Chỉ nghiên cứu về stress, trầm cảm, lo âu của điều dưỡng trong phạm vi Bệnh viện Nhi trung ương nên kết quả nghiên cứu chỉ phản ánh được thực trạng cùng một số yếu tố liên quan đến str[r]
Trang 1Nguyễn Thị Minh Huyền
STRESS, TRẦM CẢM, LO ÂU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN CÁC KHOA LÂM SÀNG,
BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Hà Nội, năm 2019
Trang 2-
Nguyễn Thị Minh Huyền
STRESS, TRẦM CẢM, LO ÂU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN CÁC KHOA LÂM SÀNG,
BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2019
CHUYÊN NGÀNH: Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số: 8.72.07.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Nguyễn Bạch Ngọc
Hà Nội, năm 2019
Trang 3kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
về đề tài của mình
Nguyễn Thị Minh Huyền
Trang 4bảo tận tình của các thầy cô, sự động viên cổ vũ của gia đình và sự giúp đỡ nhiệt tình của bạn bè
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Phó Giáo
sư - Tiến sỹ Nguyễn Bạch Ngọc, cô đã cho tôi nhiều lời khuyên quý báu, tận tình chỉ bảo cho tôi về phương pháp nghiên cứu khoa học và luôn động viên tôi học tập, tìm tòi, sáng tạo, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các quý thầy cô trong bộ môn Y tế công cộng, trường Đại học Thăng Long đã dày công giảng dạy, đào tạo, truyền đạt kiến thức cho các thế hệ học viên chúng tôi
Tôi xin cảm ơn các bác sỹ, điều dưỡng, nhân viên của Bệnh viện Nhi Trung ương đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập số liệu cũng như trong suốt quá trình làm luận văn
Tôi xin cảm ơn những người bạn đã kề vai sát cánh bên tôi trong hai năm học vừa qua, đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập và nghiên cứu Cuối cùng, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình tôi, những người đã luôn ở bên động viên, cổ vũ và tiếp thêm sức mạnh cho tôi, giúp tôi luôn vững bước trên con đường của mình
Hà Nội, ngày 27 tháng 12 năm 2019 Nguyễn Thị Minh Huyền
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1.Một số khái niệm cơ bản 3
1.1.1.Khái niệm rối loạn căng thẳng (stress) 3
1.1.2.Áp lực thể chất và tâm lý 4
1.1.3.Khái niệm trầm cảm 4
1.1.4.Khái niệm lo âu 5
1.2.Những nguyên nhân gây stress và những yếu tố liên quan 6
1.2.1.Nguyên nhân khách quan 6
1.2.2.Nguyên nhân chủ quan 7
1.3.Những hậu quả của stress 7
1.4.Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, yếu tố nguy cơ của trầm cảm 8
1.4.1.Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh 8
1.4.2.Một số yếu tố nguy cơ làm gia tăng trầm cảm 9
1.5.Giới thiệu về công cụ đo lường stress, trầm cảm, lo âu trong nghiên cứu 14
1.5.1.Những căn cứ để lựa chọn công cụ đo lường stress 14
1.5.2.Thang điểm đánh giá Trầm cảm - Lo âu - Căng thẳng (DASS 21) 15
1.5.3.Thang đo Brief Job Stress Questionnaire - BJSQ 17
1.5.4.Một số thang đo khác 17
1.6.Những công trình nghiên cứu về stress, trầm cảm, lo âu và các yếu tố liên quan 18
1.6.1.Trên thế giới 18
1.6.2.Tại Việt Nam 20
1.7.Giới thiệu về cơ sở nghiên cứu 22
1.8.Khung lý thuyết 26
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27 2.1.Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 27
2.1.1.Đối tượng nghiên cứu 27
Trang 62.2.2.Cỡ mẫu, cách chọn mẫu 27
2.3.Phương pháp thu thập số liệu 28
2.3.1.Bộ công cụ 28
2.3.2.Cơ sở xây dựng bộ công cụ 28
2.3.3.Kỹ thuật thu thập số liệu 28
2.3.4.Quy trình thu thập thông tin 29
2.4.Các biến số, chỉ số nghiên cứu 29
2.5.Tiêu chuẩn đánh giá 33
2.5.1.Đánh giá điểm cho bộ công cụ DASS 21 33
2.5.2.Đánh giá điểm cho bộ công cụ BJSQ 33
2.6.Xử lý và phân tích số liệu 33
2.7.Sai số và biện pháp khắc phục sai số 34
2.7.1.Sai số có thể mắc phải 34
2.7.2.Biện pháp khắc phục sai số: 34
2.8.Đạo đức trong nghiên cứu 34
2.9.Hạn chế của nghiên cứu 34
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36 3.1.Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 36
3.1.1.Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 36
3.1.2.Hành vi và lối sống của điều dưỡng viên 38
3.2.Thực trạng stress, trầm cảm, lo âu của điều dưỡng bệnh viện Nhi Trung ương 39
3.2.1.Thực trạng stress, trầm cảm, lo âu của đối tượng nghiên cứu 39
3.2.2.Thực trạng stress do nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu (BJSQ) 43
3.3.Một số yếu tố liên quan đến stress của đối tượng nghiên cứu 45
Trang 74.1.2.Thực trạng stress nghề nghiệp của điều dưỡng viên 564.2.Một số yếu tố liên quan đến stress của đối tượng nghiên cứu 57
Trang 8AIDS : Acquired immuno-deficiency syndrome (Hội chứng suy
giảm miễn dịch mắc phải ở người)
BJSQ : Brief Job Stress Questionnaire (Bộ câu hỏi đánh giá stress
công việc)
DASS : Depression Anxiety Stress Scale (Thang điểm đánh giá
Trầm cảm - Lo âu - Căng thẳng)
ICF : Hệ thống phân loại quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và
Trang 9Bảng 1.2 Cơ cấu các khoa, phòng Bệnh viện Nhi Trung ương 23
Hình 1.1 Khung lý thuyết của đề tài nghiên cứu 26
Bảng 2.1 Các nhóm biến số và chỉ số 29
Bảng 2.2 Cách tính điểm của thang đo DASS 21 33
Bảng 3.1 Phân loại ĐTNC theo nhóm tuổi, giới tính, thu nhập 36
Bảng 3.2 Phân loại ĐTNC theo chức danh, trình độ, thâm niên, buổi trực 37
Bảng 3.3 Môt số hành vi và lối sống của đối tượng nghiên cứu 38
Bảng 3.4 Thực trạng stress, trầm cảm, lo âu của đối tượng nghiên cứu 39
Bảng 3.5 Mức độ stress, trầm cảm, lo âu của đối tượng nghiên cứu 39
Bảng 3.6 Thực trạng stress, trầm cảm, lo âu theo nhân khẩu học của ĐTNC 40
Bảng 3.7 Thực trạng stress theo hành vi và lối sống của đối tượng nghiên cứu 41
Bảng 3.8 Thực trạng stress theo lối sống của đối tượng nghiên cứu 42
Bảng 3.9 Thực trạng stress công việc của đối tượng nghiên cứu 43
Bảng 3.10 Mức độ hỗ trợ xã hội của đối tượng nghiên cứu 44
Bảng 3.11 Mức độ hài lòng của đối tượng nghiên cứu 44
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa nhóm tuổi và stress của ĐTNC 45
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa giới tính và stress của ĐTNC 45
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa thu nhập và stress của ĐTNC 46
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa chức danh và stress của ĐTNC 46
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa trình độ và stress của ĐTNC 46
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa thâm niên và stress của ĐTNC 47
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa tần suất trực và stress của ĐTNC 47
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa thói quen hút thuốc lá và stress của ĐTNC 48
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa thói quen sử dụng rượu bia với stress của ĐTNC 48
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa thói quen tập thể dục với stress của ĐTNC 48
Bảng 3.22 Mối liên quan giữa cách giải tỏa căng thẳng và stress của ĐTNC 49
Bảng 3.23 Mối liên quan giữa hài lòng và stress của ĐTNC 49
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện nhất về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật (theo
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) [55][56] Định nghĩa này là chủ đề của nhiều cuộc tranh cãi, đặc biệt thiếu giá trị hoạt động và vì vấn đề được tạo ra bởi từ
"toàn diện", nên đây vẫn là vấn đề còn tranh luận [30][40] Các định nghĩa khác cũng đã được đưa ra, trong số đó định nghĩa gần đây nhất là mối quan hệ giữa sức khỏe và sự thỏa mãn các nhu cầu cá nhân [28] Các hệ thống phân loại như Phân loại quốc tế về Gia đình của WHO, bao gồm Hệ thống phân loại quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe (ICF) và Phân loại quốc tế về Bệnh tật (ICD), thường được sử dụng để định nghĩa và để đo đạc các thành phần của sức khỏe Như vậy chỉ cần thiết một trong ba yếu tố trên thì được coi là thiếu sức khỏe, là tình trạng bệnh tật
Ngày nay, trong các mối quan tâm đến sức khỏe thì tình trạng stress do nghề nghiệp đang là một vấn đề được quan tâm toàn cầu, và là mối đe dọa nguy hiểm nhất của thế kỷ XXI Trong khi tại các quốc gia đang phát triển (trong đó
có Việt Nam) các bệnh có nền tảng tâm lý đang có xu hướng phát triển nhanh chóng Đến năm 2030 – theo đánh giá của WHO – trầm cảm có thể trở thành vấn đề sức khỏe lớn nhất, vượt qua cả các bệnh hệ tim-mạch và AIDS
Trong các đối tượng lao động hiện nay, nhân viên y tế, đặc biệt là các nhân viên ở các khoa lâm sàng, tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân làm việc trong môi trường có khả năng stress rất cao với nhiều lý do như: làm việc quá tải, yếu tố an ninh trong bệnh viện, ý thức của người khám bệnh Tác giả Demiral và đồng nghiệp năm 2000 đã nghiên cứu trên 300 bác sĩ ở các chuyên khoa khác nhau và tìm thấy tỷ lệ chung về trầm cảm và lo âu là 18,9 % và 27,4% ở các bác sĩ [33]
Ở Việt Nam, sức ép quá lớn của công việc khiến tỷ lệ nhân viên y tế có dấu hiệu stress cao Nghiên cứu của Lê Thành Tài năm 2008 cho thấy nhân viên điều dưỡng có dấu hiệu stress nghề nghiệp tại bệnh viện đa khoa trung ương Cần
Trang 12Thơ, bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ và bệnh viện đa khoa Châu Thành - Hậu Giang : 45,2% có dấu hiệu stress ở mức cao, 42,8% ở mức trung bình [11] Nghiên cứu của tác giả Lương Quốc Hùng tại bệnh viện E năm 2018 cho biết tỷ
lệ có dấu hiệu stress của nhân viên điều dưỡng khối lâm sàng bệnh viện E năm
2018 là 24,3% Mức độ stress của nhân viên điều dưỡng khối lâm sàng bệnh viện E năm 2018 lần lượt là 12,3% mức độ nhẹ, 6,5% mức độ vừa, 4,5% mức độ nặng và 1% mức độ rất nặng [13]
Nghiên cứu stress của nhân viên y tế, đặc biệt đó là điều dưỡng đang trực tiếp làm việc tại bệnh viện Nhi Trung ương, nơi mà môi trường làm việc luôn căng thẳng, đi kèm nhiều những rủi ro từ đặc thù công việc đang được quan tâm rất lớn Bệnh viện Nhi trung ương là một bệnh viện đặc thù và là một trong ba bệnh viện hàng đầu khu vực trong lĩnh vực nhi khoa nhưng còn rất ít nghiên cứu đánh giá tình trạng stress của điều dưỡng Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài: “Stress, trầm cảm, lo âu và một số yếu tố liên quan của điều dưỡng viên các Khoa lâm sàng tại Bệnh viện Nhi trung ương năm 2019” nhằm hai mục tiêu như sau:
1 Đánh giá thực trạng stress, trầm cảm và lo âu của điều dưỡng viên của các khoa lâm sàng tại Bệnh viện Nhi trung ương năm 2019
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến stress của các đối tượng nghiên cứu
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm rối loạn căng thẳng (stress)
Theo tâm lý học giải thích thì đây là một cảm giác căng thẳng và dồn ép
Áp lực với cường độ thấp có thể là một điều tốt và thậm chí có lợi ích trong công việc và sức khỏe Stress tích cực giúp tăng hiệu suất vận động thể thao Nó cũng có vai trò trong động lực, thích nghi và phản ứng với môi trường xung quanh [3] Tuy nhiên với một lượng áp lực quá nhiều có thể dẫn đến nhiều vấn
đề đối với cơ thể và điều đó có thể cực kì có hại
Stress - một thuật ngữ phổ biến nhưng cũng thường xuyên bị hiểu nhầm nhất Người ta thường nghĩ rằng có những tình huống mà bản chất của nó đã khó tránh khỏi căng thẳng do sự cạnh tranh cao đòi hỏi khả năng xử lý tốt
Tác giả Walter Cannon (1927) là người đầu tiên đưa ra khái niệm về stress Định nghĩa tác giả đưa ra tập trung vào khía cạnh sinh học của stress Stress được hiểu đơn thuần là phản ứng “có sẵn” của cơ thể trước những nhân tố gây hại nhằm huy động sức mạnh của cơ thể để ứng phó [43]
Stress tích cực giúp chúng ta thích nghi, hòa hợp để cùng sống chung với stress, biến nó thành động lực giúp con người phát triển Nhưng nếu nhìn nhận ở khía cạnh tiêu cực thì stress có thể phá vỡ cân bằng trong cuộc sống của con người làm nảy sinh nhiều vấn đề về sức khỏe như lo âu, trầm cảm, suy kiệt ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bản thân và xã hội [28]
Theo Lazarus, 1966; Lazarus, Folkman, 1984, stress được định nghĩa như một quá trình tương giao giữa con người với môi trường, trong đó đương sự nhận định sự kiện từ môi trường có tính chất đe dọa và có hại, đòi hỏi phải cố gắng sử dụng các tiềm năng thích ứng của mình để đối mặt với những điều đó [43]
Ở Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Trần Anh Thụ có định nghĩa: stress là
Trang 14tình trạng gây khó chịu hoặc gây thương tổn về cảm xúc và tinh thần, xảy ra khi
cá nhân phản ứng lại những kích thích hoặc tình huống cực kỳ khó khăn, nhiều
áp lực và căng thẳng do tác động từ bên ngoài và có thể ảnh hưởng tới sức khoẻ [22]
Trong giới hạn nghiên cứu, chúng tôi định nghĩa: căng thẳng (stress) là yếu
tố thể chất, tinh thần hoặc cảm xúc gây ra căng thẳng cho cơ thể hoặc tinh thần Căng thẳng có thể là bên ngoài (từ môi trường, tâm lý hoặc xã hội) hoặc bên trong (bệnh tật, bệnh lý cơ thể)
Nghiên cứu năm 2008 được thực hiện ở Úc nhằm đánh giá khả năng điều dưỡng viên có thể làm gì và nói gì về chăm sóc sức khỏe tại nơi làm việc, phát hiện cho thấy họ không tham gia đầy đủ trong việc chăm sóc sức khỏe [36] 1.1.2 Áp lực thể chất và tâm lý
Áp lực là thuật ngữ được sử dụng trong vật lý học để chỉ lực ép trên bề mặt của một vật và vuông góc với bề mặt đó Sau được sử dụng rộng rãi ra với nghĩa
áp lực là sự bắt ép bằng sức mạnh, sức ép [6]
Theo Từ điển Tâm lý học, áp lực là lực khác với nhu cầu về hướng tác động Nếu nhu cầu là lực xuất phát từ bên trong cơ thể thì áp lực là lực tác động
từ phía môi trường lên cơ thể [27]
Như vậy, “Áp lực thể chất và tâm lý” là những nhân tố tạo sức ép cho con người trong quá trình sống, tác động lên cơ thể, làm cho con người có những căng thẳng về mặt tâm lý, gây cản trở hoạt động, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người Có thể hiểu khái quát áp lực thể chất và tâm lý như là những nhân tố gây sức ép cho cá nhân, tạo ra những thay đổi trên thực thể và căng thẳng về mặt tâm lý
1.1.3 Khái niệm trầm cảm
Trầm cảm là một trạng thái cảm xúc buồn rầu, chán nản khác với phản ứng buồn chán nhất thời ở người bình thường Trầm cảm có nguyên nhân và cơ chế
Trang 15bệnh sinh phức tạp, biểu hiện lâm sàng không chỉ bằng các triệu chứng đặc trưng về tâm thần là giảm khí sắc mà còn kèm theo nhiều triệu chứng về cơ thể nên người bệnh trầm cảm thường đến với các chuyên khoa khác và dễ bị bỏ sót chẩn đoán Trầm cảm thường kèm các rối loạn tâm thần khác như lo âu [57] Trầm cảm điển hình được mô tả bằng sự ức chế toàn bộ các quá trình hoạt động tâm thần biểu hiện bằng 3 triệu chứng đặc trưng sau: Khí sắc trầm: Biểu hiện bằng nét mặt, dáng điệu buồn rầu, ủ rũ Mất hoặc giảm sự quan tâm thích thú: không quan tâm đến mọi việc, không còn ham thích gì kể cả vui chơi Mất hoặc giảm năng lượng, giảm hoạt động: dễ mệt mỏi không còn sức lực chỉ sau một cố gắng nhỏ Các triệu chứng phổ biến khác của trầm cảm bao gồm:
- Mất hoặc khó tập trung chú ý
- Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin
- Tự cho mình là không xứng đáng hoặc có ý tưởng bị buộc tội, bị khuyết điểm
- Nhìn tương lai ảm đạm, bi quan, đen tối
- Có ý tưởng, hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát;
- Rối loạn giấc ngủ
- Ăn ít ngon miệng [5][58]
Tiêu chuẩn chẩn đoán giai đoạn trầm cảm theo ICD 10:
- Trầm cảm nhẹ, phải có 2/3 triệu chứng đặc trưng của trầm cảm và phải có
ít nhất 2/7 triệu chứng phổ biến khác của trầm cảm
- Trầm cảm vừa, phải có ít nhất 2/3 triệu chứng đặc trưng của trầm cảm và phải có ít nhất 3/7 triệu chứng phổ biến khác của trầm cảm
- Trầm cảm nặng, phải có 3/3 triệu chứng đặc trưng của trầm cảm và phải
có ít nhất 4/7 triệu chứng phổ biến khác của trầm cảm [5][58]
1.1.4 Khái niệm lo âu
Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên (bình thường) của con người trước
Trang 16những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội, mà con người phải tìm cách vượt qua, tồn tại, hướng tới [12]
Rối loạn lo âu là một trong các rối loạn tâm lý có tính phổ biến cao, bệnh thường kết hợp với nhiều rối loạn khác như trầm cảm, rối loạn nhân cách, rối loạn ăn uống, rối loạn dạng cơ thể Rối loạn lo âu là sự lo sợ quá mức trước một tình huống xảy ra, có tính chất vô lý, lặp lại và kéo dài gây ảnh hưởng tới sự thích nghi với cuộc sống Khi lo âu và sợ hãi quá mức ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống, vẫn tiếp tục ngay cả khi mối lo thực tế đã kết thúc thì đó là bệnh
lý Nguyên nhân chính xác của rối loạn bao gồm nhiều yếu tố khác nhau, chủ yếu liên quan tới các sang chấn tâm lý kết hợp với yếu tố nhân cách có xu hướng
lo âu [12]
1.2 Những nguyên nhân gây stress và những yếu tố liên quan
1.2.1 Nguyên nhân khách quan
Stress do môi trường sinh thái [1]:
Do rối loạn chu kỳ thời gian sinh học
Do suy giảm khả năng thích ứng với môi trường
Do những tác nhân vật lý như tiếng ồn, hóa chất, sự đông đúc, không gian chật chội, ô nhiễm, nóng bức, thay đổi nơi cư trú
Stress do môi trường xã hội [1]: mối quan hệ xã hội ít ổn định, nghèo khổ, quyền hạn thấp kém; những vấn đề của toàn cầu hóa, quá tải dân số, gia tăng tội phạm, suy thoái kinh tế, thất nghiệp, sự phân phối các dịch vụ xã hội, sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, sự quá tải thông tin, những biến động xã hội, vv…
Một nghiên cứu năm 2017 cho rằng, việc có các biện pháp giải quyết vấn
đề xã hội được đánh giá tốt hơn là dùng các biện pháp hạn chế công việc, tâm lý [41]
Stress do những mối quan hệ giữa các cá nhân [1]: bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, tình yêu, vợ chồng, con cái, vv…
Trang 17Nghiên cứu của Mai Hòa Nhung năm 2015 cho thấy các yếu tố liên quan tới căng thẳng của điều dưỡng bao gồm: tham gia công tác quản lý, mối quan hệ với đồng nghiệp và mâu thuẫn với cấp trên [14]
Stress do nghề nghiệp [1]: những thay đổi, biến động trong cuộc sống; nhiều vai trò, trách nhiệm; điều kiện, môi trường, thời gian lao động; tính chất, yêu cầu của công việc; vấn đề thu nhập; quan hệ trong lao động, công việc; sự phát triển nghề nghiệp; chế độ chính sách, cơ cấu tổ chức quản lý không phù hợp
1.2.2 Nguyên nhân chủ quan
Một số nghiên cứu đã nhìn nhận căng thẳng là hậu quả do ảnh hưởng của những thay đổi hoặc những sự kiện quan trọng trong cuộc sống [1][17][21]:
Những điều phiền toái, tích lũy những ấm ức kéo dài, hụt hẫng thường dẫn đến tình trạng căng thẳng hơn những sự kiện gây choáng váng mạnh
Tình trạng bệnh lý thực thể từ trước hoặc mới phát sinh gây tác động đến tâm lý
Sự thiếu ý thức về khả năng kiểm soát bản thân
Không chắc chắn về tương lai hay những sự kiện không thể dự đoán Những nhân viên y tế chưa sẵn sàng đối mặt với việc lãnh đạo quản lý có thể cắt giảm công việc và ranh giới nghề hiện có [46]
Ít có quyền quyết định những việc của bản thân
1.3 Những hậu quả của stress
Nhiều tài liệu nghiên cứu đã chỉ ra stress ảnh hưởng đến cơ thể theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực tùy theo từng đối tượng, tính chất, mức độ khác nhau:
Tích cực: ở giai đoạn đầu, stress có lợi cho hệ miễn dịch, giúp con người thích nghi với những thay đổi của môi trường, tăng sự sáng tạo,
Trang 18tăng khả năng cảnh giác, tạo sự hưng phấn,tạo sự tập trung và tăng động lực làm việc, từ đó tăng năng lực phán đoán, ý chí và tính chiến đấu của con người [31]
Tiêu cực: theo đích tác động thì stress ảnh hưởng tiêu cực đến con người
về cả hai mặt là thực thể (sinh lý) và tâm thần (tâm lý) [1]
Rối loạn thể chất: bệnh tim mạch, huyết áp, đường tiêu hóa, bệnh cơ xương khớp, vv…
Rối loạn tâm lý: rối loạn tâm thần, suy giảm chức năng nhận thức; sốc và mất phương hướng; bị phá vỡ quan hệ xã hội; hiện tượng kiệt sức (Burn Out Syndrome); tai nạn thương tích [1]
Như vậy chấp nhận thích nghi, hòa hợp sống chung với stress sẽ biến nó thành động lực giúp con người càng hoàn thiện và phát triển hơn trong việc và cuộc sống
1.4 Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, yếu tố nguy cơ của trầm cảm
1.4.1 Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh
Về cơ bản có thể chia nguyên nhân của trầm cảm làm 3 loại sau:
- Trầm cảm phản ứng là trầm cảm xuất hiện sau sự cố sang chấn, căng thẳng kéo dài
- Trầm cảm thực tổn là trầm cảm xuất hiện trên nền tảng có tổn thương ở não hoặc các bệnh lý cơ thể ngoài não, ảnh hưởng đến hoạt động chức năng của não
- Trầm cảm nội sinh là trầm cảm do mất cân bằng, các chất dẫn truyền thần kinh cảm xúc, các amin sinh học như serotonin, noradrenalin, dopamin [5] Yếu tố di truyền: Các nghiên cứu gia đình cho thấy 50% số bệnh nhân rối loạn cảm xúc có ít nhất một người cha hoặc mẹ mắc rối loạn cảm xúc thường là trầm cảm [5][16]
Cơ chế dẫn truyền thần kinh: Theo giả thuyết này, các nhà nghiên cứu thấy
Trang 19có tổn thương hệ thống dẫn truyền thần kinh ở các vùng khác nhau của não gây
ra các rối loạn trầm cảm [5][16]
Giả thuyết về nor-epinephrin, giả thuyết về dopamine: Theo tác giả Blows (2000) serotonin và noradrenaline ảnh hưởng rất lớn đến hành vi về tâm thần trong khi đó dopamine chỉ ảnh hưởng đến vận động [29]
Nhân cách, các sự kiện trong cuộc sống (stress): Bệnh nhân trầm cảm thường trải nghiệm các stress mạnh trong thời gian trước đó Người ta cho rằng stress có thể là nguyên nhân hoặc yếu tố thúc đẩy cho giai đoạn trầm cảm nhẹ, hoặc là yếu tố làm trầm trọng thêm của các trường hợp trầm cảm nặng [5][51] 1.4.2 Một số yếu tố nguy cơ làm gia tăng trầm cảm
• Các bệnh mãn tính làm gia tăng tỷ lệ mắc trầm cảm
Theo Robert G Robinson (2002) tỷ lệ mắc trầm cảm trong suốt cuộc đời của người dân Hoa Kỳ vào khoảng 17% Tỷ lệ mắc trầm cảm ở những người khỏe mạnh thấp hơn rất nhiều so với những người đang mắc bệnh Tỷ lệ mắc trầm cảm trong nhóm bệnh nhân rất cao, từ 20 đến 40% Trầm cảm đơn thuần hoặc kết hợp với các bệnh lý khác đều gây những tổn hại nghiêm trọng về mặt thể chất và tinh thần Nếu không được điều trị, trầm cảm có thể kéo dài nhiều tháng và có thể gây phức tạp thêm quá trình điều trị bệnh [51]
Bất cứ bệnh mãn tính hoặc bệnh nặng nào đều có thể dẫn đến trầm cảm Nhiều loại thuốc dùng cho các bệnh mãn tính có thể gây ra trầm cảm [29] Trong số đó có thuốc giảm đau trong bệnh viêm khớp, thuốc hạ cholesterol, thuốc điều trị cao huyết áp và bệnh tim, thuốc giãn phế quản được sử dụng cho bệnh hen suyễn và các bệnh phổi khác Các bệnh có thể dẫn đến trầm cảm có thể liệt kê như sau:
- Bệnh tuyến giáp: suy giáp có thể gây ra trầm cảm Tuy nhiên, suy giáp cũng có thể được chẩn đoán lầm là trầm cảm và không bị phát hiện
- Đau mạn tính: các nghiên cứu đã báo cáo có sự liên kết mạnh mẽ giữa
Trang 20trầm cảm và đau đầu, bao gồm đau đầu mãn tính và đau nửa đầu Một vài nghiên cứu chỉ ra rằng một hội chứng đau nửa đầu, lo lắng, và trầm cảm là do các yếu
tố phổ biến, chẳng hạn như bất thường trong các chất hoá học, đặc biệt là dopamine hay serotonin Đau xơ cơ và hội chứng đau mãn tính khác cũng liên quan với bệnh trầm cảm
- Đột quỵ và các bệnh thần kinh khác: khi bị một cơn đột quỵ làm tăng nguy cơ phát triển bệnh trầm cảm Ngoài ra, bệnh nhân Parkinson, chấn thương cột sống, và các vấn đề tương tự khác mà làm giảm khả năng vận động hay suy nghĩ thường gây ra trầm cảm
- Suy tim: bệnh nhân bị suy tim hoặc bệnh nhân đã bị một cơn đau tim cũng
có thể có nguy cơ bị trầm cảm
- Rối loạn giấc ngủ và mất ngủ: ngủ bất thường là một phần của rối loạn trầm cảm, nhiều bệnh nhân trầm cảm bị chứng mất ngủ Mặc dù căng thẳng và trầm cảm là nguyên nhân chính của chứng mất ngủ, mất ngủ cũng có thể làm tăng hoạt động của các hormone và các mối liên kết trong não có thể tạo những thay đổi trong cảm xúc Ngay cả khi có sự thay đổi nhỏ trong thói quen ngủ cũng có thể tác động đáng kể đến tâm trạng của một người Theo tác giả Daniel Taylor (2005), những người bị mất ngủ có tỷ lệ mắc trầm cảm cao gấp 9,8 lần so với những người không mất ngủ [32]
- Bệnh tiểu đường: nghiên cứu gần đây cho thấy trầm cảm có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường và bệnh tiểu đường có thể làm tăng nguy cơ trầm cảm Theo tác giả Egede (2010) (Diabetes and depression: Global perspectives), đái tháo đường và trầm cảm là 2 bệnh liên quan chặt chẽ với gánh nặng bệnh tật,
tử vong và chi phí chăm sóc sức khỏe Sự song hành của trầm cảm và đái tháo đường có liên quan đến giảm khả năng điều trị, giảm chuyển hóa, tăng biến chứng, giảm chất lượng cuộc sống, tăng chi phí điều trị, tăng mức độ tàn tật và giảm khả năng lao động và tất yếu gia tăng nguy cơ tử vong Khoảng 60% bệnh nhân AIDS bị trầm cảm [34]
Trang 21• Các yếu tố thuộc về cá nhân
- Trầm cảm ở phụ nữ: Đối với phụ nữ, do cấu trúc cơ thể, cơ chế hoạt động của một số cơ quan như sinh dục, nội tiết, giải phẫu của người phụ nữ khác với nam giới, do vậy cũng ảnh hưởng đến trầm cảm Một số yếu tố liên quan làm gia tăng trầm cảm ở phụ nữ như: Các yếu tố nội tiết: Nội tiết thay đổi trong quá trình phát triển và sinh sản có thể đóng một vai trò trong bệnh trầm cảm Ảnh hưởng của nội tiết đặc biệt liên quan đến tuổi dậy thì Trong khi cả nam và nữ có
tỷ lệ trầm cảm như nhau trước khi dậy thì, phụ nữ có nguy cơ cao gấp hai lần bị trầm cảm khi đến tuổi dậy thì Kinh nguyệt: Nhiều phụ nữ trải nghiệm những 9 thay đổi tâm trạng trong khoảng thời gian kinh nguyệt, một tỷ lệ nhỏ phụ nữ bị rối loạn tiền kinh nguyệt Đây là một hội chứng tâm thần cụ thể bao gồm trầm cảm nặng, khó chịu, và căng thẳng trước kỳ kinh Mang thai và sinh sản: Biến động nội tiết xảy ra trong thai kỳ, đặc biệt là khi kết hợp với mối quan hệ căng thẳng và lo lắng, có thể làm gia tăng trầm cảm Khoảng 10 - 15% của phụ nữ, đặc biệt khi có con đầu, bị trầm cảm sau khi sinh, tình trạng trầm cảm nghiêm trọng (đôi khi kèm theo rối loạn tâm thần) xảy ra trong năm đầu tiên sau khi sinh Sự suy giảm nhanh chóng của các hormone sinh dục khi sinh con có thể đóng vai trò quan trọng trong trầm cảm sau sinh ở những phụ nữ nhạy cảm Các nghiên cứu cho rằng những phụ nữ nhạy cảm hơn với biến động nội tiết tố có nguy cơ mắc trầm cảm sau sinh lớn hơn cho nếu họ có tiền sử cá nhân hay gia đình bị bệnh trầm cảm Sẩy thai cũng làm gia tăng nguy cơ trầm cảm Tiền mãn kinh và mãn kinh: Biến động nội tiết có thể gây ra trầm cảm khi phụ nữ được chuyển sang thời kỳ mãn kinh Giấc ngủ bị gián đoạn cũng rất phổ biến trong thời tiền mãn kinh và có thể đóng góp vào trầm cảm Khi phụ nữ đi vào thời kỳ mãn kinh, triệu chứng trầm cảm thường có xu hướng suy yếu dần Trách nhiệm gia đình và chăm sóc trẻ em có thể đóng một vai trò trong việc gây ra trầm cảm
ở phụ nữ Ngoài ra, nhiều phụ nữ nghèo, bị lạm dụng tình dục, hoặc xung đột gia đình, nghiện rượu trong thời kỳ có thai cũng là những yếu tố nguy cơ làm gia
Trang 22tăng bệnh trầm cảm [5][29]
- Trầm cảm ở nam giới: Trầm cảm không phải là hiếm gặp ở nam giới Một
số bằng chứng cho thấy rằng đàn ông có khuynh hướng dùng rượu nhiều hơn để che giấu tình trạng trầm cảm của họ, dẫn đến số liệu thống kê ít hơn so với tỷ lệ trầm cảm thực tế Một số nghiên cứu cho thấy trầm cảm ở nam giới có liên quan với các chỉ số như khuynh hướng hành vi bốc đồng hoặc lạm dụng rượu hay chất gây nghiện [5][29]
- Trầm cảm ở trẻ em và thanh thiếu niên: Trầm cảm có thể xảy ra ở trẻ em
ở mọi lứa tuổi, mặc dù thanh thiếu niên có nguy cơ cao nhất Các nguy cơ 10 làm gia tăng trầm cảm như: tiếp xúc với căng thẳng, bị lạm dụng, bị chấn thương, trầm cảm tái diễn và những thay đổi khác về cảm xúc và tâm thần ở tuổi trưởng thành; sau khi bị một căn bệnh nào đó kéo dài, hoặc bị tàn tật; bị cha mẹ
xa lánh, hoặc đổ vỡ gia đình, cha mẹ ly hôn Một số nghiên cứu cho thấy 3-5% trẻ em và thanh thiếu niên bị trầm cảm lâm sàng, và 10 - 15% có một số triệu chứng trầm cảm [5][12][29]
- Trầm cảm ở người cao tuổi: Tỷ lệ tăng lên đáng kể ở những người có bệnh mãn tính như Parkinson, Alzheimer, bệnh tim, và bệnh ung thư… Trầm cảm xảy với tỷ lệ 12 - 14% người cao tuổi có nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà hoặc bệnh viện Ngoài ra, người già thường phải đối mặt với những thay đổi đáng kể trong cuộc sống như căng thẳng, sự mất mát người thân (vợ/chồng) cũng làm gia tăng tỷ lệ mắc trầm cảm Một nghiên cứu ở Malaysia về một số yếu tố nguy cơ làm gia tăng trầm cảm ở người già cho thấy mối liên quan giữa trầm cảm với tiền sử gia đình, bị mắc nhiều bệnh mãn tính và người gặp khó khăn về xã hội [5][34][57]
Trang 23không có khả năng bỏ thuốc lá, chỉ có khoảng 6% cai thuốc thành công sau 1 năm Những người hút thuốc có tiền sử trầm cảm không được khuyến khích tiếp tục hút thuốc lá, hơn nữa còn phải theo dõi sát về sự tái phát trầm cảm sau khi
họ ngừng hút thuốc Các thuốc chống trầm cảm bupropion, được sử dụng để giúp đỡ những người bỏ hút thuốc lá Hút thuốc lá ở phụ nữ đặc biệt có ảnh hưởng đến đứa trẻ sau này sinh ra [51]
- Vận động: Theo Tờ thông tin tuần lễ Y tế tâm thần – Australia năm 2009 – “Rèn luyện khả năng thích ứng cao” thì mỗi người nên vận động 1 ngày tối thiểu là 30 phút, có tác dụng tăng cường sức khỏe, giảm stress và hạn 11 chế mắc trầm cảm [10] Vận động cũng là một biện pháp điều trị để phục hồi chức năng cho bệnh nhân trầm cảm
- Áp lực của công việc: Công việc căng thẳng, như làm công tác nghiên cứu khoa học, quản lý, làm việc quá sức, quá thời gian, kéo dài thường là nguyên nhân của stress, tái diễn nhiều lần dẫn đến trầm cảm Điều kiện lao động bao gồm nhiều yếu tố như: yêu tố môi trường (rung, ồn, ô nhiễm hơi khí độc ); tâm sinh lý: thể lực, thần kinh, giác quan ; yếu tố tổ chức (phân công lao động hợp lý ); yếu tố xã hội như quan hệ cấp dưới-trên, đồng nghiệp, thưởng phạt tính chất của lao động như lao động trí óc hay thể lực, tự động hóa, thủ công từ đó tác động tới người lao động, gây nên stress [51]
Nghiên cứu của Trương Đình Chính và cộng sự (2009) cho thấy tỷ lệ mắc trầm cảm trong điều dưỡng và nữ hộ sinh tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu là 59% Những yếu tố thuộc môi trường làm việc có liên quan đến khả năng mắc rối loạn tâm thần là làm việc tại các khoa nhiều bệnh nhân hoặc/và bệnh nhân nặng, công việc đòi hỏi quan sát hoặc lựa chọn chính xác, công việc quá nặng nhọc, chịu sức ép nặng nề trong công việc, và nguy cơ bị mất việc [25]
• Yếu tố về thu nhập gia đình
Theo Laura A Pratt and Debra J Brody (8/2008) cho thấy người ở độ tuổi 18-39, 40-59 có thu nhập dưới mức nghèo thì tỷ lệ mắc trầm cảm cao hơn hẳn ở
Trang 24những người có thu nhập ở mức trên (tỷ lệ trầm cảm tương ứng là 11,5% / 3,5%
1.5.1 Những căn cứ để lựa chọn công cụ đo lường stress
Theo kết luận của Pichot và Hamilton, các công cụ trắc nghiệm tâm lý nói chung và bộ công cụ đo lường về stress nói riêng cần đảm bảo các tiêu chí [50]:
Tính khách quan: kết quả đo của phép đo không phụ thuộc vào mối quan
hệ riêng tư giữa người nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
Độ tin cậy: bộ công cụ đo lường phải cho những kết quả giống nhau qua nhiều lần thực hiện, nhiều người thực hiện trên cùng một đối tượng, tuy nhiên phải luôn tính đến các đặc điểm và mức độ phát triển của bản thân đối tượng khảo sát
Độ ứng nghiệm: nghĩa là sau khi áp dụng các công cụ đó thì phải đo được chính cái cần đo, cái cần nghiên cứu Độ ứng nghiệm của công cụ bao gồm độ ứng nghiệm nội dung (các đề mục trong bộ công cụ phải đại diện được cho cái cần đo), độ ứng nghiệm đồng thời (bộ công cụ phải có giá trị đồng thời với những tiêu chuẩn đánh giá đang có) và độ ứng nghiệm cấu trúc (công cụ đo phải đảm bảo đánh giá được từng biến số hay cấu trúc bên trong)
Tính quy chuẩn: cách tiến hành xử lý kết quả, các bước thực hiện, các cách cho điểm và kết luận đều được quy định chặt chẽ Công cụ đo lường phải được thực hiện theo những tiêu chuẩn, hay những quy chuẩn
Trang 25căn cứ theo một nhóm chuẩn, và nhóm chuẩn cũng phải mang tính đại diện cho cộng đồng
Trong các yêu cầu đó, độ ứng nghiệm và độ tin cậy của công cụ đánh giá đóng vai trò then chốt trong việc lựa chọn phương tiện đánh giá phù hợp Đặc điểm, tính chất nơi áp dụng công cụ đánh giá cũng rất quan trọng vì sự hạn chế
về mặt thời gian có thể làm ảnh hưởng tới sự lựa chọn các thang đo Ngoài ra khi đo lường stress cũng cần xác định xem với đối tượng nào thì nên sử dụng thang tự đánh giá, thang quan sát hay thang phỏng vấn thì phù hợp với họ hơn Trên thế giới có nhiều thang trắc nghiệm đánh giá tình trạng căng thẳng của
cá nhân Các thang đánh giá đều có đặc điểm chung là dùng bộ câu hỏi trắc nghiệm hoặc bảng hỏi tự điền Trong phạm vi nghiên cứu của mình, tôi lựa chọn
bộ công cụ đó là thang điểm đánh giá Trầm cảm - Lo âu - Căng thẳng (DASS 21) [45] Bộ công cụ này tương đối dễ hiểu, cụ thể, thời gian làm test ngắn, ghi lại được trực tiếp các kết quả, có khả năng sử dụng đối với từng cá nhân, đã được chuẩn hóa và công nhận tại Việt Nam
1.5.2 Thang điểm đánh giá Trầm cảm - Lo âu - Căng thẳng (DASS 21)
Năm 1995, Lovibond S.H và Lovibond P.F tại khoa Tâm lý học trường Đại học New South Wales (Astralia) đã thiết kế nên thang đánh giá ba rối loạn tâm thần phổ biến là stress, lo âu và trầm cảm ký hiệu là DASS 42 Đến năm 1997, cũng chính nhóm nhà khoa học này lại cho ra đời thang đo DASS 21 Thang đánh giá của Lovibond (DASS 42 và DASS 21) là một thang đo đánh giá được tổng hợp cả ba vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến hiện nay là căng thẳng, lo âu
và trầm cảm [45] Thang đo DASS 21 đã được Bộ Y tế ban hành kèm theo Quyết định số 331/QĐ-BYT ngày 02/01/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế Thang DASS 21 đã khẳng định về tính giá trị, độ tin cậy và có thể áp dụng tại Việt Nam, không có sự khác biệt nhiều về văn hóa Do tính thuận tiện và dễ sử dụng nên đã có một số nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam sử dụng các thang DASS 21 để đánh giá tình trạng trầm cảm, lo âu, căng thẳng trên nhiều đối
Trang 26tượng khác nhau trong đó có cả nhân viên y tế
Thang DASS 21 gồm có 21 tiểu mục chia thành 3 nhóm, mỗi nhóm gồm 7 tiểu mục, mỗi tiểu mục mô tả về một triệu chứng thực thể hoặc tinh thần Trong
đó, phần DASS - Trầm cảm bao gồm các tiểu mục tập trung vào trạng thái tâm
lý và lòng tự trọng; phần DASS - Lo âu là các tiểu mục về trạng thái tâm lý, cảm nhận về sự hoang mang, sợ hãi; phần DASS - Căng thẳng tâm lý bao gồm các tiểu mục về sự căng thẳng, tức giận Điểm cho mỗi tiểu mục là từ 0 đến 3 điểm, tùy mức độ và thời gian xuất hiện triệu chứng Sau khi cộng tổng điểm của từng nhóm 7 tiểu mục, kết quả thu được nhân với 2 rồi đối chiếu với bảng, sẽ biết tình trạng stress, lo âu, trầm cảm ở mức độ bình thường, nhẹ, vừa, nặng, rất nặng Điểm số tổng từ 0-14 điểm cho thấy đối tượng không có tình trạng căng thẳng; từ 15-18 điểm cho thấy đối tượng có căng thẳng nhẹ; từ 19-25 điểm là căng thẳng mức độ vừa; 26-33 điểm là căng thẳng mức độ nặng và từ 34 điểm trở lên là căng thẳng ở mức độ rất nặng
Bảng 1.1 Cách tính điểm của thang đo DASS 21
Thang đo DASS 21 đã được Viện sức khỏe tâm thần quốc gia biên dịch, Bộ
Y tế ban hành kèm theo Quyết định số 331/QĐ-BYT ngày 02/01/2016 của Bộ Y
tế, đã được áp dụng trong nhiều nghiên cứu về sức khỏe tâm thần và thử nghiệm trên một số đối tượng khác nhau Thang đo DASS 21 đã được nhiều nghiên cứu
Trang 27đánh giá về tính giá trị và độ tin cậy, khẳng định là có thể áp dụng tại Việt Nam, không có sự khác biệt về mặt văn hóa Bộ công cụ này ngắn gọn, dễ sử dụng, có
độ nhạy cao nên được lựa chọn làm công cụ nghiên cứu chính trong đề tài của chúng tôi
1.5.3 Thang đo Brief Job Stress Questionnaire - BJSQ
Bộ câu hỏi đánh giá stress công việc của Akiomi Inoue, Norito Kawwakami và cộng sự (2014): Bảng hỏi có tổng số 57 câu hỏi, chia làm 3 phần Phần thứ nhất gồm các câu hỏi liên quan đến các yếu tố stress liên quan đến công việc Phần thứ 2 là các câu hỏi liên quan đáp ứng của cơ thể trước các stress công việc Phần thứ 3 là hỗ trợ xã hội từ cấp trên, đồng nghiệp và gia đình Thang điểm đánh giá được tính từ thấp nhất (0 điểm) đến cao nhất (4 điểm) Stress càng cao có điểm càng cao Bộ công cụ đã được sử dụng trong đánh giá stress công việc ở Nhật Bản và nhiều nước khác Bộ công cụ đã được dịch ra tiếng Việt và chuẩn hoá ở Viêt Nam [39]
1.5.4 Một số thang đo khác
Bộ câu hỏi đánh giá căng thẳng do Hội quản lý căng thẳng quốc tế (International Stress Management Association) của Anh sử dụng gồm 25 câu hỏi trắc nghiệm dạng Có/Không Mỗi câu trả lời có được 1 điểm, còn lại là 0 điểm, tính tổng điểm cho 25 câu hỏi để đánh giá mức độ căng thẳng của từng cá nhân
Từ 4 điểm trở xuống là ít có căng thẳng, từ 5-13 điểm là có liên quan giữa căng thẳng và tình trạng sức khỏe thể chất, tinh thần, từ 14 điểm trở lên là những người dễ bị căng thẳng Thang đo này chưa được Việt hóa và chưa sử dụng nhiều tại Việt Nam
Thang đo tự đánh giá căng thẳng nghề nghiệp: đây là thang đo dùng để khảo sát mức độ stress nghề nghiệp đã được tác giả Đặng Phương Kiệt dịch và giới thiệu trong cuốn sách “Stress và sức khỏe” năm 2004 [7], bao gồm 57 câu hỏi dạng trắc nghiệm theo thang điểm từ 1 đến 5 cho mỗi câu hỏi và tìm hiểu mối liên quan giữa tình trạng căng thẳng nghề nghiệp với mối quan hệ cá nhân
Trang 28(27 câu), điều kiện sức khỏe (22 câu) và hứng thú nghề nghiệp (9 câu) Thang
đo tự đánh giá căng thẳng nghề nghiệp được chia ở 3 mức là thấp, trung bình và cao Bộ câu hỏi này tương đối dài và khó nên ít được áp dụng trong các nghiên cứu về căng thẳng nghề nghiệp tại Việt Nam
Ngoài các thang đánh giá tình trạng căng thẳng thì còn có một số thang đo khác để đánh giá các trạng thái tâm lý khác như: bộ câu hỏi đánh giá stress nghề nghiệp của David Fontana; chỉ số đánh giá stress nghề nghiệp của Belkic (OSI);
bộ câu hỏi đánh giá stress nghề nghiệp (JSQ); bảng câu hỏi stress học tập (ASQ) được đưa ra bởi Abouserie; thang đánh giá lo âu của Zung; thang đánh giá trầm cảm Hamilton; thang đánh giá trầm cảm Beck; thang đánh giá trầm cảm Montgomery-Asberg (MADRS), vv…[50]
Bộ câu hỏi đánh giá stress công việc của Akiomi Inoue, Norito Kawwakami và cs (2014) Bảng hỏi có tổng số 57 câu hỏi, chia làm 3 phần Phần thứ nhất gồm các câu hỏi liên quan đến các yếu tố stress liên quan đến công việc Phần thứ 2 là các câu hỏi liên quan đáp ững của cơ thể trước các stress công việc Phần thứ 3 là hỗ trợ xã hội từ cấp trên, đồng nghiệp và gia đình Thang điểm đánh giá được tính từ thấp nhất (0 điểm) đến cao nhất (4 điểm) Stress càng cao có điểm càng cao Bộ công cụ đã được sử dung trong đánh giá stress công việc ở Nhật Bản và nhiều nước khác Bộ công cụ đã được dịch ra tiếng Việt và chuẩn hoá ở Viêt Nam [39]
1.6 Những công trình nghiên cứu về stress, trầm cảm, lo âu và các yếu tố liên quan
1.6.1 Trên thế giới
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các nhân viên y tế làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cho bệnh nhân có dấu hiệu stress cao hơn nhiều lần so với các ngành nghề khác Nghiên cứu của Linn LS, et al (1985) cho thấy có tới 25% các bác sĩ lâm sàng có dấu hiệu stress, trầm cảm, lo âu và kiệt sức Ảnh hưởng của stress nghề nghiệp đến sức khoẻ là mệt mỏi, lo âu, trầm cảm, không thoả mãn
Trang 29với công việc, giảm chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho bệnh nhân, nghiện rượu,
số ngày nghỉ ốm cao, về hưu sớm, và mắc một số bệnh liên quan đến stress như loét dạ dày, nhồi máu cơ tim, cao huyết áp [44]
Nghiên cứu của M.Herhue và cộng sự năm 2019 khảo sát tại 2 viện dưỡng lão với 1 bên nhân y tế được đào tạo và hướng dẫn tiếp cận và đồng cảm với bệnh nhân, một bên thì không Kết quả cho thấy các nhân viên điều dưỡng không được đào tạo có nguy cơ kiệt sức cao hơn so với nhân viên điều dưỡng được tào tạo Và tăng cường hợp tác, đồng cảm với người bệnh giúp thúc đẩy sự hài lòng trong công việc [47]
Một nghiên cứu định tính với các sinh viên điều dưỡng và các chuyên gia tham gia vào hệ thống giáo dục điều dưỡng của Pháp, kết quả xác định được các rủi ro về các yếu tố liên quan và triệu chứng của các sinh viên Nghiên cứu nhấn mạnh các yếu tố rủi ro cá nhân và môi trường, hành vi và các dấu hiệu lâm sàng cho thấy học sinh dễ bị tổn thương Đặc biệt, một số sinh viên bị căng thẳng dữ dội, kiệt sức và đôi khi rối loạn căng thẳng sau chấn thương [48]
Nghiên cứu của Demiral và đồng nghiệp (2000) đã nghiên cứu trên 300 bác
sĩ ở các chuyên khoa khác nhau và tìm thấy tỷ lệ chung về trầm cảm và lo âu là 18,9 % và 27,4% ở các bác sĩ [8] Một số lượng lớn các nghiên cứu đã chỉ ra 25-30% nhân viên y tế bị kiệt sức là hậu quả các công việc của họ trong ngành y tế [37] Theo nghiên cứu của Shams và El-Masry (2013), tỉ lệ căng thẳng nghề nghiệp trên đối tượng nhân viên y tế chuyên ngành gây mê hồi sức là 69,4% [52] Các yếu tố nguy cơ là gánh nặng công việc, tổ chức lao động tồi, mâu thuẫn nhóm và phải chăm sóc các bệnh nhân nặng, tiếp xúc hàng ngày với người chết và các vấn đề tử vong, những phản ứng thái quá từ các gia đình bệnh nhân
là những nguồn stress lớn Estrin-Behar và CS (1990) đã nghiên cứu gánh nặng tâm lý trên 1505 cán bộ y tế nữ tại Pháp trong năm 1990 Năm chỉ số y tế được nghiên cứu: sự mệt nhọc, suy nhược, sử dụng thuốc chống trầm cảm, sử dụng thuốc ngủ, sử dụng thuốc an thần, và các rối loạn tâm lý Kết quả cho thấy mất
Trang 30ngủ liên quan nhiều đến căng thẳng nghề nghiệp [35]
Theo nghiên cứu của Hipwell và cộng sự năm 1989, nguồn gốc của sự căng thẳng cho các nhân viên y tế đã được mô tả khá nhiều và đa dạng, bao gồm những yếu tố sau: Công việc quá tải quá nhiều, giao tiếp kém với các đồng nghiệp, tính chất thất thường của công việc và người bệnh thường xuyên tử vong Ngoài ra, làm việc trong thời gian dài, không có cơ hội thăng tiến, tiếng
ồn quá mức hoặc quá yên tĩnh, sự thay đổi đột ngột của các hoạt động, vấn đề căng thẳng cũng đã được báo cáo [38]
Demiral et al (2000) đã nghiên cứu trên 300 bác sĩ ở các chuyên khoa khác nhau và tìm thấy tỷ lệ chung về trầm cảm và lo âu là 18,9 % và 27,4% ở các bác
sĩ Một số lượng lớn các nghiên cứu đã chỉ ra 25-30% nhân viên y tế bị kiệt sức
là hậu quả các công việc của họ trong ngành y tế (Grassi & Magnani, 2000) [33][37]
Nghiên cứu của Shams và El-Masry (2013), tỉ lệ căng thẳng nghề nghiệp trên đối tượng nhân viên y tế thuộc chuyên ngành gây mê hồi sức là 69,4% Các yếu tố gánh nặng công việc, tổ chức lao động không tốt, mâu thuẫn nhóm và phải chăm sóc các bệnh nhân nặng, tiếp xúc hàng ngày với người chết và các vấn đề liên quan đến bệnh nhân tử vong, phản ứng thái quá từ gia đình bệnh nhân là những nguyên nhân gây stress [52]
1.6.2 Tại Việt Nam
Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hà (2006) trên 811 nhân viên y tế đã cho thấy 10,7% nhân viên y tế có điểm stress ở mức cao; 37,9% nhân viên y tế có điểm stress ở mức trung bình và 51,4% nhân viên y tế có điểm stress ở mức thấp Trong số nhân viên y tế có biểu hiện stress (48,6%), nhóm bác sĩ có biểu hiện stress ở mức độ cao nhất (12,9%), cao hơn so với nhóm y tá và hộ lý [17] Nghiên cứu của Lê Thành Tài (2008) cho thấy nhân viên điều dưỡng có dấu hiệu stress nghề nghiệp tại bệnh viện đa khoa trung ương Cần Thơ, bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ và bệnh viện đa khoa Châu Thành - Hậu Giang : 45,2%
Trang 31có dấu hiệu stress ở mức cao, 42,8% ở mức trung bình [11] Tại bệnh viện đa khoa trung ương Cần Thơ, tỉ lệ stress cao nhất với 53,1% Năm 2016, Nguyễn Thu Hà nghiên cứu cho thấy tỷ lệ stress ở nhân viên y tế chuyên ngành tâm thần
là tương đối cao (66,7%), đa số stress được kiểm soát khá tốt (61,7%) và chỉ có 5% stress cần sự can thiệp sớm Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có sự tương quan nghịch giữa stress và chỉ số làm việc ở nhân viên y tế (WAI- Work ability index) (r= -0,37; p=0,004) nghĩa là chỉ số khả năng làm việc giảm khi mức độ căng thẳng nghề nghiệp tăng [17]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Đỗ Nguyễn Nhựt Trần cho thấy 27% nhân viên y tế có stress ở mức thường xuyên Có mối liên quan giữa stress và các yếu
tố khác bao gồm: trình độ học vấn, tính chất công việc, mức độ hài lòng, hoạt động thể lực, thời gian nghỉ ngơi không hợp lý, quản lý kém, áp lực hạn cuối phải hoàn thành công việc, ít nhận được quan tâm từ cấp trên, bị quấy rối và phân biệt đối sử, thiếu trang thiết bị [9]
Năm 2011, một nghiên cứu tại bệnh viện giao thông vận tải trung ương cho thấy tỷ lệ stress là 40,8%; trong đó các mức độ nhẹ, vừa, nặng và rất nặng lần lượt là 22,4%, 13,6%, 3,4% và 1,4% [14]
Nghiên cứu của Phạm Minh Khuê cho thấy tỉ lệ căng thẳng nghề nghiệp trên đối tượng nhân viên y tế bệnh viện Kiến An là tương đối thấp (6,39%) Tỉ lệ này cao hơn ở nam so với nữ (nam 13,64%; nữ 3,9%), tỉ lệ nghịch với độ tuổi và thâm niên công tác (nhóm cán bộ thâm niên dưới 1 năm 21,43%, nhóm cán bộ trên 50 tuổi 1,82%), phân bố không đều và tập trung ở 1 số khoa phòng (sản 5,26%; nội 6,38%; ngoại 7,32%; dược 8,7%; hồi sức, chẩn đoán hình ảnh, đông
y 14,29%; cao nhất là khoa gây mê 19,05%) và nhóm công việc chuyên môn (điều dưỡng 3,82%; dược tá 13,3%; bác sĩ 14,86%; kĩ thuật viên X-Quang 40%) [19]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Bạch Nguyên Ngọc, cho tỷ lệ điều dưỡng viên lâm sàng của BVĐK tỉnh Gia Lai không có biểu hiện stress là 74,8% và có
Trang 32biểu hiện stress là 25,2% Trong đó các mức độ nhẹ, vừa, nặng lần lượt là (10,4%, 8,8%, 6%), không có mức độ rất nặng [2]
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuyên (2015) về điều dưỡng viên lâm sàng bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định năm 2015 đã chỉ ra rằng các nhóm yếu tố liên quan đến nghề nghiệp gây ra căng thẳng cho nhân viên y tế bao gồm: Điều kiện lao động, vai trò lao động, môi trường lao động và các yếu tố liên quan giữa cá nhân với nhau Căng thẳng liên quan đến sự quá tải trong lao động, làm việc ca kíp, sự hứng thú trong công việc, các mức độ động viên khuyến khích Làm việc
ca kíp cùng với áp lực về thời gian chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng căng thẳng,thườnggây mệt mỏi và buồn ngủ cho nhân viên y tế Do quá mệt mỏi nên
họ không tập trung, dễ mắc lỗi và hay xảy ra tai nạn Sự căng thẳng của lao động
ca kíp còn có thể làm trầm trọng thêm tình trạng sức khỏe, dễ mắc các bệnh như bệnh tim mạch hoặc rối loạn tiêu hóa [18]
Nghiên cứu của tác giả Vũ Bá Quỳnh về Thực trạng sức khoẻ tâm thần của điều dưỡng viên khối Ngoại, Bệnh viện Trung ương quân đội 108 năm 2018 cho thấy tỷ lệ trầm cảm ở các đối tượng này là 29,3%, lo âu là 43% và stress là 33,7% Tỷ lệ trầm cảm, lo âu và stress mức nặng và rất nặng tương ứng là 3,3%, 11,4% và 7,3% [26]
Nghiên cứu của tác giả Lương Quốc Hùng năm 2018 cho ra thấy tỷ lệ có dấu hiệu stress của nhân viên điều dưỡng khối lâm sàng bệnh viện E năm 2018
là 24,3% Mức độ stress của nhân viên điều dưỡng khối lâm sàng bệnh viện E năm 2018 lần lượt là 12,3% ở mức độ nhẹ, 6,5% ở mức độ vừa, 4,5% ở mức độ nặng và 1% ở mức độ rất nặng Tỷ lệ stress ở nam cao hơn ở nữ (38,2% - 21,3%); tỷ lệ stress ở nhóm điều dưỡng từ 30 tuổi - 40 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (43,7%); nhóm điều dưỡng có thâm niên công tác dưới 5 năm chiếm tỷ lệ cao nhất (45%) [13]
1.7 Giới thiệu về cơ sở nghiên cứu
Trang 33Bệnh viện Nhi Trung ương lúc đầu có tên gọi là Viện bảo vệ sức khỏe trẻ
em được thành lập ngày14/07/1969 tại bệnh viện Bạch Mai Với sự hỗ trợ quý báu về vật chất và nhân lực của chính phủ và nhân dân Thụy Điển, ngày 16/03/1981, toàn thể cán bộ công nhân viên của Viện bảo vệ sức khỏe trẻ em phấn khởi đón nhận một bệnh viện mới với cơ sở vật chất khang trang gồm 1 khu hành chính, 19 khoa lâm sàng, 7 khoa cận lâm sàng và 4 khu hậu cần
Cho đến nay, trải qua 30 năm phát triển với bệnh viện đã trở thành 1 trong
3 bệnh viện chuyên môn về Nhi tốt nhất cả nước Với 11 phòng chức năng, 31 khoa lâm sàng, 8 khoa cận lâm sàng và 4 khoa hỗ trợ và các tổ chức đặc thù
Bảng 1.2 Cơ cấu các khoa, phòng Bệnh viện Nhi Trung ương
Các phòng chức năng
Tổ chức cán bộ
Kế hoạch tổng hợp
Phòng Điều dưỡng
Tài chính kế toán
Quản lý
chất lượng
Hành chính quản trị
Công nghệ thông tin
Khám và Điều trị
24 giờ
Điều trị tích cực nội khoa
Trang 34Khoa Mắt
Sọ mặt và Tạo hình
Tiêu hóa
Các khoa cận lâm sàng
Giải phẫu bệnh Chẩn đoán hình
Trang 35học phân tử học phân tử các
bệnh truyền nhiễm truyền Hiện nay, số lượng điều dưỡng của cả bệnh viện là 850 người, trong đó điều dưỡng ở các khoa lâm sàng có 415 người Tổng số lượt khám bệnh trong năm 2018 là 1.047.437 lượt bệnh nhân, đạt 104,7% kế hoạch năm, tăng 11,4 %
so với năm 2017 Khu phòng khám chất lượng thuộc khoa Quốc tế S, trong năm
2018 đạt tổng số khám khoảng 57.609 lượt bệnh nhân, trung bình mỗi ngày từ 200-220 BN tới khám phần nào giảm bớt tình trạng ùn tắc BN trong những ngày cao điểm
Khoa Khám bệnh II được thành lập, tổ chức và hoạt động ngày càng hiệu quả Năm 2018, khoa đã tiếp nhận và khám 475.000 lượt bệnh nhân chiếm 45% tổng số bệnh nhân khám bệnh trong toàn Bệnh viện
Trang 361.8 Khung lý thuyết
Hình 1.1 Khung lý thuyết của đề tài nghiên cứu
THỰC TRẠNG STRESS ĐIỀU DƯỠNG VIÊN
-Môi trường làm việc -Cường độ làm việc -Tần suất trực -Mối quan hệ với đồng nghiệp -Mối quan hệ với cấp trên -Chính sách đãi ngộ
Trang 37CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Điều dưỡng viên đang làm việc tại các Khoa lâm sàng Bệnh viện Nhi trung ương năm 2019
Tiêu chuẩn lựa chọn:
Điều dưỡng viên thuộc biên chế bệnh viện, đang làm việc tại các khoa lâm sàng, có 1 năm công tác trở lên và đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
Điều dưỡng viên có thời gian công tác dưới 1 năm, chưa thuộc biên chế và không có mặt tại thời điểm nghiên cứu, không hợp tác hoặc đã đồng ý tham gia trong nghiên cứu nhưng bỏ cuộc
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: 31 khoa lâm sàng bệnh viện Nhi trung ương
Thời gian: 04/2019 - 10/2019
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Áp dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
Trang 382.3 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.1 Bộ công cụ
Bộ câu hỏi về nhân khẩu học (Phụ lục 1)
Sử dụng Thang điểm đánh giá Trầm cảm - Lo âu – Stress (DASS 21) (Phụ lục 2) [45]
Bộ câu hỏi đánh giá stress nghề nghiệp (Brief Job Stress Questionnaire của Akiomi Inoue, Norito Kawwakami và cs (2014) (Phụ lục 3) [39]
2.3.2 Cơ sở xây dựng bộ công cụ
Hai bộ công cụ nghiên cứu này đã được nhiều tác giả trên thế giới sử dụng trong các nghiên cứu của họ và đã được chuẩn hóa tại Việt Nam, được công nhận về tính khả thi, tính ứng dụng trong nghiên cứu về stress và rối loạn sức khỏe tâm thần
2.3.3 Kỹ thuật thu thập số liệu
Thu thập số liệu định lượng qua phát vấn bằng 2 bộ câu hỏi tự điền:
Bước 1: Liên hệ với lãnh đạo bệnh viện, lấy thông tin và quyết định được thực hiện nghiên cứu
Bước 2: Thử nghiệm bộ câu hỏi, chỉnh sửa cho phù hợp với địa điểm và đối tượng nghiên cứu
Bước 3: Sau khi hoàn thiện bộ câu hỏi, lập danh sách đối tượng phỏng vấn, chia khoảng thời gian từng khoa phòng để lên lịch đi lấy số liệu cho mỗi khoa
Bước 4: Xin phép các trưởng/phó khoa của 31 khoa lâm sàng, tiến hành phát vấn đối tượng nghiên cứu theo lịch
Bước 5: Thu phiếu, kiểm tra và bổ sung những phiếu còn thiếu thông tin
Bộ công cụ thu thập số liệu định lượng: được xây dựng, tham khảo từ các nghiên cứu trước đó và đã thử nghiệm hai bộ câu hỏi này trên một số đối tượng
là điều dưỡng của bệnh viện, bổ sung thêm một số thông tin nhân khẩu học cần
Trang 39thiết trước khi đưa vào triển khai và thu thập số liệu chính thức
Quy trình thu thập số liệu: Lập danh sách điều dưỡng của bệnh viện đảm bảo theo các tiêu chuẩn lựa chọn Điều tra viên làm việc tại từng khoa phòng, phát phiếu khảo sát tới tận tay đối tượng nghiên cứu và hướng dẫn đối tượng tự điền phiếu tại chỗ
2.3.4 Quy trình thu thập thông tin
Bước 1: Tìm đọc tài liệu và các thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Bước 2: Viết và hoàn thiện đề cương luận văn, thông qua giáo viên hướng dẫn
Bước 3: Bảo vệ đề cương luận văn
Bước 4: Xây dựng, thí điểm và hoàn thiện bộ công cụ nghiên cứu, in phiếu điều tra
Bước 5: Tiến hành thu thập số liệu từ các nguồn thông tin sẵn có
Bước 6: Làm sạch số liệu, nhập số liệu, phân tích số liệu và viết luận văn
2.4 Các biến số, chỉ số nghiên cứu
Bảng 2.1 Các nhóm biến số và chỉ số
Mục
Phương pháp thu thập
1 I Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (Yếu tố nhân khẩu học)
1 Tuổi, năm sinh Số lượng, tỷ lệ
Trang 40Mục
Phương pháp thu thập
Số lượng, tỷ lệ
% có dấu hiệu stress, trầm cảm, lo âu theo mức độ, tuổi, giới, thâm niên…
Định tính, thứ