLCS cao hơn đáng kể so với nữ sinh trong khía cạnh sức khỏe tâm thần (p<0,05)[50] Tương tự như vậy, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hoàng Long cũng cho thấy nữ giới có CLCS thấp hơn
so với nam giới [11]
Nghiên cứu của tác giả Andre, A và cộng sự năm 2017 cũng chỉ ra rằng, yếu tố về giới, tình trạng hôn nhân, tuổi ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của sinh viên Nha Khoa Trong đó, nữ giới có chất lượng cuộc sống cao hơn nam giới trong khía cạnh mối quan hệ xã hội Các sinh viên độc thân được nhận thấy có chất lượng cuộc sống thấp hơn các sinh viên đã kết hôn Các học sinh lớn tuổi có chất lượng cuộc sống thấp hơn trong lĩnh vực Sức khỏe và Môi trường so với sinh viên ít tuổi hơn [38]
Nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của sinh viên của trường cao đẳng y
tế Andhara, Visakhapatnam tại Ấn Độ của M Siva Durga Prasad Nayak và cộng
sự cho thấy các yếu tố như giới, thói quen làm việc, nơi cư trú ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu [44]
Tình trạng hôn nhân cũng được chỉ ra có liên quan đến chất lượng cuộc sống Đa số những sinh viên đã kết hôn thì có CLCS thấp hơn sinh viên còn độc thân Vì khi kết hôn thì ngoài việc học hành ra thì sinh viên còn phải lo lắng cho gia đình như các nhu cầu sống, sinh hoạt nên sẽ có điểm CLCS thấp [38]
Trang 27Động lực học tập của sinh viên cũng được xác định có liên quan đến chất lượng cuộc sống [30] Sinh viên có động lực học tập tốt hơn thì tình trạng căng thẳng thấp hơn [33]
Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, đặc điểm tính cách cũng có liên quan đến tình trạng sức khoẻ tâm thần và chất lượng cuộc sống [32]
Bên cạnh đó, các hành vi sức khoẻ có liên quan được xác định trong các nghiên cứu là hành vi hút thuốc, uống rượu/bia [28], sử dụng internet, tập thể dục, và một số yếu tố khác như các biến cố khi còn nhỏ [34], tiền sử gia đình và các hỗ trợ xã hội [29]
1.5 Vài nét về địa điểm nghiên cứu
Trường Đại học Thăng Long là trường ngoài công lập đào tạo bậc đại học đầu tiên tại Việt Nam Trường Đại học Thăng Long hoạt động trên nguyên tắc: không vì mục tiêu lợi nhuận, tạo một môi trường giáo dục lành mạnh, tôn trọng tính trung thực, tình yêu thương và tinh thần hợp tác Với truyền thống 30 năm xây dựng và phát triển không ngừng, Trường Đại học Thăng Long đã khẳng định tên tuổi và chất lượng đào tạo với gần 2000 sinh viên tốt nghiệp mỗi năm phân bố vào 5 nhóm ngành chính gồm: Toán - Tin học; Kinh tế - Quản lý; Ngôn ngữ; Khoa học sức khỏe; Khoa học Xã hội và Nhân văn, góp phần đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước [12] Sinh viên/học viên có nhiều cơ hội được đối thoại trực tiếp với giảng viên/cán bộ trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường Trường Đại học Thăng Long hướng tới xây dựng một môi trường giáo dục công bằng, mọi tiếng nói của người học đều được lắng nghe để hoàn thiện hoạt động giáo dục ở mức tốt nhất
Bảng 1 1 Đặc điểm sinh viên theo các ngành năm học 2018 - 2019
Khoa/Ngành
học
Năm thứ nhất
Năm thứ hai
Trang 28Toán - Tin 219 112 109 71 511 Kinh tế -
Nguồn: Phòng Đào tạo, Trường Đại Thăng Long năm 2019 [13]
Một số nghiên cứu về vấn đề sức khỏe của sinh viên đã được thực hiện tại trường như vấn đề sức khoẻ sinh sản, chỉ số khối cơ thể, thực trạng cận thị nhưng cho đến nay, chưa có một nghiên cứu toàn diện nào về thực trạng chất lượng cuộc sống của sinh viên và một số yếu tố liên quan đến vấn đề này
Khung lý thuyết nghiên cứu được thể hiện qua Hình 1.1
Trang 29Hình 1 1 Khung lý thuyết nghiên cứu
Yếu tố môi trường
• Mối quan hệ xã hội
• Hỗ trợ xã hội
Trang 30CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Sinh viên năm thứ nhất và năm thứ tư đang học tập tại trường Đại học Thăng Long năm học 2018 - 2019
- Tiêu chuẩn chọn mẫu: sinh viên đang học năm thứ nhất và năm thứ tư
tại Trường Đại học Thăng Long năm học 2018 - 2019 tình nguyện tham gia nghiên cứu
- Tiêu chuẩn loại mẫu: sinh viên không phải đang học năm thứ nhất, năm
thứ tư tại Trường năm học 2018 - 2019, sinh viên đã bỏ học, nghỉ học, từ chối tham gia nghiên cứu
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Trường Đại học Thăng Long - Đường Nghiêm Xuân Yêm, phường Đại Kim, Quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, Việt Nam
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 4/2019 đến tháng 10/2019
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Áp dụng phương pháp nghiên cứu của Dịch tễ học với thiết kế nghiên cứu
mô tả cắt ngang có phân tích
Trang 31p: ước đoán tỷ lệ sinh viên có vấn đề CLCS Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hoàng Long và cộng sự năm 2014 cho thấy, 48,5% sinh viên có vấn đề sức khoẻ tâm lý với cảm giác lo lắng, buồn phiền [2], lấy p = 0,485
Z: hệ số tin cậy, ứng với độ tin cậy 95% (α = 5%) thì Z1-a/2 = 1,96
d: sai số tuyệt đối cho phép, lấy d = 0,05
Thay các hệ số vào công thức trên có số mẫu cần thiết cho nghiên cứu là n
= 384 sinh viên Tăng 5% cỡ mẫu để dự trù cho những số liệu bị bỏ sót và những trường hợp từ chối tham gia nghiên cứu Cỡ mẫu nghiên cứu tại mỗi nhóm sinh viên (năm nhất, năm tư) là 400 Tổng cỡ mẫu cho nghiên cứu là 800 sinh viên
Trang 32Bảng 2 1 Phân bố mẫu nghiên cứu (n = 800)
TT Khoa/Ngành SV
năm nhất
Cỡ mẫu
Thực tế thu thập
SV năm
tư
Cỡ mẫu
Thực tế thu thập
Cách chọn mẫu: Nhóm nghiên cứu sẽ lập danh sách các lớp sinh viên
năm thứ nhất và sinh viên năm thứ tư đang học tập trong Học kỳ I năm học 2019 – 2020 tại Trường Đại học Thăng Long Tại mỗi lớp, tiến hành chọn chủ đích sinh viên tình nguyện tham gia nghiên cứu đến khi đủ số lượng 400 sinh viên cho từng nhóm sinh viên
2.3 Các biến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá
2.3.1 Các biến số, chỉ số nghiên cứu
- Biến phụ thuộc: Chất lượng cuộc sống
- Biến độc lập được thể hiện qua Bảng 2.2
Bảng 2.2 Biến số, chỉ số nghiên cứu
TT Biến số Phân loại
biến số Chỉ số nghiên cứu
Phương pháp thu thập, đánh giá
1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
1 Ngành học Danh mục Số lượng, tỷ lệ % ngành học của
đối tượng nghiên cứu Phát vấn
2 Niên khoá của
sinh viên Nhị phân
Số lượng, tỷ lệ % sinh viên năm
3 Giới tính Nhị phân Số lượng, tỷ lệ % giới tính của
đối tượng nghiên cứu Phát vấn
4 Dân tộc Danh mục Số lượng, tỷ lệ % dân tộc của
đối tượng nghiên cứu Phát vấn
5 Tuổi Liên tục Số lượng, tỷ lệ % tuổi của đối
tượng nghiên cứu Phát vấn
6 Chiều cao Liên tục Trung bình, độ lệch chuẩn, min
7 Cân nặng Liên tục Trung bình, độ lệch chuẩn, min Phát vấn
Trang 33TT Biến số Phân loại
biến số Chỉ số nghiên cứu
Phương pháp thu thập, đánh giá
10 Nơi ở Danh mục Số lượng, tỷ lệ % nơi ở của đối
tượng nghiên cứu Phát vấn
11
Số anh/chị em
ruột trong gia
đình
Danh mục Số lượng, tỷ lệ số anh/chị em
ruột trong gia đình Phát vấn
chính chi tiêu Danh mục
Số lượng, tỷ lệ % nguồn tài chính chi tiêu của đối tượng nghiên cứu
Phát vấn
16 Tình hình tài
chính hiện nay Thứ hạng
Số lượng, tỷ lệ % tình hình tài chính hiện nay của đối tượng nghiên cứu
Phát vấn
17 Tình hình mắc
bệnh mạn tính Nhị phân
Số lượng, tỷ lệ % mắc bệnh mạn tính của đối tượng nghiên cứu Phát vấn
Phát vấn
20 Hoạt động thể
Số lượng, tỷ lệ % hoạt động thể lực của đối tượng nghiên cứu Phát vấn
21 Hút thuốc Nhị phân Số lượng, tỷ lệ % hút thuốc của
đối tượng nghiên cứu Phát vấn
22 Sử dụng
rượu/bia Nhị phân
Số lượng, tỷ lệ % sử dụng rượu/bia của đối tượng nghiên cứu
Phát vấn
2 Thực trạng chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu
Trang 34TT Biến số Phân loại
biến số Chỉ số nghiên cứu
Phương pháp thu thập, đánh giá
Thống kê phân tích
Thống kê phân tích
Thống kê phân tích
Thống kê phân tích
Thống kê phân tích
Thống kê phân tích
Thống kê phân tích
Trang 35TT Biến số Phân loại
biến số Chỉ số nghiên cứu
Phương pháp thu thập, đánh giá
Thống kê phân tích
Thống kê phân tích
2.3.2 Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cuộc sống
Bước 1: Tính điểm cho các câu hỏi: Cho điểm từng câu trả lời của mỗi
câu hỏi theo thang điểm từ 0 - 100 theo mức độ tương ứng điểm càng cao thì chất lượng cuộc sống càng tốt và ngược lại
Bước 2: Tính điểm trung bình chất lượng cuộc sống
Điểm trung bình chất lượng cuộc sống bằng điểm trung bình cộng của tất
cả các câu hỏi trong bộ câu hỏi SF12 [52]
Tổng điểm chất lượng cuộc sống từ 0 - 100 tương ứng với các câu trả lời của đối tượng nghiên cứu (Cách tính điểm được trình bày chi tiết trong Phụ lục 2) Theo đó, chất lượng cuộc sống được phân loại theo 4 mức:
- Điểm từ 0 đến 25: CLCS rất thấp
- Điểm từ 25 đến 50: CLCS thấp
- Điểm từ 50 đến 75 CLCS trung bình
- Điểm từ 75 đến 100: CLCS cao
Trong đánh giá mối liên quan, chất lượng cuộc sống được phân làm hai nhóm:
- Chất lượng cuộc sống dưới trung bình: 0 – 50 điểm
- Chất lượng cuộc sống trên trung bình: >50 – 100 điểm
2.3.3 Tiêu chuẩn đánh giá chỉ số khối cơ thể
Gọi W là khối lượng của một người (tính bằng kg) và H là chiều cao của người đó (tính bằng m), chỉ số khối cơ thể được tính theo công thức [39],[23] :
Trang 36BMI (kg/m2) = 𝑊
𝐻 2Theo WHO, phân loại BMI cho người Châu Á là [39], [58]:
(Theo đánh giá phân loại chỉ số khối cơ thể cho người Châu Á – Thái Bình
Dương) WHO - Western Pacific Region
2.3.4 Tiêu chuẩn phân loại cường độ hoạt động thể lực
Hoạt động thể lực là bất kể một hoạt động nào có sử dụng hệ cơ Hoạt động thể lực được chia theo các mức độ nặng, vừa, nhẹ [22]
Hoạt động nặng: Hoạt động thể lực ở mức gắng sức, làm tăng nhịp thở so với bình thường rất nhiều Ví dụ: gánh vác nặng, thợ nề/hồ, đào đất, xúc đất, cưa
xẻ, chạy dài, thể thao gắng sức, đạp xe từ ≥ 16 km/giờ
Hoạt động vừa: làm tăng nhịp thở so với bình thường một chút Ví dụ: lau chùi nhà cửa, làm vườn, sơn/quét vôi ve, bơi lội, leo cầu thang, cầu lông, bóng chuyền nghiệp dư, đạp xe từ 8-15 km/giờ
Hoạt động thể lực nhẹ: Ví dụ: đi bộ < 5 km/giờ, đạp xe dưới 8 km/giờ, làm vườn cắt hoa/tỉa cành
Nghỉ hoặc không hoạt động: xem tivi, đọc sách báo, ngồi/nằm nghỉ
2.4 Quy trình thu thập thông tin
2.4.1 Công cụ thu thập thông tin
Bộ công cụ điều tra được thiết kế sẵn gồm 3 phần (Phụ lục 1)
Phần A Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu: gồm 25 câu hỏi về một số thông tin nhân khẩu học, thông tin cơ bản về tình trạng sức khoẻ
Trang 37Phần B Hành vi sức khoẻ: gồm 7 câu hỏi về hoạt động thể lực, tình trạng hút thuốc, sử dụng rượu bia của đối tượng nghiên cứu
Phần C Đánh giá chất lượng cuộc sống (bộ công cụ SF 12) gồm 12 câu hỏi là dạng rút gọn của bộ SF-36 Câu trúc bộ công cụ SF 12 được chia thành 8 lĩnh vực cụ thể:
Độ tin cậy của bộ công cụ đã được đánh giá vượt mức tiêu chuẩn và được chấp nhận sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu [62], [60] Trong nghiên cứu này,
hệ số tin cậy của thang đo chất lượng cuộc sống là 0.772 (chấp nhận được) Điểm trung bình chất lượng cuộc sống bằng điểm trung bình cộng của tất cả các câu hỏi trong bộ câu hỏi SF12 Điểm càng cao thì chất lượng cuộc sống càng cao
2.4.2 Các kỹ thuật thu thập thông tin
Số liệu nghiên cứu sẽ được thu thập tại từng lớp học của Trường theo hình thức phát vấn Đại diện nhóm nghiên cứu là người thực hiện điều hành phỏng vấn và hướng dẫn cho sinh viên trả lời để thuận lợi cho việc kiểm soát chất lượng bộ câu hỏi, tránh sự nhầm lẫn và thiếu thông tin
Trang 382.4.3 Tổ chức thu thập thông tin
Phát vấn được thực hiện qua các bước cụ thể sau:
- Bước 1: Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện bộ công cụ nghiên cứu Sau khi Bộ câu hỏi được xây dựng, nghiên cứu viên sẽ tiến hành phỏng vấn thử, chỉnh sửa, bổ sung, hoàn chỉnh nội dung của Bộ câu hỏi một cách phù hợp sau đó in ấn phục vụ cho điều tra
- Bước 2: Tiến hành điều tra: phát vấn tại lớp học
- Bước 3: Thu thập phiếu điều tra
Sau mỗi buổi điều tra, phiếu điều tra được thu thập, kiểm tra một cách kỹ lưỡng về số lượng, chất lượng nội dung câu hỏi
Hình 2 1 Sơ đồ nghiên cứu
Tổng số sinh viên toàn trường năm học 2018 -
2019
Lập danh sách các lớp sinh
viên năm thứ nhất
Lập danh sách các lớp sinh viên năm thứ tư
Chọn ngẫu nhiên phân tầng
400 sinh viên năm nhất 400 sinh viên năm tư
Số liệu được làm sạch, nhập bằng Epidata và xử lý bằng SPSS version 20 Trả lời qua bộ câu hỏi tự điền
Trang 392.5 Xử lý và phân tích số liệu
Việc xử lý số liệu điều tra được thực hiện theo các bước sau:
- Kiểm tra lại toàn bộ các phiếu điều tra thu thập được
- Toàn bộ số liệu thu thập được nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1
- Sau khi hoàn tất nhập liệu, các số liệu được làm sạch bằng cách xem xét lại toàn bộ và hiệu chỉnh các sai sót trong quá trình nhập liệu
- Các số liệu được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0
• Phép thống kê mô tả được sử dụng để xác định số lượng, tỷ lệ (biến định tính), giá trị trung bình, trung vị, độ lệch chuẩn (biến định lượng) của các thông tin cá nhân, thông tin về sức khỏe cá nhân, chất lượng cuộc sống
• Kiểm định mối liên quan giữa thực trạng chất lượng cuộc sống và một số yếu tố thông qua tỷ suất chênh OR, khoảng tin cậy CI95% Giá trị p < 0,05 được xem xét để đánh giá mối liên quan có ý nghĩa thống kê
2.6 Sai số và biện pháp khống chế sai số
Bảng 2 3 Sai số và biện pháp khắc phục
Sai số nghiên cứu Biện pháp khắc phục
Sai số trong thiết kế phiếu điều tra
Thử nghiệm phiếu điều tra trước khi tiến hành nghiên cứu để chuẩn hóa các nội dung
Sai số nhớ lại Hạn chế các câu hỏi nhớ lại, thông tin cần hỏi
không quá xa so với hiện tại
Sai số trong nội dung câu hỏi, số lượng câu
hỏi nhiều, khó, đáp án trùng lặp, không rõ
ràng
Thử nghiệm bộ câu hỏi trước khi tiến hành nghiên cứu để chuẩn hóa các nội dung
Sai số trong cách đặt câu hỏi, phỏng vấn Chọn điều tra viên có kinh nghiệm
Tập huấn kỹ điều tra viên
Trang 402.7 Hạn chế nghiên cứu
Nghiên cứu có hạn chế của một thiết kế mô tả cắt ngang, tức là không xác định được mối quan hệ nhân quả giữa yếu tố nguy cơ và chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu
Hạn chế trong phương pháp thu thập thông tin gián tiếp (phát vấn): sẽ không khai thác được sâu, chi tiết những thông tin, đặc biệt liên quan đến câu hỏi mở Thêm nữa, thông tin có thể bị hiểu lầm, bỏ sót trong quá trình trả lời của đối tượng nghiên cứu
Có sự chênh lệch về số lượng mẫu thực tế thu thập được theo từng khoa/ngành so với cỡ mẫu tính được do một số khó khăn nhất định trong quá trình thu thập số liệu của đề tài
2.8 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu đảm bảo mọi nguyên tắc đạo đức trong nghiên cứu y sinh học
Sự tham gia của các sinh viên là hoàn toàn tự nguyện Sinh viên có thể rút lui khỏi nghiên cứu vào bất cứ thời điểm nào không cần đưa ra bất kỳ lý do nào Các đối tượng tham gia nghiên cứu được giải thích rõ ràng về mục đích nghiên cứu và tự nguyện tham gia
Bộ câu hỏi không bao gồm những câu hỏi riêng tư, các vấn đề nhạy cảm nên không ảnh hưởng tới sức khỏe và tâm lý đối tượng nghiên cứu Các thông tin chỉ phục vụ cho nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích khác
Đề cương nghiên cứu được Hội đồng xét duyệt Trường Đại học Thăng Long thông qua