1. Trang chủ
  2. » LUYỆN THI QUỐC GIA PEN-C

hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.

94 79 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tương đương với nghiên cứu về tỷ lệ và một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp ở người cao tuổi tại thị trấn Châu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội năm 2011, cho thấy 45% người cao tuổi bị tăng huy[r]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

-

BÙI XUÂN TI ẾN

Ở NGƯỜI CAO TUỔI TẠI XÃ BẮC PHONG,

LU ẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

HÀ N ỘI – NĂM 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

KHOA: KHOA H ỌC SỨC KHỎE

B Ộ MÔN Y TẾ CÔNG CỘNG

BÙI XUÂN TI ẾN

Ở NGƯỜI CAO TUỔI TẠI XÃ BẮC PHONG,

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh

sự nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ

Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy TS Nguyễn Đức Sơn và Thầy PGS.TS Đào Xuân Vinh người đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy cô trong khoa Y tế công cộng và khoa sau đại học Đại học Thăng Long

đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận

lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện

đề tài luận văn

Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến UBND xã Bắc Phong, Trung tâm Y

tế huyện Cao Phong đã không ngừng hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh

Học viên thực hiện

Bùi Xuân Ti ến

Trang 4

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các

kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác

Học viên thực hiện

Bùi Xuân Tiến

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BKLN Bệnh không lây nhiễm

BMI: Body Mass Index (Chỉ số khối cơ thể)

ĐTĐ Đái tháo đường

ĐV: Động vật

HA: Huyết áp

HAMT: Huyết áp mục tiêu

HATB: Huyết áp trung bình

HATT: Huyết áp tâm thu

HATTr: Huyết áp tâm trương

ISH: International Society of Hypertension

(Hiệp hội tăng huyết áp quốc tế) NCD Non-communicable disease (Bệnh không lây nhiễm) NMCT: Nhồi máu cơ tim

QALY

Quality-Adjusted Life-Year (Số năm sống điều chỉnh theo bệnh tật) TGMB: Thời gian mắc bệnh

THA: Tăng huyết áp

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: T ỔNG QUAN 3

1.1 Một số định nghĩa và khái niệm 3

1.1.1 Huy ết áp và Huyết áp động mạch 3

1.1.2 Tăng huyết áp 3

1.2 Thực trạng bệnh tăng huyết áp trên thế giới và tại Việt Nam 14

1.2.1 Thực trạng tăng huyết áp trên thế giới 14

1.2.2 Th ực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại Việt Nam 17

1.3 Các yếu tố liên quan đến bệnh tăng huyết áp 20

1.3.1 Tu ổi 20

1.3.2 Giới 21

1.3.3 Béo phì 21

1.3.4 Ăn nhiều muối 22

1.3.5 Ăn nhiều chất béo 23

1.3.6 Ăn thiếu chất xơ 23

1.3.7 Hút thu ốc lá 24

1.3.8 Thói quen u ống rượu 25

1.3.9 Ít ho ạt động thể lực 26

1.3.10 Trình độ học vấn 27

1.4 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu 28

1.5 Khung lý thuyết nghiên cứu 30

Ch ương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 31

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 31

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 31

2.1.3 Th ời gian nghiên cứu: 31

2.2 Phương pháp nghiên cứu 31

2.2.1 Thi ết kế nghiên cứu 31

Trang 7

2.2.2 C ỡ mẫu và cách chọn mẫu 31

2.3 Biến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá 32

2.3.1 Các bi ến số và chỉ số nghiên cứu 32

2.3.2 Tiêu chu ẩn đánh giá 34

2.4 Phương pháp thu thập thông tin 36

2.4.1 Công c ụ thu thập thông tin 36

2.4.2 Kỹ thuật thu thập thông tin 36

2.4.3 Quy trình thu th ập thông tin và sơ đồ nghiên cứu 38

2.5 Phân tích và xử lý số liệu 41

2.6 Sai số và biện pháp khống chế sai số 41

2.6.1 Sai số 41

2.6.2 Bi ện pháp khống chế sai số 41

2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 42

2.8 Hạn chế của đề tài 42

Chương 3: K ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 43

3.2 Thực trạng THA ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong 48

3.3 Một số yếu tố liên quan đến THA 53

Chương 4: BÀN LU ẬN 59

4.1 Về thực trạng bệnh THA ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong huyện Cao phong tỉnh Hòa Bình năm 2020 59

4.2 Một số yếu tố liên quan đến THA 63

KẾT LUẬN 70

KHUY ẾN NGHỊ 72

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 73

PH Ụ LỤC 1: 79

PHỤ LỤC 2 85

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Phân loại tăng huyết áp theo JNC VI 4

Bảng 1.2 Phân loại tăng huyết áp theo WHO/ISH 1999 4

Bảng 2 1 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 32

Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi (n=460) 43

Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc (n=460) 44

Bảng 3.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp trước khi nghỉ hưu (n=460) 44

Bảng 3.4 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo công việc hiện tại (n=460) 45

Bảng 3.5 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn (n=460) 45

Bảng 3.6 Phân bố chỉ số BMI theo giới tính (n=460) 46

Bảng 3.7 Phân bố chỉ số BMI theo nhóm tuổi (n=460) 46

Bảng 3.8 Phân bố tỷ số VB/VM (WHR) theo giới (n=460) 47

Bảng 3.9 Phân bố tỷ số VB/VM (WHR) theo nhóm tuổi (n=460) 47

Bảng 3.10 Phân bố đối tượng theo chỉ số nhân trắc và giới tính (n=460) 48

Bảng 3.11 Thực trạng THA ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong (n=460) 48

Bảng 3.12 Phân bố tỷ lệ THA theo giới tính (n=460) 49

Bảng 3.13 Phân bố đặc điểm tăng huyết áp theo giới tính (n=460) 50

Bảng 3.14 Phân bố THA theo nhóm tuổi (n = 460) (n=460) 50

Bảng 3.15 Phân bố THA theo nghề nghiệp trước khi nghỉ hưu (n=460) 51

Bảng 3.16 Phân bố THA theo công việc hiện tại (n= 460) 51

Bảng 3.17 Phân bố THA theo trình độ học vấn (n = 460) 52

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa giới tính và tình trạng bệnh tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu (n=460) 53

Bảng 3.19 Mối liên quan giữa nhóm tuổi với THA (n=460) 54

Bảng 3.20 Mối liên quan giữa nghề nghiệp và tình trạng bệnh tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu (n=460) 54

Bảng 3.21 Mối liên quan giữa chỉ số BMI với tình trạng huyết áp (n=460) 55

Trang 9

Bảng 3.22 Mối liên quan giữa thói quen hút thuốc với tình trạng huyết áp (n=460) 55

Bảng 3.23 Mối liên quan giữa thói quen ăn mặn với THA (n=460) 56

Bảng 3.24 Mối liên quan giữa thói quen thường xuyên uống rượu bia với THA (n=460) 56

Bảng 3.25 Mối liên quan giữa thói quen ăn thức ăn có nhiều mỡ động vật với THA (n=460) 57

Bảng 3.26 Mối liên quan giữa thói quen thường xuyên vận động thể lực với THA (n=460) 57

Bảng 3.27 Mối liên quan giữa tiền sử gia đình với THA (n=460) 58

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nghiên cứu 40

Biểu đồ 2.2 Phố bố đối tượng nghiên cứu theo phân độ THA……… 49

Biểu đồ 3.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo các yếu tố nguy cơ THA……53

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong vài thập niên gần đây, cùng với sự tiến bộ vượt bậc về khoa học trên nhiều lĩnh vực, người ta đã chứng kiến sự gia tăng nhanh dân số già do tuổi thọ ngày càng cao Sự gia tăng nhanh dân số già là mối quan tâm chung của các nước phát triển và các nước đang phá triển vì nó đặt ra hàng loạt vấn đề cần giải quyết thuộc nhiều lĩnh vực như xã hội, kinh tế, y tế …

Người cao tuổi là người từ 60 tuổi trở lên Người cao tuổi thường có bệnh

mạn tính, trong đó tăng huyết áp là bệnh mạn tính phổ biến nhất trên thế giới, tỷ

lệ mắc bệnh tăng huyết áp trong cộng đồng ngày càng gia tăng, đặc biệt ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Bên cạnh đó Việt Nam là một trong

số những quốc gia già hóa dân số nhanh nhất trong khu vực Trong năm 2013 tỷ

lệ người cao tuổi đã lên tới 10,5% tổng dân số [12] Các nghiên cứu trên thế giới

và tại Việt Nam cho thấy tình hình tăng huyết áp ở người cao tuổi đang là vấn đề

sức khỏe đáng lo ngại, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống người cao tuổi Theo Nghiên cứu của Hoàng Phương Thủy năm 2016 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi (≥ 60 tuổi) chiếm 51,29 % [34], Nguyễn Thanh Ngọc năm 2007 cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp ở người cao tuổi chiếm 37,6% trong đó nam giới cao tuổi có tỷ lệ tăng huyết áp cao hơn nữ giới cao tuổi [19]

Theo điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam năm 2008, ở người lớn (≥60

tuổi) tại 8 tỉnh, thành phố của Việt Nam tỷ lệ tăng huyết áp đã tăng lên đến 47,8% nghĩa là cứ 2 người cao tuổi ở nước ta thì có 1 người bị tăng huyết áp; năm 2012

tỷ lệ tăng huyết áp ở người >75 tuổi là 69.8%, trong đó nam là 70,5% và nữ là 68,8% [40] Đến điều tra mới 2015-2016, có đến 47,3% người dân từ 25 tuổi trở lên bị tăng huyết áp Tuy nhiên, số ca tăng huyết áp được phát hiện đã tăng từ 48,4% lên 60,9% Còn người tăng huyết áp được điều trị tăng từ 61,1% lên 92,8% Như vậy, với dân số gần 100 triệu người thì số người tăng huyết áp từ 25 tuổi trở

lên ở Việt Nam ước tính khoảng 17,1 triệu người Đặc biệt, trong những người bị tăng huyết áp, có 39,1% (8,1 triệu người) không được phát hiện bị tăng huyết áp;

Trang 11

có 7,2% (0,9 triệu người) bị tăng huyết áp không được điều trị; có 69,0% (8,1% triệu người) bị tăng huyết áp chưa kiểm soát được [41]

Xã Bắc Phong là một xã thuộc huyện miền núi Cao Phong, tỉnh Hòa Bình

Tại đây đời sống kinh tế của người dân còn gặp nhiều khó khăn, các chương trình

thực hiện phòng chống Tăng huyết áp đã được triển khai song hiệu quả còn chưa cao Vì vậy, một số câu hỏi như Thực trạng bệnh tăng huyết áp của người cao tuổi

tại xã Bắc Phong huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình như thế nào? Có những yếu tố nào liên quan đến bệnh tăng huyết áp của người dân ở đây?…Để trả lời các câu

hỏi đó và nhằm cung cấp bằng chứng cho các nhà quản lý y tế ở địa phương về

thực trạng tăng huyết áp ở người cao tuổi và đưa ra những khuyến cáo ban đầu trong việc kiểm soát huyết áp, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về: “Thực trạng

bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan” với 2 mục tiêu:

Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng bệnh Tăng huyết áp của người cao tuổi tại xã

Bắc Phong - Huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình năm 2020

Mục tiêu 2: Phân tích một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp của nhóm đối tượng nghiên cứu

Trang 12

Chương 1:

TỔNG QUAN 1.1 Một số định nghĩa và khái niệm

1.1.1 Huyết áp và Huyết áp động mạch

* Huyết áp: Là áp lực máu cần thiết làm máu lưu thông trong hệ tuần hoàn, đưa máu đến các mô trong cơ thể Trong hệ mạch máu có huyết áp động mạch, huyết áp tĩnh mạch, huyết áp mao mạch

Huyết áp động mạch gồm có:

- Huyết áp tâm thu (còn gọi là huyết áp tối đa) là trị số huyết áp cao nhất

đo được trong chu kỳ tim Huyết áp tâm thu là áp lực của máu lên thành động

mạch khi tim co (tim ở trạng thái co bóp) Huyết áp tâm thu thay đổi theo tuổi,

giới, trạng thái hoạt động của cơ thể Trị số bình thường ở người trưởng thành là

90 - 140 mmHg [9]

- Huyết áp tâm trương (còn gọi là huyết áp tối thiểu) là trị số huyết áp thấp

nhất đo được trong chu kỳ tim, đo được lúc tim giãn (tâm trương), do lực đàn hồi c

theo tình trạng của thành động mạch Trị số bình thường dao động trong khoảng từ

Trang 13

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm tăng huyết áp của Tổ chức Y tế thế giới được trình bày ở trên Khái niệm này cũng trùng hợp với khái niệm mà Bộ y tế và các chương trình y tế tại Việt Nam đang sử dụng [38]

1.1.2.2 Phân loại và các giai đoạn của THA

Các giai đoạn của THA phân loại như sau:

B ảng 1.1 Phân loại tăng huyết áp theo JNC VI

Ngu ồn : JNC VI [9]

Với 2 lần đo, khi huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương cho các giá trị khác nhau thì mức độ tăng huyết áp được xác định ở kết quả đo cao nhất [9]

Đến năm 1999, để hòa hợp với phân loại của JNC VI, Hội tăng huyết áp

thế giới ISH (Internationnal Society ofHypertension) đã đưa ra cách phân loại tăng huyết áp mới: dùng từ “độ” thay cho “ giai đoạn” vì từ giai đoạn chỉ sự tiến triển theo thời gian, do đó không phù hợp cho phân độ

B ảng 1.2 Phân loại tăng huyết áp theo WHO/ISH 1999

Lo ại HATT (mmHg) HATTr (mmHg)

Trang 14

Khi huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương cho các giá trị khác nhau thì

loại tăng huyết áp được xác định ở kết quả đo cao nhất [9]

Ví dụ: Huyết áp đo được 160/92mmHg là THA độ II

Huyết áp đo được 170/120mmHg là THA độ III

* Cách phân loại tăng huyết áp ở Việt Nam [9]:

Theo đề nghị của Phạm Gia Khải và các cộng sự thì ở Việt Nam cả hai cách đều có thể áp dụng và khi dùng cách nào chúng ta phải ghi rõ Tuy nhiên JNC VI ngày càng có giá trị thực tế khi các yếu tố nguy cơ đối với bệnh tăng huyết áp đang gia tăng Xơ vữa động mạch, tiểu đường, hút thuốc lá, tuổi đời kéo dài và

khả năng chẩn đoán các tổn thương ở các cơ quan đích, xác định các yếu tố nguy

cơ được cải thiện hơn

1.1.2.3 Một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp

Các bệnh không lây nhiễm thường không xác định được nguyên nhân cụ

thể mà chỉ có các yếu tố góp phần làm bệnh phát triển gọi là yếu tố liên quan (YTLQ) Theo Tổ chức Y tế thế giới, yếu tố liên quan là bất cứ thuộc tính, đặc điểm nào làm tăng khả năng mắc bệnh không lây nhiễm Các yếu tố liên quan của

bệnh không lây nhiễm gồm: Hành vi lối sống, môi trường và các yếu tố sinh học

Trang 15

[33] Khi các cá thể phơi nhiễm với các YTLQ một thời gian dài (thường là hàng

chục năm) sẽ dẫn tới nguy cơ trung gian hay còn gọi là tình trạng tiền bệnh Nếu không có các giải pháp ngăn ngừa các nguy cơ trung gian mà vẫn tiếp tục phơi nhiễm với các YTLQ sẽ dẫn tới các BKLN như tim mạch, đái tháo đường, ung thư và bệnh phổi mạn tính Và hậu quả tất yếu của những bệnh này là tử vong và tàn tật [34]

- Một số yếu tố hành vi lối sống

Các YTLQ thuộc về hành vi lối sống vô cùng quan trọng trong BKLN Một

số nước, ví dụ như Nhật Bản gọi BKLN là những bệnh liên quan đến lối sống Kiểm soát tốt các YTLQ này là cách hiệu quả nhất trong phòng bệnh BKLN Theo WHO, 80% bệnh tim mạch, đái tháo đường có thể phòng được thông qua thực hiện lối sống lành mạnh loại bỏ các YTLQ hành vi [35] Theo khảo sát quốc gia

về các yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm ở Việt Nam của Bùi Văn Tân và cộng sự năm 2016 cho thấy, tỷ lệ những người hút thuốc hiện tại (nam 57,7%, nữ 1,7 %), và người uống rượu (nam 25,11%, nữ 0,63%) và ở các khu vực có sự khác biệt về chế độ ăn uống, tỷ lệ dân số đô thị có chỉ số BMI trung bình cao hơn và tỷ

lệ hoạt động thấp hơn[35] Theo nghiên cứu của tác giả Hồng Mùng Hai (2014), các yếu tố như chỉ số khối lượng cơ thể, tỷ số vòng eo/vòng mông, béo bụng và

ăn mặn đều có liên quan đến tăng huyết áp [25] Tác giả Élodie Giroux (2013), thực hiện nghiên cứu Framingham về tim (được gọi tắt là nghiên cứu Framingham), là một nghiên cứu dài hạn về hệ tim mạch tiến hành trên các cư dân thị trấn Framingham, bang Massachusetts, Mỹ Kết quả tìm thấy từ nghiên cứu Bramingham đã giúp xác định được các 06 yếu tố liên quan chính của các bệnh tim mạch, bao gồm: Tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, hút thuốc lá, béo phì, đái tháo đường và lối sống ít vận động Tại Trung Quốc có một nghiên cứu thuần tập trên quy mô lớn (Chinese Multi-provincial Cohort Study - CMCS) thực hiện trên 16.552 người sống ở 11 tỉnh và 3.118 người sống ở Bắc Ninh, tuổi từ 5 đến

64, không có bệnh 13 mạch vành, được theo dõi từ 1992 đến 2002 Vào lúc kết

Trang 16

thúc nghiên cứu có 191 ca mắc bệnh mạch vành và 625 ca chết [36] Nghiên cứu dịch tễ học tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ tim mạch tại Việt Nam (2001 - 2009) của tác giả Nguyễn Lân Việt cho thấy, các yếu tố nguy cơ tim mạch chính khá phổ biến trong cộng đồng người trưởng thành ở Việt Nam, đa số các yếu tố nguy cơ này là đi với nhau thành chùm Do đó, việc kiểm soát từng yếu tố nguy

cơ riêng rẽ sẽ thu được lợi ích không nhiều so với việc can thiệp tác động đồng thời lên nhiều yếu tố nguy cơ Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có mối tương quan

“kiểu chữ U” giữa số huyết áp và BMI, điều này cho thấy gánh nặng THA khá nổi cộm ngay cả trên người gầy, đối tượng thường bị xem nhẹ trong các chương trình bệnh lý tim mạch Đỗ Thái Hoà và cộng sự, nghiên cứu trên 1.200 đối tượng trung niên (40 - 59 tuổi), thuộc 4 xã thuần nông của huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa Kết quả nghiên cứu xác định được mối liên quan giữa tỷ lệ tăng huyết áp và nhóm tuổi, giới tính, nghề nghiệp, chỉ số BMI, số đo vòng mông với các OR từ 1,84 - 2,24, p< 0,05 [26]

Hút thuốc (lá, lào): Những người hút thuốc có nguy cơ mắc bệnh mạch vành gấp 2 - 4 lần và tử vong nhiều hơn khoảng 70% do bệnh này Tác giả Aurelio Leone nghiên cứu về hút thuốc và tăng huyết áp, cho thấy có bằng chứng có sự kết hợp của hút thuốc với tăng huyết áp theo cấp số nhân làm tăng nguy cơ tim mạch [37] Nghiên cứu của Trương Thị Thùy Dương cho thấy có mối liên quan giữa hút thuốc với THA (p < 0,05) [38] Tác giả A Stallones Reuel (2015), nghiên cứu mối liên quan giữa hút thuốc lá và bệnh tim mạch vành, cho thấy hút thuốc là liên quan đến nguyên nhân của bệnh tim mạch

Lạm dụng rượu, bia: Theo quy chuẩn của WHO, lượng rượu, bia uống trung bình trên ngày trên 4 đơn vị chuẩn đối với phụ nữ và trên 5 đơn vị 14 chuẩn đối với nam được coi là lạm dụng rượu bia [29] Theo tác giả Phan Thị Kim Liên, uống nhiều rượu (> 3 xuất/ngày, mỗi suất khoảng 148 ml rượu vang hay 1 lon bia)

có nguy cơ THA gấp 2 - 3 lần bình thường [39] Nghiên cứu của Trương Thị Thùy

Trang 17

Dương, Lê Thị Hương, Nguyễn Văn Hiến (2013) tại Hà Nam cũng cho thấy uống rượu có mối liên quan với THA (OR = 1,19; CI95%: 0,85-1,67) [38]

Ăn uống không hợp lý: Ăn nhiều muối: Phân tích gộp của Feng JoHe và cộng sự (2004) cho thấy, có mối liên quan chặt chẽ giữa mức độ giảm muối và mức độ giảm huyết áp, so với điều trị thông thường, chế độ ăn giảm muối làm giảm huyết áp 2,6/1,1 mmHg [40] Nhiều nghiên cứu dịch tễ và thử nghiệm lâm sàng cho thấy có mối liên quan giữa chế độ ăn giảm muối và con số huyết áp Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, người bình thường chỉ nên tiêu thụ dưới 5g muối/người/ngày [33][39][34] Lê Đức Hạnh và cộng sự (2013), nghiên cứu trên 115 bệnh nhân có tăng huyết áp tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 Kết quả, những yếu tố nguy cơ chính của THA nguyên phát lần lượt là: tuổi cao

> 60 chiếm 57,39%; rối loạn lipid máu 88,69%; đái tháo đường 33,91%; ăn mặn 21,74% Tỷ lệ bệnh nhân không biết mình bị THA chiếm tỷ lệ cao 33,04%; tỷ lệ người biết mình bị THA mà không điều trị cũng cao 30,04%; tỷ lệ bệnh nhân kiểm soát được huyết áp mục tiêu chỉ đạt 21,74% [41] Tác giả Hồng Mùng Hai (2014), nghiên cứu tình hình tăng huyết áp tại huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau cho thấy, ăn mặn có nguy cơ tăng huyết áp gấp 1,1 lần [25]

Ăn ít rau quả: Khoảng 2,7 triệu người trên thế giới được cứu sống nếu khẩu phần ăn có đủ rau xanh; 26,7 triệu (1,8%) DALY toàn cầu là do khẩu phần ăn không có đủ rau xanh [42] Trong tổng số gánh nặng bệnh tật do ăn thiếu rau xanh gây ra thì bệnh tim mạch chiếm 85%, ung thư 15% WHO khuyến nghị ăn ít nhất 400g rau, quả/ngày, dung môi hòa tan vitamin (A, D, 15 E, K), tạo năng lượng…

Sử dụng nhiều chất béo gây thừa cân béo phì, rối loạn lipid máu, hội chứng chuyển hóa và NCD Tăng cholesterol máu ước tính gây ra 56% bệnh mạch vành toàn cầu, tương đương 4,4 triệu tử vong (7,9%), 40,4 triệu DALY (2,8%) Thay thế việc sử dụng nhiều chất béo no nguồn gốc động vật bằng chất béo không no nguồn gốc thực vật được chứng minh giảm nguy cơ ĐTĐ týp 2 và bệnh mạch vành [34][39]

Trang 18

Ít hoạt động thể lực: Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới, do kinh tế phát triển, cuộc sống có đầy đủ điều kiện vật chất hơn làm cho con người dễ sa vào lối sống ít vận động thể lực, bên cạnh đó một chế độ ăn uống không hợp lý (quá nhiều calo, nhiều mỡ động vật, nhiều chất ngọt ), lối sống luôn căng thẳng nhất là ở các thành phố lớn tạo điều kiện cho bệnh tim mạch phát triển, trong đó THA chiếm một tỷ lệ không nhỏ [33][13]

- Một số yếu tố sinh học:

Tỷ lệ THA tăng theo tuổi, có hơn một nửa số người ở độ tuổi 60 - 90 và ba

phần tư số người 70 tuổi trở lên bị THA Nghiên cứu của Élodie Giroux và cộng

sự (2013) sử dụng mô hình Bramingham đã đưa ra nguy cơ trong toàn bộ cuộc đời, THA là gần 90% cho cả nam và nữ, những người chưa bị THA ở tuổi 55 hoặc

65 và sống tới độ tuổi 80 - 85 Kể cả sau khi đã hiệu chỉnh cho các nguyên nhân

tử vong, nguy cơ THA trong toàn bộ cuộc đời còn lại vẫn là 86 - 90% với nữ và

81 - 86 % đối với nam Tỷ lệ tiến triển thành THA trong 4 năm là 50% ở nhóm

65 tuổi trở lên và có huyết áp ở mức 130-139/85-89 mmHg, 26% ở những người

có HA trong khoảng 120-129/80-84 mmHg [43] Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng

có mối liên quan chặt chẽ giữa cân nặng cơ thể và huyết áp động mạch Với những người có cân nặng cao, nếu giảm bớt cân nặng, huyết áp động mạch cũng giảm Theo nghiên cứu của Đào Thu Giang cho thấy BMI và béo bụng có liên quan khá

chặt chẽ với THA nguyên phát [44] Yếu tố nguy cơ THA nguyên phát ở những

bệnh nhân thừa 16 cân và béo phì cao hơn rõ rệt so với nhóm không thừa cân Chỉ

số khối cơ thể (BMI) và tỷ lệ phần trăm mỡ ở nữ cao hơn so với nam giới Có một

mối tương quan dương đáng kể giữa BMI, tỷ lệ phần trăm chất béo và huyết áp

cả tâm thu lẫn tâm trương Các đối tượng thừa cân, béo phì có nhiều khả năng bị tăng huyết áp hơn những người có chỉ số BMI bình thường [45][19] Đỗ Thái Hòa, Trương Việt Dũng và cộng sự (2013), xác định có mối liên quan giữa tỷ lệ THA và nhóm tuổi, giới tính, chỉ số BMI, số đo vòng mông [26] Theo Ngô Trí

Tuấn, Hoàng Văn Minh, tuổi càng cao nguy cơ mắc THA càng cao [27]

Trang 19

1.1.2.4 Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh và hậu quả của THA

Trong hơn 40 năm gần đây hầu như các nhà sinh lý và lâm sàng tim mạch

đã rất cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu để giải thích cơ chế tăng huyết áp Có một số

vấn đề đã được xác định, song còn nhiều vấn đề chưa được sáng tỏ Dưới đây là

một số cơ chế bệnh sinh của bệnh tăng huyết áp đã được công nhận [4]

* Tăng huyết áp nguyên phát: chiếm 95% tổng số bệnh nhân tăng huyết áp,

cơ chế bệnh sinh đến nay chưa được rõ ràng, người ta cho rằng một số yêu tố sau

có thể gây tăng huyết áp

- Tăng hoạt động thần kinh giao cảm:

Trường hợp này thường gặp ở người trẻ tuổi, khi tăng hoạt động hệ thần kinh giao cảm sẽ làm tăng hoạt động của cơ tim dẫn đến tăng cung lượng tim Hệ

thống động mạch ngoại vi và động mạch thận bị co thắt làm tăng sức cản ngoại vị

để dẫn đến hậu quả tăng huyết áp

- Vai trò của Renin – Angiotensin – Aldosteron (RAA):

Renin là một enzym được các tế bào quanh thận và một số tổ chức khác tiết

ra khi có yếu tố kích thích Các tế bào cơ trơn trên thành mao động mạch đến của

tiểu cầu thận nhận trách nhiệm nhận cảm áp lực của động mạch tiểu cầu thận, kích thích các tế bào cạnh tiểu cầu thận tiết ra renin để điều hòa huyết áp, duy trì áp

lực lọc ở tiểu cầu thận Yếu tố kích thích tiết renin là nồng độ muối trong huyết tương và khích thích thụ cảm thể beta adrenecgic

- Vai trò của natri trong cơ chế bệnh sinh tăng huyết áp [4]:

Đã từ lâu người ta biết vai trò của natri trong tăng huyết áp có thực nghiệm

và điều trị theo Tubian (1954): Lượng natri và nước có trong vách động mạch cao hơn một cách rõ rệt ở người và xúc vật có tăng huyết áp

Theo Braun Wald (1954): Vai trò của natri trong cơ chế bệnh sinh của tăng huyết áp tiên phát thực hiện ở hai vị trí:

Trang 20

+ Stress (tác nhân gây bệnh): Ở những người ăn nhiều natri (do thói quen trong gia đình), khả năng lọc của thận tăng nhưng cũng tăng tái hấp thu nước làm

thể tích máu tăng

+ Màng tế bào có sự tăng thẩm thấu di truyền đối với natri, calci vào trong

tế bào của cơ trơn mạch máu, dẫn đến tăng tính co mạch, tăng sức cản ngoại vi gây tăng huyết áp

- Giảm chất điều hòa huyết áp:

Postaglandin E2 và kalikrein ở thận có chức năng sinh lý điều hòa huyết áp,

hạ calci máu tăng calci niệu Khi các chất này thiếu hoặc bị ức chê gây nên tăng huyết áp

- Một số yếu tố tác động làm bệnh tăng huyết áp nặng lên:

+ Yếu tố di truyền và tính gia đình: Người da đen có tỷ lệ tăng huyết áp cao

và nặng hơn các chủng tộc khác

+ Chế độ và tập quán ăn mặn đều liên quan chặt chẽ với tăng huyết áp + Béo: Người béo dễ bị tăng huyết áp, để đánh giá về béo người ta dựa vào

chỉ khối cơ thể [13]

Bình thường BMI = 18,5 – 25 kg/m2 Khi BMI > 25 là béo phì

+ Hút thuốc lá trên 10 điếu/ngày và uống rượu trên 100ml/ngày liên tục trong 3 năm là những nguy cơ gây tăng huyết áp

+ Rối loạn chuyển hóa lipit máu là nguy cơ quan trọng gây tăng huyết áp, đặc biệt là người có “tâm chướng lipit”

* Tăng huyết áp thứ phát: Khoảng 5% tăng huyết áp có nguyên nhân rõ ràng đó là:

- Bệnh thận: Các bệnh của nhu mô thận đều gây tăng huyết áp thứ phát Cơ

chế do tăng thể tích trong lòng mạch hoặc tăng hoạt độ của renin – angiotensin – aldosteron Tăng huyết áp do thận ở trẻ em chiếm một tỷ lệ rất cao [4]

Trang 21

- Tăng huyết áp do dị dạng mạch máu thận: Hẹp động mạch thận chiếm 1 – 2% tổng số bệnh nhân tăng huyết áp

- Cường aldosteron: Tổn thương thường thấy là u tuyến thượng thận

- U tủy thượng thận: Chiếm 1 – 2% tổng số bệnh nhân THA

- Hẹp eo động mạch chủ: Tăng ở phần trước chỗ hẹp và giảm ở phần sau

chỗ hẹp

- Tăng huyết áp ở phụ nữ mang thai: Bệnh tăng huyết áp xuất hiện hoặc

nặng lên khi có thai là một trong những nguyên nhân gây tử vong của người mẹ cũng như thai nhi Tỷ lệ tử vong của mẹ là 10%, của con là 33% [30]

- Sử dụng Oestrogen: Sử dụng kéo dài sẽ gây tăng huyết áp vì oestrogen gây tăng tổng hợp tiền chất renin Đây cũng là dạng phổ biến nhất của tăng huyết

áp thứ phát Cơ chế do tăng hoạt động của R.A.A do oestrogen kích thích tổng

hợp angiotensin và làm tăng angiotensin II làm cường aldosteron thứ phát Trong trường hợp này chỉ xảy ra ở 5% phụ nữ sử dụng thuốc và huyết áp ở trở lại bình thường sau 6 tháng dừng thuốc [4]

- Ngoài ra dùng corticoid kéo dài, cường tuyến giáp cũng gây THA

- Các nguyên nhân khác: Tăng huyết áp kết hợp với tăng kali máu, bệnh to đầu chi, tăng can xi máu do cường tuyến cận giáp

Trang 22

tiếp tục duy trì phác đồ điều trị lâu dài kèm theo việc theo dõi chặt chẽ, định kỳ

để điều chỉnh kịp thời

Điều trị cần hết sức tích cực ở bệnh nhân đã có tổn thương cơ quan đích Không nên hạ huyết áp quá nhanh để tránh biến chứng thiếu máu ở các cơ quan đích, trừ tình huống cấp cứu [36]

* Các biện pháp tích cực thay đổi lối sống:

Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, Chương trình phòng chống tăng huyết áp Quốc gia và Phân Hội Tăng huyết áp Việt Nam áp dụng cho mọi bệnh nhân để ngăn ngừa tiến triển và giảm được huyết áp, giảm số thuốc cần dùng, bao gồm:

- Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng:

+ Giảm ăn mặn (< 6 gam muối hay 1 thìa cà phê muối mỗi ngày)

+ Tăng cường rau xanh, hoa quả tươi

+ Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và axít béo no

- Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối

cơ thể (BMI: body mass index) từ 18,5 đến 22,9 kg/m2

- Cố gắng duy trì vòng bụng dưới 90cm ở nam và dưới 80cm ở nữ

- Hạn chế uống rượu, bia: số lượng ít hơn 3 cốc chuẩn/ngày (nam), ít hơn 2 cốc chuẩn/ngày (nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần (nam), ít hơn 9 cốc chuẩn/tuần (nữ) Một cốc chuẩn chứa 10g ethanol tương đương với 330ml bia hoặc 120ml rượu vang, hoặc 30ml rượu mạnh

- Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào

- Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: tập thể dục, đi bộ hoặc vận động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30-60 phút mỗi ngày

- Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh: cần chú ý đến việc thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý

Trang 23

- Tránh bị lạnh đột ngột

- Những khuyến cáo trên được đưa ra dựa trên những bằng chứng nghiên cứu các yếu tố nguy cơ gây đột quỵ và tử vong đối với người tăng huyết áp và cần được áp dụng tối đa trên người bệnh để tăng cường hiệu quả điều trị tăng huyết

tử vong chung của toàn thế giới (17/50 triệu ca tử vong) trong đó 80% tập trung

ở các quốc gia đang phát triển Một trong những yếu tố nguy cơ tim mạch chính

đã được khẳng định là THA, tỷ lệ THA trên thế giới từ 10- 20% đối với người trên 18 tuổi Tăng huyết áp đã ảnh hưởng đến một tỷ người trên toàn thế giới,

dẫn đến các cơn đau tim và đột quỵ Các nhà nghiên cứu ước tính rằng huyết áp tăng lên hiện nay giết chết khoảng 9,4 triệu người mỗi năm [11] Trước sự gia tăng và tác động to lớn của THA, WHO (2001) đã có báo cáo toàn cầu về tăng huyết áp: “kẻ sát nhân thầm lặng, cuộc khủng hoảng sức khoẻ cộng đồng toàn

cầu” Theo đó, người lớn trên thế giới có tỷ lệ THA là 28,5% (27,3- 29,7%) ở các nước thu nhập cao và 31,5% (30,2 - 32,9%) ở các nước thu nhập thấp và trung bình Từ năm 2000 đến 2010, tỷ lệ THA chuẩn hóa theo tuổi đã giảm 2,6%

ở các nước có thu nhập cao nhưng tăng 7,7% ở các nước thu nhập thấp và trung bình Trong cùng thời kỳ, tỷ lệ nhận thức (58,2% so với 67,0%), điều trị (44,5%

so với 55,6%), và kiểm soát (17,9% so với 28,4%) tăng đáng kể ở các nước thu

nhập cao, trong khi nhận thức (32,3% so với 37,9%) và điều trị (24,9% so với 29,0%) tăng ít hơn, và kiểm soát (8,4% so với 7,7%) thậm chí giảm nhẹ ở các nước thu nhập thấp và trung bình [11] Tài liệu này cũng hướng dẫn để bệnh nhân THA có thể phòng ngừa và điều trị được và làm thế nào để các chính phủ,

Trang 24

nhân viên y tế, khu vực tư nhân, gia đình và cá nhân cùng hợp sức để giảm sự tăng huyết áp và tác động của nó

Dữ liệu từ các cuộc điều tra quốc gia và khu vực khác nhau cho thấy THA

là phổ biến ở các nước đang phát triển, đặc biệt là ở khu vực đô thị Một số yếu

tố nguy cơ THA dường như phổ biến hơn ở các nước đang phát triển so với các nước phát triển [13] Theo Norm R Campbell, Tej Khalsa và cộng sự (2016), THA là yếu tố nguy cơ hàng đầu đối với tử vong và tàn tật trên toàn cầu, là nguyên nhân gây ra khoảng 10,3 triệu người chết và 208 triệu người tàn tật năm

2001 Cứ 10 người lớn trên 25 tuổi thì có khoảng 4 người mắc THA, và ước tính

9 trong số 10 người lớn sống đến 80 tuổi sẽ bị THA Hai phần ba số người bị THA là ở các nước đang phát triển [14] Tara Kessaram, Jeanie McKenzie và

cộng sự (năm 2015) nghiên cứu về các bệnh không lây nhiễm và các yếu tố nguy

cơ ở quần thể người lớn ở một số quần đảo thuộc Thái Bình Dương: kết quả từ phương pháp tiếp cận theo phương pháp của WHO về giám sát, cho thấy tỷ lệ THA đã vượt quá 25% ở một số quần thể Ở Ấn Độ (năm 2014), tác giả Anchala, Raghupathy và cộng sự tiến hành một tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp

về sự phổ biến, nâng cao nhận thức và kiểm soát tăng huyết áp đối với người lớn (≥18 tuổi) tại một số vùng nông thôn và thành thị của Ấn độ Qua tổng hợp 142 bài viết trong tổng số 3.047 bài viết, kết quả cho thấy tỷ lệ THA chung của Ấn

Độ là 29%, nông thôn 25% và thành thị là 33% Trong số này, 25% người dân ở nông thôn và 42% người dân ở đô thị nhận thức được tình trạng THA của họ

Chỉ có 25% người THA ở nông thôn và 8% người THA ở đô thị đang được điều

trị THA Tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu ở người THA thuộc khu vực nông thôn và khu vực đô thị lần lượt là 10% và 20% [16] Một điều tra về sự phổ biến, nâng cao nhận thức, điều trị và kiểm soát tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ liên quan trong dân số trưởng thành ở Bangladesh (2011) trên mẫu đại diện là 7.876 người tuổi từ 35 tuổi trở lên, sử dụng mô hình hồi quy logistic để xác định các

yếu tố nguy cơ đối với nhận thức, điều trị và kiểm soát THA Kết quả: Nhìn chung, tỷ lệ chuẩn hóa theo tuổi của tiền THA và THA lần lượt là 27,1% và

Trang 25

24,4% Trong số những bệnh nhân bị tăng huyết áp thì chỉ có 50,1% biết về tình

trạng HA của họ, 41,2% là trong điều trị, nhưng chỉ có 1,4% đạt huyết áp mục tiêu[17] Tại Rumani các tác giả tổ chức hai (02) cuộc điều tra cắt ngang cách 7 nhau 7 năm, cuộc thứ nhất với 2.017 cá nhân tuổi từ 18-85, tỷ lệ tham gia nghiên

cứu 45%, cuộc thứ hai với 1.975 cá nhân tuổi từ 18-80, tỷ lệ tham gia nghiên

cứu 69%, bằng cách phỏng vấn theo bộ câu hỏi, đo huyết áp và các số đo nhân

trắc học trong hai nghiên cứu Tỷ lệ THA ở Rumani là 40,41%, nhận thức đúng

về THA là 69,55%, trong đó với 59,15% cá nhân THA được điều trị, tỷ lệ kiểm soát được HA là 25% Qua 7 năm, đã giảm 10,7% về tỷ lệ THA, gia tăng 57% trong nhận thức của THA và tăng 52% trong điều trị tăng huyết áp, dẫn đến gần như tăng gấp đôi tỷ lệ kiểm soát của THA [18] Một nghiên cứu tại Thổ Nhĩ Kỳ (2012), các tác giả tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá dịch tễ học hiện tại của tăng huyết áp, bao gồm mức độ phổ biến của nó, nhận thức, điều trị và kiểm soát huyết áp để đánh giá những thay đổi trong các yếu tố này trong 10 năm qua bằng cách so sánh kết quả với sự phổ biến, nâng cao nhận thức, điều trị và kiểm soát tăng huyết áp ở Thổ Nhĩ Kỳ từ dữ liệu nghiên cứu năm 2000, cũng như đánh giá các thông số ảnh hưởng đến nhận thức và kiểm soát huyết áp Kết quả: Mặc dù

tỷ lệ THA ở 2 cuộc điều tra đã ổn định ở mức khoảng 30%, song nhận thức về THA, điều trị và tỷ lệ kiểm soát THA đã được cải thiện ở Thổ Nhĩ Kỳ Nhìn chung, 54,7% bệnh nhân THA đã nhận thức đúng về bệnh của họ trong năm

2012 so với 40,7% trong năm 2000 Tỷ lệ điều trị tăng huyết áp tăng từ 1,1% năm 2000 lên 47,4% vào năm 2012, và tỷ lệ kiểm soát ở bệnh nhân THA tăng

từ 8,1% năm 2000 lên 28,7% trong năm 2012 Tỷ lệ kiểm soát THA ở bệnh nhân điều trị được cải thiện giữa năm 2000 (20,7%) và năm 2012 (5,9%) Qua các số

liệu nêu trên đây đã cho thấy, vẫn còn một số lượng lớn của THA không được điều trị hoặc điều trị không đầy đủ ở Thổ Nhĩ Kỳ[19] Nghiên cứu của các tác

giả Norm Campbell, Pedro Ordunez và cộng sự (2017): Thực hiện các chỉ số

hiệu suất được chuẩn hóa để cải thiện kiểm soát huyết áp ở cả cấp độ dân cư và

tổ chức chăm sóc sức khoẻ, các tác giả đã đưa 8 ra các khuyến nghị sửa đổi từ

Trang 26

cuộc họp của chuyên gia về Tổ chức Y tế Hoa Kỳ về "các chỉ số hoạt động" được

sử dụng để đánh giá các thực hành lâm sàng Như vậy, quản lý huyết áp sẽ vẫn

là vấn đề sức khoẻ quan trọng trên toàn cầu và các kết quả đo lâm sàng là một thành phần quan trọng để hiểu gánh nặng toàn cầu và đánh giá tác động của các can thiệp [20] Các tác giả Tej K Khalsa, Norm R.C Campbell và cộng sự (2015) tiến hành đánh giá nhu cầu các tổ chức THA Quốc gia Châu Phi Tiểu vùng Sahara, về các chương trình phòng ngừa và kiểm soát THA cho thấy: Ở khu vực Châu Phi, THA là một trong những gánh nặng bệnh tật lớn nhất, với tỷ

lệ hiện mắc THA ở người lớn trên 25 tuổi là 46% và tỷ lệ THA đang gia tăng ở h

M MSc và cộng sự (2015), báo cáo đánh giá về phòng, chống THA ở châu Mỹ Latinh và vùng Caribê Qua báo cáo nêu trên cho thấy gánh nặng đối với bệnh tim mạch chiếm 29% số ca tử vong và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở

tất cả các nước (Haiti, Bolivia và Nicaragua) Mỗi năm, có khoảng 1,6 triệu người chết do các bệnh này ở khu vực này, nửa triệu người trong số họ chết trước

70 tuổi Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ chính cho bệnh tim thiếu máu cục bộ

và bệnh mạch não, ảnh hưởng từ 20% đến 40% người lớn trong khu vực này Ở Châu Mỹ Latinh và Caribê, một khu vực có sự chênh lệch về kinh tế xã hội và các quốc gia ở các giai đoạn khác nhau của quá trình chuyển đổi dịch tễ, việc phòng ngừa và kiểm soát THA đã được ưu tiên nhưng khá không đồng đều [21]

Diễn đàn kinh tế Thế giới dự báo, đến năm 2025, gần ba phần tư người bị THA

sẽ sống ở các nước đang phát triển Diễn đàn này cũng mô tả các NCD như là

mối đe dọa lớn nhất đối với sự phát triển kinh tế, dự báo một sự mất mát tích lũy trong sản lượng kinh tế toàn cầu là 47 nghìn tỷ USD, hay 5% tổng sản phẩm qu

1.2.2 Thực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại Việt Nam

Tại hội thảo quốc tế về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại Hà Nội, số

liệu đưa ra cho thấy Việt Nam có hơn 7 triệu người cao tuổi, chiếm 10% dân số

Trang 27

Vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam đang trở thành thách thức đối với kinh tế - xã

hội Tại hội thảo này, theo các chuyên gia y tế, chi phí chăm sóc y tế người cao

tuổi cao gấp 7 lần so với người trẻ nếu không có các giải pháp thích hợp Người cao tuổi mắc các bệnh về huyết áp, tim mạch, nội tiết, trầm cảm, mất trí nhớ, các

bệnh về xương khớp , ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống người cao

tuổi [1], [6]

Các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam cho thấy tình hình tăng huyết

áp ở người cao tuổi đang là vấn đề sức khỏe đáng lo ngại Nghiên cứu tỷ lệ tăng huyết áp ở người cao tuổi tỉnh Hải Dương trên cơ sở điều tra 3.117 người cao tuổi

tại cộng đồng, tác giả Nguyễn Đăng Phải đã đưa ra tỷ lệ tăng huyết áp là 28,2%, trong đó nam cao hơn nữ (30,3% so với 26,7%) [19] Năm 2006, Đinh Thị Hương nghiên cứu sức khỏe, bệnh tật người cao tuổi tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên thấy tỷ lệ THA là 19,5% [21] Trong khi đó, Viện chiến lược và Chính sách y tế năm 2006 đã đưa ra tỷ lệ tăng huyết áp của người cao tuổi qua điều tra

7 tỉnh trong cả nước (bao gồm Sơn La, Hải Dương, Hà Tĩnh, Ninh Thuận, Đắc

Lắc, Bà Rịa – Vũng Tàu và Vĩnh Long) là 28,4%

Theo Phạm Thắng khi nghiên cứu tình hình bệnh tật của người cao tuổi tại

3 xã, phường thuộc 3 miền Bắc, Trung, Nam: Phường Phương Mai (Hà Nội), xã Phú Xuân (Huế) và xã Hòa Long (Bà Rịa – Vũng Tàu) thấy nổi bật trong bệnh tim mạch là tăng huyết áp (HA ≥ 140/90mmHg), tỷ lệ tăng huyết áp là 45,6%, không có sự khác biệt giữa nam và nữ Tỷ lệ tăng huyết áp ở nhóm tuổi ≥ 75 là 54,6%, cao hơn một cách rõ rệt so với nhóm 60 – 74 tuổi là 42% Tỷ lệ huyết áp tâm thu đơn độc là 24,8% Có 18,5% người cao tuổi bị tụt huyết áp tư thế Thứ hai là bệnh mạch vành 9,9%, biểu hiện bằng đau ngực trên lâm sàng và thay đổi trên điện tâm đồ Tỷ lệ suy tim là 6,7%, chủ yếu ở những người tăng huyết áp, suy vành, bệnh van tim, suy tĩnh mạch chi dưới cũng thường gặp, tỷ lệ là 16,1% [27]

Trang 28

Theo Nguyễn Đức Hoàng, Dương Vĩnh Linh, Trần Hữu Dàng, Nguyễn Dung và cộng sự (2004), khi tiến hành nghiên cứu trên 227 cụ tại xã Hương Vân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa thiên Huế cho thấy tỷ lệ người cao tuổi ở nữ cao hơn nam, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p< 0,001) Tỷ lệ tăng huyết áp là 40,53%, khác biệt có ý nghĩa thống kê với người không tăng huyết áp (p< 0,01) Có sự tương quan chặt chẽ giữa tuổi với huyết áp tâm thu (p<0,001), huyết áp tâm trương (p<0,05) Tương quan thuận giữa BMI với VB/VM (p<0,001) và tuổi (p<0,01) [8]

Tại Khánh Hòa, năm 2008 Trương Tân Minh, Lê Tấn Phùng và cộng sự khi nghiên cứu 2.240 người cao tuổi thấy kết quả tỷ lệ tăng huyết áp ở Khánh Hòa

là khá cao: 48,1% (95% độ tin cậy: 46,0% - 50,2%) Tăng huyết áp ở nam cao hơn nữ có ý nghĩa thống kê (52,2% so với 45,4%), người Kinh cao hơn người Raglai (48,5% so với 29,7%) Có mối tương quan giữa tăng huyết áp với chỉ số BMI và tuổi [14]

Theo Ngô Trí Tuấn, Hoàng Văn Minh và cộng sự nghiên cứu về: Tăng huyết áp ở người dân 40-79 tuổi tại xã Yên Đổ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và một số yếu tố liên quan Kết quả cho thấy tỷ lệ THA của nhóm đối tượng nghiên cứu là 5,7%, tỷ lệ THA ở nam cao hơn nữ là 1,53 lần [11] Nghiên

cứu về tỷ lệ và một số yếu tố liên quan đến THA ở người cao tuổi tại thị trấn Châu

Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội, năm 2011, cho thấy: Nghiên cứu cắt ngang được thực

hiện trên 207 người cao tuổi (người từ 60 tuổi trở lên) Kết quả cho thấy 45% người cao tuổi bị THA, trong đó có hơn 1/ người cao tuổi không biết mình bị THA [12]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Ngọc và cộng sự năm 2007 trên 210 người cao tuổi (trên 60 tuổi) đang sinh sống tại phường Phương Mai, quận Đống

Đa, thành phố Hà Nội kết quả cho thấy tỷ lệ THA chung: 37,6%, trong đó nam THA 48,5%, nữ THA 32,4% Nhóm tuổi từ 70 tuổi đến 79 tuổi có tỷ lệ THA

là 47,1%, nhóm người từ 60 tuổi đến 69 tuổi: 31,7%, người trên 80 tuổi:

Trang 29

45,5% Tỷ lệ tiền THA tâm thu chiếm 29,5%, nam giới: 33,8 % và nữ giới: 27,5% THA tâm thu giai đoạn 1 chiếm tỷ lệ 23,8%, THA tâm thu giai đoạn 2: 10,0% [10]

Chúng ta đang chứng kiến một cuộc cách mạng về tăng tuổi thọ trên phạm

vi toàn thế giới Trong thế kỷ qua, tuổi thọ trung bình của loài người đã tăng thêm hơn 30 năm Đây là một trong những thành tựu vĩ đại nhất của loài người Thành

tựu này, cùng với sự tăng nhanh của dân số trong nửa đầu thế kỷ XXI đồng nghĩa

với số người cao tuổi trên thế giới sẽ tăng từ 600 triệu người năm 2000 lên 2 tỷ người năm 2025 Tỷ lệ người cao tuổi sẽ tăng từ 10 lên 15% Các nước đang phát triển sẽ là nơi có tỷ lệ người cao tuổi tăng cao nhất và nhanh nhất Mặc dù hiện

tại cấu trúc dân số nước ta vẫn thuộc loại trẻ, song tỷ lệ người cao tuổi đang có xu hướng tăng nhanh Theo dự báo sẽ tăng gấp đôi từ 8,1% năm 1999 lên đến 16,6% năm 2029 [9]

Ngành y tế cũng sẽ phải đương đầu với những thách thức mới, cùng với sự gia tăng tuổi thọ trung bình, mô hình bệnh tật của nước ta cũng đang thay đổi nhanh chóng Một mặt chúng ta vẫn phải đương đầu với các bệnh lây truyền, mặt khác chúng ta phải đối phó với sự gia tăng nhanh chóng của các bệnh không lây nhiễm Chi phí y tế cho người cao tuổi sẽ tăng lên nhanh chóng, điều này đặc biệt quan trọng nếu chúng ta biết là bình quân chi phí y tế cho một người cao tuổi cao

gấp 7 lần so với một người ở nhóm tuổi trẻ Một nghiên cứu gần đây cho thấy, chi phí y tế cho nhóm người trên 75 tuổi chiếm tới 30% tổng ngân sách y tế của một

quốc gia [9]

1.3 Các yếu tố liên quan đến bệnh tăng huyết áp

1.3 1 Tuổi

Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, tuổi càng cao thành mạch càng

xơ cứng và càng dễ THA Mối liên quan giữa tuổi và THA đã được xác định qua nhiều nghiên cứu cắt ngang cho thấy có liên hệ giữa tuổi và huyết áp trong hầu

Trang 30

hết các dân tộc với những khác nhau về địa dư, văn hóa, đặc tính kinh tế xã hội, tuổi càng cao thì tỉ lệ tăng huyết áp càng cao[2], [8],[11]

1.3.3 Béo phì

Béo phì là một yếu tố nguy cơ gây THA, béo phì còn liên quan với một số yếu tố nguy cơ khác như rối loạn lipid máu, hiện tượng kháng insulin, glucose tăng máu, thiếu hụt lipoprotein lipase, các yếu tố này có vai trò trong bệnh sinh THA Tim của người béo phì buộc phải làm việc nhiều hơn để cung cấp máu và oxy cho khối mỡ thừa Mối liên quan giữa béo phì và THA được ghi nhận rõ, trong nghiên cứu Framigham tỷ lệ THA cả nam lẫn nữ cùng một lứa tuổi tăng tỉ

lệ thuận với cân nặng tương đối và ở nhóm béo phì tỉ lệ THA là 50% [10]

Nghiên cứu của Kamal Rahmouni và cộng sự tại Hoa Kỳ cho biết béo phì liên quan chặt chẽ với THA[47]

Nghiên cứu về dịch tễ học THA của quần thể người trưởng thành ở thành phố Maracaibo - Venejuela thấy rằng người có BMI > 25 thì tỷ lệ THA gấp 2 lần người có BMI < 25 (47,6% so với 24,2%) Theo nghiên cứu của Trần Đình Toán

và cộng sự năm 1995, khi BMI từ 21,5 - 22,9 trở lên, tỷ lệ THA bắt đầu tăng cao hơn tỷ lệ chung trong cùng quần thể Qua nghiên cứu 1.437 nông dân ở xã Định Công - huyện Thanh Trì - Hà Nội và 101 cán bộ viên chức đang được theo dõi

ĐT ngoại trú bệnh THA tại Ban bảo vệ sức khoẻ thành phố Hà Nội cho thấy: Với người THA là cán bộ viên chức chỉ số khối cơ thể cao hơn hẳn NMTHA là nông dân 11,7 % luôn tìm thấy sự phối hợp nhiều YTNC

Trang 31

1.3 4 Ăn nhiều muối

Một chế độ ăn nhiều muối sẽ gây THA do làm tăng thể tích lưu thông và tiền tải và qua đó làm tăng cung lượng tim Mối liên hệ giữa lượng muối ăn và

HA động mạch đã được Ambad và Beaufard nhận xét lần đầu vào năm 1904 cũng như Allan xác định vào năm 1918 [15] Năm 1939, Kempner đã có công trình với chế độ ăn cơm - trái cây hoàn toàn không muối để chữa bệnh THA, sau đó tổng kết hội thảo vào năm 1984 đã khẳng định và khởi đầu chế độ giảm muối điều trị THA[15]

Các thử nghiệm cho thấy rằng ăn muối nhiều natri (trên 14g/ngày) sẽ gây THA trong khi ăn ít muối (<1g/ngày) gây giảm huyết áp động mạch Theo WHO nên ăn <6g muối/ngày, hạn chế muối trong khẩu phần ăn hàng ngày là một trong những biện pháp dễ nhất để phòng ngừa THA và đây cũng là cách điều trị hiệu

quả nhất mà không phải dùng thuốc[35]

Hiện nay, WHO khuyến cáo chế độ ăn muối chỉ có 6g/ngày là giới hạn để phòng chống THA Các nghiên cứu cũng cho thấy nhiều trường hợp còn chưa biết chế độ ăn nhạt Chế độ ăn giảm muối vừa phải (1-2,5g muối/mỗi ngày) áp dụng cho các trường hợp THA hoặc đang dùng thuốc lợi tiểu, trong chế độ ăn này chỉ cần có ý thức giảm bớt muối cho vào thức ăn hơn trước Mặt khác, một số người biết cần phải ăn nhạt nhưng lại khó từ bỏ được thói quen ăn mặn[40]

Ở Nhật Bản, sau khi vận động nhân dân ăn ít muối, tỷ lệ mắc bệnh chảy

máu não giảm 40%, tắc mạch não giảm 24,6% Một nghiên cứu của tại Israel về hiệu quả của chế độ muối khoáng tác động lên HA 24 giờ ở người lớn tuổi THA: Chế độ ăn muối hàng ngày được điều chỉnh cho ít Na và tăng K, Mg trong 6 tháng Một máy đo HA tự động đo HA cứ 20 phút một lần vào ban ngày và 30 phút một lần vào ban đêm Nghiên cứu được làm trước và sau 6 tháng bắt đầu chế độ ăn này Kết quả giảm ăn Na và tăng ăn cả K và Mg có thể có tác dụng trong việc khống chế THA [14]

Trang 32

Các thử nghiệm cho thấy rằng ăn nhiều muối (trên 14g/ngày) sẽ gây THA; trong khi ăn ít muối (dưới 1g/ngày) gây giảm HA động mạch Theo WHO (1990) nên ăn dưới 6g/ngày Hạn chế muối trong khẩu phần ăn hàng ngày là một trong những biện pháp dễ nhất để phòng ngừa THA và cách điều trị mà không phải dùng thuốc tốt nhất[35].

Việt Nam ở vùng nhiệt đới, với trên 3000 km bờ biển, nhân dân ở các vùng ven biển này chủ yếu là lao động thuần tuý nên họ có thói quen ăn mặn Vì vậy, tác động của chế độ ăn gây ra THA ở nước ta có thể là tác nhân có ý nghĩa

Một nghiên cứu ở tỉnh Nghệ An là nơi người dân hay ăn mặn, mỗi ngày trung bình ăn 13,9g muối, thì tỷ lệ THA 17,9%, còn người dân ở Hà Nội ăn nhạt hơn, chỉ có 10,5g muối thì chỉ có 10,6% bị THA [16] Một số nghiên cứu cho thấy: vùng ven biển ăn mặn có tỷ lệ THA cao rõ hơn ở vùng đồng bằng và miền núi Một điều tra dịch tễ học: so sánh 1128 và 909 cặp đôi giữa nhóm THA và nhóm đối chứng thấy rằng, tỷ lệ số người ăn mặn THA cao hơn rõ rệt so với nhóm những người bình thường [16]

1.3 5 Ăn nhiều chất béo

Theo tác giả Nguyễn Lân Việt năm 2006, nên ăn uống điều độ, phù hợp vì chế độ ăn quá dư thừa sẽ gây béo phì và phát triển bệnh lý vữa xơ động mạch, đái tháo đường Chế độ ăn để giảm cân ở người béo phì trong đó trước tiên và chủ yếu là: giảm các chất glucid (bánh trái, đồ ngọt, chất bột) và bù đắp bằng rau quả

Ăn giảm mỡ động vật và thay bằng dầu thực vật kèm theo tăng cường vận động thể lực [37]

1.3 6 Ăn thiếu chất xơ

Đã có nhiều công trình nêu lên tác dụng của chất xơ trong điều hoà HA cả

ở người lớn và trẻ em Tuy nhiên tác dụng độc lập của chất xơ còn đang là vấn đề cần nghiên cứu Trong chế độ ăn của người bệnh THA cần thiết phải tăng nhiều

chất xơ lực[32]

Trang 33

1.3 7 Hút thuốc lá

Khói thuốc lá chứa hơn 4000 loại hoá chất Trong đó có hơn 200 loại hoá chất có hại cho sức khoẻ Nicotin là chất có trong thuốc lá Nicotin được hấp thụ qua da, niêm mạc miệng, mũi hoặc hít vào phổi Khi hút một điếu thuốc, người hút đưa vào cơ thể từ 1 đến 2 mg nicotin Nicotin có tác dụng chủ yếu làm co mạch ngoại biên, làm tăng nồng độ serotonin, catecholamin ở não, tuyến thượng thận làm THA Hút một điếu thuốc lá, HA tâm thu có thể tăng lên tới 11 mmHg,

HA tâm trương tăng lên đến 9 mmHg, kéo dài 20-30 phút Hút thuốc nhiều có thể

có cơn THA kịch phát Một nghiên cứu trên công nhân viên nhà máy thuốc lá, nơi chịu đựng bụi và khói thuốc lá nhiều thấy tỷ lệ bệnh THA cao hơn rõ rệt Nguy

cơ mắc bệnh mạch vành ở người THA có hút thuốc lá cao hơn 50 - 60% so với những người THA không hút thuốc lá[33], [36]

Tại Việt Nam, trong một nghiên cứu về dịch tễ học bệnh THA kết quả cho thấy: ở nhóm người hút thuốc lá nhiều (trên 8 điếu/ngày) có tỷ lệ THA cao hơn hẳn nhóm không hút thuốc lá, nhưng nếu hút thuốc lá dưới 8 điếu/ngày thì tỷ lệ THA giữa nhóm có hút thuốc lá và nhóm không hút thuốc là không có sự khác biệt rõ ràng Năm 1998 - 1999, Phạm Gia Khải và cộng sự tại Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu trên các đối tượng nghiện thuốc lá, có 1450 người chiếm tỷ lệ 19,03% (nam: 1399 người chiếm 96,48%; nữ 51 người chiếm 3,51%) Số điếu hút trung bình là 22,14 ± 4,7 điếu/ngày tức khoảng 1 bao (20 điếu)/ngày/người Tỷ lệ THA chung ở nhóm những người nghiện thuốc lá là 15,86% [10]

Hút thuốc làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch lên gấp 2-3 lần Khi hít khói thuốc vào cơ thể sẽ gây ra một số tác động ngay lập tức lên tim và mạch máu Khói thuốc gây THA cấp tính và THA dao động Hút thuốc còn giảm tác dụng của các thuốc điều trị THA Mặc dù chưa được chứng minh rõ ràng là yếu tố nguy

cơ về tăng huyết áp nhưng là một nguy cơ lớn về bệnh tim mạch Một vài nghiên cứu chứng minh giữa hút thuốc lá và THA có mối liên quan và các chương trình giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân THA đều khuyên bỏ hút thuốc [33], [19]

Trang 34

Nicotin có tác dụng gây co mạch như Adrenalin và cũng kích thích tăng tiết catecholamin, oxyd cacbon và các chất khác trong thuốc lá cũng dễ gây tổ thương mạch máu Có nghiên cứu cho thấy trên điện tâm đồ ghi ngay sau khi bệnh nhân hút liên tục 3 điếu thuốc lá cũng thấy có sự biến đổi như khi bệnh nhân làm nghiệm pháp gắng sức Phải cai thuốc trên 10 năm mới biết tác hại của thuốc lá [26].

1.3 8 Thói quen uống rượu

Theo WHO năm 2001, có khoảng 140 triệu người trên thế giới nghiện rượu,

400 triệu người sử dụng rượu ở mức nguy hại, dẫn đến tai nạn và tử vong[37]

Ở Việt Nam tỷ lệ lạm dụng rượu ước tính 8% dân số và 4% là nghiện rượu [3] Rượu được hấp thu nhanh qua đường tiêu hoá, chủ yếu đoạn đầu ruột non và đạt hàm lượng trong máu cao nhất sau khi uống từ 30 đến 90 phút Đã có một số nghiên cứu được báo cáo về sự liên quan của uống rượu nhiều và THA, nhưng cơ chế của liên quan này vẫn còn chưa rõ ràng Có những ý kiến chưa thống nhất nhưng đa số thừa nhận uống nhiều rượu làm THA [3] Một số nghiên cứu cho thấy THA ở 20-30% số người lạm dụng rượu Hơn nữa rượu còn có thể gây rối loạn nhịp tim, rối loạn điều hoà lipoprotein và triglycerid, làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và các bệnh lý về mạch máu [8] Các thực nghiệm cho thấy rằng với khối lượng lớn, ethanol có tác dụng co mạch trực tiếp Giảm tiêu thụ rượu xuống tới dưới 3 lần uống trong ngày (30ml rượu) làm giảm HA ở bệnh nhân có điều trị Uống nhiều rượu hay gây THA, càng uống nhiều HA càng cao Vùng nào tiêu thụ nhiều rượu, nơi đó nhiều người bị THA Rượu uống nhiều còn làm mất hiệu quả của những thuốc chữa THA[26] Qua điều tra dịch tễ học bệnh THA ở Việt Nam trong 4 năm (1989 - 1992) nhận thấy lạm dụng rượu ở người THA cao hơn những người bình thường [40] Nghiên cứu của Phạm Gia Khải về dịch tễ học bệnh THA tại Hà Nội năm 1999 thấy uống rượu có mối liên quan chặt chẽ với THA ở cả 2 giới [10] Khoảng 10% trường hợp THA liên quan đến uống rượu

Uống rượu thường xuyên trên 3 cốc/1ngày làm tăng nguy cơ mắc bệnh THA Uống rượu và THA là mối liên quan đã được chứng minh qua nghiên cứu,

Trang 35

những người uống trên 30ml ethanol/ngày có tỉ lệ cao gấp 2,9 lần những người uống ít hơn hoặc không uống Lượng ethanol trên 30ml/ngày liên quan tới 1,5mmHg HATTr và 2,5mmHg HATT ở nam: 2,1 mmHgHATT và 3,2mmHg HATT ở nữ Đo huyết áp ngay sau khi uống rượu thì HATT hơi giảm nhưng sau 13-24h thì HA lại tăng lên Nếu uống rượu hằng ngày sau một tuần huyết áp tâm thu tăng 6,6mmHg huyết áp tâm trương tăng 4,7mmHg [37].

WHO đã khuyến cáo: “Rượu làm THA và đó là YTNC của tai biến mạch

não, th ường thấy phối hợp với bệnh tim, loạn nhịp tim, tăng xuất huyết não Nếu uống rượu điều độ chỉ ở mức 10g ethanol x 1-3 lần/ngày thì có thể chấp nhận được, ở mức trên 3 lần/ngày (>30g ethanol) có bằng chứng hại cả về sinh học lẫn

xã hội ” [14].Trong thực tế, việc loại bỏ thói quen uống nhiều rượu cũng là một vấn đề khó Bởi vì, những người nghiện rượu kể cả các trường hợp đã bị THA thường hay ngụy biện cho bản thân Vì vậy, công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe đối với người cao tuổi và dần dần bỏ rượu là vấn đề cần được tăng cường hơn nữa đặc biệt là đối với người có THA

1.3 9 Ít hoạt động thể lực

Ít hoạt động thể lực là nguy cơ cho nhiều bệnh: THA, béo phì, tim mạch, đái tháo đường Các nghiên cứu dịch tễ đã chứng minh hoạt động thể lực ngay cả những hoạt động vừa phải như đi bộ cũng làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch tăng huyết áp béo phì tăng cường hoạt động thể lực là hoạt động không thể thiếu trong điều trị bệnh THA

Theo nghiên cứu của một số tác giả, thói quen sống tĩnh tại rất nguy hại đối với hệ tim mạch Ngược lại, tăng cường vận động thể lực vừa sức và đều đặn lại có tầm quan trọng đặc biệt đối với người cao tuổi Vận động thể lực bao gồm các hoạt động thường ngày và luyện tập thể dục thể thao [16], [35]

Trang 36

1.3 10 Trình độ học vấn

Số đông người cao tuổi học vấn thấp, tỷ lệ người cao tuổi mù chữ cao gấp 3 lần tỷ lệ mù chữ chung của dân số, đặc biệt ở nông thôn Vì vậy với thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, vì trình độ học vấn thấp người cao tuổi không tiếp cận được

Theo nghiên cứu của Trần Văn Long năm 2015, 68% bệnh nhân không biết mình có bệnh THA, sự phát hiện tăng HA chỉ là tình cờ đi khám bệnh phát hiện

thấy THA Do đó mà tỷ lệ bị tai biến do THA vẫn còn khá cao trong cộng đồng [16]

1.3 11 Yếu tố di truyền và tiền sử gia đình

Vai trò di truyền thấy rõ hơn khi theo dõi huyết áp ở các cặp sinh đôi cùng trứng so sánh với HA các cặp song sinh khác trứng Trong nhiều gia đình trị số

HA được đo ở bố mẹ con cái anh chị em ruột gần như nhau và cho rằng đó là yếu

tố di truyền cộng thêm thói quen sinh hoạt ăn uống tình trạng kinh tế xã hội gần giống nhau [20], [24]

1.3 12 Môi trường

Đã có tài liệu nêu ra rằng một số yếu tố môi trường gây ra tăng huyết áp

Số người trong gia đình đông, ở chật chội, các xã hội giàu có tỷ lệ THA cao hơn

ngược lại [29]

1.3 13 Kinh tế

Kinh tế cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ, tỷ lệ mắc THA tăng theo chiều thuận của phát triển kinh tế, khi nền kinh tế phát triển thì lối sống sinh hoạt thay đổi và không thể không nói đến yếu tố khó khăn về kinh tế, đúng vào thời kỳ cần có những điều kiện kinh tế nhất để bồi dưỡng sức khoẻ, để đảm bảo cho đời sống không bị lệ thuộc Nhiều người cao tuổi có được cuộc sống tuổi già đầy năng động là do có sự hỗ trợ của hệ thống lương hưu và các nguồn cung cấp tài chính khác Trong khi đó những người cao tuổi khác vẫn bị nghèo hơn các thành phần khác trong xã hội, đặc biệt là người cao tuổi sống ở nông thôn

Trang 37

không có thu nhập chắc chắn, thậm chí cả những người cao tuổi có người cao tuổi vẫn tiếp tục là thành phần nghèo nhất, vì không có công việc chính thức, thu nhập không ổn định, không có tích luỹ Mức sống của nhiều người cao tuổi ở vùng sâu vùng xa còn gặp nhiều khó khăn, chi phí y tế hiện nay quá cao, do tình hình tài chính kém làm người cao tuổi mất đi sự thanh thản đưa đến đau khổ về tâm lý và

ốm yếu về tâm lý trong khi nhiều người cao tuổi thậm chí còn là lao động chính của gia đình Sự lao động trường diễn kết hợp ăn uống không đầy đủ làm ảnh hưởng đến sức khoẻ [10]

1.4 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu

Cao Phong là một huyện vùng cao nên điều kiện tự nhiên tương đối đặc thù, có địa hình đồi, núi, sông, suối xen kẽ tạo thành nhiều dải hẹp bị cắt phá mạnh

mẽ nên đất có độ dốc lớn (bình quân 320), mặc dù có diện tích đất tự nhiên lớn

nhất so với các huyện trong tỉnh nhưng đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất ít, chủ yếu

là đất rừng (Đất lâm nghiệp 17.661,41 ha, chiếm 68,99%, đất nông nghiệp 4.171

ha chiếm 16,29%, đất nuôi trồng thủy sản 28,17ha chiếm 0,11%, đất nông nghiệp khác 23,12 ha chiếm 0,09%, đất phi nông lâm nghiệp, đất khác 3.716,55 ha chiếm 14,5%)

Xuất phát điểm của nền kinh tế của huyện vào loại thấp trong tỉnh, đời sống

ở các khu vực dân cư có nhưng chênh lệch lớn Khu vực thành thị có mức sống

ổn định tương đối đồng đều nhưng không có các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh lớn, khu vực nông thôn có mức sống thấp còn nhiều hộ nghèo, việc xoá đói

giảm nghèo hết sức khó khăn, các hộ nghèo chủ yếu ở nông thôn sản xuất theo

dạng tự cung tự cấp, chưa có thói quen tạo ra sản phẩm hàng hoá có chất lượng

Trang 38

để trao đổi theo nhu cầu thị trường Nền kinh tế của huyện chủ yếu dựa vào phát triển lâm nghiệp và nông nghiệp

Xã Bắc Phong huyện Cao Phong là xã vùng cao có địa hình phức tạp, chủ

yếu là núi và đồi Xã Bắc Phong có diện tích 24,23 km², có 1.106 hộ với 4.724

khẩu, sinh sống tại 14 xóm, có nhiều dân tộc cùng sinh sống (Dân tộc Kinh; Mường, Tày, Dao, Thái, ) Năm 2016, thu nhập bình quân đạt 23 triệu đồng/người/ năm, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo xấp xỉ 30% Xã có 4 xóm là Môn, Dài, Tiến Lâm 1 và Tiến Lâm 2, thuộc diện đặc biệt khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao

Hiện tại tổng số người cao tuổi (trên 60 tuổi) tại xã Bắc Phong là 526 người chiếm 5,33% người cao tuổi trên địa bàn huyện Cao Phong Theo số liệu báo cáo của

Trạm Y tế xã Bắc Phong năm 2019, tỷ lệ mắc bệnh THA ở người cao tuổi tại xã

Bắc Phong chiếm 50.6% cao nhất trong các xã

Trang 39

1.5 Khung lý thuyết nghiên cứu

KHUNG LÝ THUY ẾT NGHIÊN CỨU

Tăng Huy ết

Áp ở người cao tu ổi

Trang 40

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Là người từ 60 tuổi trở lên đang sinh sống tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình

* Tiêu chuẩn chọn: Chọn tất cả người từ 60 tuổi trở lên đang sinh sống tại

xã Bắc Phong, có đủ minh mẫn để trả lời câu hỏi phỏng vấn, có tinh thần hợp tác trong quá trình nghiên cứu

* Tiêu chu ẩn loại trừ: Các đối tượng đang bị ốm nặng, liệt giường, tâm

thần hoặc không có tinh thần hợp tác trong quá trình nghiên cứu

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình

2.1.3 Thời gian nghiên cứu:

Từ tháng 04 năm 2020 đến tháng 9 năm 2020

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

- Áp dụng phương pháp nghiên cứu của Dịch tễ học với thiết kế nghiên

cứu mô tả cắt ngang có phân tích

2.2 2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

* C ỡ mẫu: Toàn bộ người từ 60 tuổi trở lên đang sinh sống tại xã Bắc

Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình

* Cách ch ọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện toàn bộ người từ 60 tuổi trở lên

đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu Trong thực tế đã chọn được 460/526 người cao tuổi vào nghiên cứu

Ngày đăng: 10/03/2021, 23:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Xuân Anh (2006), Một số nhận xét về tình hình tăng huyết áp tại Hà Tĩnh, (13), Nhà xuất bản Y học, Hội Tim mạch học Việt Nam, tr. 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về tình hình tăng huyết áp tại Hà Tĩnh
Tác giả: Phạm Xuân Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2006
2. Võ Thị Kim Anh (2013), Nghiên cứu tính hình tăng huyết áp ở người cao tuổi tại huyện Hương Thủy, Thừa Thiên Huế, Y học thực hành 876 - Số 7/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tính hình tăng huyết áp ở người cao tuổi tại huyện Hương Thủy, Thừa Thiên Huế
Tác giả: Võ Thị Kim Anh
Năm: 2013
4. Phạm Chí Cường (2003), Nghiên cứu những biến đổi hình ảnh điện tâm đồ và một số yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân tăng huyết áp tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang, Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên, tr. 54 – 74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu những biến đổi hình ảnh điện tâm đồ và một số yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân tăng huyết áp tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang
Tác giả: Phạm Chí Cường
Năm: 2003
5. Nguyễn Dung, Hoàng Hữu Nam, Dương Quang Minh (2012), “Nghiên cứu tình hình bệnh Tăng huyết áp tại thành phố Huế và thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2011”.Tạp chí Y học thực hành 805, tr.1-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu tình hình bệnh Tăng huyết áp tại thành phố Huế và thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2011”
Tác giả: Nguyễn Dung, Hoàng Hữu Nam, Dương Quang Minh
Năm: 2012
6. Phạm Tử Dương, Nguyễn Văn Quýnh (1998), “ Tình hình quản lý và điều trị bệnh THA ở một tập thể cán bộ trong 4 năm 1994 – 1998”, Tạp chí Y học Việt Nam, (số 12), tr. 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Tình hình quản lý và điều trị bệnh THA ở một tập thể cán bộ trong 4 năm 1994 – 1998”
Tác giả: Phạm Tử Dương, Nguyễn Văn Quýnh
Năm: 1998
7. Trịnh Thị Thu Hoài (2012), Kết quả hoạt động chương trình phòng chống tăng huyết áp tại tỉnh Yên Bái năm 2011, Luận án bác sĩ chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên, tr. 73 – 74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả hoạt động chương trình phòng chống tăng huyết áp tại tỉnh Yên Bái năm 2011
Tác giả: Trịnh Thị Thu Hoài
Năm: 2012
8. Nguyễn Đức Hoàng (2004), “Nghiên cứu tỷ lệ tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Hương Xuân huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên Huế”, Tạp chí Tim mạch học, (37), tr. 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu tỷ lệ tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Hương Xuân huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên Huế”
Tác giả: Nguyễn Đức Hoàng
Năm: 2004
9. Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam (1999), “Phân giai đoạn tăng huyết áp”, Tạp chí Tim mạch học (18), tr. 22 – 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phân giai đoạn tăng huyết áp”
Tác giả: Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam
Năm: 1999
10. Hồng Mùng Hai (2014).Nghiên cứu tình hình tăng huyết áp ở người từ 25 tuổi trở lên và kết quả can thiệp tại huyện Phú Tân tỉnh Cà Mau năm 2014.Tạp chí y học Dự phòng, 8 (168), 333 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí y học Dự phòng
Tác giả: Hồng Mùng Hai
Năm: 2014
11. Ngô Trí Tuấn và Hoàng Văn Minh (2012).Tăng huyết áp ở người dân 40-79 tuổi tại xã Yên Đổ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và một số yếu tố liên quan. Tạp chí Y học Thực Hành( 4), Tr. 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học Thực Hành(
Tác giả: Ngô Trí Tuấn và Hoàng Văn Minh
Năm: 2012
12. Trần Thanh Tú và Phạm Thị Lan Liên (2011). Nghiên cứu về tỷ lệ và một số yếu tố liên quan đến THA ở người cao tuổi tại thị trấn Châu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội, năm 2011. Tạp chí Y học Thực Hành, 914, 94-97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học Thực Hành
Tác giả: Trần Thanh Tú và Phạm Thị Lan Liên
Năm: 2011
15. Phạm Thị Kim Lan (2002), Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ của người tăng huyết áp tại nội thành Hà Nội, Luận án bác sĩ chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Hà Nội, tr. 51 – 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ của người tăng huyết áp tại nội thành Hà Nội
Tác giả: Phạm Thị Kim Lan
Năm: 2002
16. Trần Văn Long (2015), “Tình hình sức khỏe người cao tuổi và thử nghiệm can thiệp nâng cao kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tăng huyết áp tại 2 xã huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định giai đoạn 2011-2012”, Luận án Tiến sỹ Y tế công cộng, Trường Đại học Y tế Công Cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tình hình sức khỏe người cao tuổi và thử nghiệm can thiệp nâng cao kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tăng huyết áp tại 2 xã huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định giai đoạn 2011-2012”
Tác giả: Trần Văn Long
Năm: 2015
17. Trương Tấn Minh, Lê Tấn Phùng (2008), “ Tình hình tăng huyết áp và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi tỉnh Khánh Hòa năm 2008”, Tạp chí Y học thực hành, (3), tr. 99 – 102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Tình hình tăng huyết áp và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi tỉnh Khánh Hòa năm 2008”
Tác giả: Trương Tấn Minh, Lê Tấn Phùng
Năm: 2008
18. Vũ Thị Nga (2012), “Nhận xét một số đặc điểm biến chứng của bệnh tăng huyết áp nguyên phát”, Tạp chí Y học thực hành, (1), tr. 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét một số đặc điểm biến chứng của bệnh tăng huyết áp nguyên phát”
Tác giả: Vũ Thị Nga
Năm: 2012
19. Nguyễn Thanh Ngọc, Tạ Mạnh Cường (2007), “ Cập nhật thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp ở người cao tuổi tại phường Phương Mai quận Đống Đa thành phố Hà Nội”, tr. 1 – 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Cập nhật thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp ở người cao tuổi tại phường Phương Mai quận Đống Đa thành phố Hà Nội”
Tác giả: Nguyễn Thanh Ngọc, Tạ Mạnh Cường
Năm: 2007
20. Hoàng Văn Ngoạn (2009), “Tình hình tăng huyết áp và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại xã Thủy Vân huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế”, Tạp chí khoa học, Đại học Huế, (52), tr 89 – 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tình hình tăng huyết áp và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại xã Thủy Vân huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế”
Tác giả: Hoàng Văn Ngoạn
Năm: 2009
21. Đào Thị Nhâm (2013), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng tăng huyết áp kháng trị tại bệnh viện Lão khoa Trung ương, Luận văn bác sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, tr. 69 – 70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng tăng huyết áp kháng trị tại bệnh viện Lão khoa Trung ương
Tác giả: Đào Thị Nhâm
Năm: 2013
22. Nguyễn Đăng Phải (2000), “Điều tra tình hình bệnh tăng huyết áp và xây dựng mô hình chăm sóc – Bảo vệ sức khỏe người cao tuổi tại cộng đồng”, tr.1 – 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Điều tra tình hình bệnh tăng huyết áp và xây dựng mô hình chăm sóc – Bảo vệ sức khỏe người cao tuổi tại cộng đồng”
Tác giả: Nguyễn Đăng Phải
Năm: 2000
23. Vũ Xuân Phú (2011), “ Thực trạng kiến thức về bệnh tăng huyết áp và tuân thủ điều trị của bệnh nhân 25 – 60 tuổi tại 4 phường thành phố Hà Nội 2011”, tr. 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Thực trạng kiến thức về bệnh tăng huyết áp và tuân thủ điều trị của bệnh nhân 25 – 60 tuổi tại 4 phường thành phố Hà Nội 2011”
Tác giả: Vũ Xuân Phú
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Phân loại tăng huyết áp theo JNC VI - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
Bảng 1.1. Phân loại tăng huyết áp theo JNC VI (Trang 13)
Bảng 1.2. Phân loại tăng huyết áp theo WHO/ISH 1999 - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
Bảng 1.2. Phân loại tăng huyết áp theo WHO/ISH 1999 (Trang 13)
2.3. Biến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá. 2.3.1. Các biến số và chỉ số nghiên cứu - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
2.3. Biến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá. 2.3.1. Các biến số và chỉ số nghiên cứu (Trang 41)
Bảng 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi (n=460) - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
Bảng 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi (n=460) (Trang 52)
Bảng 3.1 cho thấy trong 460 đối tượng tham gia nghiên cứu có 265 đối tượng ở nhóm tuổi từ 60-69 tuổi (chiếm 57,6%), có 125 đối tượng ở nhóm tuổi từ  70-79 tuổi (chiếm 27,2%), còn lại là 70 đối tượng trên 80 tuổi (chiếm 15,2%) - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
Bảng 3.1 cho thấy trong 460 đối tượng tham gia nghiên cứu có 265 đối tượng ở nhóm tuổi từ 60-69 tuổi (chiếm 57,6%), có 125 đối tượng ở nhóm tuổi từ 70-79 tuổi (chiếm 27,2%), còn lại là 70 đối tượng trên 80 tuổi (chiếm 15,2%) (Trang 52)
Bảng 3.2. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc (n=460) - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
Bảng 3.2. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc (n=460) (Trang 53)
Bảng 3.4. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo công việc hiện tại (n=460) - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
Bảng 3.4. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo công việc hiện tại (n=460) (Trang 54)
Bảng 3.5. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn (n=460) - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
Bảng 3.5. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn (n=460) (Trang 54)
Bảng 3.6. Phân bố chỉ số BMI theo giới tính (n=460) - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
Bảng 3.6. Phân bố chỉ số BMI theo giới tính (n=460) (Trang 55)
Bảng 3.7 cho thấy đối tượng có chỉ số BMI &gt;= 23 chủ yếu tập chung ở nhóm  tuổi  từ  70-79  tuổi  (20,8%),  tiếp  đến  là  nhóm  tuổi  từ  60-69  tuổi  (chiếm  18,5%), thấp nhất là ở nhóm tuổi trên 80 tuổi (chiếm 7,1%) - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
Bảng 3.7 cho thấy đối tượng có chỉ số BMI &gt;= 23 chủ yếu tập chung ở nhóm tuổi từ 70-79 tuổi (20,8%), tiếp đến là nhóm tuổi từ 60-69 tuổi (chiếm 18,5%), thấp nhất là ở nhóm tuổi trên 80 tuổi (chiếm 7,1%) (Trang 56)
Bảng 3.8. Phân bố tỷ số VB/VM (WHR) theo giới (n=460) - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
Bảng 3.8. Phân bố tỷ số VB/VM (WHR) theo giới (n=460) (Trang 56)
Bảng 3.9 cho thấy tỷ lệ béo bụng ở độ tuổi từ 70-79 tuổi là cao nhất (chiếm 39,2%), tiếp đến ở nhóm tuổi trên 80 tuổi (chiếm 35,7%), thấp nhất ở nhóm tuổi  từ 60-69 tuổi (chiếm 34,3%) - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
Bảng 3.9 cho thấy tỷ lệ béo bụng ở độ tuổi từ 70-79 tuổi là cao nhất (chiếm 39,2%), tiếp đến ở nhóm tuổi trên 80 tuổi (chiếm 35,7%), thấp nhất ở nhóm tuổi từ 60-69 tuổi (chiếm 34,3%) (Trang 57)
Bảng 3.10. Phân bố đối tượng theo chỉ số nhân trắc và giới tính (n=460) - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
Bảng 3.10. Phân bố đối tượng theo chỉ số nhân trắc và giới tính (n=460) (Trang 57)
Bình thường THA độ I - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
nh thường THA độ I (Trang 58)
Bảng 3.12. Phân bố tỷ lệ THA theo giới tính (n=460) - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
Bảng 3.12. Phân bố tỷ lệ THA theo giới tính (n=460) (Trang 58)
Bảng 3.13. Phân bố đặc điểm tăng huyết áp theo giới tính (n=460) - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
Bảng 3.13. Phân bố đặc điểm tăng huyết áp theo giới tính (n=460) (Trang 59)
Bảng 3.13 cho thấy trong tổng số 193 đối tượng mắc bệnh THA, có 141 đối tượng bị THA cả tâm thu và tâm trương (chiếm 73,1%), chủ yếu tập chung ở nam  giới (78,4%), ở nữ giới là 68,6% - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
Bảng 3.13 cho thấy trong tổng số 193 đối tượng mắc bệnh THA, có 141 đối tượng bị THA cả tâm thu và tâm trương (chiếm 73,1%), chủ yếu tập chung ở nam giới (78,4%), ở nữ giới là 68,6% (Trang 59)
Bảng số liệu trên cho thấy, trong tổng số 193 đối tượng mắc bệnh THA có 142 đối tượng làm nghề nông chiếm tỷ lệ cao nhất (chiếm 73,6%), tiếp đến là  nhóm cán bộ công chức nhà nước (chiếm 15%), đối tượng làm nghề buôn bán tự  do chiếm 9,8%), thấp nhất là n - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
Bảng s ố liệu trên cho thấy, trong tổng số 193 đối tượng mắc bệnh THA có 142 đối tượng làm nghề nông chiếm tỷ lệ cao nhất (chiếm 73,6%), tiếp đến là nhóm cán bộ công chức nhà nước (chiếm 15%), đối tượng làm nghề buôn bán tự do chiếm 9,8%), thấp nhất là n (Trang 60)
Bảng 3.15. Phân bố THA theo nghề nghiệp trước khi nghỉ hưu (n=460) - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
Bảng 3.15. Phân bố THA theo nghề nghiệp trước khi nghỉ hưu (n=460) (Trang 60)
Bảng số liệu trên cho thấy, tỷ lệ nhóm đối tượng làm công việc chân tay mắc bệnh tăng huyết áp cao nhất (65,8%), tiếp theo là nhóm nghỉ ngơi (33,2%)  và nhóm làm công việc tri thức (1%) - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
Bảng s ố liệu trên cho thấy, tỷ lệ nhóm đối tượng làm công việc chân tay mắc bệnh tăng huyết áp cao nhất (65,8%), tiếp theo là nhóm nghỉ ngơi (33,2%) và nhóm làm công việc tri thức (1%) (Trang 61)
Kết quả phân tích bảng 3.18 cho thấy không có mối liên quan giữa giới tính với THA (p &gt; 0,05)  - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
t quả phân tích bảng 3.18 cho thấy không có mối liên quan giữa giới tính với THA (p &gt; 0,05) (Trang 62)
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa giới tính và tình trạng bệnh tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu (n=460)  - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa giới tính và tình trạng bệnh tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu (n=460) (Trang 62)
Kết quả phân tích bảng 3.19 cho thấy không có mối liên quan giữa nhóm tuổi từ 60-69 tuổi với nhóm tuổi từ 70 tuổi trở lên(p&gt;0,05) - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
t quả phân tích bảng 3.19 cho thấy không có mối liên quan giữa nhóm tuổi từ 60-69 tuổi với nhóm tuổi từ 70 tuổi trở lên(p&gt;0,05) (Trang 63)
Bảng 3.19. Mối liên quan giữa nhóm tuổi với THA (n=460) - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
Bảng 3.19. Mối liên quan giữa nhóm tuổi với THA (n=460) (Trang 63)
Bảng 3.21. Mối liên quan giữa chỉ số BMI với tình trạng huyết áp (n=460) - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
Bảng 3.21. Mối liên quan giữa chỉ số BMI với tình trạng huyết áp (n=460) (Trang 64)
Kết quả phân tích bảng 3.21cho thấy có mối liên quan giữa BMI với THA, nhóm đối tượng có chỉ số BMI &gt;= 23 có khả năng mắc THA cao hơn 2,95  lần so với đối tượng có chỉ số BMI &lt; 23 - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
t quả phân tích bảng 3.21cho thấy có mối liên quan giữa BMI với THA, nhóm đối tượng có chỉ số BMI &gt;= 23 có khả năng mắc THA cao hơn 2,95 lần so với đối tượng có chỉ số BMI &lt; 23 (Trang 64)
Bảng 3.23. Mối liên quan giữa thói quen ăn mặn với THA (n=460) - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
Bảng 3.23. Mối liên quan giữa thói quen ăn mặn với THA (n=460) (Trang 65)
Kết quả phân tích từ bảng 3.23 cho thấy có mối liên quan giữa ăn mặn với THA, nhóm đối tượng ăn mặn có khả năng mắc THA cao gấp 2,24 lần so với các  đối tượng không ăn mặn - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
t quả phân tích từ bảng 3.23 cho thấy có mối liên quan giữa ăn mặn với THA, nhóm đối tượng ăn mặn có khả năng mắc THA cao gấp 2,24 lần so với các đối tượng không ăn mặn (Trang 65)
Bảng 3.25. Mối liên quan giữa thói quen ăn thức ăn có nhiều mỡ động vật với THA (n=460)  - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
Bảng 3.25. Mối liên quan giữa thói quen ăn thức ăn có nhiều mỡ động vật với THA (n=460) (Trang 66)
Kết quả phân tích từ bảng 3.26 cho thấy có mối liên quan giữa thói quen thường xuyên vận động thể lực với THA, nhóm đối tượng ít vận động thể lực có  khả năng mắc THA cao gấp 1,49 lần so với các đối tượng thường xuyên vận động  thể lực - hực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan.
t quả phân tích từ bảng 3.26 cho thấy có mối liên quan giữa thói quen thường xuyên vận động thể lực với THA, nhóm đối tượng ít vận động thể lực có khả năng mắc THA cao gấp 1,49 lần so với các đối tượng thường xuyên vận động thể lực (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w